Việc học sinh có ý thức tự giác học tập sẽ nâng cao hiệu quả dạy và học.Với mong muốn đợc chia sẻ và bày tỏ một số nội dung đã thực hiện khi giảng dạy địa lí 10 nên tôi chọn đề tài: “ Sử
Trang 1Mục lục
Phần thứ nhất Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tợng nghiên cứu
4.Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
5 Phơng pháp nghiên cứu
6 Thời gian nghiên cứu
Phần thứ hai Nội dung
I Cơ sở lí luận chung
1 Quan niệm chung về kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 10
2 Các loại kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 10
3 ý nghĩa của khai thác kênh hình trong dạy học địa lí
II Một số phơng pháp sử dụng kênh hình sách giáo khoa địa lí 10 trong bài dạy học trên lớp
1 Đàm thoại gợi mở với hình
2 Tổ chức cho học sinh thảo luận với hình
III Kết quả đạt đợc khi sử dụng phơng pháp đàm thoại gợi mở với hình và
ph-ơng pháp tổ chức cho học sinh thảo luận với hình
Phần thứ ba Kết luận
Phần thứ nhất:
Mở đầu
I Lí do chọn đề tài
Các nhà phơng pháp nổi tiếng nói chung và các nhà phơng pháp dạy học
địa lí nói riêng, khi nghiên cứu về phơng pháp dạy học tích cực cũng cho rằng,
Trang 2phơng pháp trực quan tích cực hơn phơng pháp dùng lời.Trong môn Địa lí không chỉ có kênh chữ mà tính tích cực trong kênh hình cũng đợc đánh giá rất cao vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh
Những kiến thức trong chơng trình Địa lí 10 là những kiến thức cơ sở để học sinh tiếp thu những kiến thức của lớp 11, 12 Chơng trình địa lí 10 là
ch-ơng trình của đầu cấp học, sách giáo khoa địa lí 10 có rất nhiều kênh hình mà trong nó ẩn chứa nhiều kiến thức mà kênh chữ không thể hiện hết đợc Để học sinh có kĩ năng làm việc tốt với kênh hình ngay từ đầu cấp học là rất cần thiết
Đổi mới phơng pháp dạy học là nhiệm vụ của mỗi giáo viên để nâng cao chất lợng dạy và học Việc học sinh có ý thức tự giác học tập sẽ nâng cao hiệu quả dạy và học.Với mong muốn đợc chia sẻ và bày tỏ một số nội dung đã thực
hiện khi giảng dạy địa lí 10 nên tôi chọn đề tài: “ Sử dụng kênh hình sách
giáo khoa trong dạy học Địa lí 10 ”
Trong quá trình hớng dẫn học sinh học tập trên lớp cần luôn chú trọng tới bồi dỡng kĩ năng địa lí cho học sinh để các em học tập bộ môn đợc tốt hơn
Do đó, sử dụng phối hợp kênh hình trong việc hình thành kiến thức Địa lí 10
có ý nghĩa rất lớn Nó vừa tạo ra cơ sở hạ tầng kiến thức, vừa hình thành t duy biện chứng Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các em có hứng thú học tập bộ môn, hiểu sâu kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào thực tế và muốn dạy học Địa lí có kết quả tốt thì tính trực quan trong dạy học là rất cần thiết
II Mục đích nghiên cứu
III Đối tợng nghiên cứu
Học sinh lớp 10 THPT
IV Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
Đề tài này đợc thực hiện nghiên cứu ở chơng trình Địa lí lớp 10 – THPT, phần Địa lí tự nhiên
V Phơng pháp nghiên cứu
Tìm hiểu các tài liệu có liên quan đến nội dung đề tài để áp dụng vào dạy học và thực tế giảng dạy ở trên lớp
VI Thời gian nghiên cứu
2
Trang 3Học kì I, năm học 2008 - 2009
Phần thứ hai:
Nội dung
I Cơ sở lí luận chung
1 Quan niệm chung về kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 10
Kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 10 là một bộ phận quan trọng trong bài địa lí với chức năng chủ yếu là nguồn tri thức Với cách biên soạn theo hớng mở, sách giáo khoa địa lí 10 đã trình bày một số kiến thức ẩn trong kênh hình, kèm theo câu hỏi hớng dẫn học sinh tìm tòi khám phá các tri thức
từ đó Nh vậy, kiến thức cơ bản không chỉ có ở phần kênh chữ mà còn nằm ở kênh hình, ẩn chứa trong các lợc đồ, ảnh , bảng số liệu
Kênh hình đợc hiểu nh thế nào? “Tất cả các hình vẽ, bao gồm các sơ đồ, lợc đồ, bản đồ và các sản phẩm của khoa học bản đồ, tranh ảnh và các hình vẽ, các bảng biểu trong sách giáo khoa đợc gọi chung là kênh hình.” Chúng có tính trực quan cao và tính diễn giải logic các hiện tợng trong dạy học địa lí
Hệ thống kiến thức chứa đựng trong kênh chữ giúp học sinh hình thành
hệ thống kiến thức cơ bản, phát triển t duy địa lí, t duy trừu tợng, hình thành thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng Hệ thống kiến thức này
đợc xích lại gần thực tế hơn nếu biết khai thác những kiến thức tàng trữ trong
Trang 4kênh hình phục vụ bài học địa lí Ngoài kiến thức minh hoạ cho kênh chữ, những kiến thức tàng trữ trong kênh hình có khả năng nâng cao và mở rộng tầm hiểu biết của học sinh mà kênh chữ cha đề cập đến hoặc điều kiện thời gian không cho phép Vì vậy, cần coi trọng đúng mức vai trò của kênh hình trong các sách giáo khoa
2 Các loại kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 10
Kênh hình trong sách giáo khoa Địa lí 10 có nhiều loại khác nhau với
số lợng không giống nhau Theo thống kê, loại có số lợng nhiều nhất là sơ đồ (50), tiếp đến là lợc đồ (33) và ảnh (31); bảng số liệu, biểu đồ, bảng kiến thức
có số lợng không lớn, ít nhất là khối đồ Kiến thức địa lí 10 là kiến thức đại
c-ơng, tơng đối trừu tợng với học sinh nên ta thấy hình thức biểu hiện nhiều kiến thức bằng sơ đồ Các sự vật, hiện tợng địa lí có mặt ở khắp nơi trong lớp vỏ địa
lí, học sinh không thể quan sát trực tiếp đợc, do đó phải sử dụng tranh ảnh để học sinh quan sát gián tiếp và dùng lợc đồ trình bày sự phân bố các đối tợng
địa lí
3 ý nghĩa của việc khai thác kênh hình trong dạy học địa lí
ở đây tôi đề cập chủ yếu đến ý nghĩa của bản đồ, sơ đồ, lợc đồ và các hình vẽ trong dạy học địa lí 10 Trong việc dạy học địa lí ở lớp 10, giáo viên đã
sử dụng nhiều đồ dùng dạy học khác nhau nhng quan trọng nhất là bản đồ giáo khoa, bản đồ, sơ đồ, lợc đồ trong sách giáo khoa, các bản đồ câm và Atlat địa
lí Và trong đó các sơ đồ, bản đồ, lợc đồ trong sách giáo khoa đợc học sinh tiếp xúc nhiều nhất và đây cũng là thể loại duy nhất học sinh nào cũng có thể có, các em dùng nó để học ở nhà và học ở trờng Hơn nữa thể loại này gắn bó với các bài học địa lí rất khăng khít không thể tách rời, nó giúp học sinh t duy địa
lí gắn liền với từng lãnh thổ Các kiến thức địa lí đợc trình bày trong bài học bằng ngôn ngữ viết; còn các sơ đồ, lợc đồ, bản đồ phản ánh chúng bằng ngôn ngữ bản đồ Sự phối hợp giữa ngôn ngữ viết và ngôn ngữ bản đồ làm cho việc phản ánh thực tế địa lí sinh động hơn, đầy đủ hơn, giúp cho việc nhận thức thực tế địa lí dễ dàng hơn
Các sơ đồ, lợc đồ, bản đồ trong sách giáo khoa giúp học sinh nhìn bao quát đợc các hiện tợng diễn ra trong các khoảng không gian rộng lớn trên Trái
đất mà học sinh không thể tri giác trực tiếp đợc Chúng cũng mở rộng khái niệm không gian cho học sinh , cho phép các thiết lập mối quan hệ tơng hỗ và nhân quả giữa các hiện tợng, trong các quá trình tự nhiên, kinh tế, xã hội, phát
4
Trang 5triển t duy lôgic, năng lực quan sát , đồng thời hình thành trong các em thế giới quan biện chứng
Các sơ đồ, lợc đồ bản đồ còn tham gia hình thành trong học sinh các quy luật phân bố của các đối tợng địa lí, quy luật phân bố lực lợng sản xuất, quy luật phân công lao động theo lãnh thổ,
II Một số phơng pháp sử dụng kênh hình sách giáo khoa địa lí 10 trong bài dạy học trên lớp.
Kênh hình là một bộ phận quan trọng trong nội dung sách giáo khoa, khi học với sách giáo khoa học sinh phải có nhiệm vụ khai thác tri thức từ kênh hình; giáo viên khi dạy học phải tổ chức và hớng dẫn học sinh làm việc với hình để thu nhận những kiến thức từ đó Hệ thống các hình sách giáo khoa
địa lí 10 có tính đại diện cao chứa đựng các kiến thức cơ bản rất rõ ràng; đồng thời đợc sắp xếp một cách hợp lí trong bài, thể hiện đợc những kiến thức khó t-ờng minh bằng chữ ngắn gọn
Ví dụ: Để trình bày cấu trúc Trái đất, nếu trình bày bằng chữ thì vừa dài vừa khó hiểu, nhng dùng một sơ đồ ( Hình 7.1- Cấu trúc của Trái đất, trang 25-sách giáo khoa địa lí 10) thì thể hiện đợc rất rõ và dễ hiểu
Kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 10 có tính thẩm mĩ cao, đợc in màu đẹp bắt mắt mà không phải sách giáo khoa nào cũng có đợc nên cũng góp phần tăng thêm sức hấp dẫn của sách giáo khoa, tạo hứng thú học tập cho các
em học sinh Hầu hết các hình đều kèm theo câu hỏi/ nhiệm vụ đối với học sinh, nó vừa có tính hỏi vừa có tính hớng dẫn , gợi ý cho học sinh chú trọng vào khía cạnh của hình cần quan sát, rút ra nhận xét Nhờ hệ thống câu hỏi hoặc nhiệm vụ kèm theo hình, các em có thuận lợi hơn trong định hớng vào các nội dung cần khai thác tìm kiếm
Khi hớng dẫn học sinh học tập trên lớp, giáo viên không đợc làm thay học sinh việc phân tích, giải nghĩa, rút ra kiến thức cần nắm; mà giáo viên nên
là ngời tổ chức, hớng dẫn các em làm việc theo các câu hỏi kèm theo hình, phát hiện, tìm tòi các kiến thức cần nắm
Để tổ chức cho học sinh làm việc tốt với hình có thể đợc tiến hành bằng nhiều cách khác nhau, bản thân tôi khi dạy học chơng trình sách giáo khoa địa
lí 10 đã áp dụng một số cách sau:
1 Đàm thoại gợi mở với hình
Trang 6Đàm thoại gợi mở là phơng pháp trong đó giáo viên soạn ra câu hỏi lớn thông báo cho học sinh Sau đó chia câu hỏi lớn ra thành câu hỏi nhỏ hơn, có quan hệ lôgíc với nhau, tạo ra những cái mốc trên con đờng thực hiện câu hỏi lớn
Làm việc với hình sách giáo khoa, học sinh phải thực hiện các câu hỏi hoặc nhiệm vụ gắn với hình Nhìn chung, các câu hỏi gắn với hình trong sách giáo khoa địa lí 10 thờng có 2 loại Một loại chỉ yêu cầu quan sát và nhận xét ( hoặc phát hiện các sự vật hiện tợng ở trên hình) trong sách giáo khoa Ví dụ: “ Quan sát hình 5.2, nhận xét quỹ đạo và hớng chuyển động của các hành tinh?” hoặc “ Dựa vào hình 7.3, cho biết 7 mảng kiến tạo lớn là những mảng nào?” Loại thứ 2, câu hỏi gồm 2 ý gắn bó với nhau ý đầu chủ yếu hớng học sinh vào quan sát, rút ra nhận xét; ý sau yêu cầu học sinh giải thích Ví dụ: “ Dựa vào hình 6.1 và kiến thức đã học, hãy xác định khu vực nào trên Trái Đất
có hiện tợng Mặt Trời lên thiên đỉnh mỗi năm hai lần? Nơi nào chỉ có một lần? Khu vực nào không có hiện tợng Mặt Trời lên thiên đỉnh? Tại sao?” hay “ Dựa vào hình 13.2 và kiến thức đã học, hãy trình bày và giải thích tình hình phân
bố ma trên các lục địa theo vĩ tuyến 400 B từ Đông sang Tây” Loại câu hỏi sau thờng phức tạp hơn loại trớc, chủ yếu ở phần giải thích Để thực hiện câu hỏi này, tuỳ thuộc đối tợng học sinh, có thể có các mức độ hớng dẫn khác nhau, nhng nhìn chung giáo viên nên gợi ý, hớng dẫn học sinh thực hiện
Ph-ơng pháp thông dụng là đàm thoại gợi mở trên cơ sở câu hỏi của sách giáo khoa
Nội dung chơng trình phần địa lí tự nhiên là một phần tơng đối khó, với học sinh ở các lớp đại trà thì việc tự hoạt động với kênh hình để tìm ra kiến thức không phải là điều dễ dàng Vì thế rất cần sự hớng dẫn cụ thể của giáo viên, đặc biệt là ở những bài đầu chơng trình, hớng dẫn cụ thể sẽ giúp học sinh tìm ra kiến thức tốt hơn và khi các em đã đợc làm quen với cách học, cách tìm hiểu nội dung của bài thì những bài sau học sinh sẽ có thể làm bài đạt hiệu quả cao hơn
Ví dụ 1: Đối với hình 2.2 – Công nghiệp điện Việt Nam, câu hỏi kèm theo hình là “ Dựa vào hình 2.2, hãy chứng minh rằng phơng pháp kí hiệu không chỉ nêu đợc tên và vị trí mà còn thể hiện đợc cả chất lợng của các đối t-ợng trên bản đồ.”
Để trả lời câu hỏi này, giáo viên hớng dẫn học sinh quan sát các kí hiệu
và gợi ý bằng những câu hỏi nhỏ nh:
6
Trang 7+ Cho biết ở nớc ta có những nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện nào? sự phân bố của các nhà máy đó?
+ Kí hiệu ngôi sao màu xanh liền và ngôi sao để trống thể hiện đối tợng khác nhau về chất lợng hay số lợng? (Chất lợng)
+ Kí hiệu nhiệt điện có loại to, loại nhỏ biểu hiện các đối tợng khác nhau về chất lợng, số lợng hay quy mô đối tợng? (Quy mô)
+ Nh vậy, có thể kết luận đợc gì về chức năng của kí hiệu?
Và khi đó học sinh sẽ có thể trả lời đợc: ngôi sao khác nhau đã cho thấy
đợc các nhà máy thuỷ điện đã đa vào sản xuất và có nhà máy thuỷ điện vẫn còn đang xây dựng, tên các nhà máy và vị trí cũng đợc thể hiện rất rõ trên bản
đồ Các nhà máy nhiệt điện loại to, nhỏ biểu hiện sự khác nhau về quy mô của
đối tợng Kết luận: Các kí hiệu không những chỉ nêu đợc tên và vị trí địa lí
mà còn thể hiện đợc cả số lợng và chất lợng của các đối tợng trên bản đồ
Ví dụ 2: Với hình 6.3 – Hiện tợng ngày, đêm dài ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ (Ví dụ trong các ngày 22 – 6 và 22 – 12) Giáo viên có thể gợi mở học sinh bằng các câu hỏi để đạt tới những kiến thức cần thiết:
+ Hãy chỉ ra đờng sáng tối trên hình vẽ và vị trí của nó vào ngày 22 – 6
và 22 – 12; đờng sáng tối của ngày trên hình vẽ có điểm gì tơng tự nhau? Trả lời: Cắt trục Trái Đất ở xích đạo, chia xích đạo ra hai phần sáng tối bằng nhau
+ Đờng sáng tối của 2 ngày trên hình vẽ có điểm gì khác nhau?
Trả lời: Ngày 22- 6, phần chiếu sáng ở bán cầu Bắc có diện tích lớn hơn phần
bị khuất trong bóng tối; ngày 22 – 12 ở bán cầu Bắc, phần chiếu sáng có diện tích nhỏ hơn phần khuất trong bóng tối
+ Nếu giả sử trục Trái Đất nghiêng ngợc lại với hớng hiện nay thì tình hình diện tích chiếu sáng và khuất trong bóng tối ở mỗi bán cầu sẽ nh thế nào? Trả lời: Sẽ không đúng nh hiện nay
Vậy rõ ràng nguyên nhân ngày đêm dài ngắn theo mùa là do trong khi chuyển động quanh Mặt trời, trục Trái đất nghiêng và không đổi phơng
* Có một số hình trong sách giáo khoa đòi hỏi giáo viên phải hớng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức đã có vào việc phân tích hình mới có thể giải thích đợc
Trang 8Ví dụ: Hình 12.4 – Gió biển và gió đất Câu hỏi kèm theo: “ Dựa vào hình 12.4 và kiến thức đã học, hãy trình bày sự hoạt động của gió biển và gió
đất.”
Về ý trình bày hoạt động của gió biển và gió đất, giáo viên hớng dẫn học sinh quan sát hớng gió và nêu nhận xét: Gió biển là gió thổi từ biển vào
đất liền vào ban ngày; gió đất là gió từ đất liền thổi ra biển vào ban đêm
Để trình bày sự hình thành gió biển và gió đất, giáo viên lu ý học sinh
về sự khác nhau mặt đệm đất và biển, từ đó việc thu và toả nhiệt giữa đất liền
và biển không giống nhau dẫn đến sự chênh lệch khí áp giữa 2 địa điểm, dẫn
đến cơ chế gió nh ở trên
Ban ngày ở lục địa ven bờ đất hấp thụ nhiệt nhanh, nóng hơn mặt nớc ven biển, nên ven bờ trên đất liền hình thành áp thấp; ở ven bờ trên mặt biển mát hơn nên hình thành cao áp; gió thổi từ cao áp (ven biển) vào áp thấp (ven
đất liền) gọi là gió biển Ban đêm, đất liền toả nhiệt nhanh, nên mát hơn, hình thành cao áp ở vùng đất liền; vùng nớc biển ven bờ toả nhiệt chậm, nên hình thành áp thấp, gió từ áp cao (đất liền) thổi tới áp thấp (ven biển) gọi là gió đất
Nh vậy để hiểu rõ nội dung của phần này học sinh cần liên hệ tốt với kiến thức nguyên nhân thay đổi của khí áp (khí áp thay đổi theo nhiệt độ)
2 Tổ chức cho học sinh thảo luận với hình
Thảo luận là phơng pháp trong đó học sinh mạn đàm, trao đổi với nhau xoay quanh một vấn đề đợc đặt ra dới dạng câu hỏi, bài tập hay nhiệm vụ nhận thức
Phơng pháp thảo luận đợc thực hiện trong bài học trên lớp ở các trờng hợp nội dung bài học dễ gây ra những ý kiến khác nhau ở các em học sinh Trớc một bức ảnh địa lí, một sơ đồ, bảng số liệu các em khác nhau dễ có các
ý kiến không nhất quán với nhau hoàn toàn Đó là cơ hội để tổ chức trao đổi, mạn đàm ở nhóm học sinh Chính vì vậy, phơng pháp thảo luận đợc sử dụng rất thích hợp với kênh hình
Thảo luận với hình có thể đợc tổ chức theo lớp (giáo viên chủ trì), thảo luận nhóm nhỏ (nhóm trởng học sinh chủ trì), thảo luận cặp đôi Các câu hỏi/ nhiệm vụ giao cho học sinh có tầm quan trọng rất lớn trong việc nâng cao chất lợng của thảo luận Vì vậy, giáo viên nên cân nhắc các câu hỏi, nhiệm vụ giao cho học sinh
8
Trang 9Những câu hỏi hay nhiệm vụ tơng đối rõ ràng không nên đa cho học sinh thảo luận Chỉ nên giao những nhiệm vụ hay câu hỏi dễ gây ra các ý kiến khác nhau Những nội dung này thờng có liên hệ với các vấn đề thực tiễn mà học sinh đã có một số vốn tri thức nhất định, hoặc liên quan tới các bài học
tr-ớc Thảo luận thờng đợc tiến hành nhiều với kênh hình trong sách giáo khoa Việc khám phá, tìm tòi khai thác kiến thức từ kênh hình thu hút ý kiến của nhiều học sinh khác nhau
Ví dụ: Bài 16 Sóng, thuỷ triều, dòng biển Hình 16.4 – Các dòng biển trên thế giới Giáo viên tổ chức cho các nhóm học sinh quan sát bản đồ các dòng biển trên đại dơng thế giới để thảo luận theo dàn ý:
+ Nơi xuất phát, hớng chảy và quá trình thay đổi hớng chảy của các dòng biển nóng trên các đại dơng
+ Nơi xuất phát và hớng chảy của các dòng biển lạnh trên các đại dơng
ở hai bán cầu
+ Những dòng biển lạnh trên các đại dơng ở bán cầu Bắc thờng xuất phát ở khoảng vĩ độ nào? ở bờ nào của đại dơng? Chảy về đâu?
+ Sự đối xứng các dòng biển nóng và lạnh giữa bờ Đông và bờ Tây đại dơng ở khoảng vĩ tuyến 300 – 400 và ở vùng cực thể hiện nh thế nào?
III Kết quả đạt đợc khi sử dụng phơng pháp đàm thoại gợi mở với hình
và phơng pháp tổ chức cho học sinh thảo luận với hình.
Qua quá trình cho học sinh thực hiện nội dung theo các phơng pháp vừa trình bày, tôi nhận thấy các em đã có hứng thú hơn trong việc tìm hiểu nội dung và khả năng tiếp thu, tìm tòi kiến thức cũng đợc đánh giá cao Các em rất tích cực tham gia xây dựng bài, với các câu hỏi gợi mở đặt ra phần nào vừa sức hơn với học sinh; những em học sinh yếu hơn cũng đã có thể tham gia vào nội dung bài, những em có lực học khá có cơ hội thử sức với những câu hỏi khó Vì thế mà bài giảng trên lớp rất sôi nổi, đối tợng học sinh nào cũng đợc tham gia So với năm học trớc, kết quả có phần khả quan hơn Tỉ lệ học sinh hiểu bài tại lớp cũng khá hơn so với trớc Sau một thời gian khi đã quen với cách học, các em đã có hứng thú hơn khi học tập bộ môn Các nội dung làm việc với hình trong sách giáo khoa đã đợc các em quan tâm tìm hiểu vì đã thấy rất bổ ích trong việc tiếp thu bài tại lớp và học bài ở nhà
Trang 10Phần thứ ba:
Kết luận Việc dựa vào kênh hình trong sách giáo khoa địa lí 10 và các phơng tiện dạy học khác để tổ chức các hoạt động học tập ở trên lớp cũng nh ngoài lớp là rất cần thiết và phải làm đợc Phơng pháp làm việc giữa thầy và trò theo cách này sẽ hình thành trong học sinh phơng pháp học tập mới: độc lập, tự giác suy ngẫm, khám phá những kiến thức mới tàng trữ trong kênh hình.Mỗi hình chọn lọc dựa vào sách giáo khoa biểu hiện một khía cạnh, một dấu hiệu của khái niệm về địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế xã hội Sử dụng phối hợp kênh hình sẽ dần hình thành kiến thức hoàn chỉnh và khai thác đầy đủ các mối quan hệ vốn
có trong các sự vật và hiện tợng tự nhiên, kinh tế xã hội Cách học này sẽ dần
10