Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn năm 1900 – 1945 có sự tồn tại song song của hai nền văn học mới và cũ với hai lực lượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm tiếp nhận khác nhau. Nền văn học cũ đang suy yếu dần từng bước cánh tân, nền văn học mới vừa phát huy những yếu tố hiện đại vừa kế thừa những thành tựu cũ, tiêu biểu trong giai đoạn này có Hồ Biểu Chánh – một nhà văn lớn của Nam Bộ. Người có công mở đường cho nền tiểu thuyết văn học Việt Nam hiện đại. Khi cả người sáng tác và người tiếp nhận văn xuôi còn bỡ ngỡ với các tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh đã ra sức bồi đắp, tạo dựng cho nền tiểu thuyết mới, đưa nó đến gần với bạn đọc. Để hiểu rõ hơn những đóng góp của ông bài viết này sẽ làm sáng tỏ những bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết nhà văn Hồ Biểu Chánh
Trang 1MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
2.1Giai đoạn trước năm 1945: 2
2.2Giai đoạn 1945 – 1975: 2
2.3Giai đoạn sau năm 1975: 3
3.Đối tượng – phạm vi nghiên cứu 4
3.1Đối tượng nghiên cứu 4
3.2Phạm vi nghiên cứu 4
4.Phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp 4
4.2 Phương pháp so sánh 4
4.3 Phương pháp thống kê – phân loại 4
5.Đóng góp của đề tài 5
6.Cấu trúc đề tài 5
B NỘI DUNG 6
Chương 1: Những vấn đề chung về bi kịch trong văn học 6
1.1Khái niệm bi kịch 6
1.2Bị kịch trong văn học 7
1.3Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết 8
Chương 2: Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhìn từ phương diện nội dung, tư tưởng 10
2.1 Bi kịch sống trong cảnh nghèo khổ, dốt nát 10
2.2 Bi kịch bị coi thường, khinh rẻ 14
2.3 Bi kịch thiếu ý thức phản kháng đấu tranh 17
Chương 3:Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhìn từ phương diện phương thức thể hiện 19
3.1 Mâu thuẫn - Xung đột 19
Trang 23.2 Ngôn ngữ 22
3.3 Giọng điệu 23
C KẾT LUẬN 25
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 27
Trang 3A MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn năm 1900 – 1945 có
sự tồn tại song song của hai nền văn học mới và cũ với hai lựclượng sáng tác, hai công chúng với hai quan niệm tiếp nhậnkhác nhau Nền văn học cũ đang suy yếu dần từng bước cánhtân, nền văn học mới vừa phát huy những yếu tố hiện đại vừa
kế thừa những thành tựu cũ, tiêu biểu trong giai đoạn này có
Hồ Biểu Chánh – một nhà văn lớn của Nam Bộ Người có công
mở đường cho nền tiểu thuyết văn học Việt Nam hiện đại Khi
cả người sáng tác và người tiếp nhận văn xuôi còn bỡ ngỡ vớicác tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ, Hồ Biểu Chánh
đã ra sức bồi đắp, tạo dựng cho nền tiểu thuyết mới, đưa nóđến gần với bạn đọc
Ngày nay vị trí và vai trò của Hồ Biểu Chánh như vẫn còn
đó không chút mờ nhạt Bởi “ông nhìn thấy lối viết tiểu thuyết của ta trần hủ quá, chán ngán quá, ông phải cải lương đi Song cải lương mà không dựa vào cái sở hiếu của công chúng cũng không được” [4;112] Không những thế tiểu thuyết của ông còn
như một bức tranh hiện thực sinh động và đa dạng Những câuchuyện, sự kiện, hình ảnh được ghi lại trong tác phẩm của HồBiểu Chánh là dấu tích của những năm tháng đầy biến độngtrong lịch sử người dân Nam Bộ thời bấy giờ Chính vì lẽ đó ông
là nhà văn duy nhất trong các nhà tiểu thuyết đầu thế kỉ XX cótác phẩm được trích giảng trong chương trình phổ thông trunghọc Một số tiểu thuyết của ông còn được chuyển thể thànhphim, đáp ứng nhu cầu thị hiếu thẩm mỹ của người xem Bởi
Trang 4vậy có thể nói mặc dù ông đã đi xa nhưng những tiểu thuyết
mà ông để lại vẫn còn giá trị cho đến hôm nay
Ông là tác giả tiêu biểu có vị trị cực kì quan trọng trong vănhọc Việt Nam hiện đại đầu thế kỉ XX không chỉ vì số lượng sángtác nhiều mà còn vì ông có ảnh hưởng sâu sắc đến văn họcđương thời Cùng với nét đặc sắc mà ít nhà văn nào có được đóchính là chất Nam Bộ đậm đà Đọc tác phẩm của ông, bạn đọcnhận ra dấu ấn địa phương, chất vùng miền đậm đặc trongtừng câu chữ, từng trang viết Có lẽ vì thế mà hậu thế vẫn luônyêu thích tiểu thuyết của ông Bởi thế các bài tham luận, cáccông trình nghiên cứu về Hồ Biểu Chánh có thể nói là phongphú, đa dạng, các tiểu thuyết của ông đã được tìm hiểu nghiêncứu dưới nhiều góc độ Chất Nam Bộ trong tiểu thuyết của ôngcũng đã được nhiều nhà nghiên cứu nói đến, tuy nhiên chưa có
công trình nào đề cập có hệ thống đến vấn đề “Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh” Chính
vì những lí do đó đã thúc đẩy chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đềtài này để tìm hiểu, nghiên cứu
2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Là một nhà văn thuộc thế hệ hiện đại hóa văn học Việt Namnhững năm đầu thế kỉ XX nên số lượng công trình nghiên cứu
về Hồ Biểu Chánh khá nhiều, nhưng các công trình này chủ yếu
đi sâu vào nội dung, tư tưởng, nghệ thuật của tiểu thuyết HồBiểu Chánh nhưng ít chú trọng đến bi kịch của người dân Nam
Bộ trong tiểu thuyết của ông Các công trình nghiên cứu về HồBiểu Chánh có thể chia làm ba giai đoạn:
2.1.Giai đoạn trước năm 1945
Trang 5Sáng tác của Hồ Biểu Chánh ở giai đoạn này không đượcgiới phê bình, nghiên cứu đánh giá cao, thế nhưng cũng đã cómột số công trình nghiên cứu có giá trị về tác phẩm của ông:
Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn (1933) là công trình
đầu tiên nhìn nhận, đánh giá về tiểu thuyết Hồ Biểu Chánhnhưng đã có những nhận xét đúng đắn về tài quan sát của HồBiểu Chánh
Trong công trình nghiên cứu về Nhà văn hiện đại (1942) Vũ
Ngọc Phan đã khẳng định được Hồ Biểu Chánh là một nhà tiểuthuyết nổi tiếng
2.2.Giai đoạn 1945 – 1975
Phần lớn những công trình nghiên cứu ở giai đoạn này chủyếu đi sâu nghiên cứu vai trò, vị thế của ông trong tiểu thuyếtViệt Nam:
Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974) đã
giới thiệu rõ về Hồ Biểu Chánh đồng thời tác giả cũng đưa ranhững nhận xét về những đóng góp và chỉ ra những mặt hạnchế về vấn đề đấu tranh giải phóng dân tộc trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh
Trong Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974) Nguyễn Khuê cũng
đã nhấn mạnh, khẳng định rõ “chủ đích luân lí” trong tiểuthuyết Hồ Biểu Chánh
2.3.Giai đoạn sau năm 1975
Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn giải phóng Bắc – Namsum họp một nhà nên cũng là điều kiện thuận lợi cho việc
Trang 6nghiên cứu phê bình phát triển, trong đó có nghiên cứu phêbình về Hồ Biểu Chánh.
Năm 1988 Hội thảo khoa học về Hồ Biểu Chánh lần đầu tiên
được tổ chức Đây là sự kiện đánh dấu bước phát triển mới trêncon đường phê bình nghiên cứu tìm hiểu về Hồ Biểu Chánh,đồng thời cũng cho ta thấy được vai trò vị trí hết sức quan trọngcủa Hồ Biểu Chánh trong văn học Việt Nam
Năm 1989 khi viết lời tựa cho cuốn Tiền bạc bạc tiền GS
Nguyễn Huệ Chi đã đánh giá cao phương diện phản ánh hiệnthực của tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
http://hobieuchanh.com/pages/baiviet.html được thành lập bởi
nhóm tác giả Trang Quang Sen, Phan Tấn Tài, Huỳnh Thị LanPhương Trang web đã sưu tầm đăng tải toàn bộ các sáng táccủa Hồ Biểu Chánh và nhiều bài nghiên cứu phê bình có giá trịliên quan đền cuộc đợi, sự nghiệp, nội dung, nghệ thuật cácsáng tác của ông từ trước cho đến nay
Năm 2014 Phạm Thị Minh Hà trong công trình Dấu ấn văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh đã khẳng định được “Vì những điều kiện tự nhiên, bề dày truyền thống văn hóa khác với Bắc Bộ, người Nam Bộ ít bị ràng buộc bởi những quan hệ có tính chất phong kiến Họ sống một cách cần cù, chăm chỉ, nhẫn nại, chịu thương chịu khó, sống một cách thật thà, chất phác, phóng khoáng, hào hiệp, yêu ghét rõ ràng Những nét tính cách này được Hồ Biểu Chánh tập trung miêu tả trong những trang tiểu thuyết của ông Vì vậy hầu như bất kỳ
Trang 7người dân Nam Bộ nào cũng đều ít nhiều thấy bóng dáng của mình trong tiểu thuyết của ông”.
Ngược dòng thời gian cùng tìm hiểu lại những bài viết, côngtrình nghiên cứu tiêu biểu về Hồ Biểu Chánh ta có thể thấyđược đây là một mảnh đất mà mỡ đã có nhiều người khai phá.Nhưng vẫn còn ít những công trình nghiên cứu về mảnh đấtNam Bộ nói chung và bi kịch của người dân Nam Bộ nói riêng
3.Đối tượng – phạm vi nghiên cứu
3.1Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của tiểu luận là bi kịch củangười dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh
3.2Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu một số tiểu thuyết mà ở
đó bi kịch của người dân Nam Bộ được Hồ Biểu Chánh làm nổibật lên: Khóc thầm, Con nhà nghèo, Ngọn cỏ gió đùa, Cha connghĩa nặng, Chúa tàu Kim Quy, Cười gượng, Nợ đời, …
4.Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ “Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh”, chúng tôi tiến hành so sánh điểm khác biệt
của ông với các nhà văn cùng thời hoặc khác thời làm tăng tínhthuyết phục cho đề tài nghiên cứu này
Trang 84.3 Phương pháp thống kê – phân loại
Phương pháp này sẽ giúp cho việc phân tích bi kịch củangười dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh có thêmsức thuyết phục
Hồ Biểu Chánh - nhìn từ phương diện nội dung tư tưởng
Chương 3: Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết
Hồ Biểu Chánh – nhìn từ phương thức thể hiện
Trang 9B NỘI DUNG
Chương 1: Những vấn đề chung về bi kịch trong văn học
1.1Khái niệm bi kịch
Bi kịch là một hiện tượng luôn tồn tại hiện hữu trong xã hội
ở mọi nơi, mọi lúc, mọi địa điểm, mọi hoàn cảnh, thời kỳ nhưngcuộc sống luôn đa dạng, phức tạp nên mức độ phản ánh của bi
kịch cũng khác nhau Bởi vậy, khái niệm “bi kịch” cũng được
nhìn nhận theo nhiều hướng khác nhau:
“Bi kịch” với tư cách là một phạm trù mỹ học được hiểu là
tình trạng xung đột xảy ra trực tiếp giữa cái tốt đẹp và cái xấu
xa, bỉ ổi Chúng là những xung đột có ý nghĩa xã hội, lịch sử,đạo đức,tâm lý, những xung đột bi kịch liên quan đến lẽ sống
và tình đời rộng lớn của con người, có ý nghĩa triết lý sâu xalàm chúng ta xúc động và rút ra bài học không chỉ cho bản thân
mà còn cho mọi người Thế nên, Marx từng nói “bi kịch là xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng thực hiện nó trong thực tiễn”
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cũng đã định nghĩa:
“Bi kịch là một thể loại kịch, thường được coi như là đối lập với hài kịch Bi kịch phản ánh không bằng tự sự mà bằng hành động của nhân vật chính, mối xung đột không thể điều hòa được giữa cái thiện và cái ác, cái cao cả và cái thấp hèn, … diễn
ra trong tình huống cực kỳ căng thẳng mà nhân vật chỉ có thể thoát ra khỏi nó bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư và xúc động mạnh mẽ đối với công chúng” [2,98]
Trang 10Khác khái niệm “bi kịch” với tư cách là phạm trù mỹ học, khái niệm “bi kịch” với tư cách là khái niệm đời thường: chính là
những bất hạnh của bản thân mỗi nhân vật Các nhân vậtthường dễ rơi vào nhiều tình thế bất hạnh khác nhau, họ bị mộtthế lực, một nguyên nhân nào đó làm bản thân rơi vào đau khổ,
cùng cực Đó là bi kịch bị bóc lột, bi kịch “miếng cơm manh áo”, bi kịch sức ép mùa sưu thuế, bi kịch đói nghèo…
1.2 Bị kịch trong văn học
Bi kịch trong văn học từ khi mới xuất hiện đã là một điểmlàm nên nét độc đáo của văn học Việt Nam, nó được biểu hiện ởnhiều phương diện khác nhau
Đầu tiên là bi kịch của người say mê, sáng tạo cái đẹpnhưng lại sống trong một xã hội không có chỗ cho sự sáng tạo,ngược lại còn bị vùi dập, bị giết chết Đó là bi kịch của Vũ Như
Tô trong tác phẩm cùng tên của Nguyễn Huy Tưởng Ngay khi
mở đầu tác phẩm Vũ Như Tô đã hiện lên với hình tượng là một
người kiến trúc sư thiên tài “là người ngàn năm dễ có một … có thể sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân, có thể xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ” Không những là kiến trúc sư thiên tài mà ông còn là người
có khát vọng lớn lao.Nhưng khát vọng nghệ thuật đó lại đặt lầmnơi lạc chốn, xa rời thực tế nên phải trả giá bằng chính sinhmệnh của bản thân và cả công trình thấm đẫm mô hôi, trí tuệcủa mình
Cũng như trong xã hội bi kịch là trạng thái phổ biến, thường
trực luôn xảy ra với mỗi người như Nguyễn Khải từng viết: “đã gọi là kiếp người thì không chỉ có vui mà còn có buồn, thường
Trang 11thì buồn nhiều hơn, không chỉ có đúng mà còn có lầm lẫn, thường là lầm lẫn nhiều hơn Có những kiếp người một đời đau buồn, một đời thất bại và một đời lầm lẫn, những tiếng kêu thống thiết của họ vẫn còn vang vọng đến tận hôm nay…”
[1,51] Như cuộc đời của Chí Phèo là một chuỗi những sai lầm,bất hạnh, chuỗi ngày của bi kịch liên tục xảy ra: Đầu tác phẩmChí hiện lên không phải con người bằng xương, bằng thịt màhiện lên bằng tiếng chửi Chí còn là một đứa con hoang bị bỏrơi, chưa dừng lại ở đó sau khi từ nhà tù Thực Dân trở về Chí làmột kẻ bị tha hóa, lưu manh từ đây bị cự tuyệt luôn cả quyềnthiêng liêng nhất - quyền làm người, đỉnh điểm là tới nhà BáKiến giết hắn rồi tự tử
Ta thấy rằng bi kịch trong văn học tồn tại rất đa dạng,phong phú không chỉ ở văn học Việt Nam mà còn có ở văn họcnước ngoài: Khi nói đến bi kịch trong văn học nước ngoài người
mà ta không thể không kể đến đó là William Shakespeare, ông
là người nổi tiếng với hàng loạt vở bi kịch nổi tiếng, trong đó có
thể kể đến vở Macbeath một tấn bi kịch của tham vọng, bá
quyền và mưu đồ xấu xa Câu chuyện kể về Macbeth, lãnh chứa
xứ Glamis, cùng với Banquo – tổng tư lệnh quân đội củaScotland, dẫn quân chiến đấu xâm lược, trong sự rung động củacuộc chiến thắng Macbeth gặp bà phù thủy tiên tri ông sẽ làlãnh chúa xứ Cawdor, sau này sẽ trở thành vua, còn Banquongười có ít quyền lực hơn Macbeth những sẽ hạnh phúc hơn, có
ít thành công nhưng thỏa mãn hơn Rồi bà phù thủy biến mất
để lại cho Macbeth và Banquo sự rung động trong tâm trí Để
ăn mừng chiến thắng này vua Duncan đã ban cho Macbeth làm
Trang 12lãnh chúa xứ Cawdor sau khi trừng phạt tên lãnh chúa phảnbội Từ đây hàng loạt bi kịch đã xảy ra khi Macbeth tự phongmình làm vua dẫn đến những hành động chìm sâu trong thamvọng, bá quyền, trở thành tên ác vương hung bạo.
Như vậy ta thấy rằng bi kịch trong văn học tồn tại dướinhiều hình thức khác nhau rất đa dạng và phong phú
1.3.Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết
Trong những năm trước cách mạng đất nước gặp nhiều khókhăn biến động, ở Nam Bộ cũng bị Pháp tái chiến Vì thế lúc nàyrất cần những cây bút phản ánh đúng sự thực ở đời như Banzac
từng nói nhà văn là “người thư ký trung thành của thời đại”.
Bấy giờ có rất nhiều nhà văn đã làm được điều đó:
Nhà văn Phi Vân là người đã góp phần thể hiện đậm nét conngười,văn hóa Nam Bộ đặc biệt là đời sống của người dân miềnTây sông nước cùng với những bi kịch trong cuộc sống của họ.Không chỉ là bi kịch sống nơi nghèo nàn, lạc hậu “chó ăn đá, gà
ăn muối”, nơi chìm ngập trong bóng tối mênh mang của thờiman rợ Mà đó còn là những bi kịch của người dân lam lũ nơiruộng đồng, sống dưới ách thống trị của bọn hội đồng, hương
chức làng xã tàn ác, thô bạo như hội đồng Nghĩa trong Đồng quê, hội đồng Thế, Chánh hương quản trong Dân quê, … Tất cả
chúng hầu như rất xấu xa, bỉ ổi, thích sống trên mồ hôi nướcmắt của người khác, lợi dụng sự thiếu hiểu biết, hoàn cảnh khókhăn của người nông dân để trục lợi Bi kịch của họ là bi kịchkhông địa vị, không tiền bạc nên thường bị sát sinh, bị bắt bớ
và chiếm đoạt ruộng đất Thiện là một người như thế vì không
có địa vị hay tiền bạc mà Thiện bị hội đồng Thế âm mưa cướp
Trang 13ruộng đất ruộng đất bằng cách bỏ hèm rượu vào ruộng (Dânquê).
Trong tiểu thuyết Người vợ hiền của nhà văn Thới Xuyên lại
cho ta thấy được một tấn bi kịch nặng nề đó là bi kịch tinh thần
Dung là một cô gái đẹp người “Tánh cô không thích se sua trang điểm, nhưng cô mặc đơn sơ chừng nào coi lại càng thêm xinh” và đẹp cả nết cô biết cảm hóa đầy tớ, biết chiều chị dâu,
biết thờ cha mẹ gia nương, biết yêu quý chồng, biết dạy con…Tưởng cô sẽ được hạnh phúc suốt đời mà ngờ đâu chồng côvương vấn tình ái với cô Ba Josiane, cô tận mắt chứng kiếnnhưng lại không nói gì mà im lặng Đó là cách cô hành hạ tinh
thần bản thân làm cho mình “nét mặt kém tươi, càng ngày càng rầu héo, hai mắt có hơi lòm vô, môi khô, miệng biếng cười, có cười cùng như hoa ráng nở mùa hạ”
Đã là bi kịch thì luôn cũng cực, thê thảm, nhưng cùng cực,
thê thảm nhất chính là bi kịch bị tước đoạt ruộng đất Bước đường cùng Nguyễn Công Hoan đã khắc họa rõ nét tấn bi kịch
đó Ruộng đất được xem là thứ tài sản quý giá nhất của ngườinông dân, còn ruộng đất là còn bám trụ với quê hương Còn gìđau khổ hơn khi gốc rễ, sự sống của người nông dân bị tướcđoạt mất Bước đường cùng là thước phim quay chậm quá trìnhanh nông dân Pha phá sản Ruộng đất của anh đã từng bước rơi
và tay Nghị Lại một cách có bài bản Anh trở thành người trắngtay một cách không ngờ và đầy đau đớn, xót xa Không chỉ cóPha mà còn bà Ánh, bác San, Trương Thi và nhiều người dân ởcái làng An Đạo đều phải chịu bi kịch đó
Trang 14Như vậy bi kịch trong tiểu thuyết Việt Nam cũng như bảnchất vốn có của nó rất đa dạng, phong phú nhưng cũng rất gầngũi thân quen bởi chúng vốn dĩ đã xuất hiện trong cuộc sốngđời thường.
Trang 15Chương 2: Bi kịch của người dân Nam Bộ trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh nhìn từ phương diện nội dung, tư tưởng
Có ai đó đã từng khẳng định “những nhà văn viết tiểu thuyết mới thiệt là những người đứng giữa trần ai để cấu tứ mà viết ra tấn kịch có trăm hồi thay đổi … Họ để ý đến từng cử chỉ của ta, từng nét mặt, điệu đi, câu nói, giọng cười, đến những hồi ta đắc ý tưng bừng, hay những lúc ta khóc thầm, nuốt lệ”.
Hồ Biểu Chánh là một người viết tiểu thuyết như vậy bởi ônghiểu biết một cách sâu sắc về đời sống vật chất và tinh thầncủa những người dân: những nỗi vui, buồn, lo lắng, sự mongđợi, … Cho nên khi miêu tả về tấn bi kịch của người dân Nam
Bộ trong tiểu thuyết mình ông đã miêt tả một cách rất tự nhiên
và mang vai trò chủ chốt không thể thay thế được Vốn lànhững con người mang đức tính cần cù, chịu khó người nôngdân đã khai hoang hết nơi này tới chốn khác, chính họ cũng lànhững người đầu tiên đặt những hạt giống đầu tiên xuống
Trang 16mảnh đất hoang sơ này để sự sống được nảy mầm, vươn mình.Thế nhưng bất công thay những người dân quanh năm “bánmặt cho đất, bán lưng cho trời” ấy lại là những con người luônsống trong cảnh nghèo khổ, túng thiếu, dốt nát.
Họ những con người siêng năng, cần cù nhưng cuộc sốngdường như trái chiều với những gì họ tạo ra Lý là vì sao? Khôngphải vì đất Nam Bộ cằn cỗi, càng không phải vì người dân Nam
bộ thiếu cần cù mà vì những bất công trong xã hội Trong Con nhà nghèo Hồ Biểu Chánh đã làm bật lên những bất công đó.
Vợ chồng Cai tuần Bưởi những người trực tiếp lao động sảnxuất, phải “tắm lửa ngủ nước” mới làm ra được hạt lúa mà lại
không có quyền sở hữu sản phẩm đó “mỗi năm phải đong lúa mướn ba trăm giạ” cho chủ điền là bà cai Hiếu Hạt lúa do nông
dân làm ra thường bị giành giật, chiếm đoạt gần hết bởi bọnchủ điền, những kẻ giàu có nhiều thế lực Kết quả vợ chồng Caituần Bưởi (những người nông dân khốn khổ) “chạy trời không
khỏi nắng” “năm nào lúa trúng thì té ra chừng một trăm giạ đủ nuôi vợ nuôi con và em, năm nào lúa thất, đong lúa ruộng rồi không còn dư hột nào, thì phải lo làm mướn đặng lấy tiền độ nhựt” Vậy nên bữa hằng ngày của cả gia đình “trong mâm chỉ
có hai món ăn mà thôi, một chén muối sả với một đĩa cá lóc chừng ba bốn khứa, mà cá lóc của Cai tuần Bưởi mới câu được hồi trưa, chớ không phải cá mua ngoài chợ nên một khứa lớn chừng bằng ngón chân Mấy đứa nhỏ chen đũa mà gắp cá, còn
ba người lớn thì húp nước hoặc quẹt muối sả, mà người nào ăn coi cũng ngon lắm” Mảnh đất nam Bộ phì nhiêu mà không nuôi
nổi người dân nghèo, họ mãi mãi chỉ là những người cày thuê
Trang 17cuốc mướn trên đất địa chủ phải ăn mặc rách nát, mà chỉ tạođiều kiện cho bọn địa chủ “vinh thân phì gia”, “ngồi mát ăn bátvàng” Vậy nên không phải ngẫu nhiên mà Ba Cam em của Cai
tuần Bưởi lại khẳng định “làm ruộng ở xứ mình là làm mọi chủ điền chớ làm chi”.
Trong Ngọn cỏ gió đùa Hồ Biểu Chánh lại một lần nữa khắc
họa được bức tranh nghèo khổ, bần cùng của người nông dân
khi miêu tả về gia đình của Lê Văn Đó “Tại Giồng-Tre có nhà bà Trần-Thị bần cùn đói rách, thuở nay trời cho trúng mùa mà nhà
bà cũng không được vui, huống chi năm nay mất mùa, thiên hạ nhịn đói, thì nhà bà càng thảm khổ hơn nữa” Lê văn Đó con
trai thứ của bà Trần Thị phải đi ở đợ từ năm 12 tuổi tối ngàydầm mưa giải nắng hấp thụ được sức sống của trời đất nên
“sức lực mạnh mẽ khác thường” Siêng năng chăm chỉ là thế
“hết cày rồi tới cấy”, “lại đi nhổ mạ đắp bờ” mà vẫn không đủ
ăn “cả nhà đều phải luộc rau luộc cỏ mà ăn đỡ, chớ không có cháo mà ăn Sắp nhỏ nhịn đói mặt mày vàng ẻo; còn Trần-Thị
đã già yếu rồi, mà trót mấy tháng nay bà lại chịu cơ hàn nữa, nên bà nhuốm bịnh nằm thiêm thiếp không dậy nổi”
Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Biểu Chánh miêu tả nhân vậtmình như thế vì khi con người ta đối mặt với cái đói thứ gì cũng
có thể đánh đổi, trong truyện ngắn Một bữa no của nhà văn
Nam Cao ta cũng có thể thấy được sự khốn cùng khi bà lão vì
đói quá “hơn ba tháng chỉ ăn toàn bánh đúc” nên mặc cho
“người ta đứng lên tất cả rồi Chỉ còn mình bà lão ngồi ăn với bà phó Thụ” Chỉ cần ăn no bà bỏ qua tất cả những lời xỉa xói,
những cái lườm nguýt của nhà chủ Đúng là không có gì cay
Trang 18đắng và khổ ải hơn những kiếp người được sinh ra là người màsống không bằng loài vật, sống mà phải vật lộn với sự sống Cóthể thấy rằng sự nghèo đói trong tiểu thuyết của Hồ BiểuChánh không bị đặt vào nơi giáp ranh của sự sống và cái chếtnhư các tác phẩm của Kim Lân nhưng họ cũng đã bị đặt vào nơicon người như muốn quay về với bản năng sinh vật, níu lấy sựsống bằng mọi cách Lê Văn Đó với hành động: bưng trộm nồicháo heo, giật cơm của hai vợ chồng ăn mày… đã cho thấy cáiliều lĩnh, liều lĩnh để níu giữ lại sự sống cho bản thân và giađình mình.
Bản chất của hầu hết người nông dân là thật thà,chất phác,
chăm chỉ làm lụng quanh năm Trần Văn Sửu trong Cha con nghĩa nặng cũng là một người như thế Nhưng vì không có đất
canh tác nên phải đi làm mướn để kiếm sống qua ngày Đượccha vợ là Hương thị Tào thấy Trần Văn Sửu siêng năng, giỏigiang, côi cút, thiệt thà, không bài bạc, rượu trà, chè chén nên
thương tình gả con gái cho, ông chỉ đòi “góp các lễ có bồn chục đồng” ấy vậy mà anh ta“làm cháy da phỏng trán, lo quên ngủ quên ăn; làm hết sức, lo hết hơi mà đến năm năm mới dứt nợ được” Có được mảnh ruộng để cày cấy là ước muốn muôn đời
của người nông dân vậy nên khi nghe vợ nói Hương hào Hội có
ý cho mướn ruộng để cày cấy thì mừng rỡ bảo vợ đi hỏi đấtngay Biết là làm ruộng trên đất của bọn chủ điền thì cốt yếucũng để làm giàu cho chúng nhưng không còn cách nào khác,mướn được ruộng mà làm đã là niềm hạnh phúc lớn lao mànhiều người nông dân khác mong muốn cũng không có được
Tuy rằng chỉ “vừa đủ cho vợ con ăn” chứ không làm cuộc sống