1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh và định giá doanh nghiệp sau cổ phần hoá tại công ty cổ phần tập đoàn tân mai tỉnh đồng nai

126 121 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhằm xây dựng cho mình một chỗ đứng trong khu vực và thế giới; với chính sách mở cửa thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế và cho phép nhiều DN thuộc các thành phần k

Trang 1

PHẠM VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

VÀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TÂN MAI - TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Đồng Nai, 2012

Trang 2

PHẠM VĂN TUẤN

NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH

VÀ ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP SAU CỔ PHẦN HÓA TẠI CÔNG TY

CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TÂN MAI - TỈNH ĐỒNG NAI

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN HỮU DÀO

Đồng Nai, 2012

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Sự cần thiết

Trong quá trình hội nhập quốc tế, mỗi quốc gia đều muốn tạo cho mình một tiềm lực mạnh về kinh tế, khoa học và công nghệ để làm đòn bẩy nâng mình lên một vị thế mới, một tầm cao mới so với khu vực và thế giới Trước những sức ép như vậy, đổi mới thực sự là sự lựa chọn duy nhất giúp Việt Nam thoát khỏi cơ chế tập trung bao cấp và từng bước xây dựng nền kinh tế thị trường năng động, nhạy bén hơn

Bên cạnh những nỗ lực hoàn thiện ngày càng tốt hơn các chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và tạo lập một môi trường đầu tư thông thoáng, cũng như ra sức phát triển mạnh thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho nền kinh tế nhằm xây dựng cho mình một chỗ đứng trong khu vực và thế giới; với chính sách mở cửa thị trường, thúc đẩy cạnh tranh, hội nhập kinh tế quốc tế và cho phép nhiều DN thuộc các thành phần kinh tế tham gia sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ thì việc tiến hành CPH là thật sự cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN ,

từ đó đưa kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Chính vì vậy, tại Hội nghị TW lần thứ 2 khoá VII (1991) đã đề ra chủ trương CPH DNNN Đây được coi là cột mốc quan trọng trong quá trình đổi mới tư duy về quản lý kinh tế và cơ cấu sở hữu trong hệ thống DN

Thực tế, qua những năm thực hiện CPH hóa đã thật sự tạo ra động lực giúp các DN phát triển có hiệu quả hơn, theo đó quan hệ sản xuất không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất; thúc đẩy cạnh tranh và tăng cường hợp tác cùng phát triển giữa các DN Không những vậy, CPH còn góp phần phát triển thị

Trang 4

trường chứng khoán - một yếu tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường

Chính vì nhận thức được những lợi ích của CPH và đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì vấn đề cổ CPH DNNN cần phải được nghiên cứu và càng phải được thực hiện một cách mạnh mẽ, quyết liệt hơn

Vì những lý do nêu trên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh và định giá doanh nghiệp sau cổ phần hóa tại Công ty

Cổ phần Tập đoàn Tân Mai –Tỉnh Đồng Nai” làm luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế Nông nghiệp của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Nhằm đánh giá, tổng kết quá trình CPH và hoàn thiện phương pháp xác

định giá trị DN khi CPH tại CTCP Tập đoàn Tân Mai

2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về CPH DNNN

+ Nghiên cứu đánh giá thực thực trạng quá trình CPH tại CTCP Tập đoàn Tân Mai

+ Đề xuất một số ý kiến góp phần hoàn thiện phương pháp xác định giá trị DN tại CTCP Tập đoàn Tân Mai nói riêng và các DNNN nói chung

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu

Quá trình CPH tại CTCP Tập đoàn Tân Mai

+ Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Về không gian: CTCP Tập đoàn Tân Mai – TP Biên Hòa – Tỉnh Đồng

Nai

Về thời gian: Từ khi công ty hợp nhất thành CTCP tập đoàn Tân Mai

đến nay (năm 2008 đến năm 2010)

4 Nội dung nghiên cứu

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về CPH DNNN

- Cơ sở lý luận về CPH

- CPH DNNN trong lâm nghiệp

- Những nghiên cứu liên quan

+ Đánh giá thực trạng quá trình CPH DNNN tại CTCP Tập đoàn Tân Mai

- Công tác chuẩn bị CPH

- Xây dựng phương án CPH

- Triển khai thực hiện phương án CPH

+ Đánh giá tình hình và kết quả hoạt động SXKD của công ty sau khi hợp nhất và thực hiện phương án cổ phần

- Tình hình sử dụng đất đai

- Tình hình sử dụng lao động

- Tình hình sử dụng vốn SXKD

- Đánh giá hiệu quả SXKD…

+ Đề xuất một số ý kiến góp phần hoàn thiện phương pháp xác định giá

trị DN và thực hiện phương án CPH tai CTCP Tập đoàn Tân Mai

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sư ̣ cần thiết phải cổ phần hóa Doanh nghiê ̣p Nhà nước

1.1.1 Doanh nghiê ̣p Nhà nước

Theo luật DNNN do Quố c hô ̣i nước Cô ̣ng hòa xã hô ̣i chủ nghĩa Viê ̣t Nam thông qua ngày 26/11/2003, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 thì DNNN đi ̣nh nghĩa như sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức Công ty nhà nước, CTCP, công ty trách nhiệm hữu hạn”

Như vâ ̣y DNNN là tổ chức kinh tế được nhà nước thành lâ ̣p để thực hiê ̣n những mu ̣c tiêu do nhà nước giao Và vì DNNN do nhà nước đầu tư vốn nên

tài sản trong doanh nghiê ̣p là thuô ̣c sở hữu nhà nước còn DN chỉ quản lý, sử

dụng tài sản theo quy đi ̣nh của chủ sở hữu là nhà nước

DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vu ̣ dân sự, tự chi ̣u trách nhiê ̣m về toàn bô ̣ hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh trong pha ̣m vi số vốn do DN quản lý Nghĩa là DNNN chi ̣u trách nhiê ̣m hữu ha ̣n về nợ và các nghĩa vu ̣ tài

sản khác trong pha ̣m vi số tài sản do DN quản lý

1.1.2 Quan niê ̣m cổ phần hóa Doanh nghiê ̣p Nhà nước và những ưu điểm của công ty cổ phần

CPH DNNN là việc các DNNN bán cổ phần của mình cho công chúng

và công nhân viên trong công ty để huy động nguồn vốn trong công chúng, CPH là cách gọi tắt của việc chuyển đổi các DNNN thành CTCP

Thực chất của quá trình CPH là đa dạng hóa sở hữu, là quá trình chuyển dịch quyền sở hữu từ phía Nhà nước sang các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân

Trang 7

Theo luật DN năm 2005, CTCP là DN, trong đó:

- Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần

- Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa

- Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN

- Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác

- CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

- CTCP có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

1.1.3 Sư ̣ cần thiết phải cổ phần hóa Doanh nghiê ̣p Nhà nước tại Viê ̣t Nam

Việc chuyển DNNN thành CTCP là một đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế thị trường vừa phù hợp trong lộ trình phát triển đổi mới vừa tham gia hội nhập nền kinh tế toàn cầu Mục tiêu của công tác này nhằm huy động vốn của toàn xã hội, tạo ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, phát huy quyền làm chủ của các cổ đông trong việc đầu tư và giám sát DN, thậm chí bổ sung cả nguồn nhân lực cho

bộ máy lãnh đạo của đơn vị, từ đó tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho DN trong đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường và sử dụng đồng vốn có hiệu quả [25]

CPH DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các DNNN Sau gần 20 năm thực hiện CPH DNNN,

có nhiều ý kiến đánh giá khác nhau về quá trình này Nhiều vấn đề lý luận và

tư duy kinh tế đang đặt ra cần giải quyết để nâng cao hiệu quả của quá trình CPH trong thời gian tới

Trang 8

CPH DNNN là một hình thức cụ thể của tiến trình xã hội hoá sản xuất Nhờ

sự xuất hiện CTCP mà vốn được tập trung nhanh chóng Thực hiện tốt CPH DNNN sẽ làm tăng sức mạnh của kinh tế nhà nước, làm chỗ dựa cho nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô Mặt khác, nó cũng là một giải pháp để tăng tính năng động trong kinh doanh và phát huy tính tích cực, tự chủ của DN

Ở nước ta, phần lớn các DNNN được hình thành do ý chí chủ quan của các cơ quan nhà nước chứ không phải do yêu cầu khách quan của trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự hoạt động kém hiệu quả của hầu hết các DN ấy Do vậy, việc sắp xếp lại các DNNN là vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, trong đó có việc CPH một số lớn DNNN CPH DNNN ở nước ta là quá trình chuyển sang một hình thức quản lý hiện đại hơn, bên cạnh vai trò chi phối của nhà nước,

có sự tham gia của các thành phần khác Đảng và Nhà nước ta khẳng định CPH không phải là tư nhân hóa vì CPH hướng tới tháo gỡ khó khăn về vốn,

về cơ chế cho DNNN hiện có, không nhằm thu hẹp sở hữu nhà nước trong nền kinh tế quốc dân Từ năm 1992 đến nay, quan điểm của Đảng ta về CPH DNNN ngày càng sáng tỏ, ngày càng phù hợp hơn với sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về CPH DNNN được thể chế hoá thành các qui phạm pháp luật và được thực thi từng bước Đảng và Nhà nước coi CPH là một giải pháp căn bản không những giúp DNNN thu hút vốn mà còn tạo điều kiện cho DNNN làm ăn hiệu quả hơn Thống kê cho thấy, tính đến đầu năm 2009, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.556 DN và 8 tổng công ty Nhà nước, trong đó CPH được 3.854 DN và

bộ phận DN (chiếm 69,4% tổng số DN đã sắp xếp), giao 196 DN, bán 155

DN, khoán và cho thuê 30 DN, sáp nhập hợp nhất 531 DN, còn lại các hình

Trang 9

thức khác là 790 DN Qua CPH nguồn vốn nhà nước tại DN đã được đánh giá lại khách quan và chính xác hơn, đồng thời huy động thêm nguồn vốn khá lớn

từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng SXKD, nâng cao sức cạnh tranh của DN và tạo điều kiện thúc đẩy sự hình thành, phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta [19], [20]

Hơn nữa, chính CPH cũng đã giúp Nhà nước thu về hàng ngàn chục tỷ đồng nhờ vào việc bán bớt phần vốn của mình tại các DNNN, từ đó có vốn để đầu tư cho các dự án trọng điểm cần thiết Ngoài ra, CPH cũng góp phần vào việc hình thành các DN có quy mô lớn, đa ngành, đa lĩnh vực và đặc biệt là góp phần quan trọng vào việc đổi mới tư duy kinh tế, hài hòa được lợi ích của Nhà nước - DN và người lao động

Tóm lại, việc CPH DNNN là một yếu tố, một xu hướng tất yếu khách quan CPH thúc đẩy quá trình xã hội hóa nền kinh tế hàng hóa thị trường, phát triển lực lượng lao động, nâng cao vai trò vị thế của người lao động, đảm bảo tính công bằng, nâng cao đời sống cho người lao động và hoàn thiện nền kinh

tế thị trường còn non trẻ ở nước ta

1.1.4 Mục tiêu, bản chất và ý nghĩa của CPH DN nhà nước

1.1.4.1 Mục tiêu

Chuyển đổi những DN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn sang loại hình DN có nhiều chủ sở hữu; huy động vốn của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh

tế

Phát huy vai trò làm chủ thực sự của người lao động và các cổ đông Tăng cường sự giám sát của các chủ đầu tư đối với DN Đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước, DN, nhà đầu tư và người lao động trong DN

Trang 10

Thực hiện công khai, minh bạch theo nguyên tắc thị trường; khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ DN; gắn với phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán

áp dụng công nghệ mới vào SXKD, bảo đảm hiệu quả kinh tế của các DN Khi CTCP được thành lập sẽ tránh được sự can thiệp có tính chất hành chính của chính quyền địa phương các cấp Bởi vì khi CPH tài sản trong DN không chỉ là đơn thuần là sở hữu nhà nước mà của nhiều thành phần kinh tế khác nữa Công ty có thể chủ động thực hiện các quy định có liên quan đến SXKD trong công ty mà không chịu sự chỉ đạo của các kế hoạch nhà nước giao như trước đây

1.1.4.3 Ý nghĩa

Việc CPH DNNN là một chủ trương quan trọng của Đảng và nhà nước

ta, nó có giá trị định hướng giúp cho các DN khai thác khả năng và phát huy được thế mạnh của mình Việc thực hiện CPH có ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế cũng như lợi ích của xã hội, như:

- Về phía nhà nước sẽ giảm đi gánh nặng ngân sách bao cấp cho một số lượng lớn những DN làm ăn thua lỗ Hạn chế những tệ nạn khác như: Tham nhũng, quan liêu trong những DNNN

- Sau khi tiến hành CPH một bộ phận các DNNN còn giữ 100% vốn thì

Trang 11

nhà nước có thể thu hồi một lượng lớn từ các DN đó thông qua việc bán cổ phần tại DN cho các thành phần kinh tế khác Nhà nước có thể đem nguồn vốn thu hồi được này đầu tư cho các DN trọng điểm thuộc các lĩnh vực: an ninh quốc phòng, hoặc để xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng trong xã hội

- Về phía DN, những người tham gia mua cổ phần đều trở thành những người chủ DN Lợi ích và trách nhiệm của họ được gắn liền với nhau, họ sẽ

có quyền chủ động định đoạt các hoạt động SXKD của mình theo nhu cầu thị trường trong khuôn khổ pháp luật cho phép Từ đó loại bỏ được những suy ngĩ có tính rụt rè, e ngại trước đây, mở ra một thời kỳ mới của những người dám nghĩ dám làm

- Trong các DNNN trước đây, SXKD nhằm mục đích phục vụ xã hội nhiều hơn, nên nhiều khi làm ảnh hưởng đến các quá trình SXKD trong DN làm kìm hãm sự phát triển của DN khi CPH, mục tiêu đầu tiên của DN là lợi nhuận, mục tiêu này có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, cải tiến chất lượng mặt hàng với những chủng loại nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường,

để cuối cùng đem lại lợi nhuận cho DN [25]

- Ngoài ra lợi ích của người lao động trong DN cũng được đảm bảo, họ được tạo điều kiện để có công ăn việc làm, được mua cổ phần ưu đãi, người lao động nghèo còn được trả chậm trong vòng một năm mà không cần trả lãi

1.2 Kinh nghiệm CPH DNNN

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 CPH ở nhóm các nước tư bản phát triển[20]

Trong thập kỷ 80, các nước tư bản phát triển, đặc biệt là ở các nước Tây

Âu và Hoa Kỳ, CPH được chú ý như là một quá trình giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của Nhà nước và tiến hành CPH DNNN nhằm nâng cao hiệu quả của

Trang 12

nền kinh tế thị trường hỗn hợp đã được hình thành với việc thiết lập khu vực kinh tế nhà nước ngày càng rộng lớn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai Chính sách CPH bao trùm ở các nước này dựa trên quan điểm cho rằng việc tổ chức đời sống kinh tế của xã hội tuân theo các quy luật thị trường, thương mại hóa sản xuất và cạnh tranh bình đẳng có hiệu quả hơn là tuân theo các quan hệ chỉ tập trung và thể chế hành chính

Trong việc thực hiện CPH, Chính phủ mỗi nước đã lựa chọn các phương pháp tiến hành CPH các DNNN sao cho không làm suy yếu khu vực kinh tế nhà nước, mà trái lại, củng cố cho xứng đáng với vai trò của nó trong nền kinh tế nhằm thực hiện một loạt chức năng kinh tế vĩ mô vì lợi ích kinh tế của toàn xã hội Xét về quy mô, khu vực kinh tế nhà nước sau khi tiến hành CPH có sự thu hẹp, tuy nhiên sự suy giảm này không làm thay đổi vai trò của khu vực kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực quan trọng như: năng lượng, giao thông vận tải, bưu điện, truyền hình, viễn thông, các ngành có hàm lượng vốn và khoa học công nghệ cao như hàng không, điện tử

Quá trình CPH ở các nước đã có nền kinh tế thị trường phát triển được thực hiện chủ yếu dưới các hình thức: bán đấu giá hay bán trực tiếp, thường

áp dụng đối với các DN vừa và nhỏ trong các lĩnh vực dịch vụ công cộng và thương mại; bán cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, áp dụng với các công

ty lớn

Các công ty quốc doanh sau khi đã CPH, hình thành dạng CTCP hỗn hợp nhà nước – tư nhân đã chuyển sang sử dụng và huy động các nguồn vốn thay vì nhận qua Ngân sách Nhà nước như trước đây, cho phép giảm bớt gánh nặng tài trợ ngân sách, đặt các DN này trên cơ sở điều tiết của quan hệ thị trường, giành vị trí xứng đáng trong việc đáp ứng các nhu cầu xã hội với chất lượng cao, hợp thị hiếu chứ không phải có được nhờ vị trí độc quyền mà nhà

Trang 13

nước ban cho

Như vậy, có thể nhận thấy nét đặc trưng quá trình CPH ở các nước công nghiệp phát triển là hình thành các công ty hỗn hợp nhà nước – tư nhân hoạt động trên cơ sở thị trường và luật pháp của nhà nước Thông qua quá trình CPH, sự hợp tác và xâm nhập lẫn nhau giữa khu vực kinh tế nhà nước và khu vực kinh tế tư nhân, kể cả ở cấp công ty xuyên quốc gia đang hoạt động trên thị trường thế giới là một trong những con đường nâng cao hiệu quả nền kinh tế thị trường hỗn hợp ở các nước công nghiệp phát triển hiện nay

1.2.1.2 CPH ở nhóm các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Á

[20]

Quá trình CPH ở các nước Châu Á khác với các nước Châu Phi và Châu

Mỹ la-tinh là các khoản nợ nước ngoài không phải là lý do chính để tiến hành CPH các DNNN Mặt khác, nền kinh tế ở các nước trong khu vực này có tốc

độ phát triển nhanh và ổn định trong nhiều năm, các xí nghiệp quốc doanh ở các nước này phần lớn đều hoạt động trên cơ sở thị trường và nhằm mục tiêu lợi nhuận Vì vậy, mục tiêu chính của CPH ở các nước này là Nhà nước rút khỏi các lĩnh vực hoạt động xét thấy không cần thiết phải nắm giữ và suy trì

sự độc quyền nhà nước mà chuyển giao cho khu vực tư nhân nhằm thực hiện cạnh tranh để nâng cao hiệu quả Mục tiêu nữa của CPH của các nước là phát triển thị trường chứng khoán trong nước, thể hiện nổi bật là ở các nước Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Số tiền thu được từ quá trình bán các cổ phần của nhà nước sẽ được bù vào các khoản ngân sách dành đầu tư cho các cơ sở

hạ tầng và các ngành kinh tế chiến lược mà nhà nước thấy cần có sự tham gia

và kiểm soát

- Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Vào những năm 60 của thế kỷ XX, CPH các DNNN đã được thực hiện

Trang 14

Đến nay, Hàn Quốc đã CPH được 35 DNNN có quy mô lớn và hàng trăm DNNN có quy mô vừa và nhỏ Riêng năm 1978, chính phủ Hàn Quốc đã bán 68% cổ phần cho 25 hãng buôn, thu được 167 triệu USD CPH cũng được thực hiện thông qua bán cổ phiếu ở các sở giao dịch chứng khoán, trong đó vừa bán

cổ phiếu cho các nhà đầu tư bình thường, vừa bán cổ phiếu cho công chúng có thu nhập thấp Quá trình CPH các DNNN ở Hàn Quốc ngoài những nét chung

có một số đặc điểm mang tính đặc thù sau:

+ Thứ nhất, CPH các DNNN đã tiến hành rất thận trọng Điều đó được biểu hiện ở cách thức triển khai CPH thông qua tiến hành thí điểm ở một số DN Từ thí điểm, Hàn Quốc tiến hành đánh giá, rút kinh nghiệm sau đó mới mở rộng trên phạm vi toàn quốc Điều đó còn thể hiện ở tốc độ CPH khá chậm Qua 3 đợt CPH: đợt 1 từ năm 1960 - 1973; đợt 2 từ năm 1974 - 1983 và đợt 3 từ năm 1984 đến nay số lượng các DNNN quy mô lớn được CPH chỉ có 35 DN Tuy nhiên, CPH lại tập trung vào các DN quy mô lớn và giữ vị trí độc quyền, hoạt động trên phạm vi cả nước

+ Thứ hai, mục tiêu CPH không chỉ thu hút vốn, giảm bớt gánh nặng của ngân sách nhà nước… mà còn nhằm phân phối giá trị tài sản của các DNNN cho quần chúng có thu nhập thấp và giảm bớt sự mất công bằng xã hội Để thực hiện mục tiêu này, Hàn Quốc có những phương thức triển khai bán cổ phiếu đặc biệt, với việc phân chia cổ phiếu bán ra cho người cần ưu đãi Cụ thể: Người lao động hiện đang làm việc tại DNNN và người nghèo được mua 20% giá trị cổ phiếu bán ra Cổ phiếu ưu đãi được bán thấp hơn giá trị, trong đó người nghèo được mua với giá bằng 30% giá trị cổ phiếu bán ra, người về hưu được mua với giá bằng 75% giá trị cổ phiếu bán ra

+ Thứ ba, thông qua CPH việc hữu sản hóa người lao động, trước hết là lao động trong các DNNN CPH đã được thực hiện Nhờ đó, đã tăng cường sự

Trang 15

tham gia quản lý của người lao động vào quá trình hoạt động SXKD Bộ máy quản lý của DN sau CPH và phương thức quản lý các DNNN ở Hàn Quốc sau CPH đã thay đổi

- Kinh nghiệm của Malaixia

Quá trình CPH các DNNN ở Malaixia có muộn hơn, được bắt đầu từ năm

1983 Lý do và mục tiêu CPH các DNNN của Malaixia có nhiều điểm giống Việt Nam, chủ yếu do sự mở rộng quá mức khu vực kinh tế nhà nước, gây ra sự mất cân đối kinh tế vĩ mô làm cho thâm hụt ngân sách lớn

Việc CPH các DNNN ở Malaixia được chia thành 3 bước:

+ Tiến hành thương mại hóa DN

+ Chuyển các DNNN hoạt động theo luật công ty

+ Xây dựng các DNNN đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định thành những tập đoàn kinh tế mạnh có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế

Phương thức tiến hành CPH cũng thông qua phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán

Việc tiến hành CPH, đặc biệt việc phát hành cổ phiếu cũng có những ưu đãi đối với các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài có công nghệ hiện đại, sản xuất theo hướng xuất khẩu Mức cổ phần tối đa bán cho các nhà đầu tư nước ngoài là 25%, với mục đích để các nhà đầu tư nước ngoài không gây ảnh hưởng quá lớn đối với hoạt động của DN

Kết quả CPH các DNNN ở Malaixia là khá to lớn Việc chuyển một phần các DNNN vào khu vực kinh tế tư nhân đã giảm bớt gánh nặng của nhà nước đối với DN Đã chuyển sang các CTCP 96.000 công nhân, bán cổ phần được 6 tỷ USD, thu hút thêm 35,5 tỷ USD ở 24 CTCP từ các DNNN sau

Trang 16

CPH Số tiền nhà nước thu được đã sử dụng cho các hoạt động khác 2 tỷ USD chuyển giao 374 công trình cho tư nhân [20] Số tiền các DN niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán sau CPH đã giúp các DN đầu tư mở rộng sản xuất, tăng cường năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả kinh doanh

- Kinh nghiệm của Singapore

CPH ở Singapore còn được thực hiện muộn hơn Malaixia, bắt đầu từ năm 1986 và kéo dài 10 năm thì cơ bản hoàn thành

Việc thực hiện CPH các DNNN ở Singapore khá bài bản với việc thành lập Ủy ban CPH khu vực kinh tế nhà nước, xây dựng chương trình CPH hoàn chỉnh và hệ thống, phù hợp với điều kiện của đất nước Singapore cũng tiến hành thí điểm CPH các DNNN đang làm ăn có lãi ở một số lĩnh vực, sau đó tổng kết, cuối cùng mới triển khai rộng sang các DNNN ở các lĩnh vực khác Mục tiêu CPH các DNNN ở Singapore khá đa dạng, trong đó mục tiêu cơ bản là hạn chế sự độc quyền của các DNNN ở một số lĩnh vực, chấm dứt kiểu cạnh tranh không trung thực, cạnh tranh hình thức của các DNNN CPH DNNN không để xảy ra thâm hụt ngân sách và vẫn duy trì tích lũy ở những mức độ cao Trên thực tế sau những bước triển khai có tính vĩ mô, tháng 6/1989 trong số

15 DNNN đăng ký CPH đã có 6 DNNN đăng ký bán 100% vốn cổ phần của Nhà nước Các hãng còn lại thực hiện bán một phần cổ phần sở hữu của nhà nước như hãng Hàng không quốc gia Singapore giảm phần vốn của nhà nước từ 61% xuống còn 56%, công ty vận tải Neptune giảm từ 74% xuống còn 54%, Ngân hàng Singapore vốn nhà nước từ 48% còn 44% Sau 1 năm thực hiện CPH các DNNN số vốn nhà nước được thu hồi là 1,28 tỷ USD Đến năm 1996, chương trình CPH các DNNN đã cơ bản được hoàn thành, sớm hơn dự hiến 2 -3 năm Kết quả CPH cũng rất khả quan, nhờ CPH các DNNN ở những ngành, lĩnh vực không then chốt, những ngành có khả năng thu lợi nhuận cao, chính phủ

Trang 17

Singapore có điều kiện tập trung vốn đầu tư vào các lĩnh vực mang tính chiến lược, những nơi tư nhân không đầu tư vì lợi nhuận thấp Vai trò của các DNNN còn lại có điều kiện phát huy tác dụng, các DNNN này trở thành công cụ kinh tế

vĩ mô để cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển nền kinh tế quốc gia

1.2.1.3 Kinh nghiệm CPH ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi [20]

* Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh

tế thị trường Trung Quốc là một trong các nước sớm nhận thấy những hạn chế của các DNNN như: Hiệu quả kinh tế thấp hơn các loại hình kinh tế khác, nhiều DN ở tình trạng thua lỗ và tình trạng này có xu hướng ngày càng tăng; tình trạng thất thoát tài sản nhà nước ngày càng tăng và trở nên nghiêm trọng; máy móc thiết bị nói riêng, trình độ công nghệ nói chung của các DNNN rất thấp, lạc hậu rất nhiều so với các nước kinh tế phát triển; các DNNN ngoài chức năng kinh tế còn phải đảm nhiệm nhiều chức năng xã hội Hệ thống các DNNN quá lớn với khoảng 348.000 DNNN Tình trạng trên dẫn đến gánh nặng nợ nần của các DNNN ngày càng lớn ngân sách nhà nước phải chịu, trong khi đó nguồn ngân sách nhà nước có hạn và cần chi dùng cho nhiều mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác Trung Quốc cũng sớm nhận thấy con đường thoát khỏi khó khăn do các DNNN mang lại là mở cửa nền kinh tế, đổi mới hệ thống DNNN, chuyển một số DNNN thành các CTCP qua tiến hành CPH các DNNN Việc tiến hành CPH các DNNN ở Trung Quốc được tiến hành khá khoa học Bởi vì nó được thực hiện theo một lộ trình tuân thủ các vấn đề mang tính lý thuyết và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực Việc triển khai cũng được tiến hành thí điểm trên phạm vi hẹp sau

đó rút kinh nghiệm ở các đơn vị ở các cấp, các ngành nghiên cứu học tập

Trang 18

Cuối cùng, CPH các DNNN mới được triển khai trên phạm vi rộng Điều đặc biệt của Trung Quốc so với các nước khi tiến hành CPH các DNNN là vai trò của nhà nước trong xây dựng kế hoạch, lộ trình và sử dụng các biện pháp mạnh của quản lý hành chính nên kết quả của CPH các DNNN đạt được rất cao Cụ thể:

+ Trong những năm 1991 - 1995 đã có tới 13.500 DN đã CPH xong Việc CPH xong một khối lượng lớn các DNNN đã tạo cho chính phủ có nguồn thu ngân sách khá lớn Chỉ tính 700 DN bán cổ phiếu trên thị trường đã thu được 500 tỷ nhân dân tệ, bằng 7,3% GDP của Trung Quốc năm 1996 Với

97 công ty bán cổ phiếu loại B ra thị trường trong nước và 38 công ty bán cổ phiếu ra thị trường quốc tế đã thu được 13 tỷ USD Nhà nước đã sử dụng nguồn vốn quan trọng này vào các dự án cải tạo và đầu tư vào các công trình trọng điểm của nền kinh tế đất nước Gánh nặng đối với các DNNN sau khi CPH đã được loại bỏ Tạo thêm được 10.000 việc làm mới trên thị trường chứng khoán, 31 triệu người đã mua cổ phiếu - một lượng tiền lớn trong dân

cư đã được thu hút vào các hoạt động kinh doanh của các DNNN khi CPH + CPH đã tạo điều kiện thuận lợi cho các DN chuyển đổi quản lý, chuyển đổi hướng SXKD nâng cao hiệu quả hoạt động của DN Sở hữu nhà nước đã chuyển sang hình thức sở hữu khác, những lý do để nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình kinh doanh của DN không còn CTCP (sản phẩm của CPH các DNNN) có điều kiện phát huy vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động SXKD, những yêu cầu tối cần thiết của DN khi chuyển sang nền kinh tế thị trường

+ Sau CPH, các DN đã có điều kiện để tổ chức lại bộ máy quản lý theo hướng tinh giản, gọn nhẹ, năng động

+ Theo cơ chế hoạt động của các CTCP, các DNNN sau CPH không chỉ

Trang 19

tuân thủ pháp luật kinh doanh và các chính sách của chính phủ mà còn chịu sự giám sát chặt chẽ của các cổ đông (những người bỏ tiền mua cổ phiếu, góp vốn cho DN hoạt động) mà đại diện là Hội đồng quản trị Sức ép đó buộc DN phải có những đổi mới trong quản lý và trong hoạt động kinh doanh Phải trực tiếp tìm hiểu thị trường, chấp nhận và chủ động trong cạnh tranh, tự tìm cách tồn tại và phát triển khi không còn sự nâng đỡ của nhà nước, khi được quyền chủ động DN đã năng động hơn, thận trọng hơn khi đưa ra những quyết định

về kinh doanh

+ Từ những đổi mới trong hoạt động kinh doanh, các DN sau CPH đã mạnh lên CPH đã tạo ra những điều kiện để Trung Quốc thực hiện chiến lược xây dựng các tập đoàn kinh tế lớn, có khả năng cạnh tranh mạnh với các tập đoàn kinh tế của nước ngoài

* Kinh nghiệm của Liên bang Nga và các nước Đông Âu

Có thể coi việc thực hiện những cải cách kinh tế những năm 60 - 70 của thế kỷ XX ở các nước Đông Âu theo hướng của kinh tế thị trường là những bước khởi đầu của đổi mới các DNNN nói riêng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung nói chung Tuy nhiên, ở các nước này, đổi mới triệt để nền kinh tế, trong

đó có đổi mới các DNNN được tiến hành những năm 80 - 90 của thế kỷ XX

Có những điểm khác với một số nước có nền kinh tế chuyển đổi ở Châu

Á, các nước ở Đông Âu và Cộng hòa Liên bang Nga coi trọng chuyển đổi DNNN sang các công ty tư nhân, tiến hành tư nhân hóa các DNNN là chủ yếu CPH DNNN theo hướng tư nhân hóa được coi là một trong các điểm then chốt và nội dung cơ bản của tiến trình đổi mới ở các nước này Nó được coi như là “liệu pháp sốc” và thực hiện triệt để ở Ba Lan, Tiệp Khắc (cũ), Hungari Mục đích của “liệu pháp sốc” nhằm thực hiện các biện pháp mạnh

để có được kết quả tức thì, giúp chuyển biến mau lẹ về chế độ sở hữu Hy

Trang 20

vọng cải cách sở hữu nhanh chóng sẽ huy động được vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý của các nhà DN tư nhân trong xây dựng kinh tế

Tuy nhiên, CPH các DNNN ở các nước Đông Âu và Nga diễn ra trong bối cảnh các Đảng Cộng sản không còn cầm quyền, các nước đều thực hiện chế độ đa đảng Các nước đều muốn thông qua chương trình này để tận dụng viện trợ của các chính phủ Phương Tây, nhằm thúc đẩy quá trinh chuyển đổi nền kinh tế Bản thân “liệu pháp sốc” được đi kèm với nguồn tài trợ cho quá trình chuyển đổi thông qua Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB) và Liên minh Châu Âu Những bối cảnh và điều kiện cùng với các điều kiện cụ thể của từng nước đã làm phong phú thêm quá trình CPH DNNN vốn

đã rất đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể CPH các DNNN ở khu vực này có thể đưa ra các nhận xét sau:

+ Về đối tượng CPH: CPH các DNNN được thực hiện ở tất cả các ngành kinh tế Mặc dù thực hiện “liệu pháp sốc”, nhưng các nước Đông Âu và Nga đều giữ các DNNN ở các ngành kinh tế có vị trí quan trọng, quyết định đến nền kinh tế như những ngành hạ tầng cơ sở, những ngành định hướng phát triển kinh tế xã hội như bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, điện lực, khai khoáng…

+ Về tốc độ của CPH: các nước đều tiến hành với tốc độ cao đối với các

DN được xác định của CPH nhằm giảm tối đa sở hữu nhà nước trong các DNNN Tuy nhiên, khi thực hiện tự do hóa nền kinh tế nhanh chóng các vấn

đề quản lý vĩ mô chưa có sự chuyển biến kịp nhiều vấn đề kinh tế xã hội tiêu cực có cơ hội nảy sinh Ở nước Nga, sau khi tự do hóa nền kinh tế, kinh tế ngầm phát triển và hoành hành, nhà nước khó kiểm soát quá trình kinh tế - xã hội CPH không phát huy được tác động như mong muốn, hậu quả là sự suy sụp về tài chính ở nước Nga ngày càng trở nên trầm trọng với mức tỷ số

Trang 21

chứng khoán 20%/ ngày Tình trạng đó kéo dài hàng năm, đến tháng 8 năm

1998, thị trường tài chính Nga cơ bản bị sụp đổ Thu nhập bằng tiền của người Nga chỉ bằng 1/10 thu nhập của người dân Mỹ Các nước khác mức độ không trầm trọng như nước Nga, nhưng tác động tích cực do CPH các DNNN những năm đó cũng không như mong muốn

+ Về hình thức CPH: Hình thức CPH khá đa dạng Có nhiều hình thức được áp dụng như phát hành cổ phiếu nhân dân, bán cổ phiếu giá thấp cho người lao động đang làm việc ở các DNNN CPH Việc bán cổ phiếu được thực hiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức kiểm toán trung gian Đối với các DN vừa và nhỏ, hình thức chủ yếu là bán cổ phiếu trực tiếp cho người lao động đang làm việc hoặc đấu thầu cho thuê bằng hợp đồng quản lý Đối với DNNN có quy mô lớn, do muốn CPH trong thời gian ngắn nhưng sức mua cổ phiếu của công dân không lớn nên một số nước như Ba Lan, Cộng hòa Séc, Cộng hòa Slovaky… đã chia tài sản cho công dân dưới dạng các giấy chứng nhận sở hữu giá trị thấp hoặc cho không Vì vậy, tốc độ CPH đã được đẩy nhanh; việc bù đắp cho các công dân về những đóng góp của họ trước đây cho

DN được thực hiện

+ CPH được thực hiện đồng thời với khuyến khích các DN tư nhân mới

Vì vậy, những vấn đề phát sinh tiêu cực sau CPH có điều kiện phát triển Tuy nhiên, nhiều nước cũng đưa ra các điều luật, các chính sách chú trọng đến các vấn đề cá biệt như giải pháp kinh doanh tư nhân, các điều kiện hoạt động kinh

tế độc lập của công dân, điều tiết thị trường vốn nên các vấn đề tiêu cực cũng

đã từng bước được hạn chế

Trang 22

1.2.1.4 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam [20], [25]

Nghiên cứu quá trình CPH các DNNN của một số nước trên thế giới có thể rút ra những bài học kinh nghiệm để có thể vận dụng vào quá trình CPH các DNNN ở nước ta như:

+ Một là, CPH đã được thực hiện phổ biến ở hầu hết các nước và vùng

lãnh thổ trên thế giới, nhất là ở những nước có nền kinh tế chuyển đổi và những nước có nền kinh tế kém phát triển

Thực chất quá trình CPH là xử lý mối quan hệ giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế ngoài Nhà nước, giảm bớt mức độ sở hữu và sự can thiệp trực tiếp của nhà nước đối với các hoạt động SXKD của DN Thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo đặc trưng của nền kinh tế thị trường, giảm bớt độc quyền, sự bao cấp nặng nề của nhà nước làm gánh nặng của nhà nước với DN

về kinh tế giảm xuống, nâng cao vai trò chủ động của DN Đó là sự vận động tích cực nhằm đưa nền kinh tế thoát khỏi sự trì trệ, kém năng động và kém hiệu quả Vì vậy, đó là sự vận động phùa hợp và cần thiết Từ tổng kết này, một lần nữa khẳng định chủ trương đổi mới các DNNN nói chung, CPH chúng nói riêng của Đảng và nhà nước ta là đúng đắn

+ Hai là, CPH có mối quan hệ chặt chẽ đến các DN sau CPH Các nước

thực hiện CPH với quy mô, tốc độ, phương pháp tiến hành có khác nhau Đó

là việc triển khai phù hợp với yêu cầu của CPH các DNNN Tuy nhiên, thực

tế cho thấy: những nước có thời gian CPH ngắn, kết quả cổ phần tốt là những nước đã xác định thời gian, mục tiêu, cách thức tiến hành phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước đó Thường thì những nước có cách thức tiến hành vững chắc, xây dựng thành chương trình, chuẩn bị các điều kiện về pháp lý và tổ chức, nghiên cứu lựa chọn mục tiêu, xây dựng bộ máy chỉ đạo, thực hiện, xác lập các giải pháp tiến hành, kiểm tra giám sát, điều chỉnh, tiến

Trang 23

hành các bước từ thí điểm, tổng kết đúc rút kinh nghiệm sau đó mới triển khai rộng thì kết quả CPH tốt, các vấn đề nảy sinh sau CPH ít

+ Ba là, muốn CPH thành công cần phải có sự vào cuộc và phối hợp chặt

chẽ giữa chính phủ và các bộ, ban ngành với các DNNN, đối tượng của CPH Trong sự phối hợp trên, vai trò của chính phủ và các bộ, ban, ngành trong việc xây dựng chiến lược, xác định mục tiêu, phương thức tiến hành, xác định các DNNN cần CPH, xác định tỷ lệ cổ phần của nhà nước sau CPH, phương pháp tính giá trị DN… Vai trò của các DNNN trong việc chủ động triển khai các chủ trương và biện pháp CPH DN mình Thường các DN có đội ngũ cán bộ năng động, có khả năng kinh doanh có hiệu quả muốn thực hiện CPH Những DN có đội ngũ cán bộ kém năng động, kinh doanh thua lỗ không muốn triển khai CPH

Để CPH các DNNN đạt được kết quả tốt các DN phải thông suốt từ giám đốc đến những người lao động; các nước đều có cơ quan chính phủ đặc trách về CPH Cơ quan này được tổ chức thống nhất từ cấp nhà nước đến các bộ, ban, ngành và các DN Cơ quan này phải quản lý toàn bộ chương trình CPH DNNN, đồng thời phải kiểm tra, giám sát, điều chỉnh, tổng kết, bổ sung và tạo mọi điều kiện để thực hiện chương trình CPH đã xác lập

+ Bốn là, để CPH thành công cần xác lập môi trường pháp lý hoàn chỉnh,

xác định vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức tham gia vào quá trình CPH Đặc biệt, cần xây dựng pháp luật hoàn chỉnh cho quá trình CPH diễn ra thuận lợi, hạn chế những tiêu cực phát sinh sau CPH Thực tế cho thấy ở những nước có nền kinh tế phát triển hệ thống pháp luật phát triển khá đồng bộ và hoàn chỉnh, không có sự phân biệt giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Các DNNN không sợ sau khi CPH DN bị lép vế so với khi chưa CPH CPH đã diễn ra rất thuận lợi Vì vậy, các nước đang phát triển,

Trang 24

những nước có nền kinh tế chuyển đổi là những nước có hệ thống pháp luật chưa thuận lợi cho tiến hành CPH Đối với những nước này, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, xác lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định là một trong các điều kiện để CPH thành công

+ Năm là, để CPH thành công, để thu cho ngân sách nguồn vốn, cần phải

đầu tư chi phí ban đầu cho quá trình CPH; cần có những hỗ trợ cho người lao động để giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh do CPH và sau CPH Rõ ràng,

để thực hiện CPH cần có những chi phí hoạt động cho các hoạt động của các

tổ chức và cá nhân tham gia vào quá trình CPH Đặc biệt cần chi phí khá lớn khi bán cổ phiếu ưu đãi cho người lao động, cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp Cần có khoản chi phí cho đào tạo và đạo tạo lại người lao động ở các

DN CPH; khoản chi phí để chi trả bảo hiểm xã hội; trợ cấp thôi việc do không đáp ứng yêu cầu sau CPH Tất cả những khoản trên đều thuộc ngân sách nhà nước Kinh nghiệm cho thấy, nước nào khi tiến hành cổ phần chấp nhận các khoản chi phí trên sẽ tạo được sự đồng thuận của người lao động và DN CPH diễn ra thuận lợi, các vấn đề nảy sinh sau CPH đã từng bước được giải quyết ngay chính trong quá trình CPH

+ Sáu là, để CPH không làm suy yếu tiềm lực kinh tế của nhà nước dẫn đến

suy yếu chức năng quản lý kinh tế của nhà nước, hầu hết các nước đều lựa chọn các DN của các ngành, các lĩnh vực không then chốt, không có tính chất quyết định đến nền kinh tế để CPH Đặc biệt, các nước đều sử dụng nguồn vốn thu được sau CPH để đầu tư tăng tiềm lực kinh tế của nhà nước

+ Bảy là, CPH các DNNN đều tạo những tác động tích cực đến nền kinh

tế, nhưng cũng đặt ra những vấn đề kinh tế xã hội cần phải xử lý Nếu không

xử lý kịp thời sẽ giảm những ưu việt do CPH mang lại

Trang 25

1.2.2 Tại Việt Nam

1.2.2.1 Quá trình CPH DNNN ở Việt Nam

CPH DNNN là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, có nhiều tác động đến sự phát triển kinh tế của đất nước, đời sống người lao động và những vấn đề xã hội khác nên được tiến hành một cách thận trọng với những bước thí điểm ban đầu vào năm 1990 trên cơ sở pháp lý là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10 tháng 5 năm 1990 Sau đó, Chính phủ đã ban hành nhiều Chỉ thị, Nghị quyết về vấn đề này, như: Chỉ thị số 202 ngày 6 tháng 8 năm 1992; Chỉ thị số 84 ngày 4 tháng 3 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 28/NĐ-CP ngày 7 tháng 5 năm 1996; Nghị định số 25/CP ngày 26 tháng 3 năm 1997; Thông báo số 63 TB/TW ngày 4 tháng 4 năm 1997 của Bộ Chính trị; Nghị định số 44/NĐ-CP ngày 29 tháng 6 năm 1998; Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002; Chỉ thị số 45 ngày 22 tháng 10 năm 2004 của Bộ Chính trị đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, khóa IX về sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN, Nghị định 109/2007/NĐ-CP [11] và mới đây là Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2011 về việc chuyển DN 100% vốn nhà nước thành CTCP [15] Quá trình tiến hành CPH các DNNN đã trải qua một số giai đoạn sau [25]:

- Từ năm 1992 đến tháng 6 năm 1998 Những DN tự nguyện và làm ăn

có lãi được lựa chọn để thí điểm tiến hành CPH Trong giai đoạn này, cả nước CPH được 30 DN, trong đó 5 DN được CPH theo cơ chế, chính sách thí điểm quy định tại Quyết định số 202/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, 25 DN được CPH theo cơ chế chính sách của Nghị định 28/CP của Chính phủ

- Giai đoạn từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP đến

ngày 31 tháng 12 năm 1999 Trong thời gian này, có thêm 340 DNNN và bộ

Trang 26

phận DNNN được CPH Riêng năm 1999 có 250 DN, gấp 8 lần so với 7 năm trước cộng lại [12] Nhìn chung, đến thời điểm này, chủ trương CPH của Nhà nước đã được các ngành, các bộ, địa phương nhận thức đầy đủ hơn Bản thân người lao động cũng có phần yên tâm hơn, vì thế công tác CPH DNNN đạt được nhiều tiến bộ so với thời kỳ trước

- Giai đoạn từ tháng 1 năm 2000 đến nay Đến thời gian này điều đáng

chú ý là có Nghị quyết trung ương 3, khóa IX trong đó chủ trương đẩy mạnh CPH những DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản trong việc nâng cao hiệu quả DNNN Theo tinh thần trên, Nghị định số 64/2002/NĐ-CP của Chính phủ đã được ban hành tập trung chỉ đạo các bộ, ngành rà soát, xây dựng đề án đổi mới, sắp xếp lại DN của bộ, ngành, địa phương mình, trong đó đưa ra các chỉ tiêu để đẩy nhanh tốc độ CPH DNNN Vì vậy, chỉ trong 3 năm 2001-2003, có 979 DN được CPH, riêng năm 2003 có 611 DN và bộ phận DN Năm 2004 CPH được

715 DN và là năm đầu tiên hoàn thành nhiệm vụ đề ra Như thế, đến hết năm

2004 cả nước đã có 2.242 DN và bộ phận DN được CPH

Tính đến đầu năm 2009, cả nước đã thực hiện sắp xếp được 5.556 DN và

8 tổng công ty Nhà nước, trong đó CPH được 3.854 DN và bộ phận DN (chiếm 69,4% tổng số DN đã sắp xếp), giao 196 DN, bán 155 DN, khoán và cho thuê 30 DN, sáp nhập hợp nhất 531 DN, còn lại các hình thức khác là 790

Trang 27

Các DNNN CPH đã góp phần làm giảm gánh nặng cho Nhà nước Hơn thế, trong quá trình CPH, nợ xấu của DNNN cũng được xử lý một cách cơ bản; đồng thời, chấm dứt xu hướng thành lập DNNN một cách tràn lan Trong các DNNN được CPH, vai trò làm chủ của người lao động – cổ đông được nâng lên rõ rệt,

từ đó góp phần nâng cao hiệu quả SXKD của DN [25]

1.2.2.2 Kết quả CPH các DNNN ở Việt Nam

(1) Thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã trình Quốc hội

thông qua Luật DNNN, Luật DN, Luật Cạnh tranh, Luật Đất đai, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động, Luật Kiểm toán và Kế toán, Luật Chứng khoán, Luật các Tổ chức tín dụng Chính phủ đã ban hành gần

40 văn bản quy phạm pháp luật tạo khung pháp lý tương đối đồng bộ cho sắp xếp, CPH DNNN; quy định cụ thể về phân loại DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn, DNNN thực hiện CPH, giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể, phá sản với những cơ chế, chính sách để thực hiện từng phương thức sắp xếp Về CPH, từng bước hoàn thiện và quy định rõ mục tiêu, đối tượng, nguyên tắc, phương pháp xác định giá trị DN, phương thức bán cổ phần lần đầu; xử lý nợ tồn đọng; giải quyết chế độ cho lao động dôi dư; bán đấu giá; quyền và nghĩa vụ của người đại diện phần vốn nhà nước trong CTCP Các quy định này được sửa đổi, bổ sung kịp thời và ngày càng hoàn thiện, phù hợp hơn với yêu cầu và thực tế CPH DNNN Kết quả hoạt động lập quy rất quan trọng này đã tạo cơ sở pháp lý để tổ chức chỉ đạo, triển khai công tác sắp xếp, CPH, đổi mới DNNN đồng bộ, có hiệu quả; khắc phục những hạn chế của cơ chế “chủ quản” trước đây, góp phần đáng kể vào thực hiện chủ trương cải cách hành chính về việc tách chức năng quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất, kinh doanh và tạo cơ sở cho việc thực hiện chính sách phát triển DN của mọi thành phần kinh tế trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế [15], [25]

Trang 28

(2) CPH DNNN đã được triển khai từng bước, thận trọng theo đúng Nghị quyết của Đảng và quy định của Nhà nước

CPH các DNNN được tiến hành thí điểm từ tháng 6 năm 1992 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2005, cả nước đã CPH được 2.935 DNNN Trong đó, DN thuộc các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng chiếm 66,0%; ngành thương mại, dịch vụ chiếm 27,6%; ngành nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 6,4% Phân theo chủ sở hữu, DN thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chiếm 61,7%; thuộc các Bộ, ngành chiếm 29%; thuộc các tổng công ty 91 chiếm 9,3% Phân theo quy mô vốn, DN có vốn nhà nước dưới 5 tỷ đồng chiếm 54,0%; từ 5 - 10 tỷ đồng chiếm 23,0%; trên 10 tỷ đồng chiếm 23,0% [25]

Đơn vị có nhiều DN được CPH là các Bộ: Công nghiệp, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Xây dựng, Giao thông vận tải; thành phố Hồ Chí Minh,

Hà Nội; các tỉnh: Khánh Hoà, Nam Định, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hoá; các tổng công ty : Bưu chính viễn thông, Hoá chất Tuy nhiên, có đơn vị triển khai CPH chậm như các Tổng công ty: Công nghiệp tàu thuỷ, Xi măng, Dầu khí; các tỉnh: Cà Mau, Kiên Giang, Lai Châu

Tổng số vốn nhà nước theo sổ sách kế toán tính đến hết ngày 31 tháng

12 năm 2005 của các DNNN đã CPH khoảng 12% toàn bộ vốn nhà nước tại các DNNN Khi CPH, giá trị vốn nhà nước tại các DNNN đã được đánh giá lại tăng thêm 18,4% so với giá trị còn lại trên sổ sách (chưa kể giá trị quyền

sử dụng đất và giá trị tăng thêm do bán đấu giá cổ phần) [25]

Căn cứ thực tế và nhu cầu thu hút vốn để đầu tư, đã triển khai áp dụng các hình thức CPH khác nhau, trong đó hình thức phổ biến nhất là bán một phần vốn nhà nước hiện có tại DN và kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (69,4%), hình thức bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại DN (15,5%), hình thức giữ nguyên vốn nhà nước phát hành thêm cổ phiếu (15,1%)

Trang 29

Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (từ 50% vốn điều lệ trở lên) đối với 33% số lượng DN đã CPH, đây là những DN có số vốn tương đối lớn, hoạt động kinh doanh có hiệu quả và một số DN chưa bán được hết cổ phần đúng theo phương án duyệt ban đầu [25]

(3) Về cơ bản, đạt được các mục tiêu CPH

- CPH đã tạo ra loại hình DN có nhiều chủ sở hữu, bao gồm Nhà nước, người lao động trong DN, cổ đông ngoài DN Bình quân, Nhà nước đang nắm giữ 46,3%; người lao động trong DN nắm giữ 29,6% và cổ đông ngoài DN nắm giữ 24,1% vốn điều lệ [25] Việc bán cổ phần ưu đãi cho các nhà đầu tư chiến lược đặc biệt có ý nghĩa đối với các công ty hoạt động trong ngành chế biến,

có nguyên liệu từ các ngành nông, lâm, thuỷ sản; tạo ra sự gắn bó hơn giữa nông dân và DN, nông nghiệp với công nghiệp, góp phần vào thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

- CPH đã trở thành giải pháp cơ bản và quan trọng trong cơ cấu lại DNNN Qua CPH, đã giảm mạnh những DNNN quy mô nhỏ, thua lỗ và thuộc các ngành, lĩnh vực Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn, góp phần quan trọng cơ cấu lại DNNN, để DNNN tập trung hơn vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Số lượng DNNN đã giảm từ 12.000 DN vào năm

1993 xuống còn 5.655 DN vào năm 2000 và 4.296 DN năm 2003 và 2.663

DN vào cuối năm 2005

Lao động của DNNN được tinh giản song vẫn giữ được ổn định xã hội Số lao động không đáp ứng yêu cầu được giải quyết chế độ, đồng thời thu hút thêm được nhiều lao động mới có năng lực và trình độ cao hơn, phù hợp với yêu cầu của DN Đến hết năm 2005, Chính phủ đã hỗ trợ 6.000 tỷ đồng để giải quyết chế

độ đối với 179.955 lao động dôi dư tại 3.520 DN sắp xếp lại

Trang 30

Chính sách đối với lao động dôi dư đã góp phần tích cực cải thiện đời sống của người lao động sau khi họ rời khỏi DNNN, nhất là đối với người lao động trước khi sắp xếp có thu nhập thấp hoặc không có thu nhập do DN khó khăn hoặc đã ngừng hoạt động; tạo điều kiện cho họ tự tạo việc làm hoặc đào tạo nghề tìm việc làm mới để có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống; đồng thời, thúc đẩy nhanh tiến trình sắp xếp lại DNNN, nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN và các DN sau chuyển đổi

Nợ xấu của các DNNN khi CPH đã được xử lý một bước cơ bản, tạo điều kiện cho DN thực sự lành mạnh về tài chính khi hoạt động với hình thức CTCP Trong quá trình sắp xếp, CPH DNNN từ năm 2002 đến nay, có 154

DN có khó khăn do nguyên nhân khách quan đã được xử lý giãn nợ, khoanh

nợ, xoá nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỷ đồng Xử lý nợ tồn đọng vay các ngân hàng thương mại trên 19 nghìn tỷ đồng Trong số DN đã CPH, có 2.000 DN với 2.519 tỷ đồng nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị DN Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng đã tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ của 1.222 DN với giá trị là 1.411 tỷ đồng; trong đó, đã xử lý cho 331 DN với giá trị là 390 tỷ đồng, giá trị thu hồi

là 125 tỷ đồng [25]

- CPH đã huy động thêm vốn của xã hội đầu tư vào phát triển SXKD Nhờ CPH, vốn nhà nước tại DNNN, tuy chưa tính giá trị quyền sử dụng đất, nhưng nhìn chung, đã được đánh giá lại khách quan và chính xác hơn; đồng thời, đã huy động thêm được 21 nghìn tỷ đồng của các cá nhân, tổ chức ngoài xã hội vào DN để đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực và sức cạnh tranh của DN Mặt khác, qua CPH, Nhà nước cũng thu về được khoảng 15 nghìn tỷ đồng (chưa kể phần thu tăng thêm

do bán đấu giá cổ phần) để đầu tư vào mục tiêu khác Phần vốn nhà nước tại

Trang 31

các DN CPH được bảo toàn và phát triển nhờ hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các DN CPH ngày càng tăng

CPH tạo cơ sở thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam Phương thức CPH từng bước được đổi mới, sát với thị trường, gắn việc CPH với việc niêm yết trên thị trường chứng khoán để tăng tính minh bạch, thúc đẩy sự luân chuyển linh hoạt của vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán Đến hết năm 2005, đã có 34 DN niêm yết, đưa tổng số DN niêm yết, giao dịch và bán cổ phần trên thị trường chứng khoán là 106 DN Tuy còn chiếm tỷ trọng chưa lớn, nhưng các cổ phiếu của CTCP được chuyển nhượng dễ dàng trên thị trường chứng khoán, đã hình thành một phương thức huy động vốn linh hoạt, có hiệu quả hơn cho hoạt động SXKD của DN

CPH hoá mang lại cho DN cơ chế quản lý năng động hơn, có hiệu quả, thích nghi với nền kinh tế thị trường

Chuyển sang hình thức CTCP, DN hoạt động theo cơ chế thị trường, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước cổ đông về hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh

CTCP đã thực hiện tốt các biện pháp tiết kiệm, đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; xây dựng mới các nội quy, quy chế hoạt động; có cơ chế hạch toán, phân phối rõ ràng; thực hiện tinh giản bộ máy quản lý, hợp lý hoá các bộ phận SXKD, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của DN

- CPH tạo điều kiện pháp lý và vật chất để người lao động nâng cao vai trò làm chủ trong DN

Thông qua CPH, một bộ phận quan trọng người lao động ở DNNN CPH trở thành cổ đông, là người chủ thực sự phần vốn góp của mình, có quyền dự họp Đại hội đồng cổ đông để thông qua điều lệ công ty, bầu các thành viên Hội

Trang 32

đồng quản trị và Ban kiểm soát, biểu quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động SXKD thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông; góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, tạo điều kiện để người lao động có cổ phần và tham gia quản lý DN đã được thể chế hoá tại Điều 11 Bộ luật Lao động

Việc kiểm tra, giám sát của người lao động - cổ đông và xã hội đối với CTCP, nhất là những công ty đã niêm yết trên thị trường chứng khoán, là biện pháp có hiệu quả làm cho tài chính của CTCP được minh bạch, công khai, cùng với những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cổ đông nói trên, tạo điều kiện cho việc thực hiện quy chế dân chủ trong DN một cách thực chất hơn

- CPH góp phần nâng cao hiệu quả SXKD của DN

Nhìn chung các DN sau CPH hoạt động có hiệu quả hơn Theo báo cáo

của các Bộ, ngành, địa phương về kết quả hoạt động của 850 DN CPH đã hoạt

động trên một năm cho thấy: vốn điều lệ bình quân tăng 44%; doanh thu bình quân tăng 23,6%; lợi nhuận thực hiện bình quân tăng 139,76%; trên 90% số DN sau cổ phần hoạt động kinh doanh có lãi; nộp ngân sách bình quân tăng 24,9%; thu nhập của người lao động bình quân tăng 12%; số lao động tăng bình quân 6,6%; cổ tức bình quân đạt 17,11% [25]

DN CPH mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối (trên 50%) là 27,4% Riêng năm

Trang 33

2004, có 42% DN cổ phần mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối Những con số

đó đã cho thấy sự tham gia của các cổ đông bên ngoài còn rất hạn chế, chưa thu hút được nhiều cổ đông lớn, có tiềm lực về công nghệ và tài chính [25]

- Tiến độ CPH còn chậm thể hiện qua những số liệu về số lượng các

DNNN đã được CPH đều thấp hơn chỉ tiêu đề ra Chẳng hạn, dự kiến trong 3 năm từ 2000-2002 sẽ tiến hành CPH 1.056 DNNN, nhưng đến tháng 12 năm

2002 mới chỉ CPH được 523 DN, bằng 50% số DN dự kiến; trong 6 tháng đầu năm 2004 cũng mới đạt được 20% kế hoạch

- Việc CPH chưa được thực hiện đều khắp trong các lĩnh vực Công tác

CPH mới chỉ tập trung ở các DN trong ngành công nghiệp, thương mại và xây dựng, còn số lượng DN CPH trong các lĩnh vực khác vẫn ít Trên thực tế, cũng chưa đặt ra vấn đề cần CPH các DNNN có quy mô lớn hay một số DN 100% vốn nhà nước nhưng lại đang hoạt động trên những địa bàn không thật sự cần thiết Các DN được CPH chủ yếu là những DN vừa và nhỏ (có 1.372 DN có vốn dưới 5 tỉ đồng, chiếm 59,2% số DN CPH) Vì thế, chưa đem lại những tác động tích cực và toàn diện cho nền kinh tế quốc dân [25]

- Hiệu quả của quá trình CPH chưa cao như mong muốn CPH là nhằm

đưa các DNNN đạt được hiệu quả sản xuất, kinh doanh cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường Tuy vậy, vì một số khó khăn mà các DN CPH vấp phải như đã trình bày ở trên, nên nếu đánh giá thật khách quan thì hiệu quả hoạt động của những DN đã CPH chưa cao, chưa tạo ra được những bước ngoặt như mong muốn Chủ yếu các DN đã CPH mới chỉ tập trung vào việc tiết kiệm chi phí, giảm giá thành để tăng lợi nhuận chưa kể được ưu tiên giảm

và miễn thuế 2 năm đầu Thực tế hoạt động của nhiều DN CPH vẫn cầm chừng, phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn của Nhà nước hiện có tại các DN và vay vốn ngân hàng vì phần vốn huy động qua phát hành cổ phiếu nhỏ bé

Trang 34

(chiếm 15,1%), không thực sự thu hút được những nhà đầu tư chiến lược Cũng chính vì vậy, đầu tư cho đổi mới công nghệ ở các công ty CPH diễn ra chậm chạp và các công ty này ít có khả năng mở rộng sản xuất, kinh doanh trên quy mô lớn một cách có hiệu quả Ngoài ra, cách thức quản lý trong những công ty CPH hiện cũng còn nhiều bất cập giữa mối quan hệ của cơ quan chủ quản, hội đồng quản trị, giám đốc… làm hạn chế tính năng động, sáng tạo để nâng cao hiệu quả của các DN sau CPH [25]

1.2.2.4 Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Nhận thức về CPH và ý thức chấp hành chủ trương CPH

Nhận thức về chủ trương, sự cần thiết và lợi ích của việc thực hiện CPH DNNN, về CPH không phải là tư nhân hóa chưa đầy đủ và thống nhất, nên còn do dự, lo lắng và thiếu quyết tâm Còn tình trạng chưa chấp hành nghiêm quyết định của Nhà nước, chưa tích cực, kiên quyết trong tổ chức thực hiện; chưa chú trọng đúng mức CPH những DNNN không cần giữ 100% vốn

- Pháp luật, chính sách về CPH

Pháp luật, chính sách về CPH DNNN ngày càng được hoàn thiện, nhưng xét cả quá trình thì có những quy định ban hành chậm, thiếu đồng bộ, thay đổi, điều chỉnh, bổ sung nhiều lần gây khó khăn, vướng mắc trong thực hiện CPH Quy trình CPH còn phức tạp, một số nội dung chưa phù hợp, thiếu cụ thể, thủ tục rườm rà, như: xác định giá trị DN nói chung và xác định giá trị quyền sử dụng đất nói riêng, trình tự, thủ tục chuyển giao quyền sử dụng đất; xác lập quyền sở hữu tài sản cho CTCP; xử lý công nợ ở các tổ chức tín dụng nhà nước; tiêu chuẩn và phương pháp cụ thể xác định giá trị thương hiệu, giá trị tiềm năng, lợi thế kinh doanh của DN; tiêu chí xác định cổ đông chiến lược

Trang 35

Hình thức đấu giá cổ phần chưa đa dạng và thực hiện một vòng đấu giá, nên các nhà đầu tư không thể thay đổi nếu muốn chấp nhận giá cao hơn để được trúng thầu Quy định thời hạn đăng ký tham gia đấu giá 5 ngày là dài và

dễ rò rỉ thông tin, tiêu cực trong đấu giá Hệ thống các quỹ đầu tư chứng khoán, các công ty chứng khoán chưa phát triển Quy định về quản lý và giám sát việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện trực tiếp vốn nhà nước ở CTCP chưa đầy đủ, thực hiện thiếu thống nhất Văn bản hướng dẫn thi hành Luật DN ban hành còn chậm

- Công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện

Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong chỉ đạo, hướng dẫn CPH, giải quyết tồn tại về tài chính, về quyền sử dụng đất đai còn thiếu đồng

bộ, chưa kịp thời Chưa chủ động xử lý dứt điểm các tồn đọng trước khi CPH Các ngân hàng không muốn chuyển nợ vay thành vốn góp Nhiều khoản nợ không hấp dẫn Công ty mua bán nợ mua theo giá thoả thuận

Các tổ chức tài chính trung gian, các định chế tài chính chưa đóng vai trò là “nhà môi giới” để đưa cổ phần các DN đến với các nhà đầu tư Các công ty tư vấn, định giá trong nước chất lượng hoạt động còn hạn chế, chưa đảm nhận được việc định giá các DN có thương hiệu, lợi thế kinh doanh lớn Công tác giám sát, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện các đề án CPH đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt chưa thường xuyên, thiếu kiên quyết

- Năng lực và phẩm chất cán bộ

Một bộ phận lãnh đạo DN chưa hiểu hoặc cố ý không hiểu đầy đủ về CPH DNNN, về CTCP Đại đa số cổ đông là người lao động chưa phát huy được vai trò chủ sở hữu, còn e dè, tự ti hoặc nể nang đã hạn chế trong việc đóng góp, tham gia vào công tác quản lý của công ty, mặc dù biết mình có cổ phần trong công ty

Có trường hợp lợi dụng quá trình chuyển đổi, CPH để vụ lợi, chiếm đoạt và gian

Trang 36

lận tài sản, tiền vốn của Nhà nước [19]

1.3 Những công trình liên quan đến CPH DNLN

Năm 2006-2007, TS Lê Trọng Hùng đã nghiên cứu đề tài: “Một số giải

pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch, tập trung và tích tụ đất nhằm nâng cao hiệu quả SXKD rừng nguyên liệu trên địa bàn các tỉnh vùng Trung tâm Bắc bộ” Đề tài đã nghiên cứu quá trình chuyển dịch tập trung và tích tụ đất trên

địa bàn các tỉnh vùng trung tâm Bắc bộ Đây là vùng SXKD rừng nguyên liệu với cường độ cao, đặc biệt là các CTLN đang phải đi thuê đất của các hộ dân

để trồng rừng Quá trình chuyển dịch, tập trung và tích tụ đất cũng là điều kiện để các CTLN tiến tới CPH trong thời gian tiếp theo

Năm 2007-2008, TS Lê Trọng Hùng đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam”[18] Đề

tài đã nghiên cứu được cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển được được thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất

ở Việt Nam Đây là một nghiên cứu quan trọng và cần thiết trong SXKD lâm nghiệp hiện nay, đồng thời cũng là một nghiên cứu cần thiết cho quá trình CPH các CTLN sau này Khi mà rừng và đất rừng đã được định giá, có thị trường trao đổi thì việc CPH các CTLN càng có khả năng thực thi hơn

Năm 2007, Trong khuôn khổ đề tài của TS.Lê Trọng Hùng, TS Phạm

Văn Điển đã nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu xác định giá trị rừng sản

xuất là rừng tự nhiên” Việc nghiên cứu định giá rừng sản xuất là rừng tự

nhiên, dựa vào “tổng giá trị kinh tế của rừng”, được tham chiếu với giá trị quyền sử dụng rừng trong khuôn khổ pháp lý quản lý rừng của Việt Nam và trong các mối quan hệ như: giao rừng, cho thuê rừng, tính thuế và lệ phí, chuyển đổi mục đích sử dụng, đền bù khi thu hồi rừng và đền bù rừng do các

Trang 37

hành vi phá hoại rừng theo Luật bảo vệ và phát triển rừng là hết sức cần thiết

và quan trọng Chuyên đề đã nghiên cứu và đưa ra được một số phương pháp

và các chỉ tiêu để định giá trị cho các loại rừng tự nhiên ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng cho viêc xác định giá trị các CTLN

có rừng sản xuất là rừng trồng và rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ quan trọng khi nghiên cứu xây dựng phương án CPH CTLN

Năm 2007, TS Trần Hữu Dào đã và đang nghiên cứu đề tài: “Nghiên

cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD cho các CTLN đang hoạt động theo luật DN” Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy quá trình

chuyển đổi từ LTQD sang hoạt động theo mô hình CTLN là phù hợp, hiệu quả SXKD đã được nâng lên, tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý đã được đổi mới, đới sống người lao động từng bước được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó thì một số CTLN sau khi chuyển đổi còn lúng túng, SXKD thua lỗ, đời sống người lao động khó khăn Đặc biệt mục tiêu khi chuyển đổi các LTQD sang CTLN là để hoạt động theo luật DN thống nhất nhưng trên thực tế thì các CTLN vẫn là các DNNN đang hoạt động theo luật DNNN năm 2003 Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp Thực chất khi chuyển đổi các LTQD sang CTLN mới chỉ là “bình mới”, “rượu cũ”, các CTLN vẫn là các DNNN nhà nước mà trong luật DN hiện nay không đề cập đến DNNN Vì vậy, để các CTLN hoạt động theo luật DN thống nhất thì phải tiếp tục nghiên cứu chuyển các CTLN sang các loại hình DN khác như: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, CTCP

Trang 38

Chương 2 TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CỦA CÔNG TY

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu chung về CTCP Tập đoàn Tân Mai

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty

- Tên công ty : CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN TÂN MAI

- Tên tiếng anh : TAN MAI GROUP JOINT STOCK COMPANY

Bộ Công nghiệp), vật tư, thiết bị, phụ tùng ngành giấy

Trồng rừng nguyên liệu giấy, trồng cây cao su và các loại cây công nghiệp, cây lâm nghiệp khác, sản xuất cây giống khảo sát và thiết

kế lâm sinh

Dịch vụ tư vấn kỹ thuật về giấy và lâm sinh

Trang 39

Đào tạo nghề (công nghệ bột giấy, giấy, các nghề công điện)

Gia công in ấn các loại tập vở, sách, tạp chí, bao bì nhãn hiệu (in xuất bản phẩm phải có giấy phép)

Công ty giấy Tân Mai được thành lập vào ngày 14-10-1958 với tên gọi công ty Kỹ Nghệ Giấy Việt Nam ( COGIVINA) do chính phủ Việt Nam Cộng hòa và công ty Hoa Kỳ Parson whittemore Development Co., Ltd đầu tư Sau ngày 30-04-1975, công ty được Uỷ Ban Công Quản tiếp thu nguyên vẹn và trở thành xí nghịêp quốc doanh trực thuộc Bộ Công Nghiệp với tên gọi chính thức là nhà máy giấy Tân Mai, đóng tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai

Năm 1985 ký hiệp định giữa hai chính phủ Việt Nam và Vương quốc Thụy Điển phục hồi nhà máy cũ (do SIDA tài trợ)

Năm 1987 vận hành phân xưởng dăm mảnh, năm 1989 vận hành phân xưởng Bột Nhiệt Cơ, năm 1990 vận hành nhà máy giấy số 3, năm 1992 sản lượng giấy đạt 20.100 tấn

Năm 1993 thay thế nguyên liệu gỗ thông bằng gỗ bạch đàn

Năm 1995 công ty chuyển đổi công nghệ TMP sang CTMP và đạt sản lượng 42.000 tấn giấy

Năm 1996 ký hợp đồng với ABB cải thiện chất lượng giấy in báo Lắp đặt hệ thống kiểm soát chất lượng giấy QCS

Năm 1998 sản lượng giấy đạt 59.000 tấn giấy

Năm 1999 thực hiện nâng cấp nhà máy giấy số 3 lên 45.000 tấn/năm Lắp đặt dây chuyền khử mực giấy vụn (DIP) 20.000 tấn /năm

Năm 2000 vận hành dây chuyền khử mực giấy vụn (DIP)

Trang 40

Năm 2002 xây dựng, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, SA 8000 và lắp đặt dây chuyền xử lý giấy vụn Carton OCC Năm 2003 xây dựng, chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 14000 và đưa vào hoạt động dây chuyền xử lý giấy vụn Carton OCC

Năm 2004 đạt sản lượng 72.000 tấn giấy

Năm 2005 sát nhập công ty giấy Bình An, các xí nghiệp nguyên liệu giấy tại Đông Nam Bộ, Đắklắk, Lâm Đồng vào công ty giấy Tân Mai

Năm 2007 công ty giấy Tân Mai tiến hành CPH, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình hoạt động để tăng năng lực sản xuất, kinh doanh Theo quyết định số 3086/QĐ- BCN của Bộ trưởng Công Nghiệp về việc chuyển đổi công ty giấy Tân Mai thành CTCP Giấy Tân Mai

Năm 2007 tổng sản lượng giấy đạt 120.000 tấn, 90.000 tấn bột giấy Năm 2008 đến nay - Sáp nhập CTCP Giấy Đồng Nai, nâng tổng sản lượng giấy lên 140.000 tấn giấy Chính thức mang tên CTCP Tập Đoàn Tân Mai

2.1.2 Bộ máy tổ chức quản lý tại công ty

2.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty

Mô hình tổ chức áp dụng theo mô hình kiểu trực tuyến - Chức năng với

2 cấp quản lý là cấp công ty và cấp phân xưởng

Công ty gồm một Tổng Giám Đốc và sáu Phó Tổng Giám Đốc có quyền hạn với các lĩnh vực và phòng ban trực thuộc

Các phòng ban chức năng bao gồm một trưởng phòng, một phó phòng và một số nhân viên có trình độ đại học chuyên môn thuộc quyền

Ngày đăng: 29/08/2017, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Kiều Đức Anh (2010), Các giải pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ công tác cổ phần hóa và chuyển giao doanh nghiệp, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp xác định giá trị doanh nghiệp phục vụ công "tác cổ phần hóa và chuyển giao doanh nghiệp
Tác giả: Kiều Đức Anh
Năm: 2010
2.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2005), Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN ban hành ngày 06 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành định mức kinh tế kỹ thuật trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng và bảo vệ rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 38/2005/QĐ-BNN "ban hành ngày 06 tháng 07 năm 2005 về việc ban hành định mức kinh tế kỹ
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2005
3.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2006), Quyết định số 20/2006/QĐ-BNN ngày 28 tháng 03 năm 2006 về việc về việc ban hành tạm thời Định mức lao động thiết kế khai thác và thẩm định thiết kế khai thác rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 20/2006/QĐ-BNN "ngày 28 tháng 03 năm 2006 về việc về việc ban hành tạm thời Định mức lao
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Năm: 2006
4.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Tài chính (2008), Thông tư liên tịch số 65/2008/TTLT-BNN-BTC, ngày 26 tháng 05 năm 2008 về việc Về hướng dẫn thực hiện nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm 2007 của Chính Phủ vể nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên "tịch số 65/2008/TTLT-BNN-BTC, ngày 26 tháng 05 năm 2008 về việc Về "hướng dẫn thực hiện nghị định số 48/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 03 năm "2007 của Chính Phủ vể nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Tài chính
Năm: 2008
6.Trần Hữu Dào (2007), Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả SXKD cho các CTLN đang hoạt động theo luật DN, Đề tài cấp bộ, Bộ NN và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả "SXKD cho các CTLN đang hoạt động theo luật DN
Tác giả: Trần Hữu Dào
Năm: 2007
7.Chính phủ (1993), Nghị định số 12-CP, ban hành ngày 02 tháng 03 năm 1993 về về ban hành bản quy định về sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12-CP, ban hành ngày 02 tháng 03 năm 1993 về "về ban hành bản quy định về sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1993
8.Chính phủ (2004), Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 03 tháng 12 năm 2004 về sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 03 tháng 12
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
9.Chính phủ (2004), Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004 về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 187/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 11
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
10.Chính phủ (2004), Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 188/2004/NĐ-CP, ban hành ngày 16 tháng 11
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
11.Chính phủ (2007), Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 26 tháng 06 năm 2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 26 tháng 06 "năm 2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
12.Chính phủ (2007), Nghị định số 123/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 27 tháng 07 năm 2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004 ngày 16/11/2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 123/2007/NĐ-CP, ban hành ngày 27 tháng 07 "năm 2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004 ngày
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
15.Chính phủ (2011), Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, ban hành ngày 18 tháng 07 năm 2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, ban hành ngày 18 tháng 07 "năm 2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
16.Nguyễn Nam Hải (2009), Xây dựng và phát triển thương hiệu giấy Tân Mai của công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai, Đại học Nông Lâm TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển thương hiệu giấy Tân Mai của "công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai
Tác giả: Nguyễn Nam Hải
Năm: 2009
17.Phạm Thị Huế (2011), Nghiên cứu xây dựng phương án CPH tại CTLN Yên Sơn – Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp, Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng phương án CPH tại CTLN Yên Sơn "– Tuyên Quang
Tác giả: Phạm Thị Huế
Năm: 2011
18.Lê Trọng Hùng (2008), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam, Đề tài cấp bộ, Bộ NN và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chính "sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất "rừng sản xuất ở Việt Nam
Tác giả: Lê Trọng Hùng
Năm: 2008
19.Nguyễn Văn Lâm (2011), Nâng cao hiệu quả hoạt động của DN nhà nước cổ phần hóa, Tạp chí tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động của DN nhà nước cổ "phần hóa
Tác giả: Nguyễn Văn Lâm
Năm: 2011
20.Nguyễn Việt Long (2009), Cơ sở khoa học và kinh nghiệm CPH DNNN ở các nước trên thế giới, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học và kinh nghiệm CPH DNNN ở các "nước trên thế giới
Tác giả: Nguyễn Việt Long
Năm: 2009
21.Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương (2007), Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế đầu tư
Tác giả: Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
Năm: 2007
22.Vũ Tấn Phương (2007), Nghiên cứu định giá rừng Việt Nam, Đề tài cấp bộ, Bộ NN và PTNT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu định giá rừng Việt Nam
Tác giả: Vũ Tấn Phương
Năm: 2007
24.Nguyễn Thị Kim Tin (2009), Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của mặt hàng giấy trên thị trường nội địa tại công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai giai đoạn 2009 – 2015, Đại học Lạc Hồng, Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của "mặt hàng giấy trên thị trường nội địa tại công ty Cổ phần Tập đoàn Tân Mai "giai đoạn 2009 – 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tin
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w