1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp chủ yếu hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh quảng trị

140 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy là những DN nhỏ về vốn, lao động và doanh thu, song cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động, các DNN&V đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của mình tro

Trang 1

-

LÊ THỊ KIM CHI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

QUẢNG TRỊ, 2012

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP&PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

LÊ THỊ KIM CHI

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60.62.15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS LÊ MINH CHÍNH

QUẢNG TRỊ, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu trong luận văn này và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin trích dẫn đều

đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Trang 4

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Lê Minh Chính, với tư cách là người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tác giả thực hiện

và hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình

Nhân dịp này, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến UBND tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu

tư, Cục Thống kê, Cục Thuế, Hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Quảng Trị; các DNN&V trên địa bàn tỉnh đã cung cấp cho tác giả những tài liệu quý báu để hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến sự ủng hộ, giúp đỡ của gia đình, sự quan tâm nhận xét đóng góp ý kiến của cơ quan, bạn bè và đồng nghiệp

Đông Hà, ngày tháng 10 năm 2012

Tác giả

Lê Thị Kim Chi

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

ĐẶT VẤN ĐỀ: 1

1.Tính cấp thiết của đề tài: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

2.1.1 Mục tiêu tổng quát: 2

2.1.2 Mục tiêu cụ thể: 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sự phát triển các DNN&V tại tỉnh Quảng Trị .2

4 - Nội dung nghiên cứu: 3

Chương I 4

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 4

1.1 Những vấn đề lý luận: 4

1.1.1 Khái niệm DN và các loại hình DN ở Việt Nam hiện nay: 4

1.1.2 Khái niệm DNN&V, các tiêu chí nghiên cứu: 7

1.1.3 Vai trò của DNN&V trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước: 17

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển của DNN&V: 22

1.2.1 Các nhân tố bên ngoài DN: 22

1.2.2 Các nhân tố nội tại bên trong DN: 26

1.3 Yêu cầu đối với DNN&V: 29

Trang 6

1.3.1 Tham gia tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế: 29

1.3.2 Tham gia sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh: 31

1.3.3 Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập: 31

1.4 Kinh nghiệm nước ngoài và một số địa phương trong nước về phát triển DNN&V: 33

1.4.1 Kinh nghiệm phát triển phát triển DNN&V ở một số nước: 33

1.4.2 Kinh nghiệm phát triển DNN&V trong nước: 38

Chương 2 51

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG TRỊ 51

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn tỉnh Quảng trị: 51

2.1.1 Giới thiệu chung về tình hình và sự phát triển của các DNN&V trên địa bàn tỉnh Quảng Trị: 51

2.1.2 Các đặc điểm về điều kiện tự nhiên tỉnh Quảng Trị: 51

2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Trị 56

2.1.4 Một số kết quả phát triển kinh tế xã hội .58

2.2 Phương pháp nghiên cứu 62

2.2.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu, khảo sát: 62

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 62

2.2.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá: 63

2.2.4 Các chỉ tiêu cụ thể đánh giá về mặt số lượng và chất lượng: 63

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 65

3.1 Thực trạng phát triển của các DNN&V tại tỉnh Quảng Trị: 65

3.1.1 Quy mô về số lượng DNN&V: 65

3.1.2 Thực trạng năng lực sản xuất kinh doanh của các DNN&V: 69

3.1.3 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNN&V tại tỉnh Quảng Trị: 79

Trang 7

3.1.4 Những hạn chế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNN&V tại

tỉnh Quảng Trị: 96

3.2 Các giải pháp đề xuất để phát triển DNV&N tại tỉnh Quảng Trị: 101

3.2.1 Nhóm các giải pháp tạo vốn để phát triển DNN&V: 101

3.2.2 Nhóm các giải pháp về phía Nhà nước: 106

3.2.3 Nhóm các giải pháp về phía các DNN&V: 112

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 118

I Kết luận: 118

II Khuyến nghị: 119 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Số lượng và cơ cấu DNN&V phân theo loại hình DN 65 Bảng 3.2 Số lượng và cơ cấu DNN&V phân theo lĩnh vực kinh doanh 66 Bảng 3.3 Số lượng và cơ cấu DNN&V phân theo vùng: 68 Bảng 3.4 Vốn đầu tư của các DNN&V giai đoạn 2007 đến 2011 phân

theo lĩnh vực kinh doanh

69

Bảng 3.5 Vốn đầu tư của các DNN&V năm 2011 phân theo lĩnh vực

kinh doanh và nguồn gốc vốn đầu tư

70

Bảng 3.6 Vốn đầu tư của các DNN&V năm 2011 phân theo lĩnh vực

kinh doanh và cơ cấu nguồn gốc vốn đầu tư

71

Bảng 3.7 Số lượng lao động trong các loại hình DN 72 Bảng 3.8 Lao động phân theo vùng và theo khu vực DN 73 Bảng 3.9 Tỷ lệ lao động được đào tạo ở các DNN&V 74 Bảng 3.10 Thực trạng máy móc thiết bị của các DNN&V tại tỉnh

Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất kinh

doanh của các DNN&V từ năm 2007 đến năm 2011

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ:

1.Tính cấp thiết của đề tài:

Trong tiến trình cải cách và phát triển kinh tế ở Việt Nam, DN nhỏ và vừa

(DNN&V) luôn chiếm tỷ trọng lớn Tuy là những DN nhỏ về vốn, lao động và doanh thu, song cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng và quy mô hoạt động, các DNN&V đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng của mình trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng, thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, góp phần rất lớn vào công cuộc xoá đói giảm nghèo…sự xuất hiện của các DNN&V đã tạo nên những mảng thị trường hoàn toàn mới, thúc đẩy sự đổi mới không ngừng không chỉ cho quốc gia mà cả thế giới Những đóng góp đó có được một phần là nhờ vào sự nỗ lực

từ chính nội tại bản thân các DN, phần khác nhờ vào sự tác động tích cực của các chủ trương, cơ chế, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong công tác khuyến khích, tạo điều kiện hỗ trợ cho các DNN&V hoạt động

Quảng Trị là một tỉnh duyên hải miền Trung nhỏ bé và thuộc đối tượng tỉnh nghèo trong cả nước Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới, tỉnh đã xây dựng được một

hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội tương đối cơ bản, bước đầu tạo thuận lợi cho việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước Trong những năm qua, DNN&V trên địa bàn tỉnh Quảng Trị đã tập trung mọi nguồn lực để vượt qua khó khăn, tìm tòi và lựa chọn hướng đi đúng đắn, phù hợp với xu thế thị trường bằng những giải pháp thích hợp Từ đó, các DN ngày càng phát triển và lớn mạnh, mở thêm nhiều ngành nghề mới, góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn người lao động

Trong giai đoạn hiện nay, Các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương của tỉnh xác định việc phát triển các DNN&V là một phương thức tốt để khai thác các tiềm năng, thế mạnh trên địa bàn, tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng hiện đại, giải quyết việc làm người lao động tại địa phương Đây cũng là định hướng chiến lược của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước

Trang 11

DNN&V tỉnh Quảng Trị đã có sự phát triển vượt bậc, đóng góp to lớn vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của của tỉnh Tuy nhiên, loại hình DNN&V tại tỉnh nói riêng và ở nước ta nói chung đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, tăng nhanh về số lượng nhưng chưa coi trọng chất lượng Các DNN&V được thành lập với số lượng lớn song hoạt động thiếu tính ổn định và hiệu quả thấp, sự liên kết cũng như tính cộng đồng giữa các DN còn yếu, tình trạng khó khăn về vốn, công nghệ, nhân lực cũng như thị trường tiêu thụ sản phẩm, mặt bằng sản xuất kinh doanh, chính sách thuế…là những vấn đề nan giải cần phải được xem xét, đánh giá

và giải quyết kịp thời

Từ thực tiễn đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Một số các giải pháp chủ yếu

hỗ trợ phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị” để

nghiên cứu với mong muốn đóng góp một phần kiến thức nhỏ bé của mình nhằm giải quyết những bức xúc trong phát triển loại hình DNN&V tại địa phương, đồng thời tìm ra các giải pháp thúc đẩy sự phát triển cũng như gia tăng khả năng đóng góp của loại hình DN này vào tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.1 Mục tiêu tổng quát:

Đề xuất một số các giải pháp chủ yếu nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Quảng Trị

2.2 Mục tiêu cụ thể:

- Hệ thống vấn đề lý luận và thực tiễn về DNN&V

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của doanh nghiệp

- Đề xuất các hệ thống giải pháp hỗ trợ phát triển DNN&V

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Sự phát triển các DNN&V tại tỉnh Quảng Trị

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Trang 12

+ Phạm vi về nội dung: Sự phát triển các DNN&V

+ Phạm vi về không gian: Toàn tỉnh Quảng Trị

+ Phạm vi về thời gian: năm 2007 - 2011

4 Nội dung nghiên cứu:

- Những vấn đề lý luận về phát triển DNN&V trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN:

+ Những vấn đến lý luận: Khái niệm, vai trò của các DNN&V

+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển DNN&V

+ Yêu cầu đối với DNN&V

+ Kinh nghiệm nước ngoài và một số địa phương trong nước về phát triển DNN&V

- Đặc điểm địa bàn tỉnh Quảng Trị và phương pháp nghiên cứu: + Đặc điểm cơ bản của địa bàn tình Quảng Trị

+ Phương pháp nghiên cứu

- Kết quả nghiên cứu:

+ Thực trạng phát triển DNN&V tại tỉnh Quảng Trị

+ Các giải pháp đề xuất để phát triển DNN&V tại tỉnh Quảng Trị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ

NGHĨA

1.1 Những vấn đề lý luận:

1.1.1 Khái niệm DN và các loại hình DN ở Việt Nam hiện nay:

1.1.1.1 Đứng trên các các quan điểm khác nhau về DN, có thể khái niệm về

DN như sau:

Quan điểm nhà tổ chức: DN là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị

và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích

Quan điểm lợi nhuận: DN là một tổ chức sản xuất, thông qua đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm

Quan điểm chức năng: DN là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi

Quan điểm lý thuyết hệ thống: DN là một bộ phận hợp thành trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội

Tựu chung các quan điểm, có thể khái quát rằng: “DN là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng”

Theo khoản 1 Điều 4 luật DN ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 của Việt

Nam, DN có khái niệm như sau: "DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện ổn định các hoạt động kinh doanh”

Trang 14

Việc phân chia các loại hình DN ở mỗi quốc gia trên thế giới là khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nơi và nó cũng thay đổi theo từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế Trên cơ sở đó mỗi nước lại chọn cho mình những tiêu chí khác nhau để phân chia các loại hình DN, ở Việt Nam có các tiêu chí

để phân chia như sau:

1.1.1.2 Theo bản chất kinh tế của của chủ sở hữu: Bộ môn Kinh tế vi mô chia các tổ chức DN ra làm 3 loại hình chính dựa trên hình thức và giới hạn trách nhiệm của chủ sở hữu:

DN tư nhân (Proprietorship)

DN hợp danh (Partnership)

DN trách nhiệm hữu hạn (Corporation)

Thông thường DN tư nhân chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số các DN, nhưng DN trách nhiệm hữu hạn lại chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanh thu, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như sản xuất hàng hoá, tài chính

1.1.1.3 Căn cứ vào hình thức pháp lý của DN:

Căn cứ vào Luật DN 2005 thì việc phân loại các loại hình DN ở Việt Nam dựa trên hình thức pháp lý bao gồm:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn: (Bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai

thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên): Là DN mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty

- Công ty cổ phần: Là DN mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều

phần bằng nhau gọi là cổ phần Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của DN được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào DN

- Công ty hợp danh: Là DN trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu

của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh) Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của

Trang 15

mình về các nghĩa vụ của công ty Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn

- DN tư nhân: Là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng

toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DN tư nhân

- Các DN có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước

ngoài 1996 chưa đăng kí lại hay chuyển đổi theo quy định

1.1.1.4 Căn cứ vào chế độ trách nhiệm:

Căn cứ vào chế độ trách nhiệm có thể phân loại các DN thành có chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn:

- DN có chế độ trách nhiệm vô hạn: DN có chế độ trách nhiệm vô hạn là loại

hình DN mà ở đó chủ sở hữu DN có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho DN bằng tất cả tài sản của mình, khi DN không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của

nó Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại DN có chế độ trách nhiệm vô hạn là DN tư nhân và công ty hợp danh

- DN có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo pháp luật Việt Nam, các DN có

chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, DN liên doanh và DN 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP Những DN có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những DN mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa

vụ tài chính của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN Điều đó có nghĩa là khi

số tài sản của DN không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho DN

Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại DN trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành viên/chủ sở hữu công ty

1.1.1.5 Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh và quy mô DN:

Có thể phân loại thành DN lớn và DNN&V: Dựa vào ngành nghề kinh doanh,

tổng nguồn vốn và số lượng lao động, DN được phân theo các loại hình DN lớn,

DN cực nhỏ, nhỏ và vừa

Trang 16

Tất cả các DN dù được xếp vào loại hình nào đều cũng phải tồn tại, phát triển tuân theo quy luật thị trường, chịu sự tác động và chi phối của tình hình kinh

tế, xã hội, chính trị của địa phương, quốc gia và thế giới Những đặc Điểm hoạt động của DN nói chung: Tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu xã hội

1.1.2 Khái niệm DNN&V, các tiêu chí nghiên cứu:

1.1.2.1 Khái niệm DNN&V trên thế giới:

Hiện nay, trên thế giới không có khái niệm chuẩn mực chung về DNN&V, mỗi quốc gia, khu vực có một cách định nghĩa riêng về DNN&V tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế của mình Thực tế cho thấy, khái niệm DNN&V cũng có sự khác nhau giữa các nước trong cùng một khu vực Tại Nam Phi, DNN&V là DN có từ 1 - 500 công nhân Tại Chi - Lê và Colombia con số đó là từ 11 đến 200 Trong khi đó tại Mê-hi-cô thì một DN có 500 công nhân vẫn được coi là DNN&V

Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng để định nghĩa DNN&V

- Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNN&V như chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng làm cơ sở tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô DN

- Tiêu chí định lượng thường bao gồm các nhóm chỉ tiêu về: số lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNN&V

Tuy nhiên, các chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào các yếu tố như:

- Trình độ phát triển kinh tế của một nước: Trình độ phát triển càng cao thì trị

số các tiêu chí càng tăng lên Ví dụ như một DN có 400 lao động ở Việt Nam không được coi là DNN&V nhưng lại được tính là SME ở CHLB Đức Ở một số nước có trình độ phát triển kinh tế thấp thì các chỉ số về lao động, vốn để phân loại DNN&V

sẽ thấp hơn so với các nước phát triển

Trang 17

- Tính chất ngành nghề: do đặc điểm của từng ngành, có ngành sử dụng nhiều lao động như dệt, may, có ngành sử dụng ít lao động nhưng nhiều vốn như hoá chất, điện Do đó cần tính đến tính chất này để có sự so sánh đối chứng trong phân loại các SME giữa các ngành với nhau Trong thực tế, ở nhiều nước, người ta thường phân chia thành hai đến ba nhóm ngành với các tiêu chí phân loại khác nhau Ngoài

ra có thể dùng khái niệm hệ số ngành (Ia) để so sánh đối chứng giữa các ngành khác nhau

- Vùng, lãnh thổ: do trình độ phát triển khác nhau nên số lượng và quy mô DN cũng khác nhau Do đó cần tính đến cả hệ số vùng (Ib) để đảm bảo tính tương thích trong việc so sánh quy mô DN giữa các vùng khác nhau

Chúng ta cùng xem xét khái niệm và tiêu chí phân loại DNN&V của một số nước trên thế giới:

- Hàn Quốc: Là một nước công nghiệp trẻ, đạt được nhiều thành công chính

là nhờ sự phát triển DNN&V Hàn Quốc đã có những đạo luật cơ bản về DNN&V, trong đó xác định rõ những tiêu chuẩn để được công nhận là DNN&V Những tiêu chuẩn đó còn phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động cụ thể như sau:

Trong lĩnh vực chế tạo, khai thác, xây dựng: DN có dưới 300 lao động thường

xuyên và tổng vốn đầu tư dưới 600.000 USD được coi là DNN&V Trong số này

DN nào có dưới 20 lao động được coi là DN nhỏ

Trong lĩnh vực thương mại: DN có dưới 20 lao động thường xuyên và doanh

thu dưới 500.000 USD/năm (nếu là bán lẻ) và dưới 250.000 USD/ năm (nếu là bán buôn) được coi là DNN&V

Trong số này DN nào có dưới 5 lao động thường xuyên được coi là DN nhỏ (các tiêu thức này được xác định từ những năm 70, đến nay tiêu thức về lao động đã thay đổi từ 2 đến 3 lần và vốn đã tăng hàng chục lần)

- Tại Mỹ: DN được coi là DNN&V nếu có tổng giá trị tài sản dưới 5 triệu

USD, lợi nhuận hàng năm dưới 2 triệu USD, số lao động bình quân hàng năm dưới

500 người Bên cạnh đó, tiêu chí để xác định DNN&V còn được phân biệt theo ngành nghề kinh doanh Ngoài ra, trong luật DNN&V của Mỹ còn quy định thêm

Trang 18

một số tiêu chuẩn định tính như: DNN&V là một xí nghiệp độc lập, không ở vào vị trí chi phối trong ngành của mình liên quan, khác hẳn với quan niệm ở Nhật, các công ty con hoặc xí nghiệp vệ tinh thuộc công ty lớn vẫn được hưởng những đặc quyền của các DNN&V

- Nhật Bản: là một nước đã tạo nên huyền thoại “thần kỳ” trong phát triển kinh

tế vào những năm của thập kỷ 50 đến thập kỷ 70 Từ những năm 60, Nhật Bản có đạo luật cơ bản về DNN&V, trong đó xác định DNN&V như sau:

Đối với DN sản xuất: DN có dưới 300 lao động và một khoản tư bản hoá (vốn

đầu tư) dưới 100 triệu Yên (tương đương với 1.000.000 USD) được coi là DNN&V Trong số này, doanh nghiệp nào có dưới 20 lao động được coi là DN nhỏ

Đối với DN bán buôn: DN có dưới 100 lao động hoặc có một khoản tư bản hoá

dưới 30 triệu Yên (tương đương 100.000USD) được coi là DN nhỏ

Đối với DN bán lẻ và dịch vụ: DN có dưới 50 lao động hoặc một khoản tư bản

hoá dưới 10 triệu yên (tương đương 100.000USD) được coi là DN có quy mô vừa

và nhỏ Trong số này, DN nào có dưới 5 lao động được coi là DN nhỏ (những tiêu thức này nay được xác định từ những năm 60, hiện nay vốn đã tăng lên hàng chục lần)

Trong khái niệm về DNN&V, Nhật Bản chỉ quan tâm đến hai tiêu thức là vốn

và lao động Đối với tiêu thức lao động của loại hình DN nhỏ, Nhật Bản quan niệm gần giống với Hàn Quốc, rất thấp so với khu vực Châu á Phải chăng các nước có tiềm lực kinh tế mạnh, nguồn nhân lực có hạn, họ quan tâm đến tiêu thức vốn đầu tư nhiều hơn

- Thái Lan: là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, họ

quan niệm DN vừa có từ 50 đến 200 lao động, DN nhỏ có dưới 50 lao động Như vậy Thái Lan chỉ quan tâm đến tiêu thức lao động và cũng không tính đến tính chất đặc thù của ngành kinh tế (tiêu thức này gần giống với Việt Nam)

- Các nước khác như Phi- líp -pin lại lấy tiêu thức chủ yếu là lao động và giá trị tài sản cố định; In-đô-nê-xi-a lấy tiêu thức vốn bình quân cho một lao động; Trung quốc lại lấy tiêu thức sản lượng đầu tư Mỹ lấy tiêu thức lao động, trị số hàng hoá

Trang 19

bán ra (doanh thu tiêu thụ) đối với DN bán buôn, dịch vụ, đối với DN sản xuất thì

có tính đến yếu tố ngành sản xuất

Tham khảo tiêu chí phân loại DNN&V của một số nước khác trên thế giới:

ÚC - Sản xuất: Dưới 100 lao động

- Phi sản xuất: Dưới 20 lao động CHLB ĐỨC - Dưới 500 lao động

ĐÀI LOAN

- Công nghiệp, xây dựng: Vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 300 lao động

- Khai khoáng : Vốn góp dưới 40 triệu NT$, dưới 500 lao động

- Thương mại, dịch vụ và vận tải khác: dưới 40 triệu NT$ doanh thu, dưới 50 lao động

(Nguồn: Tổng hợp dữ liệu từ các trang Web trên mạng)

Tính lịch sử: Một DN trước đây được coi là lớn, nhưng với quy mô như vậy, hiện tại hoặc tương lai lại được coi là vừa hoặc nhỏ Như vậy, trong việc xác định quy mô DN cần tính thêm hệ số tăng trưởng quy mô DN trung bình (Id) trong từng giai đoạn Hệ số này chỉ dùng để xác định quy mô DN cho các thời kỳ khác nhau Mục đích phân loại: Khái niệm DNN&V khác nhau tuỳ theo mục đích phân loại:

Như vậy có thể xác định quy mô DNN&V thuộc một ngành hoặc một địa bàn

cụ thể theo công thức sau:

F(Sba) = Ib*Ia*Sa/Id

F(Sba): Quy mô một DN thuộc một ngành và trên một lãnh thổ cụ thể

Ib,Ia, Id: Tương ứng với hệ số vùng, ngành, hệ số tăng trưởng quy mô DN

Sa: Quy mô vừa và nhỏ chung trong một nước

Cho đến nay đã hình thành quan niệm chung về DNN&V là các DN có quy mô tương đối nhỏ Sự khác nhau trong các quan niệm hiện hành chủ yếu tập trung vào 3 điểm:

Thứ nhất: Quy mô DN được xác định theo những phương diện nào

Thứ hai: DN quy mô như thế nào thì được xếp vào loại DNN&V

Trang 20

Thứ ba: có sự phân biệt về tiêu chí xác định DNN&V theo ngành kinh tế hay không

1.1.2.2 Khái niệm DNN&V ở Việt Nam:

Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng khái niệm DNN&V và sau đó khái niệm DN nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam Vấn đề tiêu chí DN vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua Định nghĩa về DNN&V, DN nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên vào quy mô DN Thông thường đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu

Ở Việt Nam, Công văn số 681 /CP-KTN ban hành ngày 20-6-1998 theo đó DNN&V là DN có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng (tương đương 378.000 USD - theo tỷ giá giữa VND và USD tại thời điểm ban hành công văn) Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về các DNN&V ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các DN vừa, nhỏ và cực nhỏ Vì vậy, tiếp theo đó Nghị định số 90/2001/NĐ-CP đưa ra chính thức định nghĩa DNN&V như sau:

“DNN&V là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người” Như vậy tiêu chí để xác định DNN&V theo NĐ 90/2001/NĐ-CP là:

- Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD), hoặc

- Có số lượng lao động dưới 300 người

Theo Điều 4: "Nghị định này áp dụng đối với các DNN&V bao gồm: Các DN thành lập và hoạt động theo Luật DN ; Các DN thành lập và hoạt động theo Luật

DN Nhà nước; Các DN thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã ; Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 3/2/2000 của Chính phủ" (Nghị định này được thay thế bởi Nghị định 109/2004/NĐ-CP)

Trang 21

Bên cạnh khái niệm trên, trong một số trường hợp người ta còn dùng thêm khái niệm DN cực nhỏ, DN nhỏ, DN vừa như sự phân loại của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam:

“DN nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động ít hơn 50

người Các DN có số lao động từ 10 đến 49 lao động là DN nhỏ, các DN có số lao động từ 1 đến 9 người được coi là DN cực nhỏ”

Với khái niệm này thì DN vừa là DN còn lại trong khái niệm của NĐ 90 tức là

DN có lao động từ 50 đến 299 người Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVV của Nghị định 90 đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý “có những DN có số lao động vượt xa con số 300 (có trường hợp 500-600 lao động), nhưng vì vốn đăng

ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn được coi DNN&V Ngược lại, có DN có mức vốn đăng

ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào đội ngũ DNN&V Mặt khác, việc khái niệm DNN&V không phân theo lĩnh vực sản xuất cũng có hạn chế, vì nguồn vốn của Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là ít, nhưng trong một số lĩnh vực dịch vụ thì lại nhiều Hơn nữa, tiêu chí phân loại DN theo vốn đăng ký do DN tự khai thường mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát Điều này sẽ làm việc vận dụng chính sách hỗ trợ

cụ thể cho DNN&V gặp nhiều khó khăn

Chính vì vậy, Chính phủ đã ban hành định nghĩa mới về DNN&V trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNN&V Theo Nghị định này, DNN&V đã được phân theo khu vực kinh doanh và có phân loại cụ thể cho DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa

“DNN&V là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,

được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như bảng sau:

Trang 22

DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Quy mô

Khu vực Số lao động Tổng

nguồn vốn

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động

II Nông, lâm

nghiệp và thuỷ sản

10 người trở xuống

20 tỷ trở xuống

Từ trên 10 người đến

200 người

Từ trên 20

tỷ đồng đến 100 tỷ đồng

Từ trên

200 người đến 300 người

II Công nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ trở xuống

Từ trên 10 người đến

200 người

Từ trên 20

tỷ đồng đến 100 tỷ đồng

Từ trên

200 người đến 300 người III Thương mại và

dịch vụ

10 người trở xuống

20 tỷ trở xuống

Từ trên 10 người đến

50 người

Từ trên 20

tỷ đồng đến 50 tỷ đồng

Từ trên

50 người đến 100 người (Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 về trợ giúp phát triển DNN&V)

1.1.2.3 Các tiêu chí DNN&V:

Kết hợp với bảng phân loại, có thể thấy theo Nghị định, DNN&V được phân chia dựa theo các tiêu chí: Quy mô về vốn, Quy mô về số lao động và Khu vực Trong đó quy mô về nguồn vốn được chú trọng

Nghị định cũng nêu rõ: Tuỳ theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hoá các tiêu chí nêu trên cho phù hợp

1.1.2.4 Đặc điểm của DN nhỏ và vừa:

- Quy mô tương đối nhỏ về lao động và vốn đầu tư:

Xuất phát từ định nghĩa, có thể thấy quy mô lao động và vốn đầu tư tương đối nhỏ là đặc điểm bao trùm của DNN&V, cho phép có thể nhận diện chúng trong sự phân biệt các DN lớn Do các chủ thể của loại hình DN này thường xác định quy

mô sản xuất kinh doanh ban đầu không lớn, nên số lao động và vốn đầu tư cần thiết cho việc thành lập và hoạt động thường không nhiều Ở nước ta hiện nay số DN có

Trang 23

vốn 500 tỷ trở lên chỉ dừng lại khoảng 1.500, chiếm khoảng 0,6% tổng số DN Phần lớn các DNN&V có tỷ trọng vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn hoạt động ở mức thấp, nguồn vốn sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng

Vai trò và vị thế của DNN&V trong nền kinh tế ngày càng được nâng cao, tuy nhiên, năng lực cạnh tranh và tiềm lực tài chính của các DNN&V vẫn còn non và yếu Sự hạn chế về nguồn lực tài chính gây khó khăn cho DN trong việc tích luỹ cũng như huy động vốn để duy trì, phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh Thực tế, việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng vẫn là khó khăn lớn nhất của các DNN&V Mặt bằng lãi suất cho vay mặc dù đã được điều chỉnh giảm ở mức 17 - 19% nhưng vẫn là mức cao khó tiếp cận Các DNN&V chiếm một tỷ trọng lớn trong số những đơn vị xin vay vốn, do vậy xét về phía người cho vay thì việc cho các đơn vị thuộc loại hình DN này vay đòi hỏi phải có sự chú ý đặc biệt trong việc phân tích tài chính để có thể đánh giá được những rủi ro có thể xảy ra Các tổ chức tài chính thường e ngại khi tài trợ cho các DNN&V vì các đơn vị này chưa có quá trình kinh doanh đủ để tạo được uy tín cũng như khả năng trả nợ không cao Từ những khó khăn trong việc huy động nguồn vốn như vậy dẫn đến các DNN&V thường không đủ nguồn lực tài chính để tiếp cận những dự án lớn, không thể đầu tư công nghệ tiến tiến… dẫn đến cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mở rộng quan hệ hợp tác ra bên ngoài của DN là rất khó khăn

Theo Hiệp hội DNN&V Việt Nam, những khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng đã đẩy khoảng 20% DNN&V vào tình trạng khó có thể tiếp tục hoạt động Ngoài nhóm này, 60% DNN&V đang chịu tác động bởi những khó khăn chung của nền kinh tế nên sản xuất sút kém hoặc bị đình trệ Chỉ có 20% DNN&V còn lại là ít

bị ảnh hưởng và có thể trụ vững được (do ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay và quản trị tốt)

- Đa dạng về hình thức sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối thu nhập: DNN&V có mặt trong tất cả các ngành nghề, lĩnh vực và là một bộ phận cấu thành không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân, nó trở thành vệ tinh gắn bó với các

DN lớn trong hệ thống các DN, có tác dụng bổ sung cho phần thiếu hụt thị trường

Trang 24

của DN lớn DNN&V có phạm vi hoạt động rộng khắp trong toàn bộ nền kinh tế, nhưng thường hướng vào hoạt động kinh doanh có tốc độ chu chuyển vốn cao như thương mại, dịch vụ, công nghiệp nhẹ, công việc chế biến thực phẩm

Do vốn đầu tư ban đầu thấp cùng với sự đa dạng về ngành nghề sẽ tạo ra cơ hội đầu tư đối với nhiều người, tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân trong nước dù

ở các điều kiện về văn hoá, giáo dục khác nhau đều có thể tìm đến cơ hội lập nghiệp Sự đa dạng về hình thức sở hữu, tổ chức quản lý, phân phối thu nhập cùng với sự phân bố của DNN&V trong tất cả các ngành kinh tế cho phép có thể tận dụng, khai thác thác tối đa và có hiệu quả những lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh

dù lớn hay nhỏ của từng ngành, từng vùng cho phát triển kinh tế xã hội

- Năng động, nhạy bén trong kinh doanh, dễ thích nghi với sự biến đổi của thị trường:

DNN&V có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, đặc biệt là rất linh hoạt, nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường DNN&V có thể bước vào thị trường mới mà không thu hút sự chú ý của các DN lớn (do quy mô DN nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các DN lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường

có khối lượng lớn DNN&V là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh:

+ Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với

thay đổi của thị trường:

DNN&V có thể bắt đầu hoạt động với một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất kinh doanh đơn giản Bên cạnh đó vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng Bộ máy

tổ chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết định Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng như quy mô nhỏ của nó, DN có thể dễ dàng phát hiện những thay đổi về nhu cầu của thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng kinh doanh, phát huy tính

Trang 25

năng động sáng tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng Từ đó DN

sẽ tạo ra sự sống động trong phát triển kinh tế

+ Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao:

Đó là bởi các DN loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao động nên có khả năng mạo hiểm và sẵn sàng mạo hiểm Trong trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt hại nặng nề như các DN lớn, có thể làm lại từ đầu được Bên cạnh đó các DNN&V có tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các DN lớn trong sản xuất dây chuyền hàng loạt, vì vậy họ phải tìm kiếm lợi nhuận từ các cuộc kinh doanh mạo hiểm, đó chính là động cơ thúc đẩy các DNN&V đi vào kinh doanh

ở các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao

+ Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí cố định thấp:

Kinh phí đầu tư vào các tài sản cố định đối với DNN&V không đòi hỏi lớn, do

đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các DNN&V có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện sản xuất kinh doanh của DN có nhiều hạn chế

- Khó khăn trong việc tạo lập vị thế vững chắc trong thị trường, hạn chế

về năng lực kinh doanh và quản lý, chưa chú trọng đào tạo nhân lực:

Hoạt động sản xuất kinh doanh của DNN&V thường phụ thuộc vào các đơn vị

mà nó cung cấp hàng hoá và dịch vụ, bên cạnh đó, do hạn chế về nguồn vốn, các DNN&V không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc, mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém DNN&V cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing còn kém hiệu quả Kỹ năng phân tích thị trường còn hạn chế nên năng lực cạnh tranh chưa cao, sản phẩm làm ra chất lượng còn thấp và khó có khả năng cạnh tranh cao

Trang 26

Điều đó làm cho các mặt hàng của DNN&V khó tiêu thụ, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu lợi nhuận của DN, khó tạo được uy tín đối với các tổ chức tín dụng Những hạn chế này gây khó khăn cho DN trong việc tạo lập một vị thế vững chắc trên thương trường

Bên cạnh đó, năng lực quản lý của các DNN&V còn thấp Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo DN cũng như của người lao động còn hạn chế Đa số các DNN&V đều yếu về năng lực điều hành và quản lý

DN, phổ biến còn mang tính gia đình Số lượng DNN&N có chủ DN, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều Một bộ phận lớn chủ

DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế-xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh Mặt khác, DNN&V ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao do khó có thể trả lương cao và không có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và giữ chân những nhà quản lý cũng như những người lao động giỏi Các vấn đề liên quan đến chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật… chưa được xem trọng dẫn đến tình trạng yếu kém và sai sót trong quá trình điều hành quản lý 1.1.3 Vai trò của DNN&V trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước:

DNN&V đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội của đất nước Những vai trò chủ yếu của DNN&V bao gồm:

1.1.3.1 DNN&V góp phần giải quyết việc làm và thu nhập cho người lao động:

Tạo công ăn việc làm cho người lao động hiện đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, ở Việt Nam việc chú trọng phát triển DNN&V là chủ trương đúng đắn của Đảng nhằm giải quyết vấn đề bức xúc này Trong giai đoạn 2000 -

2010, có khoảng 5,6 triệu việc làm mới được tạo ra bởi các DN tư nhân (trong đó phần lớn là DNN&V), 1,5 triệu việc làm được tạo ra từ các DN có vốn đầu tư nước ngoài Hiện nay, số lượng lao động trong các DNN&V chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số lao động của các DN Do DNN&V có thể tồn tại và phát triển khắp nơi, phân tán tại nhiều vùng địa lý, đặc biệt là các vùng sâu vùng xa, len lỏi vào hầu hết

Trang 27

các lĩnh vực kinh doanh với tất cả các công nghệ từ hiện đại đến thủ công truyền thống, vì vậy có thể thu hút được lao động tại nhiều địa phương thuộc mọi thành phần với trình độ chuyên môn và tay nghề khác nhau Trong khi đó, các DN lớn nhìn chung thường tuyển chọn các lao động lành nghề, lao động có trình độ chuyên môn nhất định

Số lượng việc làm do các DNN&V tạo ra cùng với sự tăng trưởng lâu dài và ổn định của loại hình DN này đã góp phần giữ vững và nâng cao mức thu nhập của người dân nói chung, sức mua của xã hội được duy trì và cải thiện

1.1.3.2 DNN&V góp phần quan trọng trong việc huy động và khai thác, sử dụng tối ưu các nguồn lực trong nền kinh tế, đặc biệt là các nguồn lực nhỏ lẻ, phân tán từ mọi tầng lớp dân cư:

Một nền kinh tế không chỉ tồn tại ở những vùng đô thị, vùng có hệ thống huyết mạch giao thông thuận lợi mà luôn tồn tại cả ở những vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa, nơi có thị trường tiêu thụ nhỏ hẹp, manh mún, chi phí đầu tư cơ sở vật chất

và chi phí vận chuyển cao… Các DN lớn thường bỏ qua các khu vực này vì tỷ suất lợi nhuận trên đồng vốn đầu tư quá thấp, kinh doanh khó có hiệu quả Như vậy nếu một nền kinh tế chỉ tồn tại những DN lớn thì sẽ có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, lãnh thổ, tài nguyên đất nước không được sử dụng hết gây lãng phí cho nền kinh tế quốc gia Trong khi đó, DNN&V có thể thuê nhân công giá rẻ, sử dụng nguyên vật liệu tại chỗ, giảm công vận chuyển… Do đó DNN&V góp phần tận thu các nguồn vốn tiềm tàng trong dân cư, huy động, tiết kiệm, sử dụng một cách hiệu quả mọi nguồn lực của xã hội

1.1.3.3 DNN&V đáp ứng được việc cung cấp hàng hoá trong nước và cho xuất khẩu, góp phần mở rộng và khuyến khích thương mại quốc tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước:

Các DNN&V thu hút một lực lượng lớn lao động và tài nguyên của xã hội để sản xuất ra hàng hoá Để có thêm sức cạnh tranh trực tiếp với các công ty lớn, hàng hoá do các DNN&V nhìn chung thiên về sự đa dạng chủng loại, chất lượng cũng như hình thức mẫu mã, mang đến nhiều cơ hội lựa chọn cho người tiêu dùng Bên cạnh đó, với sự đa dạng về ngành nghề và nhạy cảm đối với thị trường, các

Trang 28

DNN&V có khả năng kịp thời đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng của ngày càng khắt khe và không ngừng biến đổi của xã hội Các DNN&V chiếm số lượng đông đảo nhất trong lĩnh vực phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng thông qua các hoạt động bán buôn và bán lẻ, tiếp theo đó là các ngành sản xuất, chế biến, kinh doanh nhà hàng, khách sạn, kho bãi, giao thông vận tải và thông tin liên lạc… họ tiến vào các thị trường nhỏ mà các DN lớn bỏ qua do doanh thu từ các thị trường này thấp, điều đó đồng nghĩa với việc DNN&V đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng kể cả những khúc thị trường “hẹp và khó” ở trong nước

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế, các DNN&V có nhiều khả năng sản xuất và cung cấp sản phẩm xuất khẩu với chất lượng cao có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới: Nguyên liệu về nông - lâm - hải sản dồi dào tạo lợi thế cho việc sản xuất các mặt hàng xuất khẩu Bên cạnh đó, còn phải kể đến các ngành nghề thủ công truyền thống với những mặt hàng phong phú đa dạng thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc được người tiêu dùng các nước ưa chuộng Qua đó góp phần tích cực tăng kim ngạch xuất khẩu, thu ngoại tệ cho đất nước

1.1.3.4 DNN&V có vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng phát triển kinh

tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn:

Thực hiện tốt chủ trương phát triển DNN&V sẽ giúp địa phương khai thác được tiềm năng, thế mạnh về lao động, tài nguyên đất đai… Từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng phát triển của nền kinh tế Mặt khác, do số lượng các DNN&V chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN nên sự phát triển của các DNN&V đã đóng góp vào thu nhập quốc dân với tỷ trọng ngày càng lớn

Qua số liệu cho thấy, Năm 2011, số lượng DNN&V đạt hơn 500.000, chiếm khoảng 98% tổng số DN với tổng vốn đăng ký xấp xỉ 121 tỷ USD (chiếm trên 30% tổng số vốn các DN), hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP (nếu tính cả đóng góp của hợp tác xã, trang trại và các hộ kinh doanh cá thể thì khu vực này đóng góp tới 60% GDP) Tỷ trọng vốn đầu tư của khu vực trong tổng vốn đầu tư xã hội tăng dần

từ 38% năm 2005 lên hơn 40% năm 2008, sau đó giảm còn 31% năm 2009, tương

Trang 29

đương khoảng 708,5 tỷ đồng Năm 2011, khu vực DNN&V đã đóng góp 33% sản lượng công nghiệp, 30% giá trị xuất khẩu cho đất nước Do đặc tính phân tán, nhiều DNN&V xây dựng cơ sở SXKD tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và tận dụng lao động, nguyên vật liệu tại chỗ, từ đó thu hút lực lượng lao động nông thôn từ lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sang các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thủ công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ mà không phải rời bỏ nông thôn theo kiểu “

Ly nông bất ly hương” Chính điều đó, DNN&V đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình đô thị hoá nông thôn, giảm gánh nặng về quá tải dân cư ở các thành phố lớn, giảm tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chuyển dịch nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trước những biến cố của thị trường, các DN lớn thường ứng phó rất khó khăn

và chậm chạp do quy mô lớn, bộ máy cồng kềnh, trong khi đó muốn tồn tại và phát triển, một yêu cầu đặt ra là các DNN&V phải luôn chủ động nắm bắt các nhu cầu của người tiêu dùng để đáp ứng một cách linh hoạt Bên cạnh đó, do lợi thế quy mô vừa và nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh

có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường Chính vì vậy, một nền kinh tế có tỷ trọng các DNN&V lớn sẽ trở nên linh hoạt, năng động, phản ứng nhanh nhạy với thị trường

và hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao

1.1.3.5 DNN&V đóng góp nguồn thu cho Ngân sách nhà nước:

Với tỷ trọng về số lượng và nguồn vốn đầu tư vào loại hình DNN&V ngày càng lớn, lại phân bố rộng khắp trên các vùng miền của đất nước, DNN&V đã đóng góp ngày càng cao cho nguồn thu ngân sách của đất nước, đặc biệt là nguồn thu ngân sách địa phương Theo số liệu thống kê cho thấy: nguồn thu của NSNN từ loại hình DN này tăng từ khoảng 6,4% năm 2001 lên hơn 10,2% năm 2008; Năm 2008 tăng 5,9% so với năm 2007, đạt 40.418 tỷ đồng, chiếm 19% tổng thu nội địa và 10,2% tổng thu ngân sách

Trang 30

1.1.3.6 DNN&V là vườn ươm gieo mầm cho các tài năng quản trị kinh doanh:

Lịch sử ra đời và phát triển nền sản xuất hàng hoá gắn liền với sự hình thành

và phát triển các DN Ban đầu, người sản xuất hàng hoá vừa là người chủ sở hữu tư liệu sản xuất, vừa là người lao động trực tiếp, vừa là người điều khiển (quản lý) công việc của mình (của gia đình mình), vừa là người trực tiếp mang sản phẩm của mình trao đổi trên thị trường Đó là loại DN cá thể, DN gia đình, DN cực nhỏ Trong thời kỳ hiện đại, thông thường đại đa số những người khi mới trưởng thành

để đi làm việc được, đều muốn thử sức mình trong nghề kinh doanh Với một số vốn trong tay ít ỏi, với một trình độ nhất định lĩnh hội được trong các trường chuyên nghiệp, bắt đầu khởi nghiệp, phần lớn họ đều thành lập DN nhỏ chỉ của riêng mình,

tự sản xuất, tự kinh doanh

Trong sản xuất- kinh doanh có một số người đã gặp vận may và đặc biệt là nhờ

sự tài ba của mình, biết chớp thời cơ, có sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khéo điều hành

và tổ chức sắp xếp công việc, cần cù,chịu khó, tiết kiệm đã thành đạt, ngày càng giàu lên, thường xuyên mở rộng quy mô sản xuất-kinh doanh, đến một lúc nào đó, lực lượng lao động của gia đình không đảm đương hết công việc, cần phải thuê thêm người làm và họ trở thành người chủ DN

Một số người thành đạt trong quá trình sản xuất kinh doanh dưới loại hình DNN&V đã phát triển DN của mình, bằng cách mở rộng sản xuất kinh doanh, và như vậy nhu cầu về vốn sẽ đòi hỏi nhiều hơn Nhu cầu về vốn ngày càng tăng nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh đã thôi thúc các nhà DN, hoặc một số người cùng nhau góp vốn thành lập xí nghiệp sản xuất-kinh doanh, hoặc phát hành cổ phiếu thành lập công ty cổ phần bằng cách liên kết ngang, dọc hoặc hỗn hợp, từ đó nhiều tập đoàn kinh tế, nhiều DN lớn hình thành và phát triển

Bên cạnh đó, cũng có một số người có tài trong quản trị kinh doanh ban đầu không muốn làm việc trong các công ty lớn mà lựa chọn của họ là các DN có quy

mô nhỏ và vừa Tại đây, nhân viên sẽ dễ dàng có điều kiện tiếp cận và học được những kỹ năng hết sức cần thiết, được các công ty lớn đánh giá cao như là: Quản lý

Trang 31

điều hành, kỹ năng tiếp cận thị trường, kỹ năng bán hàng, giao tiếp với khách hàng,

kỹ năng làm việc theo nhóm, kiến thức về công nghệ thông tin… Đây là các kỹ năng cần thiết cho công việc ở các công ty lớn mà quá trình đào tạo sẽ mất rất nhiều thời gian, chính các DNN&V sẽ thực hiện “hộ” khâu này Nhân viên làm việc

ở công ty nhỏ sau một thời gian có được kinh nghiệm rồi sẽ được các công ty lớn tuyển dụng, thu nhận vào làm việc Bên cạnh đó có nhiều DN lớn phát triển đi lên

từ DNN&V cũng là điều kiện thuận lợi để các nhân viên này tiếp tục phát huy khả năng lực của mình trong một môi trường kinh doanh rộng lớn hơn

Có thể nói rằng DNN&V vừa là vườn ươm gieo mầm cũng vừa là cái nôi nuôi dưỡng cho những tài năng quản trị kinh doanh của đất nước

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển của DNN&V:

1.2.1 Các nhân tố bên ngoài DN:

1.2.1.1 Nhân tố ổn định chính trị:

Ổn định chính trị là một vấn đề hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế của mỗi Quốc gia, bởi vì nếu tình hình chính trị thiếu ổn định sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh tế xã hội, tạo ra rủi ro trong kinh doanh và như vậy các DN rất khó huy động vốn và chính bản thân họ cũng không muốn đầu tư Do vậy, để phát triển kinh tế, các nước đều chú trọng tạo lập môi trường chính trị ổn định, tạo lòng tin nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước

Thực tế, sự mất ổn định về chính trị bao giờ cũng là mối quan ngại lớn nhất của các nhà đầu tư nước ngoài Giới chuyên gia nhận định, một yếu tố quan trọng quyết định sự lựa chọn của các nhà đầu tư dành cho Việt Nam là sự ổn định về chính trị và xã hội của đất nước

Nếu thời kỳ đầu những năm 1990, tỷ lệ người nghèo chiếm 58% dân số đất nước, thì đến năm 2010 chỉ còn 9,5% Về mức sống, năm 2011 Việt Nam xếp thứ

61 trong bảng xếp hạng uy tín của Viện Nghiên cứu độc lập Legatum Institute (có trụ sở ở London)

Các chuyên gia tài chính quốc tế cũng lưu ý đến sự bứt phá mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong 10 năm qua Theo đánh giá của Bloomberg, nền kinh tế Việt

Trang 32

Nam trong tương lai có thể chiếm ngôi vị thứ 3 ở khu vực châu Á, chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ

Nếu xét về tiêu chí phát triển năng động, Việt Nam là 1 trong 10 nước dẫn đầu thế giới Tốc độ tăng trưởng cao là nhờ tiến triển của sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đang trở thành một trong những điểm đến

du lịch được ưa chuộng nhất Theo đánh giá của các chuyên gia, lượng đầu tư vào

cơ sở hạ tầng du lịch Việt Nam trong 10 năm tới sẽ vượt hơn 12 tỷ USD Các chuyên viên nhất trí công nhận một thực tế là những khu nghỉ dưỡng ven biển của Việt Nam đang từng bước vươn lên giành lấy “vòng nguyệt quế” du lịch vốn xưa nay thuộc về Thái Lan

(Trích từ báo điện tử của Chính phủ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam)

1.2.1.2 Hệ thống quan điểm, cơ chế chính sách của Nhà nước:

Nền kinh tế Việt Nam không phải là nền kinh tế thị trường thuần tuý mà là nền kinh tế thị trường có sự tham gia quản lý của Nhà nước với tư cách là người điều tiết theo định hướng XHCN Trong thời kỳ hội nhập, là một nền kinh tế mở, Việt Nam tất yếu phải chịu tác động của thị trường thế giới Những tác động này đã được Chính phủ lường trước và có các biện pháp điều chỉnh phù hợp Theo đó, Chính phủ đã có các biện pháp trợ giúp DN vượt qua khó khăn, lấy tăng trưởng, chiều sâu kinh tế làm trọng, cẩn trọng với các biện pháp kiềm chế lạm phát, kịp thời đưa ra các chính sách tài khoá, tiền tệ…tạo ra một môi trường thể chế thuận lợi nhằm giảm bớt rủi ro đối với hoạt động kinh doanh của DN

Tuy vậy, hệ thống chính sách kể trên cũng còn những biểu hiện bất cập, thiếu đồng bộ, chồng chéo: Trong khi khẳng định quan điểm bình đẳng trong kinh doanh nhưng thực tế vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các DN thuộc các thành phần kinh

tế khác nhau; chưa có một tổ chức xúc tiến việc liên kết DN lớn với các DNN&V; Chưa có tổ chức quần chúng đủ mạnh để lên tiếng bảo vệ quyền lợi của người lao động trong các DN đặc biệt là các DN có vốn FDI

Trang 33

Mặt khác, với đặc điểm phân bố rộng khắp và tồn tại phần lớn ở các địa phương, DNN&V rất cần sự quan tâm hỗ trợ về cơ chế chính sách từ các chính quyền địa phương sở tại nơi DN thực hiện các hoạt động động SXKD trong việc định hướng, hỗ trợ các DNN&V phát triển và tuân thủ pháp luật; phân bổ nguồn lực

có hạn của địa phương theo hướng có lợi nhất vì mục đích tăng trưởng và tiến bộ xã hội, như tài nguyên thiên nhiên rừng, biển, đất đai, vốn, nguồn nhân lực; thực hiện chính sách phân phối thu nhập tại địa phương, đảm bảo phúc lợi xã hội và không ngừng nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần cho dân cư địa phương

Thực tế này đòi hỏi phải có sự hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách nhằm hướng tới một nền kinh tế bình đẳng hơn, thiết thực hơn trong quá trình đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thế giới

Vấn đề này hiện nay đang được nước ta hết sức quan tâm, thể hiện trong dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2011 đến 2020, Việt Nam đã nhắc đến

3 đột phá chiến lược trong 10 năm tới: đó là thể chế, cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực, trong đó có nhiều ý kiến chi rằng thể chế là vấn đề cần ưu tiên hàng đầu

1.2.1.3 Trình độ phát triển khoa học - công nghệ trong và ngoài nước

Khoa học - công nghệ hiện nay đã trở thành cánh tay đắc lực hỗ trợ cho các

DN trong quá trình hoạt động, trình độ công nghệ quyết định tới năng suất lao động, chất lượng, giá thành sản phẩm Để phát triển sản xuất theo hướng CNH- HĐH, trước hết phải đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất kinh doanh Ngày nay, công nghệ được hiểu là “tập hợp những hiểu biết để tạo ra các giải pháp

kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất” bao gồm trang thiết bị, kỹ năng tay nghề, kinh nghiệm của người lao động, các thông tin, dữ liệu, bí quyết sản xuất và cả yếu tố tổ chức

Nhà nước ta đã có chương trình hỗ trợ cho DN thiết kế, chế tạo, ứng dụng KHCN Quỹ phát triển KHCN từ năm 2007 đã có cơ chế cho vay không phải thế chấp với lãi suất ưu đãi nhưng kết quả lại rất khiêm tốn, tuy nhiên, có rất ít dự án được tài trợ và cũng rất ít dự án được ứng dụng vào thực tiễn Nguyên nhân khoa học không đến được DN, theo nhìn nhận của PGS-TS Phan Minh Tân là do hoạt

Trang 34

động đầu tư cho nghiên cứu chưa có địa chỉ ứng dụng Nhà khoa học không được làm kinh doanh nên công trình nghiên cứu chỉ nhằm mục đích giảng dạy chứ không sát với nhu cầu thực tế của DN Để kích thích nhà khoa học nghiên cứu, nhà nước cần có chính sách khuyến khích các DN và các tổ chức nghiên cứu Phải có các quy định cụ thể về quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng, quyền khai thác các công trình nghiên cứu khoa học khi có tài trợ kinh phí, bằng cách cho phép chia sẻ kết quả nghiên cứu theo tỷ lệ phần trăm nhất định khi công trình ứng dụng đạt hiệu quả Trong thực trạng nước ta hiện nay, con đường đi tắt đón đầu, tiếp thu những thành tựa khoa học công nghệ hiện đại của thế giới là con đường ngắn nhất nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các DNN&V trên thị trường trong nước và cả trên thế giới Bằng cách lựa chọn để nhập khẩu các công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển, ứng dụng và nhanh chóng cho ra đời những sản phẩm có trình độ công nghệ và chất lượng cao, từ đó từng bước nâng cao, nội địa hoá từng phần sản phẩm bằng sự thông minh và trình độ KHCN của con người Việt Nam Có công nghệ tiên tiến cùng với việc phát huy các tính ưu việt sẵn có của nước ta về giá nhân công còn thấp và sử dụng các tài nguyên sẵn có, sản phẩm của các DNN&V nước ta sẽ có tính cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và thế giới

1.2.1.4 Các yếu tố về thị trường đầu vào và đầu ra:

Tồn tại trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường, các DN không thể nằm ngoài quy luật giá trị, giá cả và cung cầu theo cơ chế cạnh tranh, các yếu tố đầu vào

và đầu ra là những yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của DN Để hoạt động

và kinh doanh của các DNN&V có thể diễn ra thuận lợi, Nhà nước cần có các chính sách điều tiết để có một hệ thống thị trường hoàn thiện, thống nhất và đồng bộ, bao gồm các yếu tố đầu vào như thị trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ… và thị trường đầu ra ổn định để tạo điều kiện cho các DN trong khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, rút ngắn chu kỳ sản xuất, tăng tốc độ chu chuyển của đồng vốn, nâng cao hiệu quả SXKD

Trang 35

Trình độ phát triển và mức độ đồng bộ của hệ thống thị trường cũng giúp cho DNN&V có một hệ thống thông tin về tình hình cung, cầu, sự cạnh tranh của các mặt hàng trên thị trường, làm cơ sở xây dựng chiến lược kinh doanh lâu dài, giúp

DN có tầm nhìn, mục tiêu, phương hướng để hoạt động SXKD hiệu quả và đạt đến

độ bền vững

1.2.1.5 Trình độ phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật:

Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật bao gồm tổng thể các ngành, các loại hình hoạt động, các yếu tố, các phương tiện vật chất kỹ thuật, các thiết bị và các công trình đóng vai trò là điều kiện chung phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh như hệ thống đường giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước, thông tin liên lạc…Kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện quan trọng đảm bảo cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể kinh tế nói chung và các DNN&V nói riêng có thể thực hiện một cách ổn định và bền vững Sự phát triển của hệ thống đường giao thông và thông tin liên lạc sẽ tạo thuận lợi cho các hoạt động giao lưu kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, các vùng miền quốc gia Sự ổn định của hệ thống cung cấp điện, nước là điều kiện đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh có thể diễn ra ổn định, thông suốt và hiệu quả

Trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật của Việt Nam đã từng bước phát triển, trở thành yếu tố hấp dẫn các nhà đầu tư Tuy nhiên,

sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - kỹ thuật mới chỉ được thực hiện chủ yếu tại các tỉnh, thành phố, các trung tâm kinh tế lớn, các vùng trọng điểm, còn

ở các vùng núi, vùng sâu, vùng xa chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu phát triển đối với DNN&V

1.2.2 Các nhân tố nội tại bên trong DN:

1.2.2.1 Nhân tố vốn:

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần đến vốn, qua sự vận động của vốn

có thể xác định được trạng thái hoạt động của DN Hiện nay, điều kiện về vốn của các DNN&V ở Việt Nam rất hạn hẹp và gặp khó khăn rất lớn, sự thiếu vốn của loại hình DN này đang diễn ra trên bình diện khá rộng Bởi vì, quy mô vốn tự có của

Trang 36

DN đều rất nhỏ, hạn hẹp, không đủ tài trợ cho các hoạt động sản xuất-kinh doanh, đặc biệt đối với những DN muốn mở rộng, phát triển quy mô và đổi mới nâng cấp, phát triển công nghệ Mặt khác, thị trường vốn dài hạn, thị trường chứng khoán về

cơ bản nước ta còn rất hạn chế, và nếu có thì khả năng tham gia thị trường chứng khoán của các DNN&V là rất hạn chế, hiếm hoi Đồng thời, khả năng và điều kiện tiếp cận các nguồn vốn trên thị trường tín dụng đối với các DNN&V gặp khó khăn lớn do không đủ tài sản thế chấp; mức lãi suất khá cao so với lợi nhuận thu được, khối lượng cho vay ít, thời hạn cho vay quá ngắn, thủ tục rườm rà phiền hà Những khó khăn đó rất cần được giải quyết để tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các DNN&V

1.2.2.2 Nhân tố nguồn nhân lực:

Nhân tố nguồn nhân lực cần phải quan tâm đến hai khía cạnh đó là: kiến thức, năng lực quản lý kinh doanh của các chủ DN và trình độ tay nghề của người lao động:

Sự hoạt động sản xuất-kinh doanh với sự cạnh tranh đầy cam go, khốc liệt đòi hỏi các chủ DN phải có trình độ kiến thức cao, năng lực quản lý giỏi, mới có thể thành đạt trong quản lý kinh doanh, đưa DN của mình ngày càng phát triển Mỗi chủ DN phải biết thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá các loại thông tin kinh tế,

kỹ thuật, biết đề ra những chiến lược đúng đắn và đưa ra những quyết định sáng suốt, kịp thời Đồng thời, chủ DN phải biết quản lý, giám sát, điều hành công việc của những người lao động một cách hợp lý, có hiệu quả, biết đánh giá, động viên, khuyến khích, thưởng phạt và trả công chính xác, tương xứng với những đóng góp của họ vào kết quả chung của xí nghiệp

Vốn quý nhất của DN là nguồn lao động, việc sử dụng lao động sao cho hiệu quả nhất vẫn luôn là một bài toán khó giải đối với nhà quản trị, bởi “con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”, hết sức phức tạp và khó điều hành Vì vậy, nhà quản trị cần phải có cái nhìn chiến lược trong việc bố trí sử dụng, đào tạo người lao động, tạo ra một đội ngũ những người lao động có năng lực nhiệt huyết, có sự đồng

Trang 37

lòng, gắn kết để cùng nhau xây dựng DN, vượt qua những khó khăn thử thách là điều hết sức quan trọng

Nhìn lại đội ngũ các chủ DNN&V ở nước ta hiện nay cho thấy, phần lớn các chủ DN tư nhân mới thành lập sau khi thực hiện Luật DN, chưa qua đào tạo, trong

đó 40% không có bằng cấp chuyên môn, và chỉ có 31% chủ DN có bằng trung cấp trở lên, 42% các chủ DN đã từng làm cán bộ công nhân viên nhà nước, còn lại đại

đa số chỉ quản lý DN mình bằng kinh nghiệm Đây là một điểm yếu rất lớn và là một khó khăn quan trọng đối với các DNN&V cần có sự giúp đỡ từ phía nhà nước

và các tổ chức phi chính phủ

Hiện nay, nguồn nhân lực cho DNN&V rất dồi dào nhưng không đảm bảo chất lượng, việc sử dụng nhân lực chưa hợp lý dẫn đến hiệu quả sử dụng lao động chưa cao Cơ chế đối với người lao động còn nhiều bất cập, công tác đào tạo ít được chú trọng, chế độ ưu tiên đãi ngộ không được quan tâm ảnh hưởng đến tâm lý, nhiệt huyết của người lao động, từ đó họ không phát huy hết khả năng năng lực của mình

để cống hiến cho sự phát triển của DN

1.2.2.3 Khả năng ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động SXKD của DN:

Cách đây trên 160 năm, C.Mác đã đưa ra nhận định về xu thế nhất thể hoá giữa khoa học và sản xuất bằng luận điểm nổi tiếng: "Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp” Điều này càng thể hiện rõ trong thời đại bùng nổ khoa học công nghệ như hiện nay, tuy nhiên sự tiến bộ của khoa học cộng nghệ không thể tự nó làm nên hiệu quả sản xuất kinh doanh mà phải thông qua sự vận hành của yếu tố con người

Trong những năm đổi mới vừa qua do sức ép của thị trường và cơ chế quản lý kinh tế, các DNN&V đã có những đổi mới công nghệ nhất định Đó là việc dùng điện vào sản xuất và gắn liền với nó là thực hiện nửa cơ khí, cơ khí hoá từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất Song nhìn chung thiết bị công nghệ của các DNN&V hiện nay còn lạc hậu, trình độ thấp, hiệu quả chưa cao, đang gặp khó khăn đối với việc nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm

Trang 38

Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư nguồn vốn để đưa những công nghệ mới vào các quy trình quản lý cũng như sản xuất kinh danh thì việc đào tạo, trang bị đầy đủ kiến thức cho người lao động là hết sức cần thiết để có thể vận hành được máy móc thiết

bị và cho ra đời những sản phẩm tối ưu, nâng cao nâng suất lao động và hiệu quả sử dụng nguồn vốn

Ngoài những nhân tố quan trọng kể trên thì vẫn còn một số yếu tố khác cũng

có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của DNN&V như:

Sự liên kết và hợp tác hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, hiện nay sự liên kết này còn rất lỏng lẻo, thiếu tổ chức, thiếu hiệu quả

Định kiến của xã hội đối với doanh nhân, DN nói chung và các DNN&V nói riêng, cần tạo ra tâm lý xã hội biết tôn vinh những doanh nhân, DN làm ăn chân chính có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế xã hội

1.3 Yêu cầu đối với DNN&V:

1.3.1 Tham gia tích cực vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế:

Việt Nam là một nước đang phát triển và có mật độ dân số cao, lực lượng lao động tăng nhanh, quy mô vốn tích luỹ nhỏ vì vậy phát triển DNN&V ở nước ta là một lựa chọn đúng đắn trên con đường CNH-HĐH đất nước

Trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế còn thấp, để đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm nhanh chóng tạo ra cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại cho CNXH cần huy động

và khai thác mọi nguồn lực từ các tầng lớp dân cư, thành phần kinh tế, phát huy mạnh mẽ nội lực đi đôi với tranh thủ tối đa, có hiệu quả các nguồn ngoại lực Chính

vì vậy mà Đảng ta đã xác định CNH, HĐH là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó có DNN&V

Nhà nước giải quyết vấn đề việc làm thông qua khuyến khích phát triển DNN&V là một cách làm hợp lý Ở Việt Nam, lao động làm việc khu vực nông nghiệp chiếm đa số trong cơ cấu lao động, sản xuất mang tính thời vụ nên thời gian nhàn rỗi chiếm hầu hết trong năm Đây là lực lượng lao động có giá rẻ và phù hợp

Trang 39

với những DNN&V bởi đòi hỏi trình độ tay nghệ kỹ thuật không cao Các DNN&V với đặc điểm quy mô nhỏ, cần ít vốn, phát triển rộng khắp cả ở thành thị và nông thôn đã thu hút một số lượng lớn lao động trong lĩnh vực nông nghiệp sang sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ

Nhiều mặt hàng xuất khẩu quan trọng do các DNN&V sản xuất đã tạo được uy tín trên thị trường quốc tế và có đặc trưng truyền thống như hạt tiêu, hạt điều xuất khẩu, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ, thuỷ sản… Các DNN&V có vai trò khá quan trọng với tư cách là nhà sản xuất trung gian cho các DN lớn xuất khẩu Kể từ khi Nhà nước có chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân và đặc biệt là sự ra đời của Luật DN, sự gia tăng nhanh về số lượng DN mới thành lập đã giúp nền kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng CNH, HĐH Với tỷ trọng lớn về số lượng và phân

bố rộng khắp theo ngành, theo vùng, sự tham gia tích cực của DNN&V vào quá trình mở rộng và phát triển các ngành nghề kinh doanh là điều kiện quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp và tăng dần tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Đồng thời sự phát triển của DNN&V cũng tạo môi trường cho quá trình thực hiện các cuộc cánh mạng khoa học - công nghệ theo những hình thức và bước đi phù hợp của nước ta Chính sự tồn tại và phát triển của DNN&V là điều kiện để kết hợp giữa công nghệ truyền thống

và công nghệ hiện đại, cho phép tận dụng khai thác những lợi thế phát triển hiện có theo chiều rộng, tạo cơ sở cho sự phát triển theo chiều sâu

Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, DNN&V phải trở thành lực lượng nồng cốt tại các khu công nghiệp, khu chế xuất Sự tham gia tích cực vào sản xuất kinh doanh với các mô hình hoạt động hết sức phong phú, đa dạng về ngành nghề,

về thành phần kinh tế là điều kiện để phát huy những lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh của đất nước nói chung và của từng địa phương nói riêng để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả Hệ thống các DNN&V cần tạo ra cầu nối giữa thị trường trong nước với các thị trường quốc tế, đồng thời góp phần khai thác có hiệu quả các nguồn lực về lao động, tài nguyên nhiên nhiên, vừa góp phần tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp truyền thống của các địa phương để đẩy mạnh xuất khẩu Sự phát triển

Trang 40

của DNN&V còn phải hướng vào các ngành phụ trợ, tạo điều kiện nâng cao tính hấp dẫn của môi trường, thu hút đầu tư nước ngoài để tranh thủ vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý khoa học hiện đại cũng như thị trường rộng lớn ngoài nước 1.3.2 Tham gia sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ nhu cầu dân sinh: Nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng khắt khe và không ngừng biến đổi đòi hỏi nhà cung cấp phải thường xuyên khảo sát nắm bắt thị trường, linh hoạt, kịp thời cải tiến và đa dạng hoá, thay đổi hình thức mẫu mã, chất lượng của sản phẩm Trong những năm qua, sự phát triển nhanh chóng của DNN&V đã tạo ra một khối lượng hàng hoá khổng lồ để phục vụ các nhu cầu dân sinh, đặc biệt là các nhu cầu tại chỗ của địa phương Với đặc tính linh hoạt và nhạy bén với thị trường, dễ dàng đổi mới trang thiết bị là những lợi thế đáng kể của DNN&V trong quá trình điều chỉnh sản xuất kinh doanh để đáp ứng phương châm: Cung cấp những sản phẩm mà thị trường cần chứ không bán ra những hàng hoá mà DN có

Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về số lượng hàng hoá và dịch vụ do các DNN&V sản xuất ra chưa thực sự tương xứng với những yêu cầu ngày càng cao của cư dân về chất lượng của hàng hoá và dịch vụ Do đó, trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh yêu cầu tích cực tham gia sản xuất các mặt hàng thay thế nhập khẩu, DNN&V phải không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ phù hợp với

xu thế mở rộng và ngày càng khó tính của nhu cầu nội địa Trong bối cảnh đó, DNN&V không những phải trở thành cầu nối các khâu sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng trong các khu vực của nền kinh tế, mà còn phải trở thành chủ thể sản xuất không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá và dịch vụ Đối với khu vực nông thôn, để nâng cao chất lượng hàng hoá nông sản, DNN&V phải trở thành những mắt xích quan trọng, tạo động lực thúc đẩy từ khâu sản xuất, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm

1.3.3 Không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập: Toàn cầu hoá là xu thế tất yếu trong thời kỳ mở cửa Trong bối cảnh toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ, để trở thành chủ thể của quá trình CNH, HĐH, trở thành

Ngày đăng: 29/08/2017, 16:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w