Do đó, tìm hiểu về nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt Nam chặng đường 1940 - 1945 là một trong những hướng đi phù hợp và hiệu quả nhằm khẳng định những thành tựu mà các tác giả đã góp
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN HOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THU HƯỜNG
NGHỆ THUẬT TỰ SỰ CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
1940-1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội, năm 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học:
1.GS.TS Trần Đăng Suyền
2 PGS.TS Nguyễn Bích Thu
Phản biện 1: PGS.TS Lê Thị Dục Tú
Phản biện 2: PGS.TS Phạm Xuân Thạch
Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án Tiến sĩ
cấp Học viện, họp tại: Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam, số 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
Vào hồi giờ , ngày tháng năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
-Thư Viện Quốc gia Việt Nam -Thư viện Học viện Khoa học xã hội
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LUẬN ÁN
1 Nguyễn Thu Hường (2009), “Sức hấp dẫn của một tác phẩm tự
truyện”, Tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, số 173, tháng 6/2009
(trang 37-40)
2 Nguyễn Thu Hường (2012), “Quan niệm nghệ thuật về con
người trong tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945”, Tạp chí Khoa học, trường
Đại học Sài Gòn, số 11, tháng 8/2012 (trang 57-65)
3 Nguyễn Thu Hường (2013), “Xu hướng xây dựng cốt truyện của
tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945”, Tạp chí Khoa học, trường Đại học
Văn Hiến, số 01, tháng 11/2013 (trang 67-73)
4 Nguyễn Thu Hường (2016), “Về một kiểu kết cấu mới của tiểu
thuyết Việt Nam 1940-1945: Kết cấu tâm lý”, Tạp chí Khoa học, trường
Đại học Sư phạm TPHCM, số 02 (80)/2016 (trang 154-161)
5 Nguyễn Thu Hường (2016), “Những đặc sắc về ngôn ngữ
nghệ thuật của tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945”, Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, số 11 (253)/2016 (trang 98-104)
Trang 324
KẾT LUẬN
1 Trong quá trình vận động, với tư cách là một hình thái ý thức
xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng, văn học chịu sự chi phối mạnh mẽ
của hiện thực khách quan và quy luật của chính nó Đời sống luôn biến
động, văn học cũng vậy Dòng chảy văn học trong lòng dân tộc có khi
dữ dội, có khi âm thầm nhưng ngày càng bồi tụ thêm nhiều phù sa Văn
học Việt Nam chặng đường 1940 - 1945 cũng không nằm ngoài quy
luật vận động đó
Tiểu thuyết là một thể loại năng động, hiện đại, luôn luôn biến đổi,
có khả năng khám phá nhanh nhạy những vấn đề mới mẻ của hiện thực
cuộc sống và hiện thực lòng người nên ngày càng trở thành thể loại trung
tâm trong văn học
Do đó, tìm hiểu về nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt Nam chặng
đường 1940 - 1945 là một trong những hướng đi phù hợp và hiệu quả
nhằm khẳng định những thành tựu mà các tác giả đã góp vào dòng chảy
văn học nước nhà
2 Cùng với thể loại truyện ngắn thì tiểu thuyết là loại hình văn xuôi
tự sự đã góp phần quan trọng trong quá trình hiện đại hóa nền văn học dân
tộc Cho dù chỉ gói gọn trong vòng năm năm xong chặng đường
1940-1945 đã sản sinh ra nhiều phong cách cá nhân với những tác phẩm thực sự
xứng đáng vươn tới đỉnh cao của kiệt tác, trở thành tài sản tinh thần quý
báu làm rạng danh nền văn chương Việt Nam Tuy không phải tất cả tiểu
thuyết chặng đường này đều hay nhưng những gì nó để lại đến ngày hôm
nay đều hết sức giá trị và đặc sắc Văn học đã trải qua nhiều chặng đường
phát triển, nhưng những giá trị của một thời ấy, cho dù ngắn ngủi, vẫn
được tiếp tục kế thừa và phát triển Điều đó tạo nên một mạch ngầm trong
sự vận động không ngừng của dòng chảy văn học dân tộc
3 Chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết
Việt Nam 1940-1945” để nghiên cứu nhằm khẳng định công lao to lớn
của các nhà văn trong công cuộc hiện đại hoá nền văn học nước nhà, để
thấy được văn học Việt Nam chặng đường 1940 - 1945 không phải đi
vào sự “suy thoái”, “bế tắc” mà còn có những đặc sắc riêng, thể hiện sự
phát triển mới trong tư duy nghệ thuật tiểu thuyết của các tác giả
Những tác giả, tác phẩm thuộc chặng đường văn học này hoàn toàn
xứng đáng được nghiên cứu công phu và có hệ thống Đó là một việc
làm vô cùng cần thiết bởi nó chứng tỏ cái nhìn khách quan, khoa học
của những người làm công tác nghiên cứu văn học
1
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Bước sang thế kỉ XX, văn học Việt Nam dần chuyển sang quỹ đạo hiện đại Quá trình hiện đại hóa ấy diễn ra liên tục, ngày càng mạnh mẽ
và đạt được nhiều thành tựu ở các khuynh hướng, thể loại Nói tới những thành tựu ấy, chúng ta không thể bỏ qua những đóng góp tích cực của thể loại tiểu thuyết - thể loại chủ lực của nền văn học Việt Nam hiện đại 1.2 Trong quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam, giai đoạn văn học 1930 - 1945 giữ một vị trí quan trọng So với hai chặng đường đầu (1930-1936 và 1936-1939) thì chặng đường phát triển thứ ba (1940-1945) xuất hiện nhiều cây bút trẻ đầy tài năng với số lượng tác phẩm dồi dào, trong đó có không ít tác phẩm thực sự có giá trị Tuy nhiên, trong một thời gian khá dài, vai trò và những đóng góp của những cây bút ấy đối với công cuộc hiện đại hoá nền văn học nước nhà chưa được đánh giá một cách thống nhất và thực sự thỏa đáng Trên thực tế, văn học Việt Nam những năm 1940 - 1945 vẫn phát triển theo chiều hướng tích cực và có những giá trị đặc sắc riêng, trong đó tiểu thuyết đóng một vai trò vô cùng quan trọng và giữ một vị trí riêng
1.3 Nghiên cứu nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết là một hướng tiếp cận tuy không còn mới mẻ, nhưng vẫn luôn thu hút sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu Những hiểu biết khoa học về nghệ thuật tự sự trong thể loại tiểu thuyết cũng làm nền tảng để người viết rèn luyện khả năng tư duy khoa học, khả năng cảm thụ văn chương, đồng thời giúp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập ngữ văn được sâu sắc và hiệu quả hơn
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt Nam chặng đường 1940-1945 nhằm góp phần chỉ ra giá trị nghệ thuật, sự độc đáo và những đóng góp mới của tiểu thuyết ở chặng đường văn học này Ở một mức độ nhất định, luận án cũng góp phần khẳng định những cống hiến to lớn của mỗi tác giả và nét riêng của tiểu thuyết Việt Nam chặng đường từ 1940-1945 trong suốt tiến trình phát triển và hiện đại hóa nền văn học nước nhà Ngoài ra, chúng tôi mong muốn có thể rút ra được những bài học có ý nghĩa về phương pháp luận đối với việc nghiên cứu văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đưa ra một cách hiểu khái quát nhất về các phương diện của nghệ
Trang 42
thuật tự sự: Nghệ thuật xây dựng cốt truyện - Kết cấu; Nghệ thuật xây
dựng nhân vật; Nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ Luận án cũng đi sâu
phân tích để làm rõ những giá trị cũng như sự cách tân của tiểu thuyết Việt
Nam 1940-1945
- Đưa ra một cách nhìn nhận, đánh giá khách quan, khoa học về
thành tựu cũng như những hạn chế của tiểu thuyết Việt Nam chặng đường
này Do vậy, chúng tôi cố gắng đặt trong sự đối chiếu với tiểu thuyết Việt
Nam của những giai đoạn trước đó (từ đầu thế kỉ XX đến 1930 và hai
chặng đường đầu của giai đoạn 1930-1945) để thấy được cá tính sáng tạo
và phong cách tiểu thuyết của từng tác giả cũng như đặc điểm riêng của
tiểu thuyết Việt Nam chặng đường 1940-1945
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt
Nam 1940-1945 trên các phương diện: cốt truyện và kết cấu, nghệ thuật
xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm 16 tiểu thuyết sau:
- Quán Nải (1943), Hơi thở tàn (1943) của Nguyên Hồng
- Ngoại ô (1941), Ngõ hẻm (1943) của Nguyễn Đình Lạp
- Làm lẽ (1940), Sống nhờ (1942) của Mạnh Phú Tư
- Quê người (1941), Giăng thề (1943), Cỏ dại (1943 ) của Tô Hoài
- Sống mòn (1944) của Nam Cao
- Cai (1944) của Vũ Bằng
- Đứa con (1941) của Đỗ Đức Thu
- Mực mài nước mắt (1941) của Lan Khai
- Đẹp (1941 ), Băn khoăn (1943 ) của Khái Hưng
- Bướm trắng (1941) của Nhất Linh
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp tiếp cận từ lý thuyết tự sự học
- Phương pháp nghiên cứu tác phẩm theo đặc trưng thể loại
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp lịch sử - xã hội
5 ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên khảo sát, nghiên cứu một
cách tương đối toàn diện và có hệ thống về các phương diện nghệ thuật tự
sự của tiểu thuyết Việt Nam chặng đường 1940-1945
23
Bên cạnh đó, ngôn ngữ nhân vật đã có sự cá thể hóa cao độ Nhân vật nào ngôn ngữ ấy với những đặc điểm khác nhau về tâm lý, tính cách, nghề nghiệp, tầng lớp, địa vị xã hội
Đặc biệt, hiện tượng ngôn ngữ đan xen được sử dụng thường xuyên, làm nên nét đặc sắc nhất trong cách sử dụng ngôn ngữ của tiểu thuyết chặng đường này Đó là sự kết hợp khéo léo giữa ngôn ngữ ngôi thứ nhất
và ngôn ngữ ngôi thứ ba trong trần thuật Có một đường dây vận động bắt đầu từ Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng và hoàn thiện ở chặng đường cuối cùng của văn xuôi những năm 1940-1945 Sự hòa kết các thành phần ngôn ngữ này thể hiện ở chỗ các tác giả hóa thân vào nhân vật, thể hiện đời sống nội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của chính mình Vì thế ta thường bắt gặp sự tác động qua lại một cách khéo léo giữa tiếng nói của nhà văn với tiếng nói của nhân vật Có khi tiếng nói nhà văn hướng về tiếng nói nhân vật, có khi tiếng nói nhân vật trong đó có xen tiếng nói của nhà văn
Trong tiểu thuyết Việt Nam chặng đường 1940-1945, hình thức ngôn ngữ đan xen thường xuất hiện ở các tiểu thuyết tự truyện Có tác phẩm được các nhà văn trực tiếp lấy cái tôi cá nhân của mình ra làm nhân vật chính, ở đó ngôn ngữ của chủ thể kể xưng “tôi” thoạt nhìn thì như là thứ ngôn ngữ hoàn toàn không pha tạp, nhưng thực tế đây lại là thứ ngôn ngữ của một người nhìn lại mình và kể lại những sự việc đã xảy ta ở một thời quá khứ nhất định Nhân vật “tôi” lúc này sẽ là một nhân vật đặc biệt được miêu tả bằng ngôn ngữ của một người khác kể về “tôi” thời quá khứ
với những thái độ, tình cảm khác nhau Cỏ dại của Tô Hoài, Cai của Vũ Bằng hay Sống nhờ của Mạnh Phú Tư là những tiểu thuyết tự truyện có ngôn ngữ chủ thể kể thuộc loại này Với những tiểu thuyết như Sống mòn hay Mực mài nước mắt, mặc dù người kể chuyện không xưng “tôi” nhưng
độc giả vẫn nhận thấy bóng dáng cuộc đời nhà văn Nam Cao thông qua nhân vật thầy giáo Thứ hay nhà văn Lan Khai thông qua nhà văn Khải Vì đều là những nhân vật tư tưởng nên những lời nói thuộc về tư tưởng, quan niệm của các nhân vật này cũng chính là những suy nghĩ, quan niệm của các tác giả
Trang 522
mạnh mẽ của Nguyễn Công Hoan, thứ ngôn ngữ triết lý sắc sảo, mỉa mai
cay độc và nhuốm màu bi quan của Vũ Trọng Phụng hay trong sáng, sạch
sẽ, nhiều khi “vô trùng” quá thành ra nhạt nhẽo của văn xuôi Tự lực văn
đoàn, thì đến chặng đường 1940-1945, các nhà văn đã có những sáng tạo
vượt bậc trong cách sử dụng ngôn ngữ
Ngôn ngữ tiểu thuyết 1940-1945 đã được tinh lọc để gắn liền với
hiện thực đời sống, với thế giới nội tâm con người nên nó mang giá trị
biểu đạt cao Nhiều tác phẩm thể hiện cách diễn đạt mới mẻ, kết hợp với
nhịp điệu câu văn sinh động, phù hợp đã làm cho ngôn ngữ tiểu thuyết
chặng đường này không chỉ là phương tiện mà còn là đối tượng của sáng
tạo nghệ thuật
Sự phong phú, phức điệu của ngôn ngữ tiểu thuyết chặng đường này
thể hiện ở nhiều cấp độ và tồn tại ngay trong mỗi tác phẩm và từng phong
cách tác giả
Trong số những tiểu thuyết thuộc chặng đường 1940-1945, Sống
mòn của Nam Cao là tác phẩm đỉnh cao của việc sử dụng ngôn ngữ một
cách nghệ thuật Có thể nói, đằng sau ngòi bút khách quan, tỉnh táo đến
mức lạnh lùng lại nặng trĩu suy tư và đằm thắm yêu thương của tác giả
Tác phẩm, vì thế, thấm đẫm chất nhân văn của một con người có tài năng,
có tầm vóc tư tưởng lớn
4.3.3 Sự hòa kết của các thành phần ngôn ngữ tự sự cơ bản
Trong một tác phẩm tự sự thường có ba thành phần ngôn ngữ tự sự
cơ bản: Thành phần ngôn ngữ của chủ thể kể, thành phần ngôn ngữ của
nhân vật và thành phần ngôn ngữ đan xen giữa ngôn ngữ của chủ thể kể
với ngôn ngữ nhân vật Ở các truyện cổ, người kể chuyện có một vai trò
đáng kể Người kể chuyện thường đứng ở ngôi thứ ba, dùng ngôn ngữ của
mình để dẫn dắt câu chuyện, giới thiệu nhân vật hay kể lại sự việc xảy ra
một cách khách quan Người kể chuyện thường xuất hiện ở đầu mỗi
chương, hồi với những câu nói đã trở thành công thức: “Hãy nói về”, “Hãy
khoan nói về ”, “mà hãy nói về ”, sau đó để sự việc tự diễn ra và phát
triển Trong suốt quá trình kể chuyện, thỉnh thoảng người kể chuyện mới
xuất hiện, đưa ra những lời bình phẩm, nhận xét, bình giá nhân vật Nói
chung, ngôn ngữ nhà văn tách rời ngôn ngữ nhân vật, nhà văn đứng cao
hơn nhân vật với tư cách người kể chuyện, người phán xét
Tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945 có cách xây dựng một chủ thể kể
riêng, đem lại sự phong phú, nhiều màu sắc của ngôn ngữ chủ thể kể từng
tác giả
3
- Luận án làm rõ và khẳng định sự cách tân quan trọng cũng như vị trí của văn xuôi Việt Nam chặng đường 1940-1945 nói chung, của thể loại tiểu thuyết nói riêng trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học nước nhà Những cách tân đó đã góp phần quyết định vào sự hoàn tất quá trình hiện đại hóa văn xuôi quốc ngữ trước 1945
Trên cơ sở khẳng định vị trí văn học sử quan trọng của tiểu thuyết chặng đường 1940-1945, luận án làm sáng tỏ sự vận động đi lên trong tiến trình phát triển văn xuôi Việt Nam trên hành trình thế kỉ XX
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN
- Góp phần làm sáng tỏ lý luận chung về các phương diện của nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết; Khẳng định thêm một hướng tiếp cận trong nghiên cứu, tiếp nhận và thưởng thức văn học, từ đó có thể vận dụng vào nghiên cứu các hiện tượng văn học khác
- Trong giai đoạn văn học 1940-1945, có nhiều tác gia, tác phẩm được đưa vào chương trình học các cấp Vì vậy, luận án sẽ là một công trình khoa học cung cấp thêm cho những người say mê nghiên cứu, học tập và giảng dạy văn học có thêm một tài liệu tham khảo thiết thực và bổ ích
7 CƠ CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận án sẽ được triển khai trong 4 chương :
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Tổ chức cốt truyện và kết cấu theo xu hướng hiện đại
- Chương 3: Những cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
- Chương 4: Nghệ thuật trần thuật và những đặc sắc về ngôn ngữ
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan về tự sự học và nghệ thuật tự sự
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự của tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945
1.1 Giai đoạn từ 1940 đến trước 1945
Ở giai đoạn này có một số công trình nghiên cứu, phê bình văn học tiêu biểu, có tính chất tổng kết những chặng đường đã qua của văn
học như Ba mươi năm văn học (1941-Mộc Khuê); Việt Nam văn học sử
y ếu (1942-Dương Quảng Hàm) Đáng chú ý là bộ Nhà văn hiện đại
(1942) của nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vũ Ngọc Phan Đây là công trình nghiên cứu, phê bình khá đồ sộ, có uy tín và được xem là cuốn sách tra cứu, tham khảo đáng tin cậy lâu nay Trong công trình này,
Trang 64
nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã có ý kiến cụ thể đối với các “tiểu
thuyết gia” 1940-1945 như Nguyễn Đình Lạp, Tô Hoài, Nguyên Hồng,
Đỗ Đức Thu, Điều đó chứng tỏ nền “quốc văn mới” đã được giới
nghiên cứu văn học quan tâm đặc biệt
1.2 Giai đoạn từ 1945 đến trước 1986
Trong giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam của trường Đại học Sư
phạm Hà Nội, do tác giả Huỳnh Lý làm chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục
in lần đầu năm 1973, tái bản năm 1978), ở chương IV, tập V, phần 1 của
giáo trình đã nhận định về văn học hiện thực chặng đường 1940-1945:
“Văn học hiện thực phê phán thời kì 1940-1945 đã mắc nhược điểm: lẩn
tránh mâu thuẫn cơ bản để đi vào những mâu thuẫn thứ yếu, những cảnh
sinh hoạt gia đình, những phong tục tập quán địa phương”
Giáo trình Văn học Việt Nam 1930-1945 dành cho sinh viên khoa
Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội của nhóm tác giả Phan Cự Đệ,
Nguyễn Trác, Nguyễn Hoành Khung, Hà Văn Đức (sau này được tái bản
và in gộp trong cuốn giáo trình Văn học Việt Nam 1900-1945) đã dành
một dung lượng khá lớn cho việc giới thiệu tình hình văn học hiện thực
cùng với một số cây bút tiêu biểu Các tác giả đánh giá cao văn học hiện
thực những năm 1936-1939 và nghiêm khắc khi nhận xét văn học hiện
thực 1940-1945 Tuy nhiên, các tác giả này cũng đã phát hiện thấy những
giá trị mới, khẳng định ngòi bút đầy tài năng và sáng tạo của Nam Cao
trong tiểu thuyết Sống mòn là đã “phản ánh sâu sắc, tập trung và toàn
diện”, “chất suy nghĩ đạt tới chiều sâu tâm lý đáng kể”; nhân vật thì
“không phải là nhân vật của hành động, mà thường được soi rọi chủ yếu
qua tâm lý” Một số phương diện khác như ngôn ngữ độc thoại nội tâm,
kết cấu tâm lý, cốt truyện thường sơ lược, đơn giản cũng được nhóm
nghiên cứu đề cập tới
Cũng trong công trình này, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra hoàn cảnh
xã hội chính là nguyên nhân làm nên sự “chệch hướng” của các ngòi bút
trong nhóm Tự lực văn đoàn Bởi vậy, giá trị văn học của các tác phẩm Tự
lực văn đoàn chặng đường văn học 1940-1945 ít được nhóm nghiên cứu
ghi nhận Thậm chí, họ còn cho rằng “sự nghiệp văn chương của nhóm Tự
lực văn đoàn phải tính từ những năm 40 trở về trước”, còn những năm
1940-1945 là “thời kì xuống dốc của Tự lực văn đoàn với những tác phẩm
ít nhiều mang màu sắc hiện đại chủ nghĩa”
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu như cuốn
S ơ thảo lịch sử văn học Việt Nam 1930-1945 của tác giả Vũ Đức Phúc,
Nguyễn Đức Đàn (1964) Công trình này đã nhắc đến một số cây bút văn
21
phương tiện cơ bản để nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống Vì vậy khảo sát tiểu thuyết không thể bỏ qua những thành tựu về sử dụng ngôn ngữ Về phương diện này, tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945 đã có những cách tân
và nhiều đóng góp lớn cho tiến trình hiện đại hóa văn xuôi nước nhà Luận
án xin dừng lại làm rõ một số nét đổi mới nổi bật nhất của ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945
4.3.1 Ngôn ngữ tiến gần đến lời ăn tiếng nói của nhân dân
Ở thời kì đầu, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn với đặc trưng cơ bản là đối lập tuyệt đối hiện thực và lí tưởng nên ngôn ngữ được sử dụng trong hầu hết các tiểu thuyết là ngôn ngữ khoa trương, phóng đại Các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời kì đầu ưa diễn tả những gì bóng bảy, trong sáng, tế nhị, đôi khi văn hoa kiểu cách Nếu có yếu tố hiện thực thì cũng chỉ bó hẹp trong một vài mối quan hệ nhất định, nên tiếng nói không tránh khỏi nghèo nàn, sáo mòn, đơn điệu
Với những tác phẩm thuộc chặng đường cuối cùng, ngôn ngữ cũng trở nên bình dị, chính xác hơn Ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Khái Hưng tiến gần với ngôn ngữ của nhân dân hơn Còn Nhất Linh cũng có những bước tiến ngoạn mục trong việc sử dụng ngôn ngữ Sự thay đổi của ông được ví như như con ve sầu lột xác để có một hình hài và tiếng ca mới
Ở trào lưu hiện thực những năm 1940-1945, khi các nhà văn có một
ý thức mới và quan niệm mới về văn chương, về lời văn nghệ thuật (văn chương cần phải hướng về đại chúng, lời văn cần phải gần gũi, mang hơi thở của đời sống) thì lời văn tự sự đã có một sự thay đổi rõ rệt Trong tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945, có một số xu hướng ngôn ngữ thường được
sử dụng đó là: sử dụng những cách nói mộc mạc, đậm chất bình dân; sử dụng rộng rãi hệ thống các từ ngữ thông tục, những từ ngữ của sinh hoạt hằng ngày; xu hướng thoát khỏi các chuẩn mực ngôn ngữ thông thường, thường xuyên sử dụng những câu văn “thiếu thốn” mang đậm tính khẩu ngữ Bên cạnh đó là việc sử dụng rộng rãi hệ thống thành ngữ, quán ngữ tiếng Việt Điều đó tạo nên những trang văn vừa hiện đại, vừa mang đậm tính nhân dân, tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển ngôn ngữ cho tiểu thuyết sau này
4.3.2 Ngôn ngữ trong sáng mà góc cạnh, phong phú và mang tính phức điệu
Nếu như văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng trước những năm 1940, người đọc được biết đến thứ ngôn ngữ thô mộc, suồng sã cùng thủ pháp phóng đại, so sánh với hàm ý mỉa mai phê phán
Trang 720
nhiều tiểu thuyết tự truyện có người trần thuật xưng “tôi”(Sống nhờ, Cỏ
dại, Cai)
Ngoài ra, tiểu thuyết chặng đường này cũng sử dụng thường xuyên
kiểu trần thuật nhập vai: Tác giả không dùng ngôi thứ nhất để trần thuật và
cũng không hoàn toàn sử dụng trần thuật từ ngôi thứ ba Đây là cách người
trần thuật thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật, nhìn
thế giới theo con mắt của nhân vật Khoảng cách giữa người trần thuật và
nhân vật gần như bị xóa bỏ Vì “trường nhìn tác giả” và “trường nhìn nhân
vật” không tách biệt nhau mà phối hợp luân phiên nhau trong một hệ
thống trần thuật phức tạp đã tạo nên tính đa thanh cho nhiều tác phẩm
4.2 Sự phong phú về giọng điệu trần thuật
Trong nghiên cứu về tự sự học, giọng điệu luôn giữ một vị trí quan
trọng Nền tảng của giọng điệu là cảm hứng chủ đạo, là lý tưởng thẩm mĩ,
quan điểm nghệ thuật của nhà văn Giọng điệu giúp ta nhận ra con người,
nhận ra tác giả, nhận ra chân dung, phong cách của người nghệ sĩ
Ở những giai đoạn văn học trước 1930, các nhà văn hầu như ít quan
tâm và ý thức về giọng văn riêng của mình Nhưng đến chặng đường
1940-1945, giọng điệu trần thuật trong văn xuôi nói chung và tiểu thuyết
nói riêng đã trở nên đa dạng và phong phú hơn rất nhiều
Nếu như tiểu thuyết Tự lực văn đoàn thời kì đầu, giọng điệu bao trùm
là giọng trữ tình, nhẹ nhàng, vui tươi thì từ năm 1940 trở đi, giọng điệu bao
trùm là giọng điệu bi quan bế tắc vì nó rất phù hợp với việc diễn tả nỗi băn
khoăn, bi quan, tuyệt vọng và đau khổ trong tâm hồn các nhân vật
So với các nhà văn lãng mạn thì các nhà văn hiện thực vốn mang
luồng tư tưởng khác hẳn, chưa bao giờ thể hiện sự hoang mang, mất niềm
tin vào con người như các nhà văn lãng mạn chặng đường này Ngược lại,
họ tin tưởng vào những gì tốt đẹp nhất của con người Chính sự đồng cảm,
gần gũi và tin cậy lớn lao ấy đã để lại một sự xúc động sâu lắng cùng với
những ấn tượng mạnh mẽ, thắm thiết trong lòng người đọc Giọng điệu
trần thuật được thể hiện rất đa dạng và phong phú
+ Giọng ôn hòa đằm thắm, chan chứa tình yêu thương và cảm thông
sâu s ắc
+ Giọng trầm buồn sâu lắng đầy chua xót
+ Giọng chiêm nghiệm triết lý, suy ngẫm sâu xa
+ Giọng dí dỏm hài hước, tự trào và mỉa mai giễu cợt
4.3 Những đặc sắc về ngôn ngữ của tiểu thuyết Việt Nam 1940 - 1945
Ngôn ngữ là một yếu tố quan trọng của nghệ thuật tiểu thuyết, là
5
xuôi tiêu biểu như Nguyên Hồng, Tô Hoài, Mạnh Phú Tư, Nguyễn Đình Lạp và khẳng định “người có nhiều tác phẩm xuất sắc hơn cả là Nam Cao”
và cho rằng Nam Cao “có lối viết nghiêm túc, chân thực mà sâu sắc”
Trong Từ điển văn học (tập 2, NXB Khoa học xã hội), nhà nghiên
cứu Nguyễn Hoành Khung cho rằng thời kì 1936-1939 là thời kì đỉnh cao của văn học hiện thực, ông đánh giá và phê bình nghiêm khắc văn học hiện thực những năm 1940-1945: “So với thời kì Mặt trận dân chủ, văn học hiện thực phê phán thời kì này có những chỗ yếu rõ rệt” Tuy nhiên, nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những mặt mạnh của khuynh hướng văn học hiện thực chặng đường này: “Văn học hiện thực phê phán thời kì này lại
có những mặt mạnh mới ( ), yếu tố trữ tình thấm đượm và suy nghĩ lắng sâu khiến cho ý nghĩa tác phẩm nhiều khi vượt khỏi giới hạn của đề tài”;
“Về nghệ thuật, văn học thời kì này có đặc sắc mới mẻ ( ) tâm lý nhân vật được thể hiện tinh tế, sắc sảo hơn Ngôn ngữ cũng sinh động, gần đời sống hằng ngày hơn”
Liên quan nhiều đến đề tài luận án và rất đáng chú ý là bài Khải
lu ận (in trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 30A) của nhà nghiên cứu
Nguyễn Đăng Mạnh Bài viết này đã tập trung đề cập đến văn xuôi hiện thực 1940-1945 Tác giả bài viết khẳng định sự phát triển của văn học hiện thực chặng đường này về quy luật phát triển, những đóng góp cũng như những tồn tại về nhiều mặt từ nội dung đến hình thức nghệ thuật Tác giả bài viết đã chỉ ra lớp nhà văn mới, đó là Mạnh Phú Tư, Đỗ Đức Thu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nam Cao, và khẳng định họ “hầu hết là những cây bút trẻ” và có “những đặc sắc riêng ở mức độ khác nhau”
Trong các bài nghiên cứu về văn học chặng đường này được đăng trên các tờ báo chuyên ngành, tạp chí, có những bài thực sự đáng chú ý như
“Những yếu tố tích cực trong văn học hiện thực thời kì 1939-1945” của Hà
Minh Đức (Tạp chí Văn học số 5 năm 1963) hay bài viết “Trào lưu hiện thực chủ nghĩa trong văn học Việt Nam 1930-1945” (Tạp chí Văn học số 5
năm 1976) của tác giả Vũ Đức Phúc Các tác giả đều nhận định chặng đường văn học 1940-1945 có những “tác phẩm ưu tú”, “những yếu tố tích cực”
Cuốn Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (ra đời năm 1974-1975) của nhà
nghiên cứu Phan Cự Đệ cũng đã dành riêng chương 2 tập trung phân tích hai khuynh hướng tiểu thuyết là tiểu thuyết lãng mạn (mà đại diện tiêu biểu
là nhóm Tự lực văn đoàn) và tiểu thuyết hiện thực Phê phán quan điểm mỹ học của các nhà văn Tự lực văn đoàn nhưng về nghệ thuật viết tiểu thuyết
Trang 86
thì lại được nhà nghiên cứu đánh giá cao Về tiểu thuyết hiện thực, nhà
nghiên cứu Phan Cự Đệ khẳng định đây là mảng sáng tác “có giá trị đáng kể
nhất” với những đóng góp của Nguyên Hồng, Tô Hoài, Mạnh Phú Tư,
Nguyễn Đình Lạp và đặc biệt là của Nam Cao Ông chỉ ra lối văn miêu tả
phong tục của Tô Hoài, Mạnh Phú Tư; lối miêu tả tâm lý cùng kết cấu vòng
tròn hay những đặc sắc về ngôn ngữ trong tiểu thuyết của Nam Cao
Ngoài ra còn có một số công trình tập trung nghiên cứu về một số
tác giả cụ thể Chẳng hạn chuyên luận Nam Cao - nhà văn hiện thực xuất
s ắc của Hà Minh Đức là một chuyên luận khá công phu về sáng tác của
Nam Cao, trong đó nhà nghiên cứu khẳng định tiểu thuyết Sống mòn “là
một trong những tác phẩm có giá trị nhất trong giai đoạn 1939 - 1945”
Cuốn sách cho thấy sự đổi mới trong cách nhìn nhận và đánh giá giá trị
hiện thực của Sống mòn, song nhà nghiên cứu lại khá dè dặt khi nói đến
giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết này
Do tính chất, quy mô của các công trình nghiên cứu cùng sự hạn chế
trong trình độ chiếm lĩnh đối tượng, do cái nhìn xã hội học dung tục, giáo
điều và ảnh hưởng nặng nề của “chủ nghĩa đề tài” trong giới nghiên cứu,
phê bình một thời nên bên cạnh một số công trình nghiên cứu có những
phát hiện sâu sắc, mới mẻ nêu trên còn không ít công trình thể hiện cái
nhìn hẹp hòi, phiến diện Tiêu biểu cho các công trình nghiên cứu đó là
cuốn Phương pháp sáng tác văn học nghệ thuật của Hồng Chương Trong
công trình này, Hồng Chương đã đánh giá rất thấp về Nam Cao Ông
không nhận ra sự sáng tạo độc đáo, mới mẻ của Nam Cao, thậm chí còn
đưa ra những nhận xét khá nặng nề về tiểu thuyết Sống mòn
Ở các đô thị miền Nam, hoạt động nghiên cứu văn học “tiền chiến”
cũng diễn ra khá sôi nổi với cách nhìn nhận tương đối rộng rãi, cởi mở
Trong số các công trình nghiên cứu, đáng chú ý hơn cả là những nhận xét
của Phạm Thế Ngũ Trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III,
ông đặt tiêu đề cho chương 6 là Bộ mặt đặc biệt của mấy năm 1940-1945
Ông coi đây là giai đoạn “phục hưng”, một “sự khởi đầu” của văn học
Trong công trình này, Phạm Thế Ngũ đã đánh giá rất cao kĩ thuật viết của
Nhất Linh trong Bướm trắng
Trong bài viết Nhất Linh - hay khuynh hướng lãng mạn phản kháng,
tác giả Bùi Xuân Bào cho rằng “Bướm trắng là bước phát triển mới của
Nhất Linh”, “Tiểu thuyết rất độc đáo” và “Đến Bướm trắng, kĩ thuật tiểu
thuyết của Nhất Linh đạt đến hoàn hảo”
Như vậy, có nhiều ý kiến có tính chất gợi mở, có những luận điểm
19
cách hợm của, kẻ cả, hoang dâm vô độ của hắn Hay để miêu tả vẻ đẹp tươi tắn, khỏe mạnh ở nhân vật Nhớn, ngòi bút của tác giả lại đặc biệt nhấn mạnh những nét ngoại hình đầy nam tính Đó là ngoại hình của con người đầy sức sống, hăng say trong công việc, nồng nàn trong tình yêu - một con người luôn là chỗ dựa, là trụ cột trong gia đình, là nơi người ta có thể trao gửi niềm tin
Sử dụng thủ pháp miêu tả ngoại hình nhân vật, các tác giả hoặc là miêu tả trực tiếp bằng ngôn ngữ của người trần thuật, hoặc là miêu tả một cách gián tiếp thông qua sự cảm nhận của nhân vật khác, hoặc qua chính cảm nhận của nhân vật đó về mình Tuy nhiên, dù miêu tả ngoại hình nhân vật bằng cách nào thì nhân vật hiện lên vẫn hết sức tự nhiên, chân thực và tràn đầy sức sống Mặt khác, do được nhìn nhận, đánh giá khách quan từ nhiều phía nên nó khắc phục được cái nhìn áp đặt, khiên cưỡng của nghệ thuật xây dựng nhân vật của văn học trước đó Điều đó phản ánh trình độ
tư duy mới mà các nhà văn đạt được để góp phần nâng cao tính hiện đại cho thể loại tiểu thuyết Việt Nam
CHƯƠNG 4 NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT VÀ NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NGÔN NGỮ 4.1 Sự đa dạng trong ngôi kể và điểm nhìn trần thuật
Điểm nhìn trần thuật là một trong những yếu tố hàng đầu của sáng tạo nghệ thuật Việc tổ chức các điểm nhìn trần thuật chính là sự lựa chọn góc
độ tiếp cận hiện thực và thể hiện hiện thực Để khắc hoạ chiều sâu tâm lý, tính cách nhân vật, các nhà văn đã lựa chọn những điểm nhìn trần thuật khác
nhau, góp phần tạo nên sự linh hoạt, sinh động, hấp dẫn cho mỗi tác phẩm
Trần thuật từ điểm nhìn gần là một nét đặc sắc và mới lạ trong nghệ thuật trần thuật, ở đó nhà văn dễ quan sát, miêu tả từng hành động, cử chỉ,
suy nghĩ, diện mạo của nhân vật một cách tỉ mỉ và tinh tế Sử dụng hình
thức trần thuật theo quan điểm nhân vật, tức trần thuật từ điểm nhìn bên trong, ở đó nhà văn để cho nhân vật tự kể chuyện bằng chính kiến, hiểu
biết, bằng thái độ, cảm xúc của nhân vật
Tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945 cũng thường sử dụng kiểu trần thuật tham dự Kiểu trần thuật này giúp người đọc có thể cảm nhận rõ sự trung thực, tin cậy của những lời giãi bày xúc động về một quãng đời đã đi qua của nhà văn Và cũng qua đó, hình tượng người trần thuật hiện lên với những câu chuyện mang tính chủ quan, với khát vọng thành thực cùng trái tim giàu yêu thương, chân thành nhất (kiểu trần thuật này được sử dụng ở
Trang 918
chính là mạch chảy tự nhiên nhất, hiện thực nhất của tâm hồn con người
3.2.4 Thiên nhiên phản chiếu tâm lý và nghệ thuật miêu tả
ngoại hình nhân vật
3.2.4.1 Thiên nhiên phản chiếu tâm lý
Trong tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945, thiên nhiên là đối tượng
được cảm thụ và miêu tả với tất cả vẻ đẹp tự nhiên, sinh động, có hình
khối, đường nét, màu sắc, âm thanh và hương vị riêng Thiên nhiên là
không gian lý tưởng để các vùng cảm giác tiềm ẩn có dịp giãi bày, phơi
trải, hé lộ, là không gian của đời sống tâm hồn đa diện và phức tạp nên nó
có sức gợi mở rất lớn và có đóng góp đáng kể trong việc hoàn thiện bức
chân dung tâm lý nhân vật
Khảo sát tiểu thuyết chặng đường 1940-1945 chúng tôi thấy mỗi lần
thiên nhiên xuất hiện thì phần lớn là thiên nhiên chứa đựng tâm lý, thiên
nhiên có sức gợi, sức khám phá, sức liên tưởng, sức dung chứa vô cùng
sâu rộng cảm giác nhân vật Các nhà văn chặng đường này đã không miêu
tả thiên nhiên thuần nhất, thiên nhiên thoả mãn sự kiếm tìm của thị giác
mà đó là thứ thiên nhiên ẩn ức, thoả mãn cả phần linh giác trong cảm thức
kiếm tìm chìa khoá, giải mã đời sống tâm lý nhân vật Nó không tồn tại
biệt lập mà hoà vào bức tranh xã hội tạo thành không gian và thời gian
nghệ thuật, làm nền cho nhân vật hoạt động và bộc lộ nội tâm Nghệ thuật
miêu tả này đã vượt xa thi pháp truyện truyền thống và đem đến cho văn
học một sức sống mới Đó cũng là đóng góp mới mẻ của tiểu thuyết chặng
đường này trong tiến trình phát triển văn học nước nhà
3.2.4.2 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình nhân vật
Ở văn học trung đại, ngoại hình nhân vật được miêu tả một cách sơ
lược, đơn giản và mang tính công thức Đặc biệt, ngoại hình nhân vật
không được khắc hoạ trong việc miêu tả quá trình, diễn biến tâm lý
Ngoại hình nhân vật thực sự được chú ý khi văn học quan tâm đến
vị trí, giá trị của con người cá nhân Ngoại hình nhân vật có khả năng phản
ánh quá trình tâm lý bên trong Đặc biệt, đối với những nhân vật có đời
sống tâm lý phong phú, thường xuyên trải qua quá trình diễn biến tâm lý
phức tạp thì việc miêu tả ngoại hình nhân vật còn có tác dụng hữu hình
hoá đời sống tình cảm của nhân vật, từ đó độc giả thấy được rõ hơn bức
chân dung tâm lý bên trong nhân vật
Có thể thấy rõ điều này trong tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945
Chẳng hạn, ở Ngoại ô, chỉ với vài ba nét phác họa dáng vẻ trau chuốt, bệ
vệ của Ba Sự, Nguyễn Đình Lạp đã giúp người đọc nhận ra rõ được tính
7
có ý nghĩa khoa học sâu sắc Tuy nhiên vẫn còn có những nhận xét về đóng góp của tiểu thuyết chặng đường 1940-1945 chưa thật thích đáng, hoặc vẫn chưa được đánh giá cao hoặc chỉ được nhận định một cách dè dặt, hẹp hòi
1.3 Giai đoạn từ 1986 đến nay
Có thể kể đến những công trình nghiên cứu rất công phu như giáo
trình Lịch sử Văn học Việt Nam 1930-1945 (Nguyễn Đăng Mạnh), Văn
xuôi lãng m ạn Việt Nam 1930-1945 (Nguyễn Hoành Khung, Phong Hà,
Nguyễn Cừ), chuyên luận Chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (Trần Đăng Suyền), giáo trình Văn học Việt Nam hiện
đại, tập 1 (nhóm các tác giả Trần Đăng Suyền, Nguyễn Văn Long, Lê Quang Hưng, Trịnh Thu Tiết)
Trong Lời giới thiệu cuốn Đoạn tuyệt, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ nhận định: “nghệ thuật của Đôi bạn và Bướm trắng già dặn hơn, những
nhận xét về tâm lý nhân vật sâu sắc và tinh vi hơn, những trang tả cảnh gợi
cảm và giàu chất thơ, lời văn trang nhã, trau chuốt hơn” Trong Lời giới
thi ệu cuốn Bướm trắng, tác giả Trần Hữu Tá đã chỉ ra những khám phá
mới của Nhất Linh trong nghệ thuật viết tiểu thuyết Ông cho rằng: “Nhất Linh đã thể hiện một phẩm chất nghệ thuật mới”, tác phẩm “vẫn có những trang viết gợi cho người đọc những xúc động trong sáng”
Về tác giả Khái Hưng, tác giả Vu Gia trong cuốn Khái Hưng -
người đổi mới văn chương đã đánh giá về tiểu thuyết Băn khoăn:“Khái
Hưng đã gióng lên tiếng chuông báo động tình trạng xuống cấp của đạo đức; nền tảng đạo đức truyền thống của dân tộc đã và đang lung lay tới tận gốc rễ” Còn với tiểu thuyết Đẹp, ông đánh giá: “Khái Hưng là người đầu tiên viết về giới nghệ sĩ tạo hình, và dường như tới nay cũng chưa có tác phẩm nào vượt qua Ông viết về họ như người trong cuộc”
Hàng loạt bộ sách Về tác gia và tác phẩm chuyên tập hợp các bài
nghiên cứu, phê bình văn học về các tác gia văn học lớn (như Nam Cao,
Tô Hoài, Nguyên Hồng, ), cùng các chuyên luận được nghiên cứu một cách công phu và có nhiều giá trị khoa học Chẳng hạn như chuyên luận
Quan ni ệm nghệ thuật về con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn của
Lê Thị Dục Tú Một số phương diện như nhân vật, nghệ thuật miêu tả nội tâm, nhãn quan ngôn ngữ mới cùng sự đổi mới của câu văn xuôi, …được người viết quan tâm phân tích
Ngoài ra, chúng tôi cũng lưu ý tới những luận án Tiến sĩ Ngữ văn
có đề cập đến tiểu thuyết chặng đường văn học 1940-1945 Chúng tôi
Trang 108
cũng lưu ý đến các bài viết liên quan đến nội dung đề tài này như bài viết
của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết Bút pháp tự sự đặc
s ắc trong Sống mòn, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp trong bài viết Tô
Hoài, ng ười sinh ra để viết, nhà nghiên cứu Bích Thu trong bài Tiểu thuyết
Vi ệt Nam trong quá trình hiện đại hoá văn học nửa đầu thế kỷ, nhà nghiên
cứu Đỗ Đức Hiểu trong Đọc Bướm trắng của Nhất Linh
Tháng 10/2012, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
đã đăng cai tổ chức thành công hội thảo khoa học Phong trào thơ Mới và
v ăn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm nhìn lại, trong đó có những bài viết
tiêu biểu như Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới
(1932-1945) - nhìn lại và suy nghĩ của nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh, bài
V ăn xuôi Tự lực văn đoàn - 80 năm “nhìn lại” của tác giả Nguyễn Thành
Thi, bài Những điểm nổi bật về trần thuật trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn của tác giả Nguyễn Thành
CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ KẾT CẤU THEO XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI
2 1 Cốt truyện của tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945
2 1 1 Quan niệm về cốt truyện trong văn học truyền thống
Cốt truyện là tiến trình phát triển của các sự kiện, biến cố Trong văn
học truyền thống, cốt truyện có vai trò vô cùng quan trọng Đặc biệt, trong
tác phẩm tự sự, cốt truyện luôn là yếu tố đầu tiên được nhà văn quan tâm
2.1.2 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện của tiểu thuyết Việt Nam
1940 - 1945
2.1.2.1 Xu hướng gia tăng những chi tiết, sự kiện của cuộc sống
đời thường
Tác phẩm văn học là một hệ thống chi tiết nghệ thuật Trong hệ
thống ấy sẽ có những chi tiết có ý nghĩa đặc biệt quan trọng làm nổi bật
chủ đề tư tưởng và đẩy mạch vận động của tác phẩm
Tr ước hết, chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945 có
nhi ều chi tiết thể hiện cuộc sống cùng quẫn, bế tắc, đầy khổ đau bất hạnh
c ủa người dân nghèo
Tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945 đã phản ánh số phận của nhiều
cuộc đời, nhiều hoàn cảnh đa dạng: có tiểu thuyết đề cập đến những kiếp
sống quẩn quanh, buồn bã, bị dồn đẩy tới đói nghèo, ly tán, tha hương của
những người thợ thủ công (như Quê người của Tô Hoài); có tiểu thuyết
miêu tả một cách chân thật và sâu sắc cuộc sống nghèo khổ, bấp bênh, bế
17
“suy nghĩ”, “nghĩ đến”, “nhận thấy”, “theo đuổi suy nghĩ” đến dạng phức tạp hơn là lời không có dấu hiệu báo trước, tiếng nói nội tâm nhân vật
vang lên đột ngột giữa lời trần thuật Có dạng thức độc thoại nội tâm kèm
theo lời dẫn của người trần thuật, có dạng độc thoại nội tâm được sử dụng một cách linh hoạt và điêu luyện hơn: lời của người trần thuật hòa quyện vào những suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật, tạo nên những đoạn độc thoại
nội tâm vừa mang màu sắc triết lý vừa thấm đượm chất trữ tình
Tuy nhiên, ở mỗi khuynh hướng sáng tác, mỗi nhà văn, hệ thống nhân vật có những nét đặc trưng riêng Bởi vậy, mức độ sử dụng cũng như các dạng thức của độc thoại nội tâm cũng có sự khác nhau Trong các tiểu
thuyết chặng đường này, Sống mòn là tác phẩm sử dụng thủ pháp này một
cách rộng rãi, đậm đặc nhất Điều đặc biệt là những dòng độc thoại nội
tâm trong Sống mòn không hề tỏ ra gò ép, khiên cưỡng mà lại hết sức chân thực, tự nhiên và sinh động Độc thoại nội tâm trong Sống mòn, vì
vậy, đã trở thành phương tiện nghệ thuật cơ bản nhất, hiệu quả nhất để tác
giả lột tả thế giới bên trong nhân vật
3.2.3 Phân tích tâm lý
Miêu tả thế giới tâm hồn con người như là một quá trình đã chứng tỏ thành công lớn, là bước tiến vượt bậc của nhiều cây bút chặng đường này
Ở nhiều tiểu thuyết, tâm lý nhân vật được miêu tả như là một quá trình, một diễn tiến đang hình thành với nhiều biến thái tinh vi Tâm lý nhân vật không chỉ là ý thức mà còn là tiềm thức, vô thức
Trong tiểu thuyết Việt Nam 1940-1945, tâm lý nhân vật không chỉ được miêu tả một lần thoáng qua mà còn được các nhà văn đi sâu vào khai thác những tầng vỉa tâm lý, những chuyển biến tâm lý, tạo nên những trang phân tích tâm lý có chiều sâu
Có thể nói, ở chặng đường văn học 1940-1945, nhiều tiểu thuyết đã rất thành công trong việc phân tích tâm lý nhân vật, nhưng thành công nhất vẫn là Nam Cao Ông xứng đáng là nhà tâm lý bậc thầy, tiêu biểu nhất cho chủ nghĩa hiện thực tâm lý Điều đó thể hiện rõ nhất, tập trung
nhất ở tiểu thuyết Sống mòn Qua ngòi bút của ông, quá trình vận động
của tâm lý nhân vật được thể hiện như là một quá trình tự vận động Ông luôn để cho nhân vật tự đối diện với chính mình Thậm chí, ông có khả năng miêu tả những bước ngoặt bất ngờ của tâm lý nhân vật nhưng lại hoàn toàn phù hợp với logic bên trong của nó Đang suy nghĩ điều này, nhân vật lập tức nghĩ sang điều khác ngay tưởng chừng như vô cớ Đây là điều mà thoạt nhìn ta tưởng như có sự rời rạc, thiếu nhất quán Song đó lại