1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số gải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới tại xã đa tốn, huyện gia lâm,thành phố hà nội

91 237 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP --- ĐẶNG THU HƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ ĐA

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

ĐẶNG THU HƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI

XÃ ĐA TỐN, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

ĐẶNG THU HƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI

XÃ ĐA TỐN, HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGÔ VĂN HẢI

Hà Nội, 2011

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, theo chương trình đào tạo Cao học Khoá 17 (2009-2011), chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường đã tạo điều kiện tốt cho chúng tôi suốt quá trình học tập tại trường Cảm ơn các Thầy, cô trong khoa Đào tạo sau đại học, Thầy cô bộ môn Kinh tế và các bộ môn khác

đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt kiến thức cho các học viên chúng tôi

Đặc biệt cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Tiến sĩ Ngô Văn Hải đã tạo điều kiện chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành Luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn: UBND xã, Ban lãnh đạo các thôn, các hộ gia đình trong xã Đa Tốn đã tạo mọi điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập, điều tra, phỏng vấn, làm luận văn tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội Cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của đồng nghiệp, anh em, bạn bè và các học viên trong lớp K17 đã ủng hộ, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình đề hoàn thành luận văn tốt nghiệp Song sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được các thầy, cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp và mọi người tiếp tục đóng góp ý kiến để xây dựng đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 10 năm 2011

Tác giả Đặng Thu Hương

Trang 4

ii

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2

1.1 Cơ sở lý luận 2

1.2 Cơ sở thực tiễn 7

1.2.1 Tổng quan tình hình thực hiện phát triển nguồn nhân lực nông thôn nước ta hiện nay 7

1.2.2 Hệ thống cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Trung ương và địa phương 10

1.2.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở các địa phương trong nước và trên thế giới 11

1.2.4 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn ở các nước đối với Việt Nam 17

1.3 Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực nông thôn 20

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 25

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 25

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 25

2.2 Đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu 25

2.3 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu 26

Trang 5

iii

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 27

3.1.1 Vị trí địa lý 27

3.1.2 Khí hậu, thời tiết 27

3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 28

3.1.4 Dân số, lao động 29

3.1.5 Cơ sở hạ tầng 29

3.1.6 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 32

3.2 Đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế xã hội theo chương trình xây dựng nông thôn mới của xã Đa Tốn, H Gia Lâm, TP Hà Nội 33

3.3 Thực trạng đề án xây dựng nông thôn mới của xã Đa Tốn, H Gia Lâm, TP Hà Nội 35

3.4 Thực trạng nguồn nhân lực của xã Đa Tốn, H Gia Lâm, TP Hà Nội 36 3.4.1 Tình hình nguồn nhân lực của xã Đa Tốn 36

3.4.2 Tình hình chất lượng nguồn nhân lực của xã Đa Tốn 41

3.4.3 Tình hình nguồn nhân lực của các hộ diêu tra tại xã Đa Tốn 44

3.4.4 Tác động của các chính sách phát triển nguồn nhân lực triển khai tại xã Đa Tốn 50

3.5 Đánh giá nguồn nhân lực trong tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội 51 3.5.1 Đánh giá nhu cầu nguồn lực lao động và dự báo trong thời gian tới tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 55

3.5.2 Dự báo nhu cầu lao động của xã Đa Tốn trong tương lai 56

3.6 Định hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp xã Đa Tốn trong thời gian tới 59

3.6.1 Định hướng 59

3.6.2 Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BNNPTNT Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn

CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CN-TTCN Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp

CN-TTCN-XD Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp xây dựng

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc tại thời điểm ngày

01 tháng 07 hàng năm phân theo thành thị, nông thôn

3.7 Tình hình kinh tế của các hộ điều tra năm 2011 44 3.8 Tình hình lao động của các hộ điều tra năm 2011 44 3.9 Tình hình phân bố nguồn nhân lực tại các hộ điều tra năm 2011 46 3.10 Chất lượng nguồn nhân lực trong các hộ điều tra 47 3.11 Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong các hộ điều tra 48 3.12 Hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn nhân lực của xã 49 3.13 Phân tích SWOT nguồn nhân lực của xã Đa Tốn 51 3.14 Nhu cầu đào tạo nghề của lao động 3 xã 54 3.15 Nhu cầu làm việc trong các ngành kinh tế 55 3.16 Dự báo dân số đến năm 2021 của xã Đa Tốn 56 3.17 Dự báo nhu cầu lao động tại xã Đa Tốn 57

Trang 9

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phát triển nông thôn mới văn minh, hiện đại là chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong những năm gần đây Thực hiện chủ trương của Thành ủy, HĐND Thành phố Hà Nội về xây dựng nông thôn mới, ngày 15/04/2010, UBND Thành phố đã ra Quyết định số 1719/QĐ-UBND phê duyệt 15 xã trên địa bàn Thành phố làm điểm xây dựng nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, trong đó xã Đa Tốn được chọn xây dựng mô hình điểm để tổng kết nhân ra diện rộng

Trên tinh thần đó, UBND xã Đa Tốn đã tiếp thu ý kiến, kinh nghiệm của các mô hình nông thôn mới điển hình để áp dụng vào thực hiện tại địa phương nhằm xây dựng thành công đề án này Xã đã có các chương trình, dự án đầu tư khá kỹ lưỡng cho cơ sở hạ tầng; cùng với đó là hệ thống giao thông, thuỷ lợi, hệ thống lưới điện, trường học và trạm y tế đều được nâng cấp và cải thiện

Một trong những nhân tố quan trọng cấu thành nên mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đổi mới hiện nay đó chính là yếu tố nguồn nhân lực lao động Để có những chính sách quản lý và sử dụng lao động với một xã đang trên con đường xây dựng nông thôn mới như Đa Tốn được hiệu quả thì cần phải xác định được nhu cầu lao động một cách chính xác Bên cạnh đó, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, tăng cường bồi dưỡng nâng cao chất lượng lao động nói chung và chất lượng lao động nông thôn nói riêng để phù hợp với thực tế là vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay của xã Đa Tốn nói riêng và các xã đang xây dựng nông thôn mới nói riêng

Để đi sâu nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi triển khai nghiên cứu đề

tài: “Mô ̣t số giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới tại xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội”

Trang 10

2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận

- Nguồn nhân lực: Là bộ phận của dân số trong độ tuổi theo quy định

của pháp luật lao động, sẵn sàng tham gia lao động

- Người lao động: Là những người trong độ tuổi lao động có việc làm hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm

- Lao động trong nông thôn: Lao động trong nông thôn được đề cập đến trong đề tài bao gồm:

+ Lao động sản xuất trong các ngành kinh tế trên địa bàn huyện

+ Lao động quản lý: Là đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, tổ chức kinh

tế trên địa bàn huyện

- Chất lượng lao động: Được thể hiện trên hai tiêu thức: Sức khỏe và trình độ người lao động Lao động có chất lượng cao là lao động có sức khỏe tốt và có trình độ đáp ứng yêu cầu của ngành nghề đảm nhận

Trang 11

3

- Lao động có trình độ: Là người có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm và thói quen tốt, có trách nhiệm cao với công việc

Trình độ có thể chia thành hai loại:

+ Trình độ khoa học: Là những kiến thức thu được từ học hỏi qua giáo dục và đào tạo chính quy

+ Tri thức ngầm (tri thức truyền thống): Là những kiến thức thu được

từ kinh nghiệm đúc rút trong thực tế thay vì được học hỏi qua giáo dục chính quy

- Lao động và việc làm: Theo Điều 13 của Bộ Luật lao động quy định:

"Mọi hoạt động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được công nhận

là việc làm." [15]

- Nghề nghiệp: Là khả năng của một người làm một công việc nào đó,

là phương tiện kiếm sống và phải trải qua một quá trình đào tạo, tích lũy kinh nghiệm nhất định được gọi là nghề

- Xây dựng nông thôn: Là quá trình phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và năng lực thể chế cộng đồng tại vùng nông thôn Gắn lợi ích, trách nhiệm vật chất, tinh thần của người dân và cộng đồng xã hội nông thôn vào các mục tiêu cụ thể của quá trình phát triển nông thôn

- Nông thôn mới: Nông thôn mới ở đây được hiểu là phạm vi vùng nông thôn nhất định (làng, xã hoặc cụm xã) đã có tác động của con người để thay đổi từ nông thôn cũ thành nông thôn với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; Xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; Môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự

Trang 12

hạ tầng kinh tế - xã hội; Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn; Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn; Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn; xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn; Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn; Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn [20]

Các yếu tố tác động xây dựng nông thôn mới: Chương trình, chính sách, biện pháp hỗ trợ kỹ thuật, tài chính và định hướng phát triển của Nhà nước; Hành động của chính quyền và Đảng ủy các cấp địa phương; Sự tham gia tích cực của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp tại vùng nông thôn; Sự tham gia tích cực của hộ nông dân, trang trại, hợp tác xã, các hội tại vùng thôn thôn

- Tầm quan trọng của nguồn nhân lực: Nhà nước đã xác định cho rõ

nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Đặc biệt cần quan tâm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp vì đây là lực lượng chủ yếu của đất nước Việt Nam có trên 44 triệu lao động trên tổng số 89 triệu dân và là một nước có nguồn nhân lực dồi dào so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Việt Nam là nước đứng thứ hai trong khu vực và đứng thứ 13 trên thế giới Trong số 89 triệu dân thì số người nằm trong độ tuổi lao động chiếm tới 50% trong đó nhóm tuổi từ 15 tới 34 tuổi chiếm hơn 45% tổng số lực lượng lao động này

Trang 13

5

Hàng năm có khoảng từ 1,5 đến 1,7 triệu người nhập vào lực lượng lao động Tuy nhiên, phần lớn lượng cung lao động này là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng, miền Cụ thể là gần 77% người lao động trong độ tuổi lao động chưa được đào tạo nghề, hoặc được đào tạo thì còn hạn chế về kỹ năng nghề nghiệp

và chất lượng lao động ở khu vực thành phố cao hơn so với ở khu vực nông thôn Nhìn chung, cung lao động tại Việt Nam rất rồi rào và lớn hơn cầu về lao động Xét về phân bố sử dụng lao động, nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay phần lớn được phân bổ trong khu vực nông nghiệp, kỹ năng, tay nghề và trình độ của người lao động không cao Lực lượng lao động đang làm việc trong khu vực công nghiệp mới chỉ chiếm 20% và đối với khu vực dịch

vụ chỉ chiếm khoảng 26%

- Xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế: Nhà nước xác định thật rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả

hệ thống chính trị Mấu chốt của vấn đề là chúng ta phải thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ giữa các chiến lược nguồn nhân lực với các chiến lược phát triển kinh tế Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ, các chiến lược phát triển kinh tế phải chỉ rất rõ về nhu cầu nguồn nhân lực (số lượng, kỹ năng cụ thể), và đối với các cơ quan lập chiến lược nguồn nhân lực phải coi đây là những thông tin đầu vào cơ bản để xây dựng các chiến lược nguồn nhân lực

Trang 14

6

Hình 1.1 Chiến lược nhân lực gắn với chiến lược

phát triển kinh tế-xã hội

Nguyên tắc là như vậy, tuy nhiên làm thế nào để áp dụng vào thực tế trong khi sự liên kết giữa các Bộ ngành khác trong công tác phát triển nguồn nhân lực chưa thực sự hiệu quả Để giải quyết vấn đề này sự phối hợp đa ngành đóng một vai trò quan trọng, do đó cần thiết phải thành lập một cơ quan lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia (HRDPC) trực thuộc Chính phủ, để tạo sự liên kết ngang hàng giữa các Bộ, ngành, địa phương Cụ thể về hoạt động của mô hình này như sau:

Thông tin về nhu cầu nhân lực (số lượng, kỹ năng) từ các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp được trình lên HRDPC Thông tin này cần làm

rõ về số lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp và đặc biệt là những kỹ năng cần thiết đối với nguồn nhân lực HRDPC tổng hợp, xử lý các thông tin nhận được và biến nó thành một đơn đặt hàng đối với Bộ Nông nghiệp Bộ Nông nghiệp tiếp nhận thông tin này, trên cơ sở đó đặt hàng chỉ tiêu đào tạo cho các cơ sở đào tạo trên cả nước

Để mô hình này hoạt động có hiệu quả, HRDPC phải là cơ quan có quyền lực đủ lớn, do đó người đứng đầu nhất thiết phải là Thủ tướng Chính phủ, các thành viên thường trực bao gồm các đại diện của Bộ, ngành, địa phương và các cơ sở đào tạo lớn trên toàn quốc

Các chiến lược

phát triển kinh tế

của quốc gia

Các yêu cầu về nguồn nhân lực cần thiết của các chiến lược:

- Số lượng

- Phân loại kỹ năng

Chiến lược nguồn nhân lực:

- Các mục tiêu

- Cách thức phát triển nguồn nhân lực

- Các hoạt động cụ thể

Trang 15

7

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Tổng quan tình hình thực hiện phát triển nguồn nhân lực nông thôn nước ta hiện nay

Nguồn cung về lao động

Ở Việt Nam, đại bộ phận dân cư tập trung sinh sống ở khu vực nông thôn, tính đến năm 2009, dân số cả nước là 85,79 triệu người (tính đến ngày

01 tháng 4 năm 2009), thì dân số nông thôn là 60,40 triệu người (chiếm

thị

Nông thôn

Thành thị Nông thôn

(Niên giám thống kê 2010-Tổng cục thống kê)

Qua bảng 1.1, ta thấy lượng lực lao động ở nông thôn rất dồi dào, năm

2009 lực lượng lao động trong nông thôn chiếm 58%, cao gấp 2 lần so với lao động tại thành thị Đây là một trong những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu về lao động của cả nước Năm 2008 (nông thôn – 34.453,2 nghìn người), năm 2009 (nông thôn – 35.119,1 nghìn người) tăng 1% so với năm 2008

Trang 16

8

Nguồn cầu về lao động

- Sự chuyển dịch lao động nông thôn theo vùng tại thời điểm

01/07/2009, lực lượng lao động từ đủ 15 tuổi trở lên của cả nước là 47.743,6 nghìn người, trong đó khu vực nông thôn có 35.119,6 nghìn lao động chiếm

58% lực lượng lao động toàn quốc

So với năm 2008, lực lượng lao động ở khu vực nông thôn tăng 1,2% với quy mô tăng thêm là 665.900 người Do đó, để thực hiện tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn thì việc chuyển dịch cơ cấu lao động theo vùng, theo ngành nghề đang là vấn đề bức xúc cần được giải quyết

Bảng 1.2 Phân bố lực lượng lao động nông thôn theo 8 vùng lãnh thổ

Phân theo vùng

Số lượng (nghìn người)

Tỷ lệ so với cả nước (%)

Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Nam Trung Bộ 8.310,3 23,7

(Niên giám thống kê 2010-Tổng cục thống kê)

Qua Bảng 1.2, thấy rằng Đồng bằng sông Hồng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có tổng số lao động cao nhất cả nước, nguồn lao động dồi dào và đó cũng là hai vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất trong cả nước Trong khi đó Tây Nguyên đất đai màu mỡ và các điều kiện tự nhiên và khí hậu thuận lợi cho trồng các cây công nghiệp ngắn ngày như điều, hồ tiêu

Trang 17

9

và các cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su nhưng lại thiếu lao động đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó để tránh tình trạng lãng phí trong việc sử dụng lao động thì cần phải có sự bố trí

sắp xếp lại lao động giữa các vùng trong cả nước

Sự chuyển dịch lao động nông thôn theo ngành

Cơ cấu lao động chuyển dịch còn chậm lao động vẫn chủ yếu tập trung trong nông nghiệp Lao động hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ thấp Năm 2009, lao động nông nghiệp cả nước chiếm 51,9% tổng lao động nhưng giá trị GDP được tạo ra từ ngành này lại thấp nhất, chiếm dưới 20% (theo Thời báo Việt Nam năm 2010) Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và ngành dịch vụ là 48,1% nhưng tạo được giá trị GDP ở mỗi ngành trên 40% Các con số trên đây cho thấy năng suất lao động trong ngành nông nghiệp là rất thấp Năm 2009 cả nước có 47,7 triệu lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng riêng khu vực nông thôn đã có 35,1 triệu người (bảng 1.1) Nếu so với tổng lao động có việc làm của cả nước thì lao động nông nghiệp nông thôn vẫn chiếm khoảng 73,6% Vì vậy trong thời gian tới cần có giải pháp chuyển dịch lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong nông nghiệp tăng tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ

Sự chuyển dịch lao động nông thôn theo ngành tạo những điều kiện thuân lợi để sử dụng hết nguồn lao động tại nông thôn, nhưng qua Bảng 1.3 lại biểu hiện cho thấy mỗi vùng miền nguồn lao động dư thừa còn rất nhiều, chưa tận dụng hết tối đa khả năng của nguồn lực này

Chất lượng nguồn lao động nông thôn

Trong giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hiện nay chúng ta càng nhận thức rõ vai trò quyết định của nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực có chất lượng cao vốn là yếu tố vật chất quan trọng đối với sự phát triển lực lượng sản xuất

Trang 18

10

Sức khoẻ và thể trạng của người Việt Nam nói chung là nhỏ bé, hạn chế nhiều về thể lực, cho dù có bù lại ưu thế về sự chăm chỉ, siêng năng, dẻo dai thì thể lực như vậy cũng khó trụ vững được trong những dây chuyền sản xuất đòi hỏi cường độ làm việc cao

Bảng 1.3 Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng

lao động trong độ tuổi phân theo vùng

Đồng bằng sông Hồng 2.69 2.01 5.46 6.57 Trung du miền núi phía Bắc 1.38 0.95 3.39 3.50 Bắc trung bộ và duyên hải miền

Đồng bằng sông Cửu Long 3.31 2.97 9.33 10.49

(Niên giám thống kê 2010-Tổng cục thống kê)

1.2.2 Hệ thống cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn của Trung ương và địa phương

Theo quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 04 tháng 6 năm 2010 về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia

về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế

- xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dungtrong đó có một số nội dung về phát triển nguồn nhân lực nông thôn như sau:

Trang 19

11

Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn

Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Phân công quản lý, thực hiện:

- Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, hướng dẫn thực hiện đề án

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân chỉ đạo các huyện, thị xã hướng dẫn các xã xây dựng đề án; đồng thời chỉ đạo thực hiện

- Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 75% số

- Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

1.2.3 Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở các địa phương trong nước và trên thế giới

- Kinh nghiệm trong nước

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà Nước đã ban hành nhiều chính sách về triển khai xây dựng các mô hình nông thôn mới cùng việc phát triển các nguồn lực đi kèm như:

Trang 20

12

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 Hội nghị lần thứ

7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Công văn số 2543/BNN-KTHT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030; Công văn số 3491/UBND-NN ngày 19/5/2010 của UBND Thành phố Hà Nội về việc triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND Thành phố về xây dựng nông thôn mới; Quyết định số 2333/QĐ/UBND ngày 25/5/2010 của Hà Nội phê duyệt đề án xây dựng nông thôn mới TP.Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030…

Hiện Việt Nam chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tuy có tiến bộ, giá trị nông nghiệp so với GDP cả nền kinh tế từ 26,62% năm 1995 xuống 20,4% năm 2006; nhưng chuyển dịch cơ cấu lao động lại hết sức chậm trễ

Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề, năm 2010, năm đầu tiên triển khai thực hiện đề án đào tạo nghề cho LĐNT theo Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, cả nước đã hỗ trợ dạy nghề cho khoảng 300 nghìn LĐNT, trong đó khoảng 40% là các lớp dạy nghề NN Điểm đáng lưu ý là Bộ NN&PTNT phối hợp với Bộ LĐ-TB&XH xây dựng xong danh mục các nghề

NN trình độ sơ cấp và dạy nghề dưới 3 tháng cho LĐNT Bộ NN&PTNT cho biết, năm 2010, bộ và các bộ, ngành liên quan đã lựa chọn danh mục 25 nghề

NN trình độ sơ cấp nghề để xây dựng chương trình, tài liệu, đồng thời thành lập ban chủ nhiệm xây dựng kế hoạch thực hiện cho 25 chương trình đó và danh mục 16 nghề để chỉnh sửa

Trang 21

13

Trong năm 2010, đã thành lập 41 hội đồng nghiệm thu chương trình, giáo trình dạy nghề NN Theo Bộ NN&PTNT Đối với Thủ đô Hà Nội, thực hiện chương trình này, trong năm 2010, số lao động đã qua đào tạo khoảng 630.000 người, tăng 3,2%, đạt tỷ lệ 29% tổng số lao động Mỗi năm, thành phố đã giải quyết việc làm cho khoảng 69.000 người là LĐNT

- Kinh nghiệm trên thế giới

Nhật Bản

Năm 1870, Nhật Bản nhập về nông cụ, phân bón và giống từ các nước

Âu Mỹ nhằm hiện đại hóa nông nghiệp, mô phỏng Âu Mỹ thiết lập các xưởng chế tạo nông cụ, bãi ươm giống, ruộng thí nghiệm Nhưng thực tiễn đã chứng minh, con đường hiện đại hóa nông nghiệp theo mô hình “tiết kiệm lao động” của Âu Mỹ không phù hợp với một Nhật Bản đương thời lạc hậu về kinh tế, đất chật người đông, quy mô nông điền nhỏ Vậy là xuất phát từ hoàn cảnh thực tế của nước mình, Nhật Bản lựa chọn một phương thức kinh doanh theo mô hình “tiết kiệm đất đai”, nhằm nhiều vào lao động và phân bón, cải thiện hệ thống thủy lợi nông điền, nhân rộng các giống cây tốt, sử dụng nhiều phân bón hóa học, phát triển kỹ thuật canh tác kinh doanh mô thức nhỏ kết hợp giữa tập trung lao động và đất đai

Đến giữa những năm 50 của thế kỷ 20, sự tăng tốc của công cuộc công nghiệp hóa ở Nhật Bản đã thu hút một lượng lớn sức lao động của nông nghiệp, lực lượng lao động ở nông thôn trở nên thiết hụt, nhưng lúc này, Nhật Bản đã kịp chuẩn bị điều kiện “tư bản thay thế lao động” Công nghiệp hóa cung cấp cho nông nghiệp một lượng lớn máy móc công cụ, bắt đầu thời kỳ

cơ khí hóa nông nghiệp quy mô lớn Máy cày động lực và máy kéo nông dụng

ở Nhật Bản đã tăng từ 9 vạn chiếc vào năm 1955 lên gần 40 vạn chiếc vào đầu những năm 70 sau đó, cơ bản hoàn thành hiện đại hóa nông nghiệp Nhưng cũng vào thời kỳ phát triển này, chính sách bảo hộ nông nghiệp của

Trang 22

14

Nhật Bản gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các tập đoàn lợi ích thương nghiệp, công nghiệp và người tiêu dùng Về sau, khi công nghiệp phát triển nhanh chóng, đoàn thể nông nghiệp của Nhật Bản đã thành công trong việc đề xướng và thực thi bảo hộ nông nghiệp ở trình độ cao nhất thế giới Để có một nền nông nghiệp phát triển như vậy, Chính phủ Nhật Bản đã nắm vai trò chủ đạo, mạnh dạn đầu tư hơn 2000 tỷ yên Nhật để làm các hạng mục xây dựng

cơ bản của nông thôn, cải thiện môi trường, đưa nước, đường, điện, điện thoại đến từng nhà dân, miễn phí hoàn toàn giáo dục sơ đẳng, tạo dựng cơ

sở để thành thị và nông thôn tác động tốt tới nhau, về cơ bản, quốc gia này đã

làm tốt việc phát triển cân bằng, bền vững

Hàn Quốc

Từ năm 1962 đến 1971, Chính phủ Hàn Quốc đã thực thi kế hoạch 5 năm về phát triển kinh tế lần 1 và 2, trợ giúp ngành nghề trọng điểm và mở rộng xuất khẩu, nhưng lúc này, sự phát triển công nông nghiệp mất thăng bằng nghiêm trọng Để giải quyết vấn đề, tháng 4 năm 1970, Chính phủ Hàn Quốc phát động “phong trào nông thôn mới” Cách thức hoạt động chủ yếu của phong trào nông thôn mới Hàn Quốc là Chính phủ là chủ đạo, cung cấp nguyên liệu, tài liệu; hội nông dân tổ chức cho nông dân thực thi cụ thể Sau hơn 20 năm nỗ lực, họ đã thực hiện được công nghiệp hóa và cải tạo nông thôn Tổng thể qua 04 giai đoạn Từ năm 1971-1973, giai đoạn cải thiện điều kiện cư trú của nông dân Trọng điểm của thời kỳ này là cải thiện điều kiện ăn

ở của người dân Bắt đầu từ mùa đông năm 1970, Chính phủ hỗ trợ cho nông dân các vật tư xây dựng như xi măng, cốt thép Bộ Nội vụ trực tiếp lãnh đạo

và phụ trách tổ chức thực thi phong trào nông thôn mới, xây dựng Viện nghiên cứu trung ương về phong trào này

Từ năm 1974-1976, giai đoạn nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân Ở giai đoạn này, phong trào nông thôn mới bắt đầu mở rộng theo hướng

Trang 23

15

thành trấn hóa Tiếp tục tập trung xây mới và sửa chữa các công trình công cộng như nhà họp, công trình nước máy, khuyến khích xây mới nhà ở và phát triển kinh doanh đa dạng, tăng cường giáo dục nông thôn mới nhờ lực lượng chỉ đạo viên, cán bộ chính phủ, người phụ trách đoàn thể xã hội

Từ năm 1977-1980, giai đoạn đi sâu vào sản nghiệp nông thôn, giảm nhẹ tác động của Chính phủ Thời kỳ này, ngành nuôi trồng, ngành gia công nông sản phẩm và nông nghiệp đặc sản phát triển nhanh chóng Chính phủ tiếp tục cung cấp nguyên liệu xây dựng để mở ra các khu khai thác công nông

và các công trình văn hóa nông thôn; Ngành bảo hiểm nông thôn và xây dựng văn hoá nông thôn cũng phát triển khá nhanh

Từ năm 1981-1988, giai đoạn xây dựng theo hình thái nông dân tự phát làm chủ và được xác nhận Lúc này, Chính phủ mạnh tay điều chỉnh các chính sách và biện pháp thực hiện phong trào nông thôn mới, người nông dân, dưới

sự chỉ đạo của chính phủ, đã tự chủ triển khai xây dựng hiện đại hóa nông thôn Trong giai đoạn này, trọng điểm công tác của chính phủ là kiến lập và hoàn thiện tổ chức dân gian của phong trào nông thôn mới trên toàn quốc, định ra kế hoạch phát triển và làm tốt việc cung cấp tài lực, vật lực và hỗ trợ

về kỹ thuật để phát triển nông thôn mới, phối hợp tốt các công tác: đào tạo, tuyên truyền

Thông qua phong trào nông thôn mới, Hàn Quốc đã phổ cập được hạ tầng cơ sở ở nông thôn, thu nhỏ khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, nâng cao trình độ tổ chức của nông dân, chấn hưng tinh thần quốc dân, cuộc sống của người nông dân cũng đạt đến mức khá giả, nông thôn đã bắt kịp tiến trình hiện đại hóa của cả Hàn Quốc, đồng thời đưa thu nhập quốc dân Hàn Quốc đạt đến tiêu chí của một quốc gia phát triển

Đài Loan

Đến cuối những năm 50 của thế kỷ trước, Đài Loan đã cơ bản thực hiện

tự cung cấp lương thực và có dư Sau khi giải quyết vấn đề lương thực, từ

Trang 24

16

năm 1963 trở đi, Đài Loan bắt đầu dồn sức phát triển công nghiệp nhẹ Điều đáng nói là lúc này, một số quan chức của chính quyền Đài Loan có dấu hiệu coi thường nông nghiệp, bởi vậy, tới năm 1969, sản xuất nông nghiệp trở nên tiêu điều, kéo theo cảnh tiêu điều trong sản xuất công nghiệp Trong hoàn cảnh này, chính quyền Đài Loan buộc phải điều chỉnh chính sách, tức chuyển

từ phương châm “nông nghiệp bồi dưỡng công nghiệp” sang “công nghiệp để bồi dưỡng nông nghiệp” Chính sách cụ thể chủ yếu là: từ năm 1974, bắt đầu thiết lập một quỹ bình chuẩn lương thực, thực hành chính sách thu mua đảm bảo giá cả đối với các nông sản phẩm như thóc, gạo ; Tăng cường đầu tư vào các hạng mục công trình công cộng nông thôn, bao gồm thủy lợi, rừng chắn gió, đường và nước máy ; Mở rộng cơ giới hóa nông nghiệp và kỹ thuật nông nghiệp tổng hợp; tăng cường nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, nhân lực và kinh phí,

Sau thập kỷ 80 của thế kỷ trước, bối cảnh chính sách nông nghiệp Đài Loan có sự thay đổi khá lớn: mức thu nhập bình quân đầu người tăng cao dẫn đến cơ cấu tiêu dùng phát sinh biến động; Ý thực bảo vệ môi trường của con người được nâng cao, khiến cho môi trường sinh thái ngày càng được coi trọng; sự phát triển của nông nghiệp quốc tế hóa và tự do hóa khiến cho nhiều mặt hàng từ nước ngoài được nhập vào Đài Loan, tạo nên sức cạnh tranh với các sản phẩm bản địa Do những thay đổi này, chính sách nông nghiệp của Đài Loan cũng có sự điều chỉnh tương ứng, từ đơn thuần coi trọng chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách thị trường, giá cả chuyển sang cùng coi trọng cả chính sách sản xuất nông nghiệp, chính sách thị trường và giá cả, chính sách môi trường nông nghiệp và chính sách xã hội nông thôn

Kinh nghiệm của Đài Loan chứng minh: Khi đất đai dành để khai khẩn

có hạn, cần thiết phải gia tăng sức lao động và đầu tư tiền bạc, để nâng cao hiệu quả sản xuất của đất đai Cùng với sự phát triển của công nghiệp, sức lao

Trang 25

17

động nông nghiệp bắt đầu có sự chuyển hướng lớn; Cùng với sự đầu tư ngày càng nhiều vào nông nghiệp, khả năng sản xuất của đất đai và lao động cũng gia tăng đáng kể, giúp cho nông nghiệp hiện đại tiếp tục phát triển

1.2.4 Những bài học rút ra từ kinh nghiệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn ở các nước đối với Việt Nam

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích và đánh giá về chiến lược, chính sách phát triển nguồn nhân lực một số nước trên thế giới, chúng tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm sau:

Thứ nhất: Thành công của một số nước có nguồn tài nguyên nghèo như

Nhật Bản, Đài Loan trong phát triển kinh tế là biết đánh giá đúng tầm quan trọng của nguồn vốn con người và biết đầu tư vào nguồn vốn này một cách có hiệu quả

Thứ hai: Mô hình đào tạo nghề tại công ty như ở Nhật Bản đã giảm nhẹ

gánh nặng cho ngân sách nhà nước, người lao động và người sử dụng lao động có ý thức tự giác hơn trong quá trình đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn Học sinh trong độ tuổi theo học PTTH tham gia mô hình đào tạo nghề ban đầu tại công ty và nhà trường, tọa cho đất nước nguồn nhân lực chất lượng cao Phương thức này hướng cho học sinh có sự lựa chọn nghề ngay từ khi đang học, tránh được tình trạng đào tạo mất phương hướng đang diễn ra ở một số nước châu Á, trong đó có Việt Nam

Thứ ba: Ở một só nước có nguồn lao động dồi dào như Trung Quốc,

Đài Loan thì nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp – nông thôn phải gắn liền với giải quyết việc làm Chính phủ các nước này đã áp dụng phương châm khuyến khích phát triển các xí nghiệp hương trấn vừa và nhỏ xây dựng

ở các vùng nông thôn Các khu công nghiệp này đã thu hút được lượng lớn nguồn lao động dư thừa trong nông nghiệp, giảm bớt căng thẳng về việc làm

và nhanh chóng có một khối lượng hàng hoá đưa ra xuất khẩu

Trang 26

18

Thứ tư: Trình độ khoa học công nghệ ở các nước Đài Loan, Nhật Bản

phát triển được có nguyên nhân từ chính sách đầu tư vào khoa học, đào tạo, thu hút chất xám từ nhiều nước phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, có chế độ công cộng nghiên cứu và phát triển được đánh giá cao trong việc chuẩn bị và phân phối nguồn vốn con người

Bên cạnh ưu điểm trên trong quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao còn xuất hiện một số nhược điểm như sau:

Một là: Nhược điểm chung của các nước châu Á là không tạo cho học

sinh, sinh viên óc phê phán, khả năng sáng tạo mà chỉ học vẹt lấy điểm cao trong thi cử Kết quả của cách học này là sản sinh ra đội ngũ lao động chỉ làm theo những chỉ dẫn mà ít có khả năng cải tiến và sáng tạo

Hai là: Hầu hết một số nước không chú ý phát triển đến chiều sâu cho

giáo dục, và coi trọng nghiên cứu khoa học cơ bản Tiến trình đổi mới giáo dục đại học diễn ra một cách chậm chạp gây tâm lý bất bình trong cả giới sinh viên và giáo viên điển hình là Ấn Độ Kinh phí dành cho các hoạt động triển khai còn quá ít, trong lĩnh vực nông nghiệp lại càng không được chú ý, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp Tình trạng thiếu nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao đang diễn ra phổ biến ở các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan và nó bộc lộ rõ những hạn chế trong quá trình hiện đại hoá Đại đa số thanh niên không muốn thi vào các trường đào tạo khoa học cơ bản và nông học vì những nhành này khó xin việc

và mức lương thấp Nhận xét về chính sách đầu tư cho giáo dục của Thái Lan, ông Michell Camdesus, Tổng Giám đốc Ngân hàng châu Á đã phê phán:

“Trong thập kỷ 80, IMF và Ngân hàng phát triển châu Á đã dành nhiều khoản

cho vay ưu tiên và viện trợ phát triển giáo dục cho Thái Lan Nhưng Thái Lan

ít khi đề xuất phát triển chiều sâu cho giáo dục, họ thường chú ý vay để xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tăng trưởng ngắn hạn và trước mắt” Tình trạng

Trang 27

19

thiếu lao động có kỹ năng là một trong những nguyên nhân khiến cho một số nước ASEAN không thể chuyển sang giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hoá, giai đoạn phát triển với kỹ thuật cao

Ba là: Giáo dục đại học ở các nước Đông Nam Á còn một khoảng

cách khá xa so với những yêu cầu cấp bách của xã hội và tiến trình đổi mới của nền giáo dục tiên tiến Mối liên hệ giữa các trường đại học ở Đông Nam

Á với cộng đồng kinh doanh và xã hội chưa đủ đem lại lợi ích cho cả hai bên Ngoài việc giảng dạy để cung cấp nguồn nhân lực, ít có trường đại học nào có khả năng sản xuất, cung cấp tri thức và công nghệ mới, giải quyết nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Từ những bài học kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của các nước, so sánh với thực tế ở Việt Nam chúng tôi nhận thấy rằng:

Cơ cấu đào tạo hiện nay của nước ta còn mất cân đối nghiêm trọng, sự không phù hợp giữa đào tạo dạy nghề với nhu cầu của thị trường lao động Lao động có trình độ phân bố không đều giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị dẫn đến tình trạng này là do các nguyên nhân sau:

- Chất lượng đào tạo đều thấp ở tất cả các cấp đào tạo Tư tưởng bao cấp trong giáo dục và đào tạo còn nặng nề Người lao động còn trông chờ vào Nhà nước, và ngân sách nhà nước để được tham gia vào chương trình giáo dục và đào tạo Bản thân người lao động chưa xác định phải tự đầu tư bao gồm cả tiền bạc và thời gian cho chính bản thân mình

- Người sử dụng lao động cũng chưa quan tâm nhiều đến đầu tư cho giáo dục và đào tạo Nhà nước cũng chưa có những quy định cụ thể về đóng góp của những người sử dụng lao động đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói chung và với các cơ sở giáo dục, đào tạo nói riêng

Trang 28

20

- Nguyên nhân sâu xa hơn là cơ chế sử dụng người lao động, cơ chế sử dụng người lao động hiện nay vừa mang tính chất cào bằng, vừa nặng nề về hình thức, bằng cấp Người có năng lực thực sự khó có điều kiện phát huy Nhận thức chưa đúng trong khi xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, chưa thấm nhuần tính đặc thù của phát triển kinh tế, xã hội nước ta, một nước nông nghiệp, nguồn nhân lực nông nghiệp, phải được đầu tư thích đáng, nhất là về đào tạo

Bài học về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các nước nhắc nhở chúng ta rằng: Muốn tăng trưởng cao và liên tục thì không thể hài lòng với những lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ mà quan trọng hơn

là phải chú ý phát triển nguồn lực con người (đây là nguồn tài nguyên vô tận,

là tiền đề tiên quyết để xây dựng nền kinh tế tri thức)

Chính sách phát triển nguồn nhân lực cần được định hướng đầu tư cho công tác giáo dục và đào tạo, quan tâm đặc biệt đến lực lượng lao động sẽ được bổ sung vào các ngành công nghiệp hiện đại, những người trực tiếp tham gia vào quá trình CNH-HĐH đất nước

1.3 Những nhận xét rút ra từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn

về nguồn nhân lực nông thôn

Qua phân tích lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực, có thể rút ra một

số nhận xét như sau:

(1) Phát triển kinh tế nông thôn: Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ để

phát triển kinh tế nông thôn như: đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tín dụng, đào tạo khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế

Phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn một cách toàn diện bằng

cách đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất cây trồng vật nuôi, đưa trang thiết bị máy móc vào trong sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH gắn với sự phát triển đa dạng các ngành nghề sử dụng, thu hút nhiều

Trang 29

21

nguồn nhân lực Phát triển nông nghiệp với một cơ cấu tiên tiến trong đó giảm

tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng chăn nuôi

(2) Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước, quản lý doanh nghiệp và người sản xuất

- Đối với đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước: Thường xuyên bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức quản lý và kỹ năng cho đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước

Xây dựng đội ngũ cán bộ hành chính có phẩm chất và năng lực tốt

- Đối với đội ngũ quản lý doanh nghiệp: Đào tạo nhân lực quản lý doanh nghiệp, tạo ra đội ngũ doanh nhân có đủ trình độ và bản lĩnh để hội nhập và cạnh tranh Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần đào tạo, đào tạo lại

và đào tạo kỹ năng quản lý doanh nghiệp, kiến thức pháp luật cùng phương cách thích ứng thị trường

- Đối với đội ngũ cán bộ kỹ thuật: Bố trí, sắp xếp cán bộ phù hợp với năng lực và chuyên môn được đào tạo

(3) Thu hút nguồn lực lao động có trình độ và tay nghề cao

- Tạo mọi điều kiện nhằm trọng dụng, thu hút nguồn lực chất xám, lao động có tay nghề, đáp ứng nhu cầu lao động có trình độ cao cho nền kinh tế, tạo động lực phát triển sản xuất kinh doanh ở các khu công nghiệp và các khu sản xuất trọng điểm nông, lâm nghiệp

- Cần thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đã cụ thể cho người lao động đồng thời đổi mới công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ trong khối kinh doanh, đặc biệt ở các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm

(4) Đào tạo nghề cho người nông dân

- Do nhu cầu sử dụng đất phục vụ phát triển công nghiệp, đất nông nghiệp thu hẹp dần, bình quân diện tích đất canh tác/đầu người thấp nên vấn

đề đào tạo nghề cho người nông dân cần được chú trọng nhằm giảm bớt lao động nông nghiệp và tăng lao động phi nông nghiệp, thúc đẩy quá trình

Trang 30

- Cần xây dựng các danh mục nghề với thời gian đào tạo thích hợp có thể đáp ứng cho các ngành công nghiệp trên địa phương để thu hút lao động tại chỗ, tạo cơ hội cho đông đảo người lao động được trang bị kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực tiếp thu công nghệ mới để tự tạo việc làm, chủ động tìm kiếm cơ hội lập nghiệp

- Cần đảm bảo tỷ lệ đào tạo trình độ lao động phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế

- Mở rộng hệ thống, loại hình đào tạo nghề, đổi mới công tác hướng nghiệp và tập trung đào tạo những nghề mà thị trường có nhu cầu như: Cơ khí, điện, điện tử, chế biến nông lâm sản, nghề phục vụ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong nước và thị trường xuất khẩu lao động

- Từng bước xây dựng và hoàn thiện các trường dạy nghề theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá; Tập trung đầu tư các trường dạy nghề chất lượng cao, trình độ cao ở các vùng trọng điểm, khu công nghiệp phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội

- Đẩy mạnh xuất khẩu lao động nhằm tạo việc làm, du nhập công nghệ

và kỷ luật lao động tiên tiến

Với chính sách đào tạo nghề cho người nông dân là điều kiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp sang một hướng khác, một phần tạo

ra lực lượng lao động nông nghiệp chất lượng cao, một phần chuyển nguồn nhân lực nông nghiệp sang công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu phù hợp với tiến trình phát triển theo quy hoạch

Trang 31

23

Phát triển, mở rộng các làng nghề truyền thống, đặc biệt là những ngành nghề góp phần tăng thu nhập cho người nông dân, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn

Trong giai đoạn tới, cần tiền hành sắp xếp, quy hoạch lại các nghề truyền thống trên cả nước, chọn ra những ngành nghề có tiềm năng cũng như thế mạnh để phát triển các làng nghề quy mô lớn

- Ưu tiên giải quyết mặt bằng phù hợp cho các loại hình sản xuất trong làng nghề gắn với các khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

- Xây dựng chiến lược sản phẩm gắn với chiến lược thị trường đảm bảo sản phẩm được tiêu thụ một cách dễ dàng

- Khôi phục các nghề đang bị mai một đồng thời du nhập một số nghề mới phù hợp và cho hiệu quả cao Chính sách phát triển làng nghề truyền thống là điều kiện giúp giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn, giúp cho người dân nông thôn nâng cao thu nhập từ đó nâng cao đời sống hình thành nguồn nhân lực với chất lượng cao

(5) Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Xây dựng quy hoạch phát triển ngành nông nghiệp để có những định hướng cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất

- Tận dụng triệt để các nguồn lực, khai thác lợi thế so sánh về khoa học,

kỹ thuật, lao động để phát triển cây trồng, vật nuôi có tỷ suất hàng hoá cao, tăng sức cạnh tranh và hướng tới xuất khẩu

- Thực hiện sử dụng đất nông nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá theo hướng ngành hàng, nhóm sản phẩm, thực hiện thâm canh hiệu quả

- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phù hợp và gắn liền với định hướng phát triển kinh tế – xã hội của cả nước

- Cán bộ lãnh đạo và cán bộ khuyến nông cần tổ chức các buổi hội thảo, các lớp tập huấn cũng như các buổi tổng kết, tham quan các điểm sản

Trang 32

24

xuất điển hình nhằm giúp người dân nâng cao trình độ sản xuất hoặc có những biện pháp khuyến khích, hỗ trợ nông dân tham gia các lớp học tập ngắn hạn về kỹ thuật và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp, công nghệ kỹ thuật mới, các giống và loại cây trồng, vật nuôi mới

(6) Giáo dục - Đào tạo

Phát huy phương pháp dạy và học ở các cấp học, bậc học và trình độ đào tạo theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, thực hiện có hiệu quả công tác khuyến học, khuyến tài Xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, nâng cao tỷ lệ trên chuẩn

Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất trường học, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình kiên cố hoá trường, lớp theo hướng chuẩn hoá

Với chủ trương chính sách phát triển giáo dục đào tạo là điều kiện thuận lợi tạo ra một đội ngũ nguồn nhân lực với trình độ học vấn cao từ đó sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực này

(7) Chăm sóc sức khoẻ nhân dân

- Xây dựng đội ngũ cán bộ y tế đủ về số lượng, giỏi về trình độ chuyên môn, đồng thời chú trọng giáo dục y đức cho đội ngũ cán bộ y tế, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị khám chữa bệnh, đẩy mạnh việc thực hiện xây dựng chuẩn quốc gia về y tế xã; nâng cấp bệnh viện tuyến huyện và các trạm xá tuyến xã để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

- Quan tâm bảo vệ, chăm sóc trẻ em: Cải thiện chất lượng dân số về thể chất và tinh thần Xây dựng gia đình theo tiêu chí: bình đẳng, ấm no, hạnh phúc bền vững, tập trung mọi nỗ lực giảm tỷ lệ sinh một cách vững chắc, hiệu quả

- Với chính sách chăm sóc sức khoẻ người dân sẽ tạo điều kiện thuận lợi tạo ra một lực lượng lao động với thể lực và trí lực dồi dào góp phần cống hiến cho việc phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương Đây là một điều kiện thuận lợi nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp và sử dụng hợp lý số lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp

Trang 33

25

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mu ̣c tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng và tiềm năng nguồn nhân lực,

đề xuất một số giải pháp để phát triển nguồn lực lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới của xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

2.2 Đối tươ ̣ng và pha ̣m vi nghiên cứu

- Đố i tượng nghiên cứu: Nguồn nhân lực nông thôn của xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa, sử dụng các tài liệu đã được công

bố về phát triển nông thôn mới Nghiên cứu Đề án xây dựng nông thôn mới

của xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội

- Thu thập số liệu sơ cấp: Điều tra, phỏng vấn một số hộ theo phiếu soạn sẵn Chọn 3 thôn, mỗi thôn 30 hộ để điều tra

Trang 35

27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Vị trí địa lý

Xã Đa Tốn nằm ở trung tâm phía Nam huyện Gia Lâm, cách trung tâm huyện 5 km, có vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp Thị trấn Trâu Quỳ và trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, phía Nam giáp xã Bát Tràng, phía Đông giáp xã Kiêu Kỵ, phía Tây giáp xã Đông Dư

Hai tuyến giao thông huyết mạch đang được thi công là tuyến đường cao tốc Hà Nội-Hải Phòng và tuyến đường Hà Nội-Hưng Yên chạy qua Đa Tốn sẽ làm cho địa phương này trở nên có vị trí rất thuận lợi về giao thông

Xã Đa Tốn tiếp giáp với làng gốm cổ Bát Tràng và gần trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nên có lợi thế lớn về thị trường tiêu thụ nông sản và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiêp

Đa Tốn có tổng diện tích tự nhiên 716,04 ha Địa hình xã Đa Tốn thuộc khá bằng phẳng, thuận lợi phát triển nông nghiệp đa dạng với các sản phẩm

có giá trị kinh tế cao như thóc nếp đặc sản, lợn nạc, thủy sản, cây gia vị, rau

an toàn, hoa và cây cảnh

3.1.2 Khí hậu, thời tiết

Xã Đa Tốn mang các đặc điểm khí hậu vùng châu thổ sông Hồng:

+ Một năm chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

+ Nhiệt độ bình quân năm 23,4oC, nhiệt độ trung bình hàng tháng cao nhất là 28,8oC (tháng 7), thấp nhất là 16,2oC (tháng 1)

+ Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1600-1700mm, nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm Mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 8 với 75% tổng lượng mưa, những tháng còn lại ít mưa (chỉ chiếm

Trang 36

28

khoảng 25% tổng lượng mưa), đặc biệt là các tháng 11 và tháng 12 lượng mưa thấp

+ Số giờ nắng trung bình/năm là 1.832,9 giờ (trung bình 5,1 giờ/ngày)

Số giờ nắng cao nhất là tháng 7 với 265 giờ, tháng ít nhất là tháng 3 với số giờ nắng từ 70 đến 90 giờ

+ Hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc (vào mùa khô hanh) và gió mùa Đông Nam vào mùa nóng ẩm

3.1.3 Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất: Đa Tốn có tổng diện tích tự nhiên 716,04ha Đất đai

của xã chủ yếu là đất phù sa không được bồi hàng năm của hệ thống sông Hồng Loại đất này có thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình, thịt nhẹ Đất không chua, lân tổng số và lân dễ tiêu nghèo, kali tổng số và kali dễ tiêu cao Các chất dinh dưỡng khác tương đối khá, thuận lợi cho phát triển nhiều loại cây trồng, nhất là trồng cây hàng năm, có khả năng thâm canh cao, tăng

hệ số sử dụng đất

Tài nguyên nước: Nguồn nước mặt tương đối dồi dào, gồm nước trong

các ao hồ và nước sông Tuy nhiên, nước mặt đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm do nước thải sản xuất và nước thải sinh hoạt chưa được xử lý tốt Về nguồn nước ngầm: Do ở gần sông Hồng nên nước ngầm ở xã Đa Tốn thuộc loại nước mạch nông, nước ngầm ở Đa Tốn thuộc loại từ mềm đến rất mềm nhưng hàm lượng sắt trong nước khá cao, cần phải xử lý trước khi sử dụng

Thảm thực vật: Hệ thống cây trồng phong phú đa dạng, bao gồm các

cây hàng năm như lúa, ngô, rau, cây ăn quả, hoa, cây cảnh Hệ thống cây xanh trong các khu dân cư chiếm tỷ lệ trung bình Để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững trong tương lai cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu sản xuất để

phát triển mạnh sản xuất hàng hóa và chú trọng bảo vệ môi trường

Cảnh quan và môi trường: Đa Tốn có nhiều di tích lịch sử văn hóa đã

được xếp hạng Các công trình đình chùa mang đậm nét văn hóa của làng quê Việt Nam Hàng năm, ở các thôn đều tổ chức các lễ hội văn hóa sinh động

Trang 37

29

3.1.4 Dân số, lao động

Năm 2010, dân số toàn xã có 12.722 người, tốc độ tăng tự nhiên 1,3%/năm Người dân Đa Tốn cư trú tại 5 thôn Toàn xã có 2.851 hộ gia đình, gồm 2.037 hộ nông nghiệp; 814 hộ phi nông nghiệp

Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 5.460 người, trong đó: Nông nghiệp 3.646 người (66,78%); CN-TTCN có 1.391 người (25,48%); Thương mại, dịch vụ, du lịch có 423 người (7,75%) Tỷ lệ lao động thiếu việc làm là 7,3%

Lao động đã qua đào tạo là 3.309 bằng 60,6% tổng số lao động trong

xã, đã đạt tiêu chí nông thôn mới về tỷ lệ lao động được đào tạo

Người dân Đa Tốn cần cù, chịu khó trong sản xuất, tuy nhiên, xu hướng lao động trẻ, nhất là các lao động nam có sức khỏe thoát ly nông thôn đi tìm kiếm việc làm ở các đô thị, khu công nghiệp ngày càng tăng Lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động già và lao động nữ, trình độ chuyên môn kỹ thuật có hạn nên hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất bị hạn chế

3.1.5 Cơ sở hạ tầng

Giao thông

Toàn xã có 61,1km đường giao thông, đã cứng hóa được 26,2km (42,9%) nhưng chỉ có 14,9 km còn tốt, 18,6km xuống cấp và 34,3km là đường đất Cụ thể:

- Đường trục xã, liên xã có tổng chiều dài 5km, đã bê tông hóa 100% nhưng toàn bộ đã bị xuống cấp cần được cải tạo

- Đường trục thôn, liên thôn có tổng chiều dài 5,2km, đã bê tông hóa 1,5km (29,2%) nhưng chỉ có 0,2km còn tốt (3,2%), có 1,3km đã bị xuống cấp (25,9%) và còn 3,7km đường đất (70,9%) cần được bê tông hóa

- Đường làng, ngõ xóm có tổng chiều dài 27,7km, đã cứng hóa được 19,2km (69,1%) nhưng chỉ còn 14,2km còn tốt (51,1%), có 4,9 km đã xuống cấp (17,9%) và 8,6km là đường đất, đường cấp phối

Trang 38

30

+ Các công trình liên quan đến các tuyến giao thông gồm có: Hệ thống rãnh thoát nước liên quan đến các trục đường hiện có 13,7km, đã kiên cố hóa được 3,2km nhưng toàn bộ đã bị xuống cấp Hệ thống cầu cống có cầu Lê Xá, cầu Ngọc Động cần làm lại và 01 cống qua đường qua đường liên xã (cống Bạc Hà) đã xuống cấp cần được đầu tư nâng cấp Trong hệ thống giao thông nông thôn trên đây có 8,0km giáp ao hồ, sông ngòi có nguy cơ bị sạt lở, cần được đầu tư xây dựng hệ thống kè

+ Đường trục chính nội đồng có tổng chiều dài 23,1km, mới cứng hóa được 0,5km (2,4%), toàn bộ còn tốt 22,6km là đường đất (97,8%), không đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng hóa

+ Kênh mương

Hệ thống kênh mương do xã quản lý có 22,1km nhưng mới chỉ kiên cố hóa được 4km (18,1%), trong đó có 3,6 km còn tốt, 0,4km đã xuống cấp còn lại 18,1km là mương đất Trong 18,1 km mương đất đã có 1,1km được lập dự

án đầu tư, do vậy đề án nông thôn mới cần tiếp tục kiên cố hóa 17,7km kênh mương trong đó có 17,0km mương đất hiện có, làm thêm 0,3 km kênh mới và nâng cấp 0,4km kênh xây xuống cấp

Cánh đồng giáp xã Bát Tràng đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nước thải

từ Cụm làng nghề Bát Tràng nhưng đã có dự án cải tạo hệ thống thoát nước cho Cụm sản xuất làng nghề tập trung xã Bát Tràng và cánh đồng thôn Khoan

Tế chuẩn bị đầu tư với kinh phí 2.776 triệu đồng

+ Trạm bơm

Xã đang quản lý 5 trạm bơm tưới có tổng công suất 72.500m3/h nhưng

đã toàn bộ các trạm bị xuống cấp, trong đó trạm bơm Lê Xá cần được chuyển

vị trí và thay thế toàn bộ máy móc mới đảm bảo tưới tiêu chủ động cho 100% diện tích

Trang 39

đã xuống cấp Để đảm bảo cung cấp đủ điện cho sản xuất và sinh hoạt cần phải tiếp tục làm thêm 1,5km đường dây hạ thế

Xã có 11 trạm biến áp với tổng dung lượng 3.630 KVA nhưng đã có 1 trạm xuống cấp cần được cải tạo và cần lắp đặt thêm 3 trạm biến áp mới với tổng dung lượng 1.200 KVA

Hệ thống điện chiếu sáng công cộng ở các cụm dân cư chưa có

+ Trường trung học cơ sở

Xã có 1 trường THCS, tổng diện tích khuôn viên 22.039 m2 Trường có

14 phòng học, các phòng còn tốt Trường THCS Đa Tốn cũng đã có dự án đầu tư nâng cấp với tổng kinh phí 3.000 triệu đồng

Trạm y tế

Xã có 1 trạm y tế xã, diện tích khuôn viên 2.123m2, gồm 11 phòng chức năng, phòng bệnh nhưng tất cả đều đã xuống cấp và chưa đạt chuẩn

Trang 40

32

Trạm y tế xã cần được xây dựng lại toàn bộ và mua sắm thêm các trang thiết

bị cho các phòng chức năng, phòng bệnh

Nhà văn hóa, khu thể thao thôn

Cả 5 thôn thuộc xã Đa Tốn đều đã có nhà văn hóa thôn Các thôn đều

có khu thể thao thôn nhưng tất cả các công trình khu thể thao thôn đều chưa đạt chuẩn, trang thiết bị các nhà văn hóa thôn hiện tại còn thiếu, không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần của nhân dân

3.1.6 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong 5 năm qua, kinh tế xã Đa Tốn có phát triển khá Thu nhập trên địa bàn năm 2005 đạt 91,362 tỷ đồng tỷ đồng (Nông nghiệp 41,132 tỷ đồng, CN-TTCN-XD 25,5 tỷ đồng, Thương mại-Dịch vụ 25 tỷ đồng) Năm 2009 tổng thu nhập đạt 142,132 tỷ đồng (Nông nghiệp 55,132 tỷ đồng; CN-TTCN-

XD 41 tỷ đồng; Thương mại-Dịch vụ đạt 46 tỷ đồng)

Ngày đăng: 29/08/2017, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ NN&PTNT ban hành Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009, hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009
2. Chương trình 02/CTr-TU ngày 31/10/2008 của Thành uỷ Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26/NQ-TW
3. Đặng Vũ Chư và Ngô Văn Quế (1995), Phát huy nguồn nhân lực – yếu tố con người trong sản xuất kinh doanh, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn nhân lực – yếu tố con người trong sản xuất kinh doanh
Tác giả: Đặng Vũ Chư và Ngô Văn Quế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
4. David Cherrington (1995), Quản lý nguồn nhân lực, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nguồn nhân lực
Tác giả: David Cherrington
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 1995
5. PGS.TS Trần Kim Dung, Quản trị nguồn nhân lực, NXB Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh
6. Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (1995), Giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tác giả: Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1995
7. Huy Hương, Giáo trình quản trị nguồn nhân lực, NXB Giao thông vận tải Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Giao thông vận tải
8. Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
14. Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa, Giáo trình Đào tạo cán bộ quản lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đào tạo cán bộ "quản" lý kinh tế vĩ mô ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
15. Nguyễn Thanh, Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
16. Phạm Đức Thành, Giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, NXB Giáo dục (1995) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị nhân lực
Nhà XB: NXB Giáo dục (1995)
19. Vũ Bá Thể, Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa - hiện đại hóa, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa - hiện đại hóa, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam
Nhà XB: NXB Lao động
9. Nguyễn Quang Hiển, Thị trường lao động, thực trạng và giải pháp, NXB Thống kê Khác
10. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 Hội nghị lần thứ VII BCHTWW Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
12. Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lân thứ 9 (4/2001) và lần thứ 10 (4/2006), NXB Chính trị Quốc gia Khác
17. Thủ tướng Chính phủ ban hành, Quyết định số 1956/QĐ-TTg về đào tạo nghề Khác
18. Thủ tướng Chính phủ ban hành, Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
20. Nguyễn Phú Trọng và Trần Xuân Sầm, Luận cứ khoa học và việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w