ĐẶT VẤN ĐỀ Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận hay nói cách khác là tối đa hoá giá tr
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng kết quả của đề tài tôi thực hiện là của riêng cá nhân tôi chưa từng để sử dụng bảo vệ một học vị, hay một nghiên cứu nào
Trong luận văn tôi có sử dụng các thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau của cá nhân và tập thể, thông tin đều được ghi trích dẫn nêu rõ nguồn gốc và xuất xứ
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Bá Sơn
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến các thầy giáo, cô giáo và cán bộ Phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Lâm Nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ công nhân viên của Công ty cổ phần XNK y tế Việt Nam, cùng toàn thể các bạn bè đồng nghiệp đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quang Hà người Thầy tận tình hướng dẫn, giúp đỡ trực tiếp tôi về phương pháp nghiên cứu cũng như chuyên môn trong suốt thời gian tiến hành thực hiện đề tài
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình tôi luôn tạo điều kiện, động viên tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Phạm Bá Sơn
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
ĐẶT VẤN ĐỀ viii
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 4
1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.2 Nguồn tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp 11
1.2 Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp 21
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 21
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp 21
1.2.3 Chi phí sử dụng vốn của các nguồn tài trợ và chi phí sử dụng vốn bình quân 25
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng dến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp 34
1.3.1 Những nhân tố khách quan 34
1.3.2 Những nhân tố chủ quan 35
Trang 41.4 Đặc điểm của vốn lưu động trong các doanh nghiệp thương mại 37
1.4.1 Đặc trưng của kinh doanh thương mại 37
1.4.2 Cơ cấu vốn và quản lý vốn trong các DNTM 37
1.5 Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan 38
1.5.1 Luận văn thạc sỹ kinh tế “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây lắp Bưu Điện” – Tác giả : Trần Lệ Phương 38
1.5.2 Luận văn thạc sỹ kinh tế “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty cổ phần phân lân Ninh Bình” – Tác giả : Nguyễn Thị Tâm 39
1.5.3 Nâng cao hiệu quả quản lý vốn lưu động tại các doanh nghiệp, tác giả TS.Hoàng Thị Thu, Nguyễn Hải Hạnh – Trường đại học kinh tế và quản trị kinh doanh (Đại học Thái Nguyên), bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 10-2012 39
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XNK Y TẾ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần xnk y tế Việt Nam 41
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển Công ty 41
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức Công ty 41
2.1.3 Đặc điểm hoạt động KD của công ty 44
2.2.Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 52
2.2.2 Phương pháp phân tích 53
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
3.1 Thực trạng SX kinh doanh của Công ty 55
3.2 Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động Công ty những năm qua 57
Trang 53.2.1.Khái quát về cơ cấu tài sản ngắn hạn và nguồn vốn của Công ty 57
3.2.2.Hiệu quả sử dụng vốn lưu động 64
3.2.3 Chi phí sử dụng vốn tại Công ty 75
3.3.Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty 78
3.3.1 Những thành công 78
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 80
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần XNK y tế Việt Nam 83
3.4.1 Chiến lược phát triển và quan điểm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty 83
3.4.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động 86 KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1 Kết quả kinh doanh thời kỳ 2006 đến 2013 55 3.2 Doanh thu và lợi nhuận các năm 2011, 2012,2013 56
3.5 Cơ cấu tài sản – nguồn vốn năm 2011,2012,2013 61 3.6 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của Công ty (2011-2013) 65 3.7 Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân (2011 - 2013) 68 3.8 Vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho 71
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
3.1 Biểu đồ phản ánh doanh thu từ năm 2006 đến 2007 của Công ty 55 3.2 Biểu đồ phản ánh lợi nhuận từ năm 2006 đến 2007 của Công ty 56
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Mục tiêu đầu tiên và cũng là mục tiêu cuối cùng của một doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận hay nói cách khác là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm các biện pháp nhằm khai thác và sử dụng một cách triệt để những nguồn lực bên trong và ngoài doanh nghiệp
Chính vì vậy vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn phải được doanh nghiệp đặt lên hàng đầu , đó là mục tiêu trung gian tất yếu để đạt được mục tiêu cuối cùng bởi vốn có vai trò mang tính quyết định đối với quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác ,sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi tối đa với chi phí thấp nhất
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung, đặc biệt là trong cơ chế hiện nay
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo được tính an toàn về tài chính cho doanh nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Qua đó các doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục cũmg như giảm bớt được những rủi
ro trong kinh doanh
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Để đáp ứng các yêu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hoá mẫu m• sản phẩm…doanh nghiệp phải có vốn, trong khi
đó vốn của doanh nghiệp chỉ có hạn vì vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết
Trang 10Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín sản phẩm trên thị trường, nâng cao mức sống của người lao động … Vì khi hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận thì doanh nghiệp
có thể mở rộng quy mô sản xuất, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động và mức sống của người lao động cũng ngày càng được cải thiện Điều
đó giúp cho năng suất lao động của doanh nghiệp ngày càng nâng cao, tạo sự phát triển cho doanh nghiệp và các ngành liên quan Đồng thời nó cũng làm tăng các khoản đóng góp cho ngân sách Nhà nước
Xất phát từ tầm quan trọng của vấn đề này, tôi đã lựa chọn nghiên cứu
đề tài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần XNK y tế Việt Nam ” với mong muốn tìm hiểu, tổng hợp các kiến thức
đã học và phân tích thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty
Cổ phần XNK y tế Việt nam, trên cơ sở đó đưa ra môt số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty
1.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá thực trạng và hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần XNK y tế Việt Nam
Trang 11- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty CP XNK y tế Việt Nam
2.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quá trình chu chuyển vốn lưu động tại Công ty CP XNK y tế Việt Nam
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
3.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty Cổ phần XNk y tế Việt Nam, trong đó đi sâu phân tích quá trình luân chuyển vốn lưu động và những đặc thù của doanh nghiệp ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty trong 3 năm từ 2011 đến 2013
3.3.Những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công
ty CP XNK y tế Việt Nam
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VỐN KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm và phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.1 Vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Theo luật DN 2005 quy định: Doanh nghiệp (DN) là một tổ chức kinh
tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký KD theo quy định của phá luật nhằm mục đích thực hiện hoạt động SXKD
Tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động là ba yếu tố không thể thiếu của một quá trình sản xuất kinh doanh, để có được các yếu tố đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có một số vốn nhất định, vốn là điều kiện tiên quyết và
có ý nghĩa quyết định tới mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh
Theo quan điểm của Mark – nhìn nhận dưới giác độ của các yếu tố SX thì Mark cho rằng: “Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”
Còn Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn
và hàng hoá vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền được SX ra và được sử dụng như các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó
Một số hàng hoá vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hoá vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất
Trang 13Trong cuốn “Kinh tế học”, David Begg cho rằng: “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính” Như vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp trong đó:
- Vốn hiện vật: Là các hàng hoá vật tư dự trữ sử dụng để sản xuất ra các hàng hoá khác
- Vốn tài chính: Là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp
Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhưng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều được thực hiện liên tục qua 3 khâu: Dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông Do đó, vốn kinh doanh của doanh nghiệp cũng vận động không ngừng, tạo ra sự tuần hoàn và lưu chuyển vốn
Sự vận động của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp có thể khái quát thành:
T H (SLĐ, TLSX) SX H’ T’
Sơ đồ trên cho thấy sự vận động của vốn bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hóa (H) (cụ thể là tư liệu sản xuất và sức lao động) khi doanh nghiệp mua sắm các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, qua quá trình sản xuất giá trị tư liệu lao động, sức lao động sẽ được chuyển dần vào giá trị sản phẩm và vốn trở lại hình thái hàng hóa Khi kết thúc việc tiêu thụ sản phẩm vốn trở lại hình thái tiền tệ nhưng với giá trị lớn hơn Để có các yếu
tố đầu vào (sức lao động, tư liệu sản xuất) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền ứng trước này gọi
là vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Tư các phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa tổng quát về vốn kinh doanh:
“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”
Trang 14Trong nền kinh tế thị trường, các quy luật kinh tế được phát huy một cách đầy đủ, do vậy hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động chịu sự tác động của các quy luật kinh tế này: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh Dưới tác động của các quy luật kinh tế thị trường, doanh nghiệp nào nhận thức nhanh nhạy, thực hiện đúng yêu cầu của quy luật kinh
tế sẽ thành công trong kinh doanh và ngược lại, doanh nghiệp nào thực hiện trái các quy luật này, tất yếu sẽ bị đào thải
Tiến bộ khoa học đang diễn ra với tốc độ rất nhanh, đây vừa là cơ hội vừa là nguy cơ đối với doanh nghiệp Đó là thời cơ nếu doanh nghiệp có đủ vốn, đủ trình độ thay đổi máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ hiện đại, phù hợp nhằm nâng cao năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm Ngược lại, sẽ là nguy cơ đối nếu doanh nghiệp không đủ vốn để đầu tư, không theo kịp tốc độ phát triển của khoa học công nghệ dẫn đến sản phẩm sản xuất
ra không đáp ứng được nhu cầu của thị trường tất yếu sẽ dẫn đến thua lỗ thậm chí phá sản trong kinh doanh
Như vậy, kinh tế thị trường với những đặc trưng riêng có, buộc các doanh nghiệp phải đi tìm lời giải cho bài toán về hiệu quả sử dụng vốn cho chính bản thân mình
1.1.1.2 Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành hai bộ phận: Vốn cố định và Vốn lưu động
- Vốn cố định : là số vốn doanh nghiệp ứng ra để hình thành nên tài sản cố định
Theo quy định của nhà nước, một tài sản được ghi nhận là TSCĐ khi đạt được 2 tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên,
Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị lớn, mức giá cụ thể được chính phủ quy định phù hợp với tình hình kinh tế trong từng thời kỳ (Theo thông tư
Trang 1545/2013/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 25/4/2013 thì TSCĐ phải có giá trị thừ 30 triệu đồng trở lên)
Vốn cố định biểu hiện dưới hai hình thái:
Hình thái hiện vật: Đó là toàn bộ tài sản cố định dùng trong kinh doanh của các doanh nghiệp Nó bao gồm nhà cửa, máy móc, thiết bị, công cụ
Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ giá trị tài sản cố định chưa khấu hao
và vốn khấu hao khi chưa được sử dụng để SX TSCĐ, là bộ phận vốn cố định
đã hoàn thành vòng luân chuyển và trở về hình thái tiền tệ ban đầu
Là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng các TSCĐ nên trong các doanh nghiệp, vốn cố định giữ một vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất Nó quyết định đổi mới kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất, quyết định việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, quyết định việc sử dụng các thành tựu công nghệ mới, là nhân tố quan trọng đảm bảo tái sản xuất mở rộng và việc không ngừng nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên Mặt khác, đặc điểm kinh tế của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của vốn cố định Sự chu chuyển này của vốn cố định chịu sự chi phối rất lớn bởi đặc điểm kỹ thuật của TSCĐ Có thể khái quát những nét đặc thù về sự chu chuyển của vốn cố định trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
Một là, trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, vốn cố định chuyển giá trị dần dần từng phần và thu hồi giá trị từng phần sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Hai là, vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh mới hoàn thành một vòng chu chuyển Khi tham gia các chu kỳ sản xuất, TSCĐ bị hao mòn, giá trị của tài sản chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm Vốn cố định được tách thành 2 bộ phận:
Bộ phận thứ nhất tương ứng với giá trị hao mòn của TSCĐ được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khấu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ
Trang 16 Bộ phận thứ hai của vốn cố định được “cố định” trong TSCĐ Trong các chu kỳ SX tiếp theo, nếu như phần vốn luân chuyển được dần dần tăng lên thì phần vốn “ cố định” lại dần dần giảm đi tương ứng với mức giảm dần giá tri
sử dụng của TSCĐ Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc TSCĐ khấu hao hết giá trị và vốn cố định hoàn thành được một vòng chu chuyển
Ba là, vốn cố định chỉ hoàn thành được một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được TSCĐ về mặt giá trị- tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao TSCĐ
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận vốn quan trọng chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn SXKD nói chung Quy mô của vốn cố định, trình độ quản lý và sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng tới trình độ trang bị kỹ thuật của hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ những đặc điểm trên của vốn cố định và do đặc điểm vận động của vốn cố định tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp Tài sản cố định trong doanh nghiệp được phân loại như sau :
Dựa vào hình thái biểu hiện, TSCĐ của DN được chia làm 2 loại
o TSCĐ hữu hình
o TSCĐ vô hình
Dựa vào mục đích sử dụng, TSCĐ được chia thành:
o TSCĐ dùng cho hoạt động KD
o TSCĐ dùng cho hoạt động phúc lợi, sự nghiệp
Dựa vào công dụng kinh tế, TSCĐ được chia thành:
Trang 17 Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng:
là bộ phận của vốn nhằm tài trợ cho các yếu tố sản xuất ngoại trừ TSCĐ
Nếu chia qua trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra từng chu kỳ sản xuất chúng ta có thể mô tả theo mô hình sau:
Khâu dự trữ Khâu SX Khâu lưu thông
Vốn lưu động nằm trong khâu dự trữ : là Vốn lưu động được dùng để mua sắm các đối tượng lao động như nguyên nhiên liệu, phụ tùng thay thế
Ở giai đoạn này vốn đã thay đổi từ hình thái tiền tệ sang vật tư
Vốn lưu động ở khâu sản xuất: là quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất
để chế tạo ra sản phẩm Khi quá trình sản xuất chưa hoàn thành, Vốn lưu động biểu hiện ở các sản phẩm dở dang hoặc bán thành phẩm và khi kết thúc quá trình sản xuất vốn biểu hiện ở số thành phẩm của doanh nghiệp
Vốn lưu động nằm trong quá trình lưu thông: lúc này hình thái hàng hoá được chuyển thành hình thái tiền tệ
1.1.1.3 Vốn lưu động và phân loại vốn lưu động của doanh nghiệp
Vốn lưu động là biểu hiện băng tiền của giá trị tài sản lưu động (hay tài sản ngắn hạn)
Trang 18Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu của tài sản lưu động cũng khác nhau Tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thì tài sản lưu động thường được cấu tạo bởi 2 thành phần là tài sản lưu động SX
và tài sản lưu thông:
Tài sản lưu động sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, và tài sản ở khâu sản xuất như sản phẩm dở dang đang chế tạo, bán thành phẩm tự chế, chi phí đợi phân bổ
Tài sản lưu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hoá chờ tiêu thụ ( hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu
Trong quá trình SX, bộ phận giá trị sức lao động biểu hiện dưới hình thức tiền lương của người lao động được tái hiện trong giá trị mới của sản phẩm, còn giá trị nguyên, nhiên vật liệu được chuyển toàn hình thành thành giá trị sản phẩm trong chu kỳ SXKD đó
Vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặc trưng cơ bản sau:
Vốn lưu động tham gia vào một chu kỳ SXKD, luôn thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn bằng tiền chuyển sang hình thái vốn sản xuất như vật tư, hàng hóa và khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm, vốn lưu động lại trở về hình thái ban đầu là vốn tiền tệ Sự vận động của vốn lưu động từ hình thái ban đầu qua các hình thái khác đến khi trở về hình thái ban đầu được gọi là sự tuần hoàn của vốn lưu động Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, các chu kỳ sản xuất là nối tiếp và xen kẽ chư không phải là độc lập và rời rạc Trong khi một bộ phận của vốn lưu động được chuyển hoá thành vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang thì một bộ phận khác của vốn lại chuyển từ sản phẩm hàng hoá sang vốn tiền tệ
Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh
Trang 19 Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh
1.1.2 Nguồn tài trợ vốn lưu động của doanh nghiệp
1.1.2.1 Các mô hình tài trợ vốn lưu động
Để đảm bảo trong quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên,liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh nhất định, thường xuyên phải có một tài sản lưu động nhất định nằm trong các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản hẩm đang chế tạo, bán thành phẩm và thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng Những tài sản lưu động này gọi là tài sản lưu động thường xuyên
Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không phải lúc nào cũng được tiến hành một cách bình thường, mà có những lúc xuất hiện những
sự cố biến đổi làm nảy sinh nhu cầu vốn lưu động để trang trải Lượng tài sản lưu động biến động tăng trên mức bình thường ứng với quy mô nhất định gọi
là tài sản lưu động tạm thời Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hình thành bộ phận tài sản lưu động có tính chất tạm thời, các nguyên nhân chính có thểlà:
- Dự kiến giá cảnguyên vật liệu, vật tư tăng hoặc có những chuyến hàng chở vậttư về đến doanh nghiệp ngoài kế hoạch., làm vật tư dự trữ tăng lên đột biến nên cần các nguồn vốn lưu động tạm thời đểtrang trải
- Sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp tăng lên đột biến, do nhiều thuận lợi trong việc bán hàng làm hàng tồn kho tăng lên
* Mô hình tài trợ thứ nhất : Tài trợ vốn lưu động thường xuyên bằng nguồn vốn dài hạn và vốn lưu động tạm thời bằng nguồn vốn ngắn hạn
Ưu điểm: Xác lập sự cân bằng về thời gian sử dụng vốn và nguồn vốn, do
đó hạn chế phát sinh thêm chi phí sử dụng vốn hoặc các rủi ro trong thanh toán
Nhược điểm: Không tạo ra sự linh hoạt trong tổ chức nguồn vốn của
DN
Trang 20Nhìn chung, mô hình này không thích hợp với những doanh nghiệp
mà tính ổn định của quy mô kinh doanh là thấp (khi quy mô kinh doanh giảm nhưng doanh nghiệp vẫn phải duy trì lượng vốn lưu động thường xuyên khá lớn dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao
*Mô hình tài trợ thứ hai : Tài trợ vốn lưu động thường xuyên và một phần vốn lưu động tạm thời bằng nguồn vốn dài hạn, phần vốn lưu động tạm thời còn lại được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn
+ Ưu điểm: Doanh nghiệp chủ động đáp ứng hầu hết nhu cầu vốn lưu động của mình bằng nguồn vốn dài hạn, kể cả nhu cầu thường xuyên và nhu cầu tạm thời dẫn đến đảm bảo khả năng thanh toán và mức độ an toàn về tài chính là cao trong doanh nghiệp, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh diễn
ra liên tục, ổn định
+ Nhược điểm: Chi phí sử dụng vốn cao do lãi suất vay dài hạn thường cao hơn lãi suất vay ngắn hạn Mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn không cao, vì luôn có một bộ phận vốn nhàn rỗi không được sử dụng đến
*Mô hình tài trợ thứ ba : Tài trợ một phần VLĐ thường xuyên và VLĐ tạm thời bằng nguồn vốn ngắn hạn
+ Ưu điểm: Tiết kiệm chi phí sử dụng vốn - chi phí sử dụng vốn thấp hơn
so với 2 mô hình trên; tăng tính linh hoạt trong việc tài trợ các nhu cầu VLĐ
+ Nhược điểm: Khả năng rủi ro cao hơn so với 2 mô hình trên, do sự không phù hợp về thời gian giữa nhu cầu vốn và nguồn tài trợ - nhất là khi mức tài trợ thấp hơn so với nhu cầu VLĐ
Trong điều kiện môi trường kinh doanh có nhiều rủi ro, vì vậy các nhà quản trị DN cần xem xét, cân nhắc 2 yếu tố: mức độ rủi ro và chi phí tài trợ để đưa ra quyết định lựa chọn mô hình tài trợ phù hợp - quyết định quy mô nguồn vốn ngắn hạn trong việc tài trợ nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp
Trang 211.1.2.2 Nguồn tài trợ vốn lưu động
Có thể dung nguồn tài trợ dài hạn hoặc ngắn hạn để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp
a> Nguồn tài trợ dài hạn của doanh nghiệp
- Cổ phiếu thường : cổ phiếu thường là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần thường của
tổ chức phát hành
Đây là loại chứng khoán vốn, tức là công ty huy động vốn chủ sở hữu, cổ
phiếu thường không có thời gian đáo hạn hoàn trả vốn gốc Những lợi thế khi
huy động vốn bằng phát hành cổ phiếu thường mới ra công chúng
+ Làm tăng vốn đầu tư dài hạn nhưng công ty không có nghĩa vụ bắt buộc phải trả lợi tức cố định như sử dụng vốn vay, dẫn đến giảm bớt nguy cơ phải tổ chức lại hoặc phá sản công ty
+ Cổ phiếu thường không quy định mức cổ tức cố định, mà nó phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, dẫn đến công ty không có nghĩa vụ pháp lý phải trả lợi tức cố định, đúng hạn
+ Cổ phiếu thường không có thời gian đáo hạn vốn, nên công ty không phải hoàn trả vốn gốc theo kỳ hạn cố định, điều này giúp công ty chủ động sử dụng vốn linh hoạt trong kinh doanh không phải lo “gánh nặng” nợ nần
+ Làm tăng hệ số vốn chủ sở hữu, tăng tỷ lệ đảm bảo nợ của công ty, tăng thêm khả năng vay nợ và tăng mức độ tín nhiệm, giảm rủi ro tài chính
+ Trong một số trường hợp, chẳng hạn khi công ty làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao, cổ phiếu thường dễ bán hơn so với cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu nên nhanh chóng hoàn thành đợt phát hành huy động vốn
- Cổ phiếu ưu đãi : Cổ phiếu ưu đãi là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức
Trang 22phát hành và đồng thời nó cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu đãi hơn so với cổ đông thường
Cổ phiếu ưu đãi có nhíều loại, tuy nhiên loại cổ phiếu ưu đãi thường được các công ty ở nhiều nước sử dụng là loại cổ phiếu ưu đãi cổ tức Loại cổ phiếu ưu đãi này có nhũng đặc trưng chủ yếu sau:
+ Được quyền ưu tiên về cổ tức và thanh toán khi thanh lý công ty Chủ
sở hữu cổ phiếu đãi được hưởng một khoản lợi tức cố định, được xác định trước không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty Mặt khác, cổ đông
ưu đãi được nhận cổ tức trước cổ đông thường Ngoài ra, khi công ty bị giải thể hay thanh lý thì cổ đông ưu đãi được ưu tiên thanh toán giá trị cổ phiếu của họ trước các cổ đông thường
+ Sự tích luỹ cổ tức: Khi công ty gặp khó khăn trong kinh doanh, thì có thể hoãn trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi Số cổ tức đó được tích luỹ lại và chuyển sang kỳ tiếp theo
+ Không được hưởng quyền bỏ phiếu: Cổ đông ưu đãi thường không có quyền bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị và quyết định các vấn đề quan trọng trong quản lý công ty
+ Cổ phiếu ưu đãi là chứng khoán vốn, xác nhận quyền sở hữu một phần công ty cổ phần của nhà đầu tư
- Trái phiếu doanh nghiệp : Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành
Người sở hữu trái phiếu là chủ nợ của doanh nghiệp, doanh nghiệp phát hành trái phiếu là người đi vay, người mua trái phiếu doanh nghiệp chính
là người cho doanh nghiệp vay vốn, là chủ nợ của doanh nghiệp (hay còn gọi
là trái chủ)
Trang 23Chủ sở hữu trái phiếu không có quyền tham gia quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phát hành trái phiếu Trái chủ không
có quyền ứng cử, bầu cử vào Hội đồng quản trị, cũng như không được quyền
bỏ phiếu, biểu quyết
Trái phiếu có kỳ hạn nhất định: Trái phiếu có thời gian đáo hạn, khi đến hạn, doanh nghiệp phát hành trái phiếu có trách nhiệm hoàn trả cho trái chủ toàn bộ số vốn gốc ban đầu
Trái phiếu có lợi tức cố định: Nhìn chung lợi tức trái phiếu được xác định trước, không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp hàng năm
Lợi tức trái phiếu được trừ ra khi xác định thu nhập chịu thuế của DN Nghĩa là theo luật thuế thu nhập, tiền lãi là một yếu tố chi phí tài chính
Các loại trái phiếu DN:
+ Dựa vào hình thức trái phiếu, chia ra: trái phiếu ghi danh và trái phiếu
Những lợi thế khi huy động vốn bằng phát hành trái phiếu :
+ Lợi tức trái phiếu được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNDN, đem lại khoản lợi thuế và giảm chi phí sử dụng vốn vay
+ Lợi tức trái phiếu được giới hạn (cố định) ở mức độ nhất định: Lợi tức trái phiếu được xác định trước và cố định Trong điều kiện DN làm ăn có
Trang 24lãi, thì việc sử dụng trái phiếu để huy động thêm vốn vay sẽ nâng cao tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu mà không phải chia sẻ quyền phân chia thu nhập cao cho trái chủ
+ Chủ sở hữu DN không bị chia sẻ quyền quản lý và kiểm soát DN cho các trái chủ
+ Chi phí phát hành trái phiếu thấp hơn so với cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Do trái phiếu hấp dẫn công chúng ở mức rủi ro thấp hơn cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
+ Giúp DN chủ động điều chỉnh cơ cấu VKD một cách linh hoạt, đảm bảo việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả
Những hạn chế khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu :
+ Buộc phải trả lợi tức cố định đúng hạn: Điều này có thể gây căng thẳng về mặt tài chính và dễ dẫn tới nguy cơ rủi ro tài chính trong trường hợp doanh thu và lợi nhuận của DN không ổn định
+ Làm tăng hệ số nợ của DN: Điều này có thể nâng cao doanh lợi vốn chủ sở hữu khi doanh nghiệp làm ăn có lãi; mặt khác, lại làm tăng nguy cơ rủi
ro do gánh nặng nợ nần lớn
+ Phát hành trái phiếu là sử dụng nợ vay có kì hạn Điều này buộc doanh nghiệp phải lo việc hoàn trả tiền vay nợ gốc đúng hạn Nếu doanh nghiệp có doanh thu và lợi nhuận dao động thất thường, việc sử dụng trái phiếu để tài trợ tăng vốn dài hạn dễ đưa doanh nghiệp tới nguy cơ mất khả năng thanh toán, dẫn đến bị phá sản
+ Sử dụng trái phiếu dài hạn là việc sử dụng nợ trong thời gian dài, tác động của nó tới DN mang tính 2 mặt Một mặt, nó đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp; mặt khác, nó lại trở thành nguy cơ đe doạ
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Ngoài ra, để đi đến quyết định phát hành trái phiếu đáp ứng nhu cầu tăng vốn cần cân nhắc thêm các nhân tố chủ yếu sau:
Trang 25+ Mức độ ổn định của doanh thu và lợi nhuận trong tương lai: Nếu ổn
định thì phát hành trái phiếu để huy động vốn là có cơ sở và hợp lý
+ Hệ số nợ hiện tại của doanh nghiệp: Nếu hệ số nợ của DN còn ở mức thấp, thì việc sử dụng trái phiếu là phù hợp và ngược lại
+ Sự biến động của lãi suất thị trường trong tương lai: Nếu lãi suất thị trường có xu hướng gia tăng trong tương lai thì việc sử dụng nợ trái phiếu để tăng vốn sẽ có lợi cho doanh nghiệp
+ Yêu cầu giữ nguyên quyền kiểm soát doanh nghiệp của các chủ sở hữu hiện tại, nếu các cổ đông yêu cầu giữ nguyên quyền kiểm soát doanh nghiệp thì việc sử dụng trái phiếu là cần thiết
b> Nguồn tài trợ ngắn hạn của doanh nghiệp
- Nợ phải trả có tính chất chu kỳ : Trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do nhiều nguyên nhân, luôn nảy sinh những khoản nợ phải trả có tính chất chu kỳ Những khoản nợ này còn gọi là
nợ tích luỹ, chúng phát sinh thường xuyên trong hoạt động kinh doanh Khi các khoản nợ này chưa đến kỳ hạn thanh toán thì các doanh nghiệp có thể sử dụng tạm thời vào các hoạt động kinh doanh của mình
Những khoản này thường bao gồm:
+ Tiền lương, tiền công phải trả cho người lao động, nhưng chưa đến
kỳ trả Thông thường, tiền lương hoặc tiền công của người lao động trong các doanh nghiệp chi trả hàng tháng thành 2 kỳ: kỳ tạm ứng thường diễn ra vào giữa tháng, và kỳ thanh toán vào đầu tháng sau Giữa 2 kỳ trả lương sẽ phát sinh những khoản nợ lương trong kỳ
+ Các khoản thuế, BHXH phải nộp nhưng chưa đến kỳ nộp Các khoản thuế phải nộp hàng tháng như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp năm trước nộp vào đầu năm sau, khi mà quyết toán được duyệt.v.v
+ Ngoài những khoản nợ có tính chất thường xuyên trên đây, còn có những khoản phát sinh cũng mang tính chất như một nguồn tài trợ mà doanh
Trang 26nghiệp tận dụng trước nhưng không phải trả chi phí, là những khoản tiền tạm ứng trước của khách hàng, số tiền này nhiều hay ít tuỳ thuộc vào tính chất quan trọng của sản phẩm hàng hoá đó, tình hình cung cầu trên thị trường, khả năng mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất, yêu cầu và điều kiện thanh toán của đôi bên
Ưu điểm nổi bật của nguồn vốn này là: Việc sử dụng nguồn vốn này khá dễ dàng (nguồn vốn tự động phát sinh), và không phải trả tiền lãi như sử dụng nợ vay Đặc biệt, nếu doanh nghiệp xác định chính xác được quy mô chiếm dùng thường xuyên (còn được gọi là nợ định mức) thì doanh nghiệp có thể giảm bớt được nhu cầu huy động các nguồn vốn dài hạn từ bên ngoài, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp Tuy nhiên, nguồn tài trợ này có hạn chế là thời gian sử dụng thường ngắn, quy mô nguồn vốn chiếm dụng
thường không lớn
- Tín dụng nhà cung cấp : Đây là một hình thức tài trợ quan trọng nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp; nó được hình thành khi doanh nghiệp mua hàng hoá dịch vụ từ nhà cung cấp song chưa phải trả tiền ngay
Vì vậy, doanh nghiệp có thể sử dụng các tài sản mua được từ nhà cung cấp như một nguồn vốn bổ sung để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của doanh nghiệp
Đặc điểm của nguồn vốn tín dụng nhà cung cấp:
+ Quy mô nguồn vốn tín dụng thương mại chỉ có giới hạn nhất định vì nó phụ thuộc vào số lượng hàng hoá, dịch vụ được mua chịu của nhà cung cấp
+ Doanh nghiệp phải hoàn trả sau một thời hạn nhất định và thường là rất ngắn
+ Nguồn tài trợ này không thể hiện rõ nét mức chi phí cho việc sử dụng vốn
Ưu điểm: Việc sử dụng tín dụng thương mại có ưu điểm là đơn giản, tiện lợi trong kinh doanh Tài trợ một phần nhu cầu vốn của doanh nghiệp
Trang 27Nhược điểm: Chi phí sử dụng tín dụng thương mại thường cao hơn so với
sử dụng tín dụng thông thường của ngân hàng thương mại, mặt khác nó cũng làm tăng hệ số nợ, tăng nguy cơ rủi ro về thanh toán đối với doanh nghiệp
Yêu cầu trong quản lý: Thường xuyên theo dõi chi tiết các khoản nợ nhà cung cấp để chuẩn bị nguồn tiền đáp ứng nhu cầu thanh toán Tránh để mất uy tín do không trả nợ đúng hạn
- Vay ngắn hạn ngân hàng : Đây là nguồn tài trợ hết sức quan trọng đối với các DN hiện nay Đặc điểm của việc sử dụng vốn vay ngân hàng (tín dụng ngân hàng) là phải sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, có vật tư bảo đảm, có thời hạn và phải trả lãi
Các ngân hàng thương mại cho DN vay vốn ngắn hạn dưới các hình thức chủ yếu là:
+ Cho vay từng lần
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng
+ Cho vay theo kế hoạch
Đặc điểm của nguồn tài trợ này là :
+ Nguồn vốn vay này có giới hạn nhất định
+ Đây là nguồn vốn có thời gian đáo hạn
+ Doanh nghiệp phải trả lãi cho việc sử dụng nguồn vốn này
Ưu điểm: Việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngân hàng để tài trợ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, nó có tác dụng giúp doanh nghiệp khắc phục khó khăn về vốn
Nhược điểm: Sử dụng nguồn vốn này làm tăng hệ số nợ của doanh nghiệp, làm tăng rủi ro tài chính do bắt buộc phải trả lãi và hoàn trả nợ đúng hạn
- Hối phiếu : Hối phiếu là giấy tờ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời điểm nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng
Trang 28Hối phiếu là hình thức tài trợ rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thể hiện khi doanh nghiệp có nhu cầu vốn trước thời gian đáo hạn hối phiếu, thì doanh nghiệp có thể thực hiện chuyển nhượng hoặc chiết khấu hối phiếu để nhận trước số tiền bán hàng đáp ứng nhu cầu vốn tạm thời của doanh nghiệp
Thông thường, việc sử dụng nguồn vốn tín dụng ngắn hạn đối với doanh nghiệp có những điểm lợi và bất lợi chủ yếu sau :
+ Những điểm lợi:
Việc sử dụng tín dụng ngắn hạn giúp cho doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuân lợi hơn so với việc sử dụng tín dụng dại hạn Bởi vì, thông thường các điều kiện cho vay ngắn hạn mà ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính khác đưa ra đối với doanh nghiệp thường ít khắt khe hơn
sử dụng cả nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho tài sản dài hạn
Trang 291.2 Khái niệm và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình SXKD với chi phí bỏ ra thấp nhất Quá trình SXKD đạt hiệu quả khi kết quả cuối cùng thu về là tối đa hoá lợi nhuận Vốn là một bộ phận quan trọng của quá trình SXKD, việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ tạo ra hiệu quả của hoạt động SXKD, có nghĩa với một lượng vốn nhất định bỏ vào hoạt động SXKD sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng vốn không ngừng nảy nở sinh sôi
Về lượng, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện mối tương quan giữa kết quả thu được từ hoạt động bỏ vốn mang lại với lượng vốn bỏ ra
Về mặt định tính, hiệu quả sử dụng vốn thể hiện trình độ khai thác, quản lý và sử dụng vốn của DN
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.1 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tốc đọ luân chuyển vốn
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Việc sử dụng hợp lý vốn lưu động biểu hiện ở tốc độ luân chuyển vốn lưu động Tốc độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên hiệu suất sử dụng vốn lưu động của DN cao hay thấp
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động có thể đo bằng hai chỉ tiêu: Số lần luân chuyển vốn lưu động (Số vòng quay VLĐ ) và kỳ luân chuyển vốn lưu động (Số ngày của một vòng quay VLĐ)
Số lần luân chuyển vốn lưu động : phản ánh số vòng quay vốn lưu động thực hiện được trong một kỳ( thường là 1 năm)
Trang 30Chỉ tiêu này còn cho biết một đồng vốn lưu động bình quân bỏ ra có thể tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu
Việc tăng vòng quay vốn lưu động có ý nghĩa kinh tế rất lớn, giúp DN giảm được lượng vốn lưu động cần thiết trong kinh doanh từ đó giảm vốn vay, hạ thấp chi phí sử dụng vốn
Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
Trong đó: L : Số lần luân chuyển VLĐ trong kỳ
M : Tổng mức luân chuyển của VLĐ trong kỳ = DTT
VLĐ: VLĐ bình quân trong kỳ
VLĐ có thể được tính bằng công thức sau:
Số VLĐ đầu năm+ Số VLĐ cuối năm
Kỳ luân chuyển vốn lưu động bình quân: Phản ánh số ngày cần thiết
để thực hiện một vòng quay vốn lưu động Vòng quay vốn lưu động càng nhanh thì kỳ luân chuyển vốn lưu động càng được rút ngắn và chứng tỏ vốn lưu động càng được sử dụng có hiệu quả
Số ngày trong kỳ (360 (ngày))
K =
L
Trang 31Trong đó : K : kỳ luân chuyển vốn
L : số lần luân chuyển vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động : Là số vốn lưu động tiết kiệm được
do tăng tốc độ luân chuyển vốn ở kỳ so sánh ( kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo):
M1
VTK (±) = * ( K1- K0)
360 Trong đó:
VTK: Là số VLĐ có thể tiết kiệm được ( - ) hay phải tăng thêm (+) do ảnh hưởng của tốc độ luân chuyển VLĐ kỳ so sánh so với kỳ gốc
M1: Là tổng mức luân chuyển vốn lưu động (doanh thu) kỳ so sánh(kỳ
kế hoạch)
K1, K0: Kỳ luân chuyển vốn lưu động kỳ so sánh, kỳ gốc
VTK >0 là lãng phí, VTK <0 là tiết kiệm Thông qua mức tiết kiệm, doanh nghiệp có thể nắm bắt được tình hình sử dụng vốn lưu động trong kỳ cần nghiên cứu bằng con số cụ thể, từ đó tạo điều kiện giúp DN khắc phục hoặc đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hàm lượng vốn lưu động : Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu cần phải có bao nhiêu đồng vốn lưu động
VLĐ
Hàm lượng VLĐ =
M
Trang 321.2.2.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của từng bộ phận cấu thành vốn
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ biến đổi các khoản phải thu thành tiền mặt Hệ số này là một thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, được tính bằng cách lấy doanh thu trong kỳ chia cho số dư bình quân các khoản phải thu trong kỳ
Vòng quay các khoản phải thu = Doanh thu / bình quân các khoản phải thu
Số ngày trong kỳ
Ngày thu tiền bình quân = -
Vòng quay các khoản phải thu
Nếu chỉ số vòng quay các khoản phải thu càng lớn thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp nhanh, còn chỉ số ngày thu tiền bình quân càng ít thì tốc độ thu hồi công nợ phải thu của doanh nghiệp nhanh
Tuy nhiên trong mỗi ngành khác nhau thì chỉ số này cũng khác nhau và
để đánh giá hiệu quả quản lý của doanh nghiệp thì cũng phải so sánh hệ số này với số ngày thanh toán cho các khoản công nợ phải thu mà doanh nghiệp đó quy định
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho Vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Hệ số vòng quay hàng tồn kho được xác định bằng giá vốn hàng bán chia cho bình quân hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho = Giá vốn hàng bán /Bình quân hàng tồn kho Trong đó :
Bình quân hàng tồn kho = (hàng tồn kho đầu kỳ + Hàng tồn kho cuối
kỳ )/2
1.2.2.3 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán nhanh: được hiểu là khả năng doanh nghiệp dùng tiền hoặc tài sản có thể chuyển đổi thành tiền để trả nợ ngay khi đến
Trang 33hạn và quá hạn Tiền ở đây có thể là tiền gửi, tiền mặt, tiền đang chuyển; tài sản là các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn (cổ phiếu, trái phiếu) Nợ đến hạn
và quá hạn phải trả là nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, nợ khác kể cả những khoản trong thời hạn cam kết doanh nghiệp còn được nợ Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp được tính theo công thức:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh= (Tổng TSLĐ – Hàng tồn kho)/Nợ ngắn hạn
Khả năng thanh toán hiện thời : hệ số này cho biết khả năng của một
DN trong việc dùng các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho, các khoản phải thu để chi trả cho các khoản nợ ngắn hạn của mình Tỷ số này càng cao có nghĩ DN có nhiều khả năng thanh toán các khoản nợ
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời = Tổng tài sản lưu động /Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay cho biết mức độ lợi nhuận đảm bảo khả năng trả lãi như thế nào Nếu công ty quá yếu về mặt này, các chủ nợ
có thể đi đến gây sức ép lên công ty, thậm chí dẫn tới phá sản công ty Hệ số khả năng thanh toán lãi vay được tính bằng tỷ số giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay (EBIT) trên lãi vay:
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước thuế và lãi vay/Chi phí lãi vay
1.2.3 Chi phí sử dụng vốn của các nguồn tài trợ và chi phí sử dụng vốn bình quân
1.2.3.1 Chi phí sử dụng vốn
Để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư và hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có thể huy động sử dụng nhiều nguồn vốn hay nói khác đi là nhiều nguồn tài trợ khác nhau như vay vốn, phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường (đối với công ty cổ phần) Để có quyền sử dụng các nguồn vốn này, doanh nghiệp phải trả một khoản tiền nhất định cho nguời cung cấp vốn -
Trang 34Người chủ sở hữu vốn Đó chính là cái giá mà doanh nghiệp phải trả cho việc
sử dụng nguồn tài trợ để thực hiện đầu tư cũng như hoạt động kinh doanh nói chung của doanh nghiệp hay còn gọi là chi phí sử dụng vốn
Trên góc độ tài chính doanh nghiệp, giá hay chi phí sử dụng vốn được xem xét ở đây là chi phí cơ hội và chi phí đó được xác định từ thị trường vốn Chi phí sử dụng vốn có thể được xác định bằng số tuyệt đối là một số tiền hay được xác định bằng số tương đối là một tỷ lệ phần trăm (%) Cách thông thường là người ta hay sử dụng tỷ lệ phần trăm (%) Trên góc độ của người đầu tư là người cung cấp vốn cho doanh nghiệp thì chi phí sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi khi cung cấp vốn cho doanh nghiệp Mức sinh lời này phải tương xứng với mức độ rủi ro mà nhà đầu tư có khả năng gặp phải khi cung cấp vốn Nói chung, khi nhà đầu tư nhận thấy mức độ rủi ro của doanh nghiệp lớn hơn thì họ cũng sẽ đòi hỏi một tỷ suất sinh lời lớn hơn tương xứng với mức rủi ro
Đối với doanh nghiệp là người sử dụng nguồn tài trợ thì chi phí sử dụng vốn là tỷ suất sinh lời tối thiểu cần phải đạt được khi sử dụng nguồn tài trợ đó cho đầu tư hay hoạt động kinh doanh để đảm bảo cho tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu hay thu nhập trên một cổ phần là không bị sụt giảm
Chi phí sử dụng vốn được xác định tại một thời điểm, có thể được xác định cho các dự án đầu tư hay một doanh nghiệp nhưng cần phải được xác định trên cơ sở xem xét các chi phí vốn ở hiện tại chứ không phải dựa trên chi phí trong quá khứ
- Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn
+ Lãi suất thị trường: Khi lãi suất thị trường ở mức cao thì tỷ suất sinh lời đòi hỏi của các nhà đầu tư cũng cao, do đó chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp cũng cao và ngược lại
Trang 35+Chính sách thuế thu nhập thu nhập: Do lãi vay được tính vào chi phí làm giảm trừ khoản thu nhập chịu thuế, dẫn đến giảm số thuế thu nhập mà doanh nghiệp phải nộp Vì vậy, lãi vay đưa lại khoản lợi về thuế, nếu thuế suất cao khoản lợi về thuế lớn làm giảm chi phí sử dụng vốn vay và ngược lại
+ Chính sách đầu tư: Nếu công ty thực hiện chính sách đầu tư vào những tài sản có mức độ rủi ro cao thì tỷ suất sinh lời đòi hỏi của các nhà đầu
tư cũng cao và ngược lại Do đó, cũng làm cho chi phí sử dụng vốn thay đổi
+Chính sách tài trợ: Khi doanh nghiệp huy động vốn vay nhiều sẽ làm tăng rủi ro tài chính đối với khoản vốn của các nhà đầu tư, điều đó kéo theo
sự gia tăng chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp
+Chính sách cổ tức: Chính sách cổ tức của công ty quyết định quy mô lợi nhuận tái đầu tư nhiều hay ít Nếu tái đầu tư nhiều, doanh nghiệp hạn chế phải huy động vốn từ bên ngoài có chi phí sử dụng vốn cao hơn
1.2.3.2 Chi phí sử dụng các nguồn tài trợ
Mỗi ngưồn tài trợ hay nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng có đặc điểm khác nhau và chi phí khác nhau Sau đây sẽ xem xét chi phí sử dụng vốn của từng nguồn tài trợ riêng biệt
- Chi phí sử dụng vốn vay
Một trong ưu thế của việc sử dung vốn vay so với các nguồn tài trợ bên ngoài khác là tiền lãi vay phải trả được trừ ra trước khi tính thuế thu nhập Lãi vay được trừ ra khỏi thu nhập chịu thuế, còn cổ tức phải trả cho cổ phiếu ưu đãi,cổ tức trả cho cổ đông thường không được hưởng "đặc ân" này Do đó
để có cơ sở đồng nhất nhằm so sánh chi phí sử dụng các nguồn vốn khác nhau, người ta thường đưa chúng về cùng một "điểm" Điểm thường được lựa chọn là chi phí sử dụng vốn sau thuế
Trang 36Vì vậy có thể tính lại chi phí sử dụng vốn vay theo công thức sau:
x 1 -
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Như vậy, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp làm giảm đáng kể chi phí sử dụng vốn vay, và chi phí sử dụng nợ vay tỷ lệ thuận với thuế suất thuế thu nhập Nhưng khi doanh nghiệp bị thua lỗ thì chi phí sử dụng vốn vay trước và sau thuế bằng nhau, vì khi đó doanh nghiệp không thể giảm chi phí này ra khỏi "lợi nhuận"
-Chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi
Như phần trên đã nêu, cổ phiếu ưu đãi có nhíều loại, tuy nhiên loại cổ phiếu ưu đãi thường được các công ty ở nhiều nước sử dụng là loại cổ phiếu
ưu đãi cổ tức Loại cổ phiếu ưu đãi này là một loại chứng khoán lai ghép giữa
cổ phiếu thường và trái phiếu Chủ sở hữu cổ phiếu ưu đãi được nhận cổ tức
cố định và không có quyền biểu quyết Những đặc điểm đó làm cho cổ phiếu
ưu đãi gần giống với trái phiếu Nhưng cổ tức cổ phiếu ưu đãi không được tính trừ vào thu nhập chịu thuế của công ty lại làm cho nó giống như cổ phiếu thường Những điểm đặc biệt lưu ý là cổ phiếu ưu đãi chỉ nhận được tiền lãi
cố định hàng năm, không được hưởng suất tăng trưởng của lợi nhuận
Nếu ta gọi PP là giá thị trường cổ phiếu ưu đãi
e là tỷ lệ chi phí phát hành
d là cổ tức một cổ phiếu ưu đãi
Thì chi phí sử dụng cổ phiếu ưu đãi rp được xác định như sau:
rP =
) 1 ( e
P d
P
Trang 37-Chi phí sử dụng lợi nhuận để lại
Công ty cổ phần cũng như các doanh nghiệp khác có thể sử dụng một phần lợi nhuận sau thuế để lại tái đầu tư Đây là nguồn vốn chủ sở hữu nội sinh của công ty
Xét về mặt kế toán, khi doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư thì doanh nghiệp không phải trả một khoản chi phí nào cho việc sử dụng nguồn vốn này Tuy nhiên, trên góc độ tài chính phải tính đến chi phí cơ hội của số lợi nhuận giữ lại
Lợi nhuận sau thuế của công ty sau khi trả cổ tức cho cổ đông ưu đãi (nếu có) thuộc quyền sở hữu của cổ đông thường Cổ đông có thể nhận toàn
bộ số lợi nhuận đó dưới hình thức cổ tức và sau đó có thể sử dụng số tiền cổ tức nhận được để đầu tư vào nơi khác hoặc theo một cách khác, cổ đông nhận một phần lợi nhuận sau thuế dưới hình thức cổ tức, còn một phần để lại công
ty để tái đầu tư Vậy, vấn đề đặt ra khi nào cổ đông có thể chấp nhận để lại lợi nhuận để tái đầu tư?
Nếu công ty quyết định sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư thì công ty cần phải đảm bảo đạt được tỷ suất sinh lời tối thiểu bằng tỷ suất sinh lời mà
cổ đông có thể thu được khi sử dụng số tiền đó đầu tư vào nơi khác với mức
độ rủi ro tương đương với mức rủi ro hiện tại của công ty
Từ đó có thể rút ra, chi phí sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư là tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông đối với cổ phần thường của công ty
+ Xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư
Có ba phương pháp chủ yếu xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư:
Phương pháp theo mô hình tăng trưởng cổ tức
Đây là một phương pháp thường được sử dụng Theo mô hình tăng trưởng cổ tức, giá cổ phiếu thường là giá trị hiện tại của dòng cổ tức mà nhà đầu tư kỳ vọng thu được ở tương lai và được xác định theo công thức sau:
Trang 38Trong đó:
- P0: Giá hiện hành của cổ phiếu thường
- dt: Cổ tức dự tính nhận được trong năm thứ t
- re: Tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông đối với cổ phần thường
Trường hợp giả định cổ tức tăng đều đặn hàng năm với tốc độ tăng trưởng là g thì giá cổ phiếu được xác định bằng công thức:
g r
D P
e
1 0
0
Trong đó : +D0 là cổ tức nhận được ở năm trước
+ D1 là cổ tức dự tính nhận được ở năm thứ 1
+ g là tốc độ tăng trưởng cổ tức đều đặn hàng năm dự tính
Từ công thức trên, có thể suy ra tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông và cũng chính là chi phí sử dụng lợi nhuận để lại được xác định theo công thức sau:
Cách xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại như trên đã nêu được gọi là phương pháp theo mô hình tăng trưởng cổ tøc hay phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) Trong phương pháp này, việc xác định tốc độ tăng trưởng cổ tức đều đặn hàng năm (g) trong tương lai là vấn đề không đơn giản Thông thường, đối với các công ty mà việc trả cổ tức không có sự tăng, giảm đột biến các nhà đầu tư dựa vào tình hình và số liệu trả cổ tức trong những năm
đã qua để xác định tốc độ tăng trưởng cổ tức bình quân từ đó dự kiến cho tương
) 1 (1 0
r
d P
e
t t
1 ( ) 1
2 1
d P
e e
e
n n
Trang 39lai Đối với các công ty có cổ tức trả không ổn định phải xem xét kỹ đồng thời tham khảo ý kiến dự báo của các nhà phân tích chứng khoán để dự tính
Sử dụng phương pháp theo mô hình tăng trưởng cổ tức để xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư có những ưu điểm, hạn chế chủ yếu sau:
Ưu điểm: Phương pháp này dễ hiểu và dễ sử dụng
Hạn chế: Phương pháp này chỉ có thể áp dụng cho những công ty cổ phần có trả cổ tức và cổ tức không có sự tăng, giảm đột biến; Chi phí sử dụng lợi nhuận để lại xác định theo phương pháp này rất nhạy cảm với tốc độ tăng trưởng cổ tức ước định (g); Phương pháp này cũng không cho thấy một cách
rõ dàng tác động của yếu tố rủi ro đến chi phí sử dụng vốn của công ty
+ Phương pháp mô hình định giá tài sản (phương pháp CAPM)
Mô hình định giá tài sản cho thấy mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời mà nhà đầu tư đòi hỏi và mức bù rủi ro, do vậy có thể sử dụng phương pháp CAPM để xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại và có thể xác định theo công thức sau:
ri = Rf + βi(R
m – Rf) Trong đó:
ri: Tỷ suất sinh lời đòi hỏi của nhà đầu tư đối với cổ phiếu i
Rf: Tỷ suất sinh lời (hay lãi suất) phi rủi ro, thường được tính bằng lãi suất trái phiếu của Chính phủ
Rm: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng thị trường
i
β: Hệ số rủi ro của cổ phiếu i
Áp dụng phương pháp CAPM để xác định chi phí sử dụng lợi nhuận để lại tái đầu tư có ưu điểm chủ yếu sau: phương pháp này cho thấy tác động của rủi ro đến chi phí sử dụng vốn một cách rõ ràng, mặt khác phương pháp này
có thể áp dụng cho cả các công ty trả cổ tức ổn định hay không ổn định cũng
có nghĩa là nó có thể sử dụng cho nhiều tình huống hơn Tuy vậy, phương
Trang 40pháp này cũng có một số hạn chế: việc sử dụng phương pháp nay đòi hỏi phải ước định mức bù rủi ro thị trường và hệ số rủi ro cổ phiếu của công ty Đây là vấn đề không đơn giản, hơn nữa các yếu tố này thường thay đổi theo thời gian Mặt khác, cũng giống như phương pháp theo mô hình tăng trưởng cổ tức, khi sử dụng phương pháp CAPM là dựa vào quá khứ để dự đoán tương lai Hiện nay, các điều kiện của nền kinh tế thay đổi rất nhanh, vì thế quá khứ không phải luôn luôn là sự chỉ dẫn tốt cho tương lai
+Phương pháp theo lãi suất trái phiếu cộng thêm mức bù rủi ro
Cơ sở chủ yếu của phương pháp này thể hiện ở chỗ: Người đầu tư vào trái phiếu công ty sẽ chịu rủi ro Ýt hơn so với cổ đông là người đầu tư vào cổ phiếu của công ty, do vậy tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông có thể xác định bằng cách lấy lãi suất trái phiếu của công ty cộng thêm một mức bù rủi ro Như vậy, công ty có rủi ro cao thì lãi suất trái phiếu của công ty cũng ở mức cao và hiển nhiên mức bù rủi ro đòi hỏi của cổ đông cũng cao hơn, từ đó có thể rút ra:
Chi phí sử dụng LN để lại= Lãi suất trái phiếu+ Mức bù rủi ro tăng thêm.Lãi suất trái phiếu được xác định là lãi suất đáo hạn của trái phiếu (YTM)
Ở Mỹ, mức bù rủi ro tăng thêm theo các nhà kinh tế là khoảng từ 3% - 5%
Nhìn chung, phương pháp này có ưu điểm là dễ hiểu, nó cũng cho thấy mối líên hệ giữa rủi ro và chi phí sử dụng vốn, tuy nhiên hạn chế chủ yếu ở chỗ, phương pháp này mang tính chủ quan khá cao trong việc xác định mức
bù rủi ro tăng thêm
Trên đây là 3 phương pháp chủ yếu xác định chi phí sử dụng lợi nhuận
để lại tái đầu tư Xem xét rộng hơn cũng có thể thấy rằng, trong trường hợp muốn xác định chi phí sử dụng cổ phần thường hiện hành của công ty thì chi phí sử dông cổ phần thường hiện hành cũng chính là tỷ suất sinh lời đòi hỏi của cổ đông đối với cổ phần thường hiện hành mà công ty đang sử dụng
-Chi phí sử dụng cổ phiếu thường