Những năm qua, tuy đã đạt được một số thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng xã còn gặp nhiều vấn đề bất cập như: tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo còn cao; kinh tế p
Trang 1HÀ THỊ PHƯƠNG LINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI XÃ CHUYÊN MỸ - PHÚ XUYÊN - HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Trang phụ bìa………
Lời cảm ơn………
Mục lục………
Danh mục các từ viết tắt………
Danh mục các bảng………
Danh mục các hình………
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 Sự cần thiết 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu tổng quát: 3
2.2 Mục tiêu cụ thể: 3
3 Đối tượng nghiên cứu: 3
4 Nội dung nghiên cứu: 3
5 Phương pháp nghiên cứu: 5
Chương 1 7
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 7
1.1 Tổng quan về chương trình xây dựng nông thôn mới: 7
1.2 Khái niệm về nông thôn mới: 8
1.3 Đặc điểm của một xã nông thôn mới: 10
1.4 Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới: 12
1.5 Một số văn bản pháp luật về chương trình xây dựng nông thôn mới: 21
1.5.1 Văn bản của Trung ương: 21
1.5.2 Văn bản của Thành phố Hà Nội: 22
1.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở nước ngoài (qua ví dụ ở Hàn Quốc): 23
1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng nông thôn mới: 26
Chương 2 30
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CHUYÊN MỸ THEO BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA 30
2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Chuyên Mỹ 30
Trang 32.1.1 Đặc điểm tự nhiên: 30
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội: 30
2.2 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội xã Chuyên Mỹ theo Bộ tiêu chí Quốc gia 38
2.2.1 Nhóm tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch: 38
2.2.2 Nhóm tiêu chí về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: 38
2.2.3 Nhóm tiêu chí về kinh tế - xã hội và tổ chức sản xuất: 46
2.2.4 Nhóm tiêu chí về văn hóa – xã hội – môi trường: 52
2.2.5 Nhóm tiêu chí về hệ thống chính trị: 59
2.3 Đánh giá chung, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế: 60
2.3.1 Đánh giá chung: 60
2.3.2 Hạn chế: 63
2.3.3 Nguyên nhân: 65
Chương 3 66
GIẢI PHÁP CHỦ YẾU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ CHUYÊN MỸ 66
3.1 Quan điểm, mục tiêu và lộ trình xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ: 66
3.1.1 Quan điểm xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ: 66
3.1.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ: 67
3.1.3 Lộ trình xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ: 67
3.2 Giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ 68
3.2.1 Giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về xây dựng nông thôn mới: 68
3.2.2 Giải pháp xây dựng và hoàn thiện quy hoạch nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ: 69
3.2.3 Giải pháp xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội: 70
3.2.4 Giải pháp phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất: 72
3.2.5 Giải pháp phát triển văn hóa – xã hội, bảo vệ môi trường: 76
3.2.6 Giải pháp củng cố hệ thống chính trị: 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 86
2.1 Kiến nghị với Trung ương 86
Trang 42.2 Kiến nghị, đề xuất với Thành phố 86
2.3 Một số đề xuất với huyện Phú Xuyên 87
2.4 Một số đề xuất với xã 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết
Xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Từ những năm cuối thế kỷ XX, Chính phủ đã chỉ đạo triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới tại các xã, huyện trên toàn quốc; cho đến nay, chương trình này đã ở giai đoạn thứ 3 Hà Nội là một trong 11 tỉnh, thành phố có xã được chọn thí điểm xây dựng nông thôn mới giai đoạn 3 trên toàn quốc
Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính vào ngày 1/8/2008 đã tăng tổng diện tích lên 3.348,5 km2; dân số là 6,45 triệu người, được tổ chức thành
29 quận, huyện với 577 phường, xã và thị trấn (tính đến 31/12/2008) Sau khi hợp nhất, khu vực nông thôn của Thành phố (chủ yếu là của Hà Tây cũ) đã đạt được những thành tựu đáng kể Cơ cấu kinh tế nội bộ khu vực nông thôn đang có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại, giảm dần giá trị sản xuất ngành nông nghiệp Hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn sau ba năm được đầu tư đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, đời sống dân sinh, phòng chống bão lụt Một số công trình xử lý môi trường, thu gom rác thải được xây dựng, góp phần từng bước hình thành nên các vùng nông thôn mới theo hướng văn minh, hiện đại
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, việc mở rộng địa giới hành chính cũng đang đặt ra nhiều khó khăn cho Thành phố Hà Nội trong phát triển khu vực nông thôn ngoại thành: trình độ lao động; thu nhập bình quân đầu người của khu vực nông thôn còn rất thấp; môi trường nhiều khu vực ô nhiễm nghiêm trọng; hạ tầng nông thôn còn yếu kém; một số vấn đề về quản lý lao
Trang 6động, văn hóa, xã hội còn bất cập Những vấn đề nêu trên đang được Thành phố tập trung các nguồn lực để tháo gỡ và giải quyết Đến nay, Thành phố đang khẩn trương thực hiện Đề án: “Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030” Cùng với Thụy Hương là xã thí điểm theo chương trình của Quốc gia, Hà Nội cũng đã chọn
15 xã để triển khai thí điểm của Thành phố
Chuyên Mỹ là một xã ngoại thành thuộc huyện Phú Xuyên, nằm phía Nam Hà Nội, có cơ cấu kinh tế với tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ trọng cao: 59,39%; nông nghiệp chỉ chiếm 24,25% và thương mại, dịch vụ chiếm 16,36% Những năm qua, tuy đã đạt được một số thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội nhưng xã còn gặp nhiều vấn đề bất cập như: tỷ lệ lao động phổ thông chưa qua đào tạo còn cao; kinh tế phát triển song mới chỉ tập trung vào một số hộ kinh doanh; đa phần chất lượng đời sống người dân chưa cao; môi trường bị ô nhiễm vì nghề truyền thống, rác thải sinh hoạt, chăn nuôi, nông nghiệp… Từ thực tiễn cho thấy xã Chuyên Mỹ cần định hướng phát triển và sớm trở thành một xã nông thôn mới với sự phát triển bền vững về kinh tế - xã hội và môi trường nếu có một hướng đi và mô hình phát triển phù hợp
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trên, việc nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp chủ yếu xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên - Hà Nội” có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn Ngoài việc giúp xã
đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, kết quả nghiên cứu còn đóng góp thêm một mô hình cụ thể cho Chương trình xây dựng Nông thôn mới của Thành phố
Trang 72 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình kinh tế - xã hội của xã Chuyên Mỹ, huyện Phú Xuyên, các khó khăn, thuận lợi, cơ hội, thách thức, đề tài sẽ đề xuất một số các giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ trong những năm tới
2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại xã Chuyên
Mỹ - Phú Xuyên – Hà Nội theo Bộ tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Từ đó nêu ra được các khó khăn, thuận lợi của xã trong việc phát triển kinh tế - xã hội để trở thành một xã đạt chuẩn nông thôn mới
- Nghiên cứu đề xuất mục tiêu, các nhiệm vụ, lộ trình và giải pháp để xây dựng nông thôn mới tại xã Chuyên Mỹ trong những năm tới
3 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng kinh tế - xã hội xã Chuyên Mỹ - Phú Xuyên – Hà Nội, những vấn đề liên quan đến bộ tiêu chí nông thôn mới
4 Nội dung nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu của đề tài gồm:
Nội dung 1: Những vấn đề chung về xây dựng nông thôn mới
- Khái niệm về nông thôn mới
- Bộ tiêu chí nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Một số văn bản pháp luật có liên quan đến chủ trương phát triển kinh tế nông thôn và chương trình xây dựng nông thôn mới
Trang 8- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện xây dựng nông thôn mới
- Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới trong và ngoài nước Bài học cho Việt Nam và Hà Nội
Nội dung 2: Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại xã Chuyên Mỹ
theo Bộ tiêu chí nông thôn mới của quốc gia
- Khái quát chung đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Chuyên Mỹ
- Phân tích thực trạng kinh tế - xã hội của xã theo từng nhóm tiêu chí của
bộ tiêu chí quốc gia
+ Nhóm tiêu chí về quy hoạch và thực hiện quy hoạch
+ Nhóm tiêu chí về cơ sở hạ tầng kinh tế
+ Nhóm tiêu chí về văn hóa – xã hội – môi trường
+ Nhóm tiêu chí về kinh tế - xã hội và tổ chức sản xuất
+ Nhóm tiêu chí về an ninh quốc phòng
- Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
Nội dung 3: Đề xuất một số giải pháp xây dựng nông thôn mới tại xã
Trang 9+ Giải pháp về tuyên truyền
+ Giải pháp về quy hoạch
+ Giải pháp về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
+ Giải pháp về kinh tế và tổ chức sản xuất
+ Giải pháp về văn hóa – xã hội – môi trường
+ Giải pháp về hệ thống chính trị
- Một số kiến nghị, đề xuất với Thành phố, huyện
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
- Phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp:
Sau khi thu thập, số liệu được thống kê và phân tích trên bảng tính Excel
Từ kết quả thu được sau khi xử lý, so sánh với bộ tiêu chí Quốc gia nông thôn mới để đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của xã theo tiêu chí nông thôn mới Quốc gia
- Phân tích bằng phương pháp SWOT:
Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu trong phát triển kinh tế - xã hội của xã Với những điều kiện nội tại sẵn có, chỉ ra những cơ hội để định hướng phát triển kinh tế - xã hội xã một cách đúng đắn nhất để phát huy hết điểm mạnh của xã Đồng thời, chỉ ra các nguy cơ mà xã sẽ gặp phải trong quá trình phát triển sắp tới hay chính là những tồn tại, đưa ra các giải pháp phù hợp để khắc phục những tồn tại này
- Phương pháp hội thảo, xin ý kiến chuyên gia:
Trang 10+ Xin ý kiến chuyên gia: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tổ chức các cuộc tọa đàm với một số chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới cũng như xin ý kiến của lãnh đạo xã về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã, góp phần đưa ra những giải pháp đúng đắn phù hợp với thực trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Chuyên Mỹ giúp xã nhanh chóng đạt chuẩn nông thôn mới theo Quyết định số 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới
+ Hội thảo: Sau khi hoàn thiện nội dung nghiên cứu, đề tài được báo cáo trước lãnh đạo xã Chuyên Mỹ, các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm hoàn thiện các nội dung đã được đưa ra trong đề tài, chỉnh sửa các nội dung còn thiếu sót cũng như các giải pháp chưa phù hợp với thực trạng xã Chuyên Mỹ
- Phương pháp khảo sát điều tra thực hiện theo hai cách:
+ Nghe báo cáo kinh tế - xã hội của xã qua một số năm, điều kiện kinh
tế - xã hội, định hướng phát triển của xã trong giai đoạn tới
+ Lập phiếu điều tra xã hội học cho hai đối tượng: nhà quản lý và người dân nhằm thu thập những thông tin và số liệu cần thiết, phục vụ cho kết quả nghiên cứu
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI 1.1 Tổng quan về chương trình xây dựng nông thôn mới:
Vấn đề xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn luôn được Nhà nước quan tâm thực hiện Từ những năm 2000, Chính phủ đã thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Cho đến nay, Chương trình này đã thực hiện qua 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: Từ năm 2000 đến 2003, Ban Kinh tế Trung ương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn đã chỉ đạo xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới cấp xã ở khoảng 200 xã điểm, trong đó trọng tâm là 18 xã Tuy nhiên các mô hình này chưa thực sự thành công
Giai đoạn 2: Từ năm 2007-2009, thực hiện tới cấp thôn bản với 17 thôn bản thí điểm Vướng mắc lớn nhất trong giai đoạn này chính là sự lúng túng của ngành nông nghiệp cũng như các địa phương khi xác định tiêu chí, mục tiêu cụ thể cần đạt được trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới
Có thể thấy rằng, qua 2 giai đoạn thí điểm Chương trình xây dựng Nông thôn mới, nông thôn Việt Nam phần lớn mới chỉ dừng lại ở mức thay đổi bộ mặt về cơ sở hạ tầng, còn thực chất đời sống của nhân dân thì chưa được cải thiện nhiều
Giai đoạn 3: Từ năm 2009 - 2011 Bám sát chủ trương của Đảng và thực hiện Nghị quyết số 26, Ban Bí thư đã thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương
và thông qua Ðề án về chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới, giao cho Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai việc thực hiện, chọn 11 xã
Trang 12thí điểm xây dựng mô hình Nông thôn mới trong giai đoạn này Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đặt mục tiêu đến năm 2020, trên 50% số xã đạt chuẩn, cơ bản xây dựng kết cấu hạ tầng theo chuẩn nông thôn mới, tăng thu nhập của người dân lên gấp 2,5 lần hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo dưới 3%
Song song với việc thí điểm các dự án cụ thể, đã có một số nghiên cứu được thực hiện bước đầu nhằm hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Nông thôn mới ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào được công bố trong cả nước
Bám sát chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước, Thành phố Hà Nội đang thực hiện đề án “Xây dựng Nông thôn mới trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010 - 2020, định hướng đến năm 2030” Bên cạnh Thụy Hương là xã thí điểm theo Chương trình của Quốc gia, Thành phố cũng
đã chọn 18 xã triển khai thí điểm xây dựng nông thôn mới
Thực tế hiện nay, việc triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới của Hà Nội còn ở giai đoạn đầu, nhiều vấn đề đặt ra phải giải quyết còn lúng túng và bỡ ngỡ Ngoài ra, với mỗi địa phương cụ thể, cần có những mô hình nông thôn mới cụ thể, phù hợp với thực tế của địa phương thì mới phát huy hết tiềm lực kinh tế của địa phương
1.2 Khái niệm về nông thôn mới:
Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt Làng - xã là một cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ tự nhiên
Trang 13và hành chính xác định Làng là một đơn vị tự cung tự cấp về kinh tế, có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất Làng
- xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở Tuy nhiên làng - xã cũng
có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống
cơ bản Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam
Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch Những giá trị nói trên của làng luôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong mô hình nông thôn mới Nhưng tính khép kín, tính tự cung tự cấp của mô hình làng truyền thống rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước hiện nay
Có thể nói, kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước ta đã có những thay đổi căn bản Những nội dung trong chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn như: xem nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chú trọng các chương trình lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, phát triển kinh
tế trang trại, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở… đã bắt đầu tạo ra những yếu tố mới trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh
đó, Nhà nước đã phối hợp với các tổ chức quốc tế, các tổ chức xã hội trong nước để xoá đói giảm nghèo, cải thiện môi trường thiên nhiên và môi trường
xã hội ở nông thôn Các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta đã
Trang 14và đang đưa nền kinh tế nông nghiệp nước ta từ nền kinh tế kế hoạch hoá - tập trung - quan liêu - bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hiện nay, khái niệm nông thôn mới vẫn chưa được đưa ra một cách chính thống nên vẫn còn rất nhiều những ý kiến khác nhau Tuy nhiên, quan niệm chung của các nhà nghiên cứu: mô hình nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, thuần phong mỹ tục Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần Mô hình nông thôn mới được quy định bởi các đặc điểm: đáp ứng yêu cầu phát triển; có sự đổi mới về tổ chức, vận hành và cảnh quan môi trường; đạt hiệu quả cao trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; tiến bộ hơn so với mô hình cũ; chứa đựng các đặc điểm chung, có thể phổ biến và vận dụng trên cả nước
Qua nghiên cứu tài liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia khái niệm nông
thôn mới theo chúng tôi là: mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo những tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt
1.3 Đặc điểm của một xã nông thôn mới:
Một xã được công nhận là nông thôn mới mang một số đặc điểm cơ bản sau:
- Được quy hoạch một cách rõ ràng Trong thực tế, khu vực nông thôn
luôn phát triển tự do, không theo chuẩn mực hay quy hoạch, gây ra sự lộn xộn trong cảnh quan Theo Bộ tiêu chí Quốc gia, một xã đạt chuẩn nông thôn mới
Trang 15phải có 3 loại quy hoạch: quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới; Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
- Hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước được hiện đại hóa
Hiện nay, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của khu vực nông thôn vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn, gây khó khăn cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh
Vì vậy, để các xã đạt chuẩn nông thôn mới hệ thống cơ sở hạ tầng phải từng bước hiện đại hóa để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân
- Kinh tế phát triển, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến Qua điều tra
cho thấy, các hình thức sản xuất ở khu vực nông thôn hiện nay vẫn còn nhỏ
lẻ, manh mún; công cụ lao động thô sơ, chủ yếu là thủ công; hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, thu nhập của người dân còn thấp Nhưng theo tiêu chuẩn của một xã nông thôn mới thì thu nhập bình quân đầu người của người dân phải cao gấp 1,5 lần thu nhập bình quân đầu người của tỉnh, riêng Thành phố Hà Nội chỉ tiêu này có sự thay đổi theo đặc tính riêng của Thành phố là thu nhập bình quân đầu người của người dân cao gấp 1,5 lần khu vực nông thôn; các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến giúp cho kinh tế phát triển, nâng cao đời sống của cư dân nông thôn
- Các điều kiện văn hóa – xã hội – môi trường được nâng cao nhằm đảm bảo chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn Một trong các đặc điểm của
một xã đạt chuẩn nông thôn mới đó là chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được đảm bảo Vì hiện nay, đa số cư dân nông thôn chưa được hưởng thụ các điều kiện văn hóa - xã hội - môi trường đảm bảo, đời sống văn hóa
Trang 16còn nghèo nàn, điều kiện xã hội còn thấp và đặc biệt là về môi trường, người dân phải chịu đựng sự ô nhiễm ngày càng gia tăng
- Bộ máy chính quyền được củng cố, tổ chức chặt chẽ Hiện nay, tổ chức
chính quyền của xã ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, cán bộ cấp xã vẫn chưa đáp ứng được hết yêu cầu công việc ở cấp địa phương Vì thế, cán bộ và chính quyền của xã nông thôn mới phải có tinh thần trách nhiệm cũng như nghiệp vụ chuyên môn đủ sâu để phục vụ nhu cầu công việc
- Tình hình an ninh trật tự địa phương được đảm bảo Trong điều kiện
đô thị hóa ngày càng nhanh như hiện nay thì hệ quả của nó cũng nhanh chóng lan rộng nếu chính quyền không có biện pháp thỏa đáng Đây cũng là một đặc điểm quan trọng của một xã nông thôn mới
1.4 Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới:
Để xây dựng và đánh giá một xã đạt chuẩn nông thôn mới, Chính phủ
đã ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới
Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ ngày 16/4/2009 kèm theo Quyết định số 491/QĐ-TTg Bộ tiêu chí nêu rất rõ các tiêu chí và chỉ tiêu theo vùng trên toàn quốc Bộ tiêu chí gồm 19 tiêu chí được chia làm 5 nhóm: Quy hoạch (1 tiêu chí); Hạ tầng kinh
tế - xã hội (8 tiêu chí); Kinh tế và tổ chức sản xuất (4 tiêu chí); Văn hóa - Xã hội - Môi trường (4 tiêu chí); Hệ thống chính trị (2 tiêu chí) Trong mỗi tiêu chí có chia nhỏ ra các đầu mục chi tiết nhằm đánh giá chính xác thực trạng kinh tế - xã hội của mỗi xã, huyện, tỉnh Từ đó, giúp cho cấp quản lý, ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của mỗi địa phương đưa ra được các phương án khả thi nhằm đưa địa phương mình trở thành xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới
Trang 17Khi đánh giá thực trạng khu vực nông thôn hiện nay qua Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, có thể rút ra những nhận xét sau:
- Trong toàn bộ 19 tiêu chí quốc gia có duy nhất 1 tiêu chí toàn bộ khu vực nông thôn Hà Nội đã đạt được là tiêu chí hệ thống an ninh trật tự xã hội được giữ vững; 10 tiêu chí cơ bản đạt (60%-80% yêu cầu) là: giao thông nông thôn; thủy lợi; hệ thống điện nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư nông thôn; các hình thức tổ chức sản xuất; giáo dục; y tế xã; văn hóa và hệ thống tổ chức chính trị xã hội trong các xã đã đủ theo quy định Còn 8 chỉ tiêu chưa đạt (dưới 50% yêu cầu) là: tiêu chí quy hoạch; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; thu nhập; tỷ lệ hộ nghèo; tỷ lệ lao động và môi trường
- Các tiêu chí thuộc nhóm về cơ sở vật chất, hạ tầng có tỷ lệ số xã đạt chuẩn khá cao, lên đến 60 - 80% tổng số xã Tuy nhiên, đó mới chỉ là đạt tiêu chuẩn về số lượng, còn chất lượng cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn đã và đang xuống cấp trầm trọng Theo điều tra thực tế, về thủy lợi: trong số 2.045,09km kênh mương cấp 3 do xã quản lý đã được kiên cố hóa có đến hơn 80% đã hư hỏng, cần cải tạo nâng cấp; gần 60% trạm bơm đã xuống cấp cần cải tạo Chỉ tiêu về hệ thống điện: 39,23% đường dây cần cải tạo, nâng cấp và 972,7km cần xây dựng mới; 22,87% trạm biến áp cần cải tạo, nâng cấp Hiện vẫn còn 15% số nhà ở nông thôn chưa đạt chuẩn trong đó có 2.974 nhà đã xuống cấp nghiêm trọng
- Các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, văn hóa, hệ thống chính trị xã hội có tỷ lệ đạt chuẩn khá cao: chất lượng đội ngũ giáo viên cao: >90% đạt chuẩn; số xã được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã đạt 85,5%; 95,68% thôn xây dựng được Quy ước làng văn hóa Tuy nhiên, trong số chỉ tiêu này vẫn còn những chỗ yếu kém cần khắc phục Chất lượng giáo dục ở mức khá cao song
cơ sở vật chất trường học thì còn yếu kém: nhà trẻ có 7,3% đạt chuẩn; tiểu
Trang 18học có 52,4% đạt chuẩn; THCS có 29,3% đạt chuẩn Cơ sở vật chất văn hóa còn thiếu thốn nhiều, chỉ có 15/75 xã có nhà văn hóa đạt chuẩn
- Các nhóm tiêu chí có tỷ lệ số xã đạt chuẩn rất thấp chủ yếu là nhóm chỉ tiêu về quy hoạch, kinh tế và môi trường Trên thực tế, hầu như chưa có xã nào đã hoàn thành các nhiệm vụ về quy hoạch với chỉ 2,74% xã đạt chuẩn về quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường, 7,48% xã đạt chuẩn về quy hoạch phát triển các khu dân cư mới Năm 2009, thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn chỉ đạt 11,26 triệu đồng/người/năm (bình quân của Thành phố 31,8 triệu đồng/người/năm); tỷ lệ hộ nghèo là 9,27% gấp 1,52 lần tỷ lệ hộ nghèo toàn Thành phố (6,09%); tỷ lệ lao động trong độ tuổi đang làm việc trong lĩnh vực nông lâm, ngư nghiệp hiện nay là 57,85% Các tiêu chí về môi trường còn ở mức rất thấp: số dân được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế chỉ chiếm trên 30%; công tác quản lý, thu gom và xử lý chất thải ở khu vực nông thôn đã được chú trọng hơn song chỉ có 37% số xã được thu gom đưa đi xử lý tập trung; hầu hết lượng nước thải sinh hoạt và sản xuất của khu vực nông thôn đều chưa được xử lý trước khi đổ thải ra môi trường bên ngoài…
Có thể nhận thấy rằng, mặc dù hiện nay chưa có xã nào đạt chuẩn quốc gia về nông thôn mới, nhưng khi nghiên cứu các tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn quốc gia và đánh giá thực trạng khu vực nông thôn Hà Nội thì cho thấy hầu hết các tiêu chí này các xã của Thành phố đều có thể đạt hoặc vượt chỉ tiêu trong những năm tới, nhất là các chỉ tiêu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, là những chỉ tiêu chủ yếu cần nguồn tài chính là có thể thực hiện được Tuy nhiên, vẫn
có một số tiêu chí rất khó để thực hiện được, như chỉ tiêu về thu nhập bình quân đầu người; chỉ tiêu về số lượng lao động trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp (theo tiêu chí là 25% số lượng lao động của xã trong khi hiện nay rất
Trang 19nhiều xã tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn ở mức rất cao với 60-80% tổng
số lao động); các chỉ tiêu về môi trường, đặc biệt là chỉ tiêu chất thải, nước thải được thu gom và xử lý đúng quy định hay chỉ tiêu không có các hoạt động gây suy giảm môi trường…)
Các chỉ tiêu của Bộ tiêu chí Quốc gia được trình bày cụ thể dưới đây:
A Xã Nông thôn mới
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
vụ 1.2 Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội – môi trường theo chuẩn mới
1.3 Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
Trang 20II Hạ tầng Kinh tế - Xã hội
Chỉ tiêu chung
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
2 Giao
thông
2.1 Tỷ lệ km đường trục
xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật
GTVT
100% 100% 100% 100% 100% 100% 100% 100%
2.2 Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT
70% 50% 100% 70% 70% 70% 100% 50%
2.3 Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa
100%
100%
(50%
cứng hóa)
100%
cứng hóa
100%
(70%
cứng hóa)
100%
(70%
cứng hóa)
100%
(50%
cứng hóa)
100%
cứng hóa
100% (30% cứng hóa)
2.4 Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe
cơ giới đi lại thuận tiện
65% 50% 100% 70% 70% 70% 100% 50%
3 Thủy lợi
3.1 Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sx và dân sinh
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
Trang 213.2 Tỷ lệ km trên mương
do xã quản lý được kiên cố hóa
65% 50% 85% 85% 70% 45% 85% 45%
4 Điện
4.1 Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
4.2 Tỷ lệ hộ
sử dụng điện thường
xuyên, an toàn từ các nguồn
98% 95% 99% 98% 98% 98% 99% 98%
5 Trường
học
Tỷ lệ trường học các cấp:
mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ
sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
Bộ
VH-TT-DL
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
6.2 Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL
Trang 228 Bưu điện
8.1 Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
8.2 Có Internet đến thôn
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
9 Nhà ở
dân cư
9.1 Nhà tạm, dột nát Không Không Không Không Không Không Không Không 9.2 Tỷ lệ hộ
có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ Xây dựng
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
10 Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của tỉnh
1,4 lần 1,2 lần
1,5 lần 1,4 lần 1,4 lần 1,3 lần
1,5 lần
1,3 lần
Có Có Có Có Có Có Có Có
Trang 23IV Văn hóa - Xã hội - Môi trường
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
14 Giáo dục
14.1 Phổ cập giáo dục trung học
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
14.2 Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề)
85% 70% 90% 85% 85% 70% 90% 80%
14.3 Tỷ lệ lao động qua đào tạo
15 Y tế
15.1 Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức BHYT
30% 20% 40% 30% 30% 20% 40% 20%
15.2 Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
16 Văn hóa
Xã có từ 70%
số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
17 Môi
trường
17.1 Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp
vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia
85% 70% 90% 85% 85% 85% 90% 75%
17.2 Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về MT Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
Trang 2417.3 Không có các hoạt động suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
17.4 Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
17.5 Chất thải, nước thải được thu gom và xử
Chỉ tiêu theo vùng TDMN
phía Bắc
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung
bộ
Duyên hải Nam
TB
Tây Nguyên
Đông Nam
bộ
ĐB sông Cửu Long
tổ chức trong hệ thống chính trị
cơ sở theo quy định
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
18.3 Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn
“trong sạch, vững mạnh”
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
18.4 Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt Đạt
Trang 25B Huyện Nông thôn mới: Có 75% số xã trong huyện đạt nông thôn mới
C Tỉnh Nông thôn mới: Có 80% số huyện trong tỉnh đạt nông thôn mới
1.5 Một số văn bản pháp luật về chương trình xây dựng nông thôn mới:
Sự quan tâm và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành đối với chương trình nông thôn mới được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật sau:
1.5.1 Văn bản của Trung ương:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn xác định nhiệm vụ xây dựng: "Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới";
- Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28 tháng 10 năm 2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020;
- Văn bản số 5385/VPCP-KTN ngày 7/8/2009 của Văn phòng Chính phủ, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng về việc xây dựng Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới;
Trang 26- Văn bản số 34/VPCP-KTN ngày 3/2/2010 của Văn phòng Chính phủ, thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng về việc triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về nông thôn mới, tại hội nghị tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010 của ngành Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn;
- Văn bản số 2543/BNN-KTHT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn đánh giá và lập báo cáo xây dựng nông thôn mới cấp xã giai đoạn 2010-2020, định hướng đến năm 2030;
- Các văn bản hướng dẫn của Bộ, Ngành liên quan;
1.5.2 Văn bản của Thành phố Hà Nội:
- Chương trình 02/CTr-TU ngày 31/10/2008 của Thành ủy Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
- Thông báo số 225-YB/TU ngày 13/01/2010 của Thành ủy Hà Nội thông báo ý kiến chỉ đạo của Thường trực Thành ủy tiếp tục triển khai xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới trên địa bàn Thành phố;
- Chỉ thị số 27/CT-UBND ngày 20/10/2009 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội về việc tăng cường chỉ đạo, thực hiện công tác xây dựng "Quỹ hỗ trợ nông dân" Thành phố Hà Nội;
- Nghị quyết số 03/2010/NQ-HĐND ngày 21/4/2010 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa XIII kỳ họp thứ 20 về xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội giai đoạn 2010-2020, định hướng 2030;
Trang 27- Quyết định số 1999-QĐ/TU, ngày 18/5/2010 của Thành ủy Hà Nội về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng nông thôn mới thành phố
Hà Nội, giai đoạn 2010-2020;
- Thông báo số 383-TB/BCĐ ngày 13/8/2010 của Thành ủy Hà Nội về việc phân công nhiệm vụ các thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới Thành phố Hà Nội, giai đoạn 2010-2020;
- Nghị quyết Đại hội Đại biểu lần thứ XV Đảng bộ Thành phố Hà Nội ngày 28/10/2010
1.6 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở nước ngoài (qua ví dụ ở Hàn Quốc):
Hàn Quốc hiện nay là một đối tác quan trọng trong việc phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội của Việt Nam Cũng như nhiều nước châu Á khác, Hàn Quốc cũng trải qua giai đoạn phong kiến hàng trăm năm không giao lưu với nước ngoài, bế quan tỏa cảng chỉ hoạt động trong nước Trước khi trở thành một "con rồng châu Á", Hàn Quốc cũng đã phải chịu ách đô hộ của Nhật Bản rồi trải qua cuộc nội chiến Người dân, đặc biệt là những người nông dân quen sống trong cảnh nghèo nàn, an phận thủ thường và tâm lý cam chịu đã ăn sâu vào nếp nghĩ của họ
Hàn Quốc cuối thập kỷ 50 và những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước là một nước chậm phát triển Từ năm 1953 đến năm 1962, mức tăng GDP bình quân hàng năm đạt khoảng 3,7%, tỷ lệ tăng dân số khoảng 3% Thu nhập bình quân đầu người năm 1953 đạt khoảng 67 USD, đến năm 1962 tăng lên 87 USD Nông nghiệp là hoạt động kinh tế chính của đất nước, với hơn 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn nhưng điều kiện tự nhiên lại không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp: Hàn Quốc nghèo về tài nguyên và kém thuận lợi về khí hậu cho sản xuất nông nghiệp Sau 2 lần thực hiện kế hoạch 5
Trang 28năm, nhờ quyết sách chiến lược đúng đắn và chú trọng phát triển ngành công nghiệp, Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 10 năm là 9,3% Tuy nhiên, việc dồn toàn lực đầu tư cho việc phát triển các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu làm cho ngành nông nghiệp không phát triển được, tốc độ tăng trưởng nông nghiệp chỉ đạt 5,3% ở 5 năm lần thứ nhất và 2,5% ở 5 năm lần thứ 2
Trước tình hình đó, đầu thập kỷ 70 (kế hoạch 5 năm lần thứ 3), Chính phủ Hàn Quốc đã đầu tư trở lại khoảng 2 tỷ USD cho phát triển nông thôn với mục tiêu: "Tăng trưởng cân đối giữa khu vực công nghiệp và nông nghiệp" Hàn Quốc đã tìm ra một lối đi thành công, đó là mô hình "làng mới" (Saemaul
undong) Tổng thống Hàn Quốc thời đó là Park Chung Hee đã tuyên bố: "Nếu chúng ta có thể tạo ra hay khai thác được tinh thần chăm chỉ, tự vượt khó khăn và hợp tác tiềm ẩn trong mỗi thành viên sống trong khu vực nông thôn, tôi tin tưởng rằng tất cả các làng, xã nông thôn sẽ trở thành nơi thịnh vượng
để sống Chúng ta có thể gọi đó là phương hướng hành động của mô hình Saemaul Undong" Từ đường lối và cách thức triển khai phong trào Saemaul
Undong của Hàn Quốc có thể thấy một số kinh nghiệm quý báu:
- Chỉ dùng tiền Nhà nước để làm phương tiện thay đổi tâm lý thụ động, ỷ lại của người nông dân; tạo niềm tin cho nông dân để họ tự đứng lên tổ chức nhau lại hợp tác phát triển nông thôn theo cộng đồng
- Điều đầu tiên là đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức mới, đồng bộ hợp tác phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến địa phương với các hoạt động cụ thể:
+ Tổ chức chương trình từ cơ sở lên Trung ương, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ: Cấp quan trọng nhất là cấp cơ sở, mỗi làng bầu ra "Ủy ban Phát
Trang 29triển Làng mới" (ở Việt Nam là Ban chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới) Ngoài ra, ủy ban còn được thiết lập ở mọi cấp của chính quyền địa
phương để cố vấn và hướng dẫn ủy viên các làng lập và lựa chọn dự án, quyết định những vấn đề ưu tiên và huy động lao động, vật tư và tiền Trực tiếp chỉ đạo, phối hợp và kiểm tra chặt chẽ từ trên xuống và trực tiếp nghe ý kiến phản ánh của nhân dân để tránh tình trạng quan liêu, tham nhũng và lãng phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước
+ Xây dựng đội ngũ lãnh đạo nông thôn làm nòng cốt cho chương trình phát triển: Chính phủ đầu tư các trung tâm đào tạo quốc gia và sử dụng rộng
rãi mạng lưới trường nghiệp vụ ngành ở các địa phương nhằm trang bị kiến thức thiết thực cho cán bộ
+ Đào tạo cán bộ các cấp, gắn cả nước với phong trào phát triển nông thôn: Chính quyền đặc biệt coi trọng vai trò của các nhà lãnh đạo tôn giáo,
các văn nghệ sỹ và báo chí trong việc giáo dục, tuyên truyền cho xã hội đang
đô thị hóa nhanh hướng trở về nông thôn, kéo dịch thành thị và nông thôn lại gần nhau về tư tưởng và hành động
+ Phát huy dân chủ, đưa nhân dân tham gia vào quá trình ra quyết định
+ Phát huy tinh thần thi đua, khơi dậy nhiệt tình phong trào
- Trong lĩnh vực phát triển xã hội, phong trào Saemaul chú trọng phát triển những dự án đảm bảo cơ bản chất lượng đời sống của người nông dân và mang tính phát triển bền vững :
+ Những dự án phát triển môi trường
+ Những dự án cải thiện cơ sở hạ tầng cho từng hộ nông dân
Trang 30- Trong lĩnh vực phát triển kinh tế, phong trào chú trọng thực hiện các
dự án nhằm tăng thu nhập cho người dân: tăng năng suất cây trồng, phát triển chăn nuôi gia súc, trồng rừng, đa canh, xây dựng vùng chuyên canh, thúc đẩy hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, phân loại các khu vực sản xuất, phát triển canh tác theo nhóm, thiết lập các nhà máy Saemaul để gia tăng nguồn lợi tức ngoài mùa
Phong trào Saemaul là một cách thức phát triển nhanh và hiệu quả của Hàn Quốc Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, sau 30 năm thực hiện phong trào, môi trường sống và cuộc sống vật chất của cư dân nông thôn đã được cải thiện đáng kể, sản xuất mang tính thương mại và phát triển Trên hết là những người nông dân đói nghèo bắt đầu trở nên tự tin; Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động, có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và nhờ đó có khả năng tự phát triển
Như vậy, những kinh nghiệm trên đây của Hàn Quốc có thể nghiên cứu, áp dụng cho Việt Nam và Hà Nội trong tiến trình xây dựng nông thôn mới
1.7 Các yếu tố (hạn chế) ảnh hưởng đến việc xây dựng nông thôn mới:
Hiện nay, việc xây dựng nông thôn mới vẫn đang được thực hiện trên toàn quốc, tuy nhiên, chương trình mới chỉ diễn ra trên địa bàn các xã được chọn làm thí điểm của Nhà nước và của từng địa phương Theo bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, các tiêu chí về quy hoạch và hạ tầng kinh tế xã hội của các địa phương đều còn rất thấp và hầu như chưa được thực hiện Việc xây dựng mô hình nông thôn mới hầu hết mới thực hiện được các công việc trên giấy tờ Qua khảo sát thực tế tại một số địa phương có thể nhận thấy một số yếu tố hạn chế ảnh hưởng tới việc xây dựng nông thôn mới:
Trang 31- Tiến độ xây dựng quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết chậm, chất lượng chưa cao : Theo 19 tiêu chí về xây dựng Nông thôn mới thì quy hoạch
chiếm vị trí hết sức quan trọng, quy hoạch điểm dân cư nông thôn phải đi trước một bước bởi nếu không có quy hoạch thì các khâu khác dù có nhanh mấy cũng sẽ không thực hiện được Quy hoạch giữ vai trò quan trọng và là yếu tố đầu tiên để xây dựng được nông thôn mới Để xây dựng được nông thôn mới, mỗi xã, huyện phải xây dựng được quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết cho xã, huyện mình, từ đó lập đề án xây dựng nông thôn mới để đưa vào triển khai trên thực tế
- Huy động vốn đầu tư từ các doanh nghiệp để xây dựng hạ tầng kinh tế -
xã hội: Qua bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, có thể thấy các
chỉ tiêu về hạ tầng kinh tế - xã hội là những tiêu chí dễ đạt nhất nếu có vốn đầu tư hợp lý Nhưng vốn đầu tư vào hạ tầng kinh tế - xã hội là những khoản đầu tư phi lợi nhuận, vì thế việc thu hút vốn đầu tư từ các doanh nghiệp khá khó khăn Hiện nay, nguồn lực để xây dựng nông thôn mới được quy định như sau: ngân sách Trung ương, địa phương sẽ hỗ trợ 40%; còn 60% sẽ huy động từ các nguồn như doanh nghiệp, tín dụng, hợp tác xã; và người dân đóng góp 10% có thể bằng tiền, ngày công, hoặc hiến đất cho xây dựng nông thôn mới Ta có thể thấy rằng, tuy là một tiêu chí dễ đạt song nếu không có vốn đầu tư thì cũng không thể thực hiện được
- Năng lực, tầm nhìn của cán bộ quản lý còn nhiều hạn chế: Cán bộ quản
lý giữ vai trò then chốt cũng như cầu nối trong hoạt động xây dựng nông thôn mới tại mỗi địa phương, vì thế năng lực cũng như tầm nhìn của cán bộ quản
lý là hết sức quan trọng Để xác định được hướng đi trong sản xuất nông nghiệp, hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, người lãnh đạo phải
có năng lực, tầm nhìn để có thể đánh giá hết được khả năng, tiềm lực của địa
Trang 32phương mình, chọn hướng đi đúng đắn nhằm phát huy hết khả năng và tiềm lực của địa phương nhằm đưa cuộc sống của người dân nâng cao hơn, kinh tế của địa phương phát triển ngày càng lớn mạnh, xã hội văn minh
- Công tác tuyên truyền đến người dân chưa thường xuyên, sâu rộng:
Không chỉ quan trọng ở người lãnh đạo mà vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới cũng hết sức quan trọng Vì thế, mỗi địa phương đều phải tuyên truyền, hướng dẫn người dân về chương trình xây dựng nông thôn mới; giải thích cho người dân hiểu mục đích và lợi ích của chương trình Khi đường lối của chương trình xây dựng nông thôn mới đã được người dân thấu hiểu, thấm nhuần thì ý thức tự giác chung tay, góp sức vào công cuộc xây dựng nông thôn mới của người dân sẽ được phát huy
- Hệ thống cơ chế, chính sách và văn bản pháp luật chỉ đạo chương trình xây dựng nông thôn mới chưa cụ thể, còn nhiều vướng mắc và bất hợp lý trong các tiêu chí: Hiện nay, cũng có khá nhiều văn bản pháp luật qui định và
hướng dẫn xây dựng nông thôn mới song chúng mới chỉ ở mức tổng quát, chồng chéo nhau; việc phân công trách nhiệm các cấp, các ngành và hướng dẫn thực hiện chưa đi vào chi tiết, chưa phù hợp với thực tế khiến cho công tác xây dựng nông thôn mới ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng
- Các nguồn lực phục vụ cho xây dựng nông thôn mới còn nhiều hạn chế: Chương trình xây dựng nông thôn mới đã và đang được triển khai song
các nguồn lực như vốn và năng lực cán bộ vẫn còn thiếu và yếu Khi bước qua giai đoạn thí điểm, các xã triển khai đồng loạt thì việc thiếu hụt các nguồn lực sẽ là một bức tường rào cản quá trình xây dựng nông thôn mới tại các địa phương
Trang 33- Nhận thức của người dân còn hạn chế: Trong quá trình xây dựng nông
thôn mới, người dân là nhân tố cốt lõi để thực hiện xây dựng các tiêu chí Khi người dân không hiểu hết được mục đích và lợi ích của chương trình xây dựng nông thôn mới thì việc triển khai thực hiện sẽ rất khó khăn Ngược lại, nếu người dân hiểu rõ về chương trình xây dựng nông thôn mới thì việc triển khai tại địa phương với sự đồng thuận và chung tay của người dân sẽ hết sức thuận lợi và hiệu quả
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CHUYÊN MỸ
THEO BỘ TIÊU CHÍ QUỐC GIA 2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Chuyên Mỹ
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên:
Chuyên Mỹ là một xã nằm ở phía Nam Hà Nội, thuộc huyện Phú Xuyên Xã Chuyên Mỹ nằm trên trục đường Quốc lộ 1A, cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km
Khí hậu của xã mang đặc trưng của vùng Bắc Bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Một đặc điểm rõ nét của khí hậu ở đây là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình khoảng 28ºC Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình khoảng 14ºC Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, xã có đủ 4 mùa xuân, hạ, thu, đông
Trên địa bàn xã có con sông Nhuệ chảy qua và khá nhiều ao hồ
Những đặc điểm tự nhiên này rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, hoa màu và nuôi trồng thủy sản
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:
Cơ cấu kinh tế của xã được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 35Hình 2.1 Cơ cấu kinh tế xã Chuyên Mỹ năm 2010
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội của xã Chuyên Mỹ năm 2010)
Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 2006-2010 của xã đạt 16,2%/năm Trong đó, mức tăng trưởng cụ thể từng năm của xã được thể hiện trong biểu đồ sau:
Trang 36Hình 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế xã Chuyên Mỹ
giai đoạn 2006-2010
(Nguồn: Báo cáo Kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng
bộ xã lần thứ XXIII, nhiệm kỳ 2005-2010) 2.1.2.1 Về kinh tế:
- Diện tích gieo cấy vụ xuân 439 ha, vụ mùa 353 ha Năng suất lúa cả năm đạt 12,15 tấn/ha Vụ đông gieo trồng 365 ha
- Về chăn nuôi: Tổng đàn gia súc gia cầm luôn có ở mức: đàn lợn 1.100 con; đàn bò 110 con; đàn gia cầm 22.000 con
- Kinh tế trang trại: Bình quân doanh thu ước đạt 100 triệu đồng/ha/năm
Cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp: trồng trọt 74%, chăn nuôi 26%
Trang 37Khối lượng đàn gia súc, gia cầm của xã là tương đối lớn, phương thức chăn nuôi là chăn thả Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước của xã
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp phát triển tương đối ổn định Sản xuất và kinh doanh hàng tiểu thủ công nghiệp không chỉ phục vụ cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu ra thị trường quốc tế Sản phẩm của làng nghề khảm trai, sơn mài cũng được tham gia nhiều hội chợ do Thành phố tổ chức và một
số tỉnh, thành trên toàn quốc, đặc biệt sản phẩm khảm trai, sơn mài đã có mặt tham gia hội trợ do Thành phố tổ chức nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội Tiểu thủ công nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho người dân Theo thống kê của xã, toàn xã có 1.150 cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể,
có đến 97% hộ dân trong xã sống bằng nghề tiểu thủ công nghiệp khảm trai
Hoạt động tiểu thủ công nghiệp tuy mang lại nhiều lợi ích cho người dân song nó cũng tác động không nhỏ đến môi trường Chất thải từ quá trình chế biến sản phẩm đã gây ô nhiễm trầm trọng cho môi trường và cảnh quan chung
- Hoạt động dịch vụ - thương mại của xã chủ yếu là hoạt động cho vay tín dụng nhân dân
Sự phát triển kinh tế của xã Chuyên Mỹ giai đoạn 2007-2009 được thể hiện qua biểu đồ trang bên:
Trang 38Hình 2.3 Thu nhập từ các ngành của xã Chuyên Mỹ
giai đoạn 2007-2010
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội xã Chuyên Mỹ qua các năm)
Nhìn vào biểu đồ thấy rằng thu nhập của các ngành xã Chuyên Mỹ tăng dần qua các năm, song tăng mạnh nhất là ngành tiểu thủ công nghiệp Ngành tiểu thủ công nghiệp cũng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu kinh tế của xã, gần 60% Trong năm 2010, các ngành đều có sự tăng mạnh hơn so với các năm trước Điều này là do chính quyền xã đã có sự đầu tư hơn cho phát triển kinh tế - xã hội như: xây dựng hệ thống giao thông tạo điều kiện cho việc thông thương, buôn bán; cải tạo hệ thống thủy lợi, chăm lo cho sản xuất nông nghiệp;…
Trang 39Giá trị sản xuất hàng hóa dịch vụ của các ngành sau 10 năm được thể hiện qua biểu đồ trang bên:
0 50
Hình 2.4 Giá trị sản xuất hàng hóa dịch vụ của xã
giai đoạn 2000 - 2010
(Nguồn: Báo cáo kinh tế - xã hội của xã qua các năm)
Giá trị sản xuất hàng hóa các ngành trong giai đoạn 2000 - 2010 xu hướng tăng dần, đặc biệt các năm gần đây tốc độ tăng càng nhanh Từ năm
2005 đến năm 2009 giá trị sản xuất của lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chỉ tăng thêm 50 tỷ đồng nhưng từ năm 2009 đến năm 2010 đã tăng thêm 55 tỷ đồng Đặc biệt, lĩnh vực thương mại dịch vụ có xu hướng tăng mạnh nhất Từ năm 2000 đến năm 2005, giá trị sản xuất của lĩnh vực thương mại - dịch vụ chỉ tăng thêm 3,5 tỷ đồng, song trong khoảng thời gian ít hơn 1 năm, từ 2005
Trang 40đến năm 2009 giá trị sản xuất của lĩnh vực này đã tăng thêm 46 tỷ đồng, tăng hơn 13 lần; trong 1 năm từ 2009 đến 2010, giá trị sản xuất của lĩnh vực này cũng tăng thêm 22 tỷ đồng nữa Điều này cho thấy, lĩnh vực thương mại - dịch vụ xã Chuyên Mỹ ngày càng phát triển, là nguồn thu lớn cho địa phương
và người dân
2.1.2.2 Cơ sở hạ tầng:
- Giao thông: có mạng lưới đường giao thông rộng khắp, từ thị trấn, xã đến các thôn làng Xây dựng các đường liên thôn đến các điểm tiểu thủ công nghiệp Đường giao thông được trải nhựa, đổ bê tông rộng rãi
- Thuỷ lợi được đầu tư xây mới các cống tưới tiêu, đào đắp cải tạo kênh mương thủy lợi nội đồng nhằm chứa nước để phục vụ sản xuất nông nghiệp
và đáp ứng được cơ bản các điều kiện khi mưa úng xảy ra
2.1.2.3 Dân số:
- Tổng dân số của xã là 8.545 người
- Xã có 5.200 người trong độ tuổi lao động Trong đó, sự phân bố lao động trong các ngành như sau: