1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ

111 630 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam”, tôi luôn nhận được sự hướ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện đề tài: “Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam”,

tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của rất nhiều người

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa đào tạo Sau đại học Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú, các anh chị trong sáu công ty đã tạo điều kiện cho tôi trong thời gian thực tập

Tôi cũng xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè để tôi có thể hoàn thành được luận văn này

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy giáo TS.Trần Hữu Dào người đã định hướng tư duy, cung cấp tài liệu và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Trong thời gian nghiên cứu tìm hiểu do thời gian có hạn, tầm nhận thức còn mang nặng tính lý thuyết, chưa nắm được kinh nghiệm thực tế nên không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và những người quan tâm tới đề tài này để cho đề tài được hoàn thiện hơn

Tôi cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực, đề tài không trùng với bất kỳ đề tài nghiên cứu khoa học nào

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn ……….……… i

Mục lục……….…….….ii

Danh mục các từ viết tắt……… …… …iv

Danh mục các bảng……….….……… v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4 1.1 Cơ sở lý luận về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp 4

1.1.1 Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp 4

1.1.2 Định giá doanh nghiệp 12

1.1.3 Sự cần thiết phải định giá doanh nghiệp 14

1.2.Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 14

1.2.1 Trên thế giới 14

1.2.2 Tại Việt Nam 18

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đặc điểm của vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam 25

2.2 Đặc điểm của các công ty nghiên cứu 26

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình sản xuất kinh doanh của của công ty cổ phần chè Văn Hưng - Yên Bái 26

2.2.2 Đặc điểm cơ bản của Công ty Cổ Phần Chè Phú Thọ 28

2.2.3 Đặc điểm cơ bản Công ty Cổ phần chè Sông Lô 29

2.2.4 Đặc điểm cơ bản của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Thác Bà 31

2.2.5 Đặc điểm cơ bản của Công ty lâm nghiệp Xuân Đài 32

2.2.6 Đặc điểm tự nhiênCông ty Lâm nghiệp Yên Sơn 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 35

Trang 3

2.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 35

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 35

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

3.1 Đánh giá thực trạng xác định giá trị tài sản trong các doanh nghiệp nông nghiệp tại vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam 45

3.1.1 Giá trị tài sản vật chất 45

3.1.2 Giá trị tài sản về đầu tư tài chính 50

3.1.3 Giá trị tài sản vô hình 50

3.1.4 Giá trị vườn cây 51

3.1.5 Giá trị tài nguyên đất 60

3.2 Đánh giá thực trạng xác định giá trị tài sản trong các doanh nghiệp lâm nghiệp tại vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam 66

3.2.1 Giá trị tài sản vật chất 66

3.2.2 Giá trị tài sản về đầu tư tài chính 72

3.2.3 Giá trị tài sản vô hình 73

3.2.4 Xác định giá trị rừng 75

3.2.5 Giá trị tài nguyên đất 89

3.3 Tổng hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp của các công ty nông lâm nghiệp 92

3.4 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị tài sản tại các Công ty nông - lâm nghiệp 97

3.4.1 Ưu nhược điểm về phương pháp xác định giá trị tài sản 97

3.4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị tài sản tại các Công ty nông - lâm nghiệp 98

KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

12 TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

14 TSCĐHH Tài sản cố định hữu hình

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của ba công ty nông nghiệp 47 3.2 Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn của ba công ty nông nghiệp 49 3.3 Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty nông nghiệp 51 3.4 Tổng hợp giá trị vườn chè của công ty Cổ phần chè Phú Thọ 55

3.7 Giá trị tài nguyên đất của ba công ty nông nghiệp 61 3.8 Bảng tổng hợp giá trị quyền sử dụng đất của công ty cổ phần chè Văn Hưng 63 3.9 Giá trị đất phi nông nghiệp Công ty CP chè Sông Lô 65 3.10 Tổng hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp nông nghiệp 66 3.11 Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của ba công ty lâm nghiệp 68 3.12 Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn của ba công ty lâm nghiệp 70 3.13 Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty lâm nghiệp 73 3.14 Giá trị tài sản vô hình của ba công ty lâm nghiệp 74 3.15 Một số chỉ tiêu xác định giá trị lợi thế kinh doanh của Công ty lâm

nghiệp Xuân Đài

3.23 Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp của Công ty LN Thác Bà 91 3.24 Giá trị thuê đất phi nông nghiệp tại Công ty năm 2011 93

3.26 Tổng hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp 95

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Sự cần thiết

Việc chuyển đổi loại hình kinh doanh của doanh nghiệp là vấn đề đang được nhiều người quan tâm và được triển khai rộng rãi trên cả nước Muốn chuyển đổi loại hình kinh doanh việc xác định giá trị doanh nghiệp là một bước quan trọng không thể thiếu được Trong thời gian qua vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp nổi lên là một trong những khó khăn gây cản trở lớn đến quá trình đổi mới doanh nghiệp nói chung và cổ phần hóa doanh nghiệp nói riêng Một trong những lý do chủ yếu khiến quá trình này gặp khó khăn là do chúng ta chưa thể xác định giá trị của doanh nghiệp một cách hợp lý do đặc tính doanh nghiệp là một hàng hóa đặc biệt bao gồm nhiều bộ phận cấu thành và có thể chia thành ba nhóm như sau:

- Nhóm 1: Giá trị tài sản vật chất của doanh nghiệp gồm: nhà xưởng, máy móc thiết

bị, vật tư, nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm chưa bán, tài sản bằng tiền

- Nhóm 2: Giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích mặt bằng do doanh nghiệp quản lý và sử dụng

- Nhóm 3: Giá trị tài sản vô hình: các lợi thế so sánh, lợi thế tự nhiên, vị trí của doanh nghiệp, bí quyếtm kỹ thuật công nghệ, uy tín của doanh nghiệp, nguồn nhân lực

Chính vì những lý do này đẫn đến quá trình xác định giá trị doanh nghiệp là một hoạt động phức tạp Việc xác định giá trị doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn mang tính áp đặt Do đó, vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp không chỉ cần thiết cho công tác cổ phàn hóa doanh nghiệp Nhà Nước mà còn có vai trò to lớn cho

sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi có thị trường chứng khoán Như vậy nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp là hết sức cần thiết

và có ý nghĩa cả về lý luận lẫn thực tiễn đối với tiến trình đổi mới quản lý doanh nghiệp ở nước ta hiện nay

Xuất phát từ yêu cầu đó, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm nghiệp và

sự hướng dẫn của thầy giáo TS Trần Hữu Dào, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

"Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam"

Trang 7

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước nói chung

và giá trị doanh nghiệp Nông – lâm nghiệp nói riêng

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

+ Hệ thống hóa cơ sở lí luận về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp

+ Nghiên cứu thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng Trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp 1.4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Luận văn nghiên cứu trên phạm vi vùng Trung du miền núi Bắc

Bộ Việt Nam, các nội dung chuyên sâu được khảo sát tại các doanh nghiệp nông - lâm nghiệp:

- Về thời gian: Các thông tin phục vụ cho nghiên cứu này được thu thập từ năm

2009 - 2011 Xác định giá trị doanh nghiệp cho năm 2012

2.4 Nội dung nghiên cứu

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp

+ Nghiên cứu thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông nghiệp tại các công ty nông nghiệp

* Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn

* Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

* Giá trị tài sản đầu tư tài chính

Trang 8

* Giá trị tài sản vô hình

* Giá trị vườn cây

* Giá trị tài nguyên đất đai

+ Nghiên cứu thực trạng phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp lâm nghiệp tại các công ty lâm nghiệp

* Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn

* Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn

* Giá trị tài sản đầu tư tài chính

* Giá trị tài sản vô hình

* Giá trị rừng

* Giá trị tài nguyên đất đai

+ Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp

Trang 9

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lý luận về phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp

1.1.1 Doanh nghiệp và giá trị doanh nghiệp

1.1.1.1 Lý thuyết chung về doanh nghiệp

* Khái niệm về doanh nghiệp

Theo Luật doanh nghiệp (năm 2005) của nước ta hiện nay, doanh nghiệp được định nghĩa như sau: Doanh nghiêp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh theo quy định pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.[19]

* Phân loại doanh nghiệp

Tùy theo mục tiêu nghiên cứu, có thể phân loại doanh nghiệp theo nhiều cách khác nhau Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:

a/ Phân loại theo hình thức sở hữu vốn trong doanh nghiệp

Căn cứ vào quan hệ sở hữu về vốn trong doanh nghiệp, có thể chia doanh nghiệp thành các loại sau đây:

- Doanh nghiệp nhà nước[19]

Doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập, tổ chức, quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao Vốn đầu tư thuộc về sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo kế hoạch của Nhà nước

- Doanh nghiệp tư nhân [19]

Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân tự bỏ vốn đầu tư thành lập, làm chủ và tự chịu trách nhiệm vô hạn về các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp là người bỏ vốn đầu tư thành lập doanh nghiệp, có toàn quyền quyết định các vấn đề tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, là người đại diện pháp lý của doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp

có thể đầu tư điều hành doanh nghiệp hoặc có thể thuê người khác làm giám đốc điều hành

Trang 10

- Công ty trách nhiệm hữu hạn[19]

Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) bao gồm hai loại là công ty TNHH nhiều thành viên và công ty TNHH một thành viên

+ Công ty TNHH nhiều thành viên: là loại hình doanh nghiệp do ít nhất hai thành viên cùng tham gia góp vốn thành lập, cùng chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty Vốn của công ty do các thành viên đóng góp đủ ngay 1 lần khi đăng kí thành lập Công ty này không có quyền phát hành các loại cổ phiếu và trái phiếu để huy động thêm vốn trong quá trình hoạt động

+ Công ty TNHH một thành viên: là loại hình doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm

vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân, không có quyền phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động thêm vốn

- Công ty cổ phần[19]

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp do ít nhất ba thành viên cùng tham gia góp vốn thành lập Vốn của công ty được chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là các cổ phần Các thành viên góp vốn vào doanh nghiệp bằng cách mua một hay một số cổ phần của công ty và được gọi là các cổ đông Trong quá trình hoạt động công ty cổ phần có quyền phát hành các cổ phiếu, trái phiếu ra thị trường để huy động thêm vốn Các cổ đông được hưởng lợi nhuận của công ty chia đều cho các cổ phần và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ của công ty trong phạm vi mệnh giá cổ phiếu do mình sở hữu

- Công ty hợp danh[19]

Công ty hợp danh là loại hình công ty do ít nhất hai thành viên hợp danh và

có một số thành viên góp vốn đứng ra thành lập Công ty này không được phép phát hành cổ phiếu và trái phiếu để huy động thêm vốn

- Nhóm các công ty:

Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác

Trang 11

Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - Công ty con, tập đoàn kinh

tế, các hình thức khác

b/ Phân loại doanh nghiệp theo quy mô

Quy mô của doanh nghiệp là một khái niệm tổng hợp nói lên độ lớn của một DN Thông thường quy mô DN được thể hiện qua các chỉ tiêu như: tổng số vốn đầu tư, tổng doanh thu, tổng lợi nhuận, giá trị tổng sản lượng… Dựa trên các chỉ tiêu xác định quy mô, DN được chia ra làm các loại chủ yếu là:

- Doanh nghiệp quy mô lớn

- Danh nghiệp quy mô vừa

- Doanh nghiệp quy mô nhỏ

c/ Phân loại doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh

Theo đặc điểm của các lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, có thể chia các doanh nghiệp thành các loại sau đây:

- Doanh nghiệp công nghiệp

- Doanh nghiệp nông nghiệp

- Doanh nghiệp thương mại

- Doanh nghiệp xây dựng cơ bản…

Các cách phân chia trên cũng chỉ là tương đối vì trong thực tiễn, các doanh nghiệp thường kinh doanh tổng hợp trên một số lĩnh vực thuộc các ngành khác nhau hoặc mỗi doanh nghiệp có thể không phải là doanh nghiệp Nhà nước nhưng Nhà nước nắm giữ một tỷ lệ vốn nhất định v v

Doanh nghiệp nông nghiệp[21]

a/ Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)

Theo cách phân loại ở phần trước thì doanh nghiệp nhà nước là loại hình doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập, tổ chức, quản lý, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước giao DNNN có các đặc trưng cơ

bản là:

+ Vốn đầu tư thuộc về sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo kế hoạch của Nhà nước

Trang 12

+ Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo kế hoạch của Nhà nước

+ Quyền hạn và nghĩa vụ của DNNN được quy định cụ thể trong Luật doanh nghiệp Nhà nước ban hành ngày 30/4/1995

Theo số liệu thống kê gần đây nhất, cả nước có khoảng 5800 DNNN nắm giữ trên 80% tổng số vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế nhưng hiệu quả kinh doanh rất thấp Trong số các doanh nghiệp trên có khoảng 2000 DNNN được đưa vào 90 tổng công ty, các doanh nghiệp này chiếm gần 75% tổng số vốn Nhà nước trong các doanh nghiệp Hiện tại hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước đã được chuyển đổi sang các loại hình công ty khác theo chủ trương chuyển đổi các doanh nghiệp Nhà nước hoặc chuyển thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định 109/2007/NĐ-CP ban hành ngày 26 tháng 6 năm 2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhànước thành công ty cổ phần và Luật doanh nghiệp

2005 quy định về các loại hình công ty

b/ Doanh nghiệp nông nghiệp

Doanh nghiệp nông nghiệp là loại hình doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp với đặc trưng cơ bản là sử dụng đất đai và các loại cây trồng, vật nuôi làm tư liệu sản xuất chủ yếu Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp:

+ Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt

+ Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được

+ Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống gồm cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong)

+ Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Chu kì sản xuất nông nghiệp phụ thuộc chu kì sinh học của các loại cây trồng, vật nuôi

+ Các sản phẩm nông sản có thể được tiêu dùng trực tiếp như rau xanh, lương thực, thịt, cá, trứng, sữa… Ngoài ra các sản phẩm có thể được cung cấp cho các ngành công nghiệp chế biến như: chè, cà phê, cao su, ca cao, lạc, đỗ, bông, đay…

Trang 13

Trước đây các doanh nghiệp nông nghiệp chủ yếu tồn tại dưới dạng các nông trường quốc doanh và các DN Nhà nước:

+ Nông trường quốc doanh: là loại hình DN nông nghiệp Nhà nước chủ yếu thực hiện trồng chăm sóc các loại cây nông nghiệp dài ngày như: chè, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu… cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu + Doanh nghiệp nhà nước về chế biến nông sản: là các DN hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bảo quản, chế biến; phân phối các loại nông sản từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ hoặc cho các doanh nghiệp chế biến

Hiện nay có 2 cách phân loại DN nông nghiệp chủ yếu là phân loại theo lĩnh vực hoạt động kinh doanh và phân loại theo loại hình thức sở hữu vốn trong doanh nghiệp

- Căn cứ vào hình thức sở hữu vốn thì doanh nghiệp nông nghiệp được chia ra thành các loại tương tự như quy định của Luật doanh nghiệp 2005 gồm: doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh Các đặc điểm cơ bản của từng loại hình

DN này đã được nêu ở trên

- Căn cứ vào chuyên môn trong sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nông nghiệp có thể chia thành:

+ Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp: bao gồm các doanh nghiệp chỉ thực hiện việc trồng trọt và chăn nuôi Các sản phẩm thu hoạch được bảo quản, sơ chế và cung cấp cho thị trường hoặc ngành công nghiệp chế biến

+ Doanh nghiệp chế biến nông sản: Là các doanh nghiệp thực hiện việc bảo quản, chế biến các loại nông sản đã thu mua được Các sản phẩm nông sản rất đa dạng như: cà phê, chè, sữa, đồ hộp, dầu ăn, đường, mứt…

+ Doanh nghiệp dịch vụ: là các doanh nghiệp hoạt động trong các hoạt động như nghiên cứu đất đai; nghiên cứu và cung cấp giống cây trồng, vật nuôi; nghiên cứu

và chuyển giao các công nghệ, kĩ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp; cung cấp các vật tư cho nông nghiệp như: phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp…

Trang 14

Tuy nhiên hiện nay trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt thì không một doanh nghiệp nào chỉ kinh doanh đơn thuần trong một lĩnh vực mà thực hiện kinh doanh tổng hợp Các doanh nghiệp kinh doanh tổng hợp thực hiện đồng thời nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh trong và ngoài lĩnh vực nông nghiệp hoặc thực hiện nhiều hoạt động của sản xuất nông nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi đến thu mua nông sản rồi chế biến và cung cấp cho thị trường Các nhà máy, xí nghiệp thường được đặt gần vùng nguyên liệu để dễ dàng thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh

c/ Doanh nghiệp lâm nghiệp

Doanh nghiệp lâm nghiệp là 1 loại doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực

lâm nghiệp với đặc trưng cơ bản nhất là lấy rừng và tài nguyên rừng làm tư liệu

sản xuất chủ yếu

Như vậy doanh nghiệp lâm nghiệp trước hết là một tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp với các hoạt động xây dựng rừng và tài nguyên rừng làm tư liệu sản xuất chủ yếu

Như vậy doanh nghiệp lâm nghiệp trước hết là một tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh chủ yếu trong lĩnh vực lâm nghiệp, đáp ứng nhu cầu về lâm sản đối với toàn bộ nền kinh tế Bên cạnh đó doanh nghiệp lâm nghiệp còn phải làm nhiệm vụ phát huy chức năng phòng hộ của rừng đối với quốc gia, đồng thời phát huy chức năng phòng hộ của rừng đối với quốc gia, đồng thời phát huy tốt nhất các chức năng về văn hóa xã của rừng đối với xã hội

* Các đặc điểm của doanh nghiệp lâm nghiệp

- Đặc điểm về chu kì sản xuất trong kinh doanh lâm nghiệp

Chu kì sản xuất là khoảng thời gian tính theo lịch kể từ khi bắt đầu đưa đối tượng lao động vào gia công, chế biến cho đến khi hoàn thành công đoạn sản xuất cuối cùng, sản xuất được nhập kho thành phẩm, sẵn sàng cung cấp cho thị trường

Do đối tượng lao động chủ yếu của hoạt động sản xuất kinh doanh lâm nghiệp là cây rừng, có chu kì sinh trưởng kéo dài nhiều năm, thông thường là hàng chục năm, cá biệt có thể tới hàng trăm năm Vì thế chu kì sản xuất kinh doanh

Trang 15

trong doanh nghiệp lâm nghiệp, nó làm cho vốn đầu tư trong doanh nghiệp lâm nghiệp thường rất lâu dài, đó là đặc điểm quan trọng ảnh hưởng toàn bộ công tác

tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lí của doanh nghiệp lâm nghiệp nó làm cho vốn đầu tư trong doanh nghiệp lâm nghiệp thường nằm rất lâu dài trong quá trình sản xuất dưới dạng sản phẩm dở dang Vì thế doanh nghiệp quay vòng vốn chậm, vốn rất lâu được thu hồi, hiệu quả kinh doanh thường thấp, độ rủi ro cao Điều này đòi hỏi doanh nghiệp lâm nghiệp phải hết sức thận trọng trong xác định cơ cấu cây trồng, chủ động áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật, rút ngắn chu kì kinh doanh trong sản xuất

- Tính đa dạng phức tạp trong hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp

Tính đa dạng thể hiện ở chỗ: Sản xuất khép kín từ khâu tạo rừng đến khâu khai thác chế biến lâm sản, về cơ bản gồm các khâu:

+ Xây dựng rừng, gồm các hoạt động như: điều tra rừng, gieo ươm, trồng mới, phục hồi, chăm sóc, bảo vệ, sản xuất nông lâm kết hợp…

+ Khâu khai thác vận chuyển, gồm các hoạt động như: khai thác gỗ và các loại lâm sản, vận xuất vận chuyển lâm sản từ rừng đến các kho bãi hoặc nơi tiêu thụ + Khâu chế biến lâm gỗ, các loại lâm sản, vận xuất vận chuyển lâm sản tử rừng đên các kho bãi hoặc nơi tiêu thụ

+ Khâu chế biến lâm sản, gồm: gia công chế biến gỗ, các loại lâm sản ngoài gỗ thành sản phẩm phục vụ nhu cầu thị trường

+ Các hoạt động chuyển bị và phục vụ sản xuất như: xây dựng sửa chữa đường vận chuyển, bảo dưỡng máy móc thiết bị…

Tính phức tạp thể hiện ở chỗ: Các hoạt động sản xuất mang tính nông nghiệp( hoạt động trong khâu xây dựng rừng), lại vừa mang tính chất nông nghiệp (hoạt động khai thác vận chuyển, chế biến lâm sản) Điều này đỏi hỏi doanh nghiệp cần áp dụng mô hình sản xuất tổng hợp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Đặc điểm về địa bàn hoạt động của Doanh nghiệp lâm nghiệp

Gắn liền với tư liệu sản xuất chủ yếu là rừng và tài nguyên rừng, các doanh nghiệp

Trang 16

lâm nghiệp thường được phân bố ở các vùng miền núi xa xôi hẻo lánh, địa bàn phức tạp, cơ sở hạ tầng kém phát triển Đặc điểm này đặt các doanh nghiệp lâm nghiệp trước những khó khăn trong việc tổ chức sản xuất như thiếu điều kiện cơ sở vật chất, dịch vụ xã hội cần thiết cho hoạt động của mình

- Tính mùa vụ của sản xuất trong doanh nghiệp lâm nghiệp

Trong sản xuất lâm nghiệp có nhiều hoạt động mang tính mùa vụ ở các mức độ khác nhau làm nảy sinh những yêu cầu nhất định trong quá trình tổ chức sản xuất của các doanh nghiệp Tính mùa vụ của sản xuất trong các doanh nghiệp lâm nghiệp được quyết định bởi đối tượng chủ yếu là cây rừng, những thực thể sinh học, hơn nữa sản xuất lâm nghiệp thường diễn ra ở điều kiện ngoài trời nên chịu ảnh hưởng rất mạnh của yếu tố thời tiết Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng được phương án tổ chức sản xuất, tổ chức lao động hết sức linh hoạt và khoa học, để vừa tận dụng được những điều kiện thuận lợi lại vừa tránh được ảnh hưởng bất lợi của thời tiết, chủ động áp dụng biện pháp tổ chức sản xuất để hạn chế thấp nhất tính mùa vụ

- Sản xuất lâm nghiệp mang tính sâu sắc

Địa bàn hoạt động của các doanh nghiệp lâm nghiệp là ở vùng trung du miền núi, cũng đồng thời là nơi sinh sống của cư dân các địa phương Nghề rừng cũng là một trong những nghề truyền thống lâu đời của đồng bào dân tộc miền núi Vì vậy mọi hoạt động của doanh nghiệp lâm nghiệp đều có ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân địa phương như: tạo việc làm, tăng thu nhập,cải thiện môi trường tự nhiên văn hóa xã hội…và chịu ảnh hưởng rất lớn của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên địa bàn Vì vậy hoạt động sản xuất lâm nghiệp mang tính xã hội sâu sắc

1.1.1.2 Giá trị doanh nghiệp

Để thuận tiện cho việc đánh giá giá trị doanh nghiệp thì mỗi phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp có định nghĩa riêng về giá trị doanh nghiệp Hiện nay ở nước ta có 2 phương pháp phổ biến để xác định giá trị doanh nghiệp được Nhà nước quy định là phương pháp tài sản và phương pháp dòng tiền chiết khấu

Trang 17

(DCF) Theo đó giá trị doanh nghiệp được định nghĩa như sau:

- Giá trị của doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp tài sản: Giá trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người bán cổ phần đều chấp nhận được

Giá trị thực tế vốn nhà nước tại doanh nghiệp cổ phần hóa là giá trị thực tế của doanh nghiệp sau khi đã trừ các khoản nợ phải trả, số dư Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và số dư nguồn kinh phí sự nghiệp (nếu có)

- Giá trị của doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương pháp dòng tiền chiết khấu: Giá trị thực tế của doanh nghiệp bao gồm giá trị thực tế phần vốn nhà nước, nợ phải trả, số dư bằng tiền Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và số dư kinh phí sự nghiệp (nếu có)

Như vậy qua 2 định nghĩa nêu trên ta thấy giá trị doanh nghiệp được tính bằng công thức sau:

Giá trị thực

tế của DN =

Giá trị phần vốn Nhà nước

+

Nợ phải trả

+

Số dư bằng tiền quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi

+

Số dư kinh phí sự nghiệp (nếu có)

1.1.2 Định giá doanh nghiệp

1.1.2.1 Một số định nghĩa về định giá doanh nghiệp[6]

- Xác định giá trị doanh nghiệp được hiểu là việc điều tra chi tiết và đánh giá các hoạt động của công ty nhằm xác định giá trị hiện hữu và tiềm năng của một doanh nghiệp

- Là tính toán, xác định sự thay đổi về mặt giá trị của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định Là quá trình ước tính khoản tiền người mua có thể trả và người bán có thể thu khi bán doanh nghiệp

- Xác định giá trị doanh nghiệp là quá trình xác định giá trị thực tế của một DN tại một thời điểm nhất định trên cơ sở thị trường nhằm tạo lập cơ sở để các bên tham gia giao dịch mua bán doanh nghiệp

Trang 18

Các định nghĩa trên tuy có phần khác nhau nhưng đều nêu lên một số đặc

điểm chung của việc định giá doanh nghiệp là:

+ Giá trị doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị bao gồm: giá trị của các tài sản của doanh nghiệp đang sở hữu và sử dụng, các tiềm năng lợi thế của doanh nghiệp + Việc xác định giá trị của doanh nghiệp được dựa trên cơ sở giá thị trường tại thời điểm định giá và tình hình hoạt động của doanh nghiệp

+ Giá trị của doanh nghiệp được xác định là giá trị tương đối tại một thời điểm nhất định tức là ở những thời điểm khác nhau giá trị của doanh nghiệp sẽ khác nhau phụ thuộc nhiều nhất vào yếu tố như: giá cả thị trường, quy định của Nhà nước

+ Việc xác định giá trị doanh nghiệp mang tính ước lượng vì giá trị doanh nghiệp còn bao gồm các giá trị tiềm năng

Tóm lại có thể hiểu xác định giá trị doanh nghiệp hay còn gọi là định giá doanh nghiệp, thực chất là việc xác định giá trị bằng tiền của các bộ phận cấu thành giá trị thực tế của doanh nghiệp một cách hợp lý, đầy đủ dựa trên cơ sở các quy định pháp luật của Nhà nước, giá cả thị trường và tình hình thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định

1.1.2.2 Một số căn cứ pháp lý về xác định giá trị doanh nghiệp

- Nghị định 109/2007/NĐ-CP ban hành ngày 26/6/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần

- Thông tư 146/2007/TT-BTC ban hành ngày 06/12/2007 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ban hành ngày 26/6/2007 của Chính phủ

- Thông tư 106/2008/TT-BTC ban hành ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn kế toán khi chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần

- Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ban hành ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần

Trang 19

1.1.3 Sự cần thiết phải định giá doanh nghiệp

Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường tài chính, xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động ở các cấp độ khác nhau, cùng với trào lưu hợp nhất, sát nhập, thôn tính, tiếp quản xác định giá trị DN ngày càng cần thiết và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế

- Thứ nhất, kết quả xác định giá trị DN cho thấy bức tranh tổng quát về giá trị của một doanh nghiệp, là cơ sở quan trọng phục vụ việc đưa ra quyết định đầu tư, tín dụng, mua bán doanh nghiệp, cổ phần hóa

- Thứ hai, kết quả thẩm định giá trị DN nhằm giúp cho doanh nghiệp có những giải pháp cải tiến quản lý cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh

- Thứ ba, các kết quả thẩm định giá trị DN cũng là cơ sở cho các tổ chức, cá nhân

và công chúng đầu tư ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán do doanh nghiệp phát hành trên thị trường tài chính

- Thứ tư, việc định giá nhằm trợ giúp cho quá trình chuyển đổi cơ cấu về vốn chủ

sở hữu vì: Cổ đông hoặc nhà đầu tư muốn nắm bắt một cách chi tiết về tình hình hiện tại của công ty trước khi đưa ra quyết định cuối cùng; Giúp DN thấy các cơ hội và tiềm năng phát triển cho tương lai; Giúp DN nhận biết các khoản nợ ngoài

dự kiến Ví dụ: các vấn đề về thuế, các nguy cơ tiềm ẩn về kiện tụng, tranh chấp…

- Thứ năm, quá trình xác định giá trị DN sẽ đánh giá một cách khách quan các điểm mạnh và điểm yếu của công ty Việc xác định giá trị DN toàn diện và thành công sẽ đem lại những hiệu quả tích cực sẽ giúp DN phát hiện ra những khu vực làm ăn hiệu quả của công ty, từ đó sẽ đưa ra được những giải pháp phát huy tối đa hiệu quả điểm mạnh đó để gia tăng giá trị cho các cổ đông và chủ doanh nghiệp

1.2.Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

1.2.1 Trên thế giới

+ Hungari

Ágnes Horváth (2005) nghiên cứu về các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp ở Hungari đã chỉ ra các phương pháp chủ yếu để xác định giá trị doanh nghiệp bao gồm: phương pháp chiết khấu dòng tiền (discounted cash flow),

Trang 20

phương pháp định giá với các hệ số nhân (valuation with multiplication indicators), và phương pháp định giá dựa vào giá trị gia tăng kinh tế (evaluation based on economics value added)

Phương pháp chiết khấu dòng tiền (discounted cash flow)

Phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp định giá rất phổ biến Theo phương pháp này giá trị của một công ty (doanh nghiệp) là tổng số tiền mà doanh nghiệp này kiếm được trong hoạt động kinh doanh của nó trong dài hạn Giá trị của một công ty là giá trị chiết khấu dòng tiền kỳ vọng của công ty này trong tương lai

Tuy nhiên, phương pháp chiết khấu dòng tiền có một số hạn chế:

- Phương pháp này chỉ có thể áp dụng thành công khi một công ty hoạt động trong một môi trường ổn định và trong một vòng đời trưởng thành

- Trong một môi trường năng động và trong thời kỳ khai trương một chi nhánh mới của công ty thì không thể dự đoán được doanh thu tiềm năng hoặc dòng tiền nhàn rỗi

- Hầu hết các công ty đều bị thua lỗ trong năm đầu tiên của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, vì vậy dòng tiền của các công ty này thì không có triển vọng

Phương pháp định giá với các hệ số nhân (valuation with multiplication

indicators)

Phương pháp này dựa vào sự so sánh các chỉ số của công ty Các chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phương pháp này là: giá bán/lợi nhuận (Price/Earnings), giá bán/doanh thu (Price/Sales), … Trong trường hợp của các công ty đã được niêm yết các chỉ số này dễ dàng được xác định Đối với giá trị của các công ty chưa được niêm yết trên thị trường chứng khoán, bình quân các chỉ số của các công ty đã được niêm yết và của một công ty hoạt động trong cùng lĩnh vực thì được đưa vào tài khoản (bản báo cáo), khi đó các chỉ số của các công

ty này thì được tính toán một cách dễ dàng

Nhược điểm của phương pháp:

Trang 21

- Đánh giá hệ số nhân dựa vào các con số được so sánh thì không thể thực hiện được khi công ty bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh với tư cách là một công

ty hoàn toàn mới và không có các công ty với lợi nhuận giống nhau trên thị trường

- Phương pháp này có thể được áp dụng cho một thị trường vốn phát triển mà trong đó có rất nhiều công ty mà giá trị bình quân của các chỉ số được tính toán cho dài hạn và được sử dụng như những hệ số nhân

Phương pháp định giá dựa vào giá trị gia tăng kinh tế (evaluation based on economics value added)

Giá trị gia tăng kinh tế là lợi nhuận ròng trừ đi thuế điều chỉnh Ưu điểm chính của phương pháp này là nó đã đưa vào tài khoản chi phí cơ hội của vốn đầu

tư Bản chất chính của phương pháp này như sau: khi một lượng vốn xác định được đầu tư với mục đích cụ thể, chúng ta mất lợi nhuận mà chúng ta có thể thu được và mất đi cơ hội đầu tư vào một số lĩnh vực khác trong thời gian đầu tư

+ Romania

Nicolae Sichigea và Dan Florentin Sichigea (2006) đã dùng phương pháp chiết khấu dòng tiền để xác định giá trị của công ty S.C RO LEASING S.A Craiova ở Romania Trong nghiên cứu này các tác giả đã chỉ ra rằng lý thuyết, phương pháp luận và cách tính toán giá trị của một công ty sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền về cơ bản là lý thuyết để xác định hiệu quả kinh tế của đầu

tư, và đặc biệt sự tính toán kinh tế và tài chính sẽ hướng vào việc đánh giá tính khả thi của một dự án đầu tư

Trên thực tế, việc xác định giá trị của công ty sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền quay trở lại việc áp dụng trực tiếp phương pháp chiết khấu giá trị

để lựa chọn những dự án đầu tư Tỷ lệ chiết khấu là tỷ lệ lợi nhuận nhỏ nhất mà một quá trình đầu tư thu được để thỏa mãn các yêu cầu của các cổ đông về lợi nhuận

Trong trường hợp xác định giá trị của công ty S.C RO LEASING S.A

Trang 22

Craiova các tác giả đã đề xuất các bước định giá bao gồm: dự báo dòng tiền có khả năng của các cổ đông trong giai đoạn 2004-2008, xác định tỷ lệ chiết khấu, dự báo giá trị vào cuối năm 2008, và xác định giá trị trên mỗi cổ phiếu

Các tác giả cũng kết luận rằng phương pháp chiết khấu dòng tiền rất phức tạp bởi vì thực tế phương pháp này phải dựa vào một vài yếu tố mà chúng ta phải đánh giá, vì vậy theo quan điểm chủ quan phương pháp này đóng vai trò rất quan trọng Những sự dự báo của một vài dòng tiền, giá trị phần dư, tỷ lệ chi phí bình quân thì rất khó thực hiện đối với các công ty mà chưa được định giá trên thị trường chứng khoán

+ Italia

Rosida Carpagnano, Nicola Cirillo và Tiziana Del Prete nghiên cứu về xác định giá trị doanh nghiệp ở Italia đã chỉ ra rằng việc định giá các kết quả thu được của một công ty ở Italia là việc tự do đàm phán và xác định giá cả mà người mua phải trả Các tác giả cũng chỉ ra rằng, liên quan đến các phương pháp xác định giá trị của công ty, phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp khá phổ biến được dùng để so sánh các hệ số giao dịch Với việc so sánh các hệ số giao dịch, các tác nhân lựa chọn một vài giao dịch quan trọng đã được thực hiện trong lĩnh vực, mà trong đó mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh được xác định trong một thời kỳ

cụ thể Khi đó họ sẽ áp dụng các kết quả của các hệ số đối với việc xác định mục tiêu của công ty Các phương pháp khác nhau có thể được áp dụng bởi riêng các tác nhân hoặc do kết hợp với mục đích xác định giá mua

+ New Zealand

Tháng 7 năm 1990 Chính phủ New Zealand đã tổ chức đấu thầu bán 550.000 ha rừng và có 82 tổ chức tham gia đấu thầu nhưng chỉ có 2 tổ chức đã trúng thầu đó là công ty trách nhiệm hữu hạn Tasman của New Zealand (47030 ha) và công ty trách nhiệm hữu hạn Ernslaw One của 1 người Malaysia gốc Singapore (24000 ha và xưởng cưa) với tổng giá trị 364 triệu đô la New Zealand)

và đến cuối năm 1990 phần lớn 250.000 ha rừng của New Zealand đã được bán

Trang 23

với tổng giá trị thu về là 1 tỷ đô la New Zealand

Đến cuối năm 1996 việc tư nhân hoá rừng tại New Zealand đã hoàn thành

và chính phủ chỉ còn quản lý dưới 7% tổng diện tích rừng của cả nước Lợi ích chủ yếu của tư nhân hoá rừng mang lại ngân sách cho chính phủ vào khoảng 1,5

tỷ USD Tăng được lợi nhuận và công ăn việc làm mang lại hiệu quả kinh tế, đồng thời tăng được số lượng các thành phần tham gia vào hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp bao gồm cả các thành viên trong nước và quốc tế, đa dạng hình thức sở hữu (sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) Hiện tại 12% các hoạt động kinh doanh lâm nghiệp của New Zealand thuộc các công ty của Châu Á, 33% các hoạt động kinh doanh lâm nghiệp cảu New Zealand thuộc các công ty của Mỹ Tốc độ trồng cây gây rừng kể từ khi tư nhân hoá đã tăng lên đáng kể Như vậy, New Zealand việc xác định giá trị doanh nghịêp lâm nghiệp thông qua đấu thầu

1.2.2 Tại Việt Nam

* Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới, phát triển nông lâm trường quốc doanh:

Bước sang thời kỳ đổi mới, khởi đầu từ Nghị quyết10-NQ/TƯ ngày 5/4/1988 của Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp với chủ trương:

“ Tạo môi trường cho các doanh nghiệp thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh” Các doanh nghiệp nông lâm nghiệp Nhà nước, chuyển dần từ cơ chế quản

lý tập trung bao cấp sang tự chủ hạnh toán kinh doanh

Tiếp đến Nghị định 388-HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày 20/11/1991

về đăng ký và tiến hành sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước, đã bước đầu tạo tiền đề cho các nông lâm trường chuyển đổi theo cơ chế mới Các nông lâm trường trên cả nước được thành lập và đăng ký lại với tư cách là doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, tự trang trải về các chi phí sản xuất

và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình

Tuy nhiên, việc đăng ký các nông lâm trường thành doanh nghiệp nhà nước chỉ có tác dụng hợp thức hoá về mặt pháp lý, còn tác dụng chấn chỉnh tổ chức, các mối quan hệ nội bộ và hoạt động của các NLTQD rất hạn chế Sau khi được thành

Trang 24

lập lại theo Nghị định 388, nhà nước cắt giảm dần vốn đầu tư, các NLTQD tiếp tục lâm vào tình trạng rất khó khăn, không tự mình thoát ra được

Trước thực trạng đó Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP ngày 2/3/1993

về “sắp xếp lại tổ chức và đổi mới cơ chế quản lý các doanh nghiệp nông nghiệp Nhà nước đã có tác động làm thay đổi hệ thống NLTQD, đặc biệt ở khu vực Tây Nguyên- nơi có số lượng rất đông nông lâm trường nằm trong các liên hiệp lâm nông công nghiệp do Trung ương quản lý Các Liên hiệp lâm nông công nghiệp ở khu vực Tây Nguyên bị giải thể, từ đó chuyển giao các nông lâm trường cho tỉnh quản lý

Theo tinh thần của Nghi định thì cần phải tiếp tục thực hiện cải cách doanh nghiệp nhà nước nói chung trong đó có NLTQD, nhằm mục tiêu chuyển mạnh các nông lâm trường sang sản xuất kinh doanh có hiệu quả trong cơ chế thị trường, đồng thời làm tốt vai trò nòng cốt thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển sản xuất nông lâm nghiệp Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 “Về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý nông lâm trường quốc doanh”

Nhìn chung việc sắp xếp, đổi mới NLTQD theo Quyết định 187 đã gặp phải nhiều cản trở, vướng mắc và không thành công Trong bối cảnh đó, ngày 16/6/2003, Bộ Chính trị Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 28-NQ/TW về tiếp tục sắp xếp đổi mới và phát triển nông, lâm trường quốc doanh Nghị quyết 28-NQ/TW đã chỉ rõ hướng tiếp tục sắp xếp đổi mới LTQD như sau:

- Một là: Những nông lâm trường đang quản lý chủ yếu là rừng sản xuất và đất

trồng rừng nguyên liệu cần được đầu tư thâm canh, sử dụng giống mới, gắn nông lâm trường (vùng nguyên liệu) với nhà máy chế biến (cả về tổ chức và hợp đồng kinh tế) và hoạt động theo cơ chế sản xuất, kinh doanh

- Hai là: Những lâm trường đang quản lý chủ yếu là đất rừng tự nhiên và diện

tích đất được quy hoạch trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì chuyển thành đơn

vị sự nghiệp có thu

- Ba là: Những lâm trường quản lý diện tích đất lâm nghiệp ít, phân bố xen kẽ với

Trang 25

đất nông nghiệp và gần khu dân cư thì thu hẹp diện tích, chuyển thành đơn vị sự nghiệp có thu, làm dịch vụ sản xuất cây giống, xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân trong vùng Diện tích còn lại thì chính quyền địa phương thu hồi để đưa vào sử dụng theo quy định của pháp luật đất đai

- Bốn là: Những lâm trường không cần giữ lại thì giải thể, chính quyền địa

phương thu hồi đất để sử dụng theo quy định của pháp luật

Để thực hiện Nghị quyết 28-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chính phủ đã ban hành Nghị Định 200/2004/NĐ-CP của Chỉnh phủvề sắp xếp, đổi mới và phát triển

nông lâm trường quốc doanh Điểm mới của Nghị định 200/2004/NĐ-CP của

Chỉnh phủ là: Thực hiện thí điểm cổ phần hoá các nông lâm trường sở hữu kinh doanh rừng trồng, có điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, gần các trung tâm kinh tế, lâm trường có ít lao động đồng bào dân tộc thiểu số Trước mắt thí điểm

cổ phần hoá các lâm trường kinh doanh rừng trồng gắn với cơ sở chế biến, trong

đó thực hiện bán cổ phần ưu đãi cho người sản xuất cung cấp nguyên liệu cho các

cơ sở chế biến

Về cơ chế quản lý của các Công ty Nông Lâm nghiệp được quy định như sau:

- Các Công ty Nông Lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước, khi chuyển sang mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc cổ phần hoá thì hoạt động theo Luật Doanh nghiệp

- Các Công ty Nông Lâm nghiệp 100% vốn Nhà nước thực hiện cổ phần hoá cơ sở chế biến nông, lâm sản, thương mại, dịch vụ theo Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần; thực hiện bán cổ phần cho người sản xuất nguyên liệu; thí điểm cổ phần hoá vườn cây vàrừng trồng

* Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài:

Năm 1990, Bộ lâm nghiệp đã thực hiện đề tài thí điểm cổ phần hoá lâm trường Hữu Lũng nhưng đề tài đã không thành công Nguyên nhân không thành công là do thời điểm đó chúng ta chưa có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nói chung và lâm trường quốc doanh nói riêng Hệ

Trang 26

thống cơ sở lý luận và pháp lý để xác định giá trị doanh nghiệp chưa có nên không xác định được giá trị doanh nghiệp để xây dựng phương án cổ phần

Năm 2006-2007, TS Lê Trọng Hùng đã nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch, tập trung và tích tụ đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh rừng nguyên liệu trên địa bàn các tỉnh vùng Trung tâm Bắc bộ” Đề tài đã nghiên cứu quá trình chuyển dịch tập trung và tích tụ đất trên

địa bàn các tỉnh vùng trung tâm Bắc bộ Đây là vùng sản xuất kinh doanh rừng nguyên liệu với cường độ cao, đặc biệt là các công ty lâm nghiệp đang phải đi thuê đất của các hộ dân để trồng rừng Quá trình chuyển dịch, tập trung và tích tụ đất cũng là điều kiện để các công ty lâm nghiệp tiến tới cổ phần hoá trong thời gian tiếp theo

Năm 2007-2008, TS Lê Trọng Hùng đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu cơsở lý luận và thực tiễn xây dựng chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam” Đề tài đã nghiên

cứu được cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách cho thuê rừng, xây dựng và phát triển được được thị trường quyền sử dụng đất rừng sản xuất ở Việt Nam Đây là một nghiên cứu quan trọng và cần thiết trong sản xuất kinh doanh lâm nghiệp hiện nay, đồng thời cũng là một nghiên cứu cần thiết cho quá trình cổ phần hoá các công ty lâm nghiệp sau nay Khi mà rừng và đất rừng đã được định giá, có thị trường trao đổi thì việc cổ phần hoá các công ty lâm nghiệp càng có khả năng thực thi hơn

Năm 2007, Trong khuôn khổ đề tài của TS.Lê Trọng Hùng, TS.Phạm Văn

Điển đã nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu xác định giá trị rừng sản xuất là rừng tự nhiên” Việc nghiên cứu định giá rừng sản xuất là rừng tự nhiên, dựa vào

“tổng giá trị kinh tế của rừng”, được tham chiếu với giá trị quyền sử dụng rừng trong khuôn khổ pháp lý quản lý rừng của Việt Nam và trong các mối quan hệ như: giao rừng, cho thuê rừng, tính thuế và lệ phí, chuyển đổi mục đích sử dụng, đền bù khi thu hồi rừng và đền bù rừng do các hành vi phá hoại rừng theo Luật bảo vệ và phát triển rừng là hết sức cần thiết và quan trọng Chuyên đề tài đã

Trang 27

nghiên cứu và đưa ra được một số phương pháp và các chỉ tiêu để định giá trị cho các loại rừng tự nhiên ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở quan trọng cho viêc xác định giá trị các công ty lâm nghiệp có rừng sản xuất là rừng trồng và rừng tự nhiên Kết quả nghiên cứu của đề tài là căn cứ quan trọng khi nghiên cứu xây dựng phương án cổ phần hoá công ty lâm nghiệp

Năm 2008, TS Trần Hữu Dào đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các công ty lâm nghiệp đang hoạt động theo luật doanh nghiệp” Kết quả nghiên cứu bước đầu

cho thấy quá trình chuyển đổi từ lâm trường quốc doanh sang hoạt động theo mô hình công ty lâm nghiệp là phù hợp, hiệu quả sản xuất kinh doanh đã được nâng lên, tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý đã được đổi mới, đới sống người lao động từng bước được cải thiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó thì một số công ty lâm nghiệp sau khi chuyển đổi còn lúng túng, sản xuất kinh doanh thu lỗ, đời sống người lao độngkhó khăn Đặc biệt mục tiêu khi chuyển đổi các lâm trường quốc doanh sang công ty lâm nghiệp là để hoạt động theo luật doanh nghiệp thống nhất nhưng trên thực tế thì các công ty lâm nghiệp vẫn là các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo luật DNNN năm 2003 Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp Thực chất khi chuyển đỏi các lâm trường quốc doanh sang công ty lâm nghiệp mới chỉ là “ Bình mới”, “Rượu cũ”, các công ty lâm nghiệp vẫn là các doanh nghiệp nhà nước mà trong luật doanh nghiệp hiện nay không đề cập đến doanh nghiệp nhà nước Vì vậy, để các công ty lâm nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp thống nhất thì phải tiếp tục nghiên cứu chuyển các công ty lâm nghiệp sang các loại hình doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần

Năm 2010, TS.Trần Hữu Dào đã và đang nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

cơ sở lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá công ty lâm nghiệp”, đây là một đề tài

mới nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về CPH, đánh giá khả năng CPH các công ty lâm nghiệp, xácđịnh giá trị doanh nghiệp khi tiến hành CPH Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứuđã cho thấy việc xácđịnh giá trị doanh nghiệp

Trang 28

lâm nghiệp là một khó khăn phức tạp, đặc biệt việc xácđịnh giá trị đất và giá trị rừng tự nhiên Vì vậy, đề tài nghiên cứu đề xuất phương pháp xác định giá trị doanh nghịêp Nhà nước trong sản xuât nông lâm nghiệp sẽ là bước nghiên cứu tiếp theo hỗ trợ cho đề tài đang nghiên cứu

Năm 2008, Vũ Tấn Phương đã nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu định giá rừng ở Việt Nam”, đề tài đã giải quyết được những vấn đề như sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận cho việc xây dựng nguyên tắc và phương pháp định giá rừng ở Việt Nam Việc định giá rừng đã được xem xét trên cơ sở đánh giá tổng giá trị kinh tế của rừng, hệ thống phương pháp luận quốc tế, quan niệm về giá trị rừng và khung pháp lý về quản lý rừng ở Việt Nam Theo đó, các nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng được đề xuất áp trong việc định giá rừng

ở Việt Nam

- Các phương pháp được áp dụng và sử dụng trong tính toán xác định giá tài sản lâm sản, giá trị sử dụng trực tiếp (gỗ, củi) và giá trị môi trường (bảo vệ đất, điều tiết nước, cảnh quan, hấp thụ các bon) cho các loại rừng nghiên cứu Trên cơ sở

đó, các phương pháp định giá phù hợp được lựa chọn và các bước tiến hành định giá rừng theo từng phương pháp được xây dựng

- Nguyên tắc và các phương pháp tiến hành định giá rừng được xây dựng cho các loại giá trị khác nhau

+ Với giá trị sử dụng trực tiếp sử dụng hai phương pháp chính trong định giá rừng được đề xuất là phương pháp thu nhập và phương pháp so sánh

+ Với giá trị môi trường, phương pháp sử dụng là phương pháp chi phí thay thế đối với việc xác định giá trị phòng hộ đầu nguồn (bảo vệ đất và điều tiết nước); phương pháp chi phí du lịch và thu nhập cho xác định giá trị cảnh quan; phương pháp giá thị trường cho xác định giá trị lưu giữ và hấp thụ các bon của rừng

- Đề tài đã xây dựng và đề xuất khung giá rừng dựa trên kết quả nghiên cứu Khung giá rừng bao gồm khung giá tài sản lâm sản; khung giá quyền sử dụng rừng và khung giá tài sản rừng cho rừng tự nhiên và rừng trồng các loài keo, bạch đàn urophylla, thông mã vĩ và thông nhựa

Trang 29

+ Khung giá tài sản lâm sản xây dựng cho rừng tự nhiên gồm rừng sản xuất, phòng hộ và rừng đặc dụng theo các trạng thái giàu, trung bình, nghèo và phục hồi Giá tài sản lâm sản của rừng phụ thuộc vào trữ lượng, chất lượng rừng và có

sự khác nhau đáng kể giữa các vùng miền Giá quyền sử dụng rừng tự nhiên xác định trong thời gian 50 năm là rất khác nhau và phụ thuộc vào chất lượng rừng Giá quyền sử dụng cao nhất đối với rừng rừng giàu và thấp nhất là rừng phục hồi + Khung giá tài sản rừng nhiên bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp (giá trị quyền sử dụng) và giá trị môi trường được xác định thời gian sử dụng rừng 50 năm

+ Khung tài sản rừng sản xuất là rừng trồng được xây dựng cho các loại rừng trồng keo lai, keo tai tượng, bạch đàn urophylla, thông nhựa và thông mã vĩ theo các tuổi khác nhau và cho các vùng nghiên cứu

- Khung giá tài sản rừng là cơ sở để các địa phương căn cứ khi xác định giá rừng; cho các cơ quan quản lý xây dựng các chính sách quản lý rừng, đầu tư và phát triển rừng và đặc biệt là việc tiền tệ hóa giá trị của rừng như tính tiền đền bù, bồi thường do chuyển đổi hoặc phá rừng và tính giá trị tài sản doanh nghiệp, tiền thuê rừng, phí và lệ phí và chi trả DVMT;

- Báo cáo tổng kết đề tài đề cập đến các các cơ sở khoa học và thực tiễn về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng Báo cáo cũng đề xuất khung giá một số loại rừng dựa trên các kết quả nghiên cứu Các kết quả của đề tài là cơ sở khoa học quan trọng cho việc thay đổi quan niệm về giá trị rừng, xây dựng các chính sách liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường rừng và đặc biệt là việc tiền tệ hóa giá trị của rừng về các dịch vụ môi trường, góp phần quản lý bền vững rừng ở Việt Nam

Tuy nhiên, đề tài cũng còn một số hạn chế như: Kết quả nghiên cứu không thể phản ánh hết các đặc trưng về kiểu rừng và loại rừng trên toàn quốc Một số giá trị môi trường (phòng hộ đầu nguồn) của rừng không những phụ thuộc vào thảm rừng mà còn phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên khác Do vậy giá trị này mang tính địa phương Các kết quả nghiên cứu mới chỉ phản ánh các giá trị của rừng trong khu vực nghiên cứu của đề tài

Trang 30

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đặc điểm của vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam

Vùng trung du miền núi phía Bắc bao gồm 15 tỉnh: Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh

Hình 2.1: Bản đồ vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam

Vùng có diện tích tự nhiên là 101.000km2, chiếm 30,6% diện tích cả nước (2008) Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của vùng là 1,5 triệu ha, bằng 15,8% quỹ đất sản xuất nông nghiệp của cả nước; đất 3 loại rừng là 5,55 triệu ha (chiếm 37,6%

cả nước); diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 61,1 nghìn ha

Trang 31

Dân số của vùng là 11.192.582 người, chủ yếu là người Tày, Dao, Thái, Mường, Nùng… và chiếm 13,05% dân số cả nước (2009)

Vùng trung du miền núi phía Bắc tiếp giáp với 3 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc; phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ

Trung du và miền núi Bắc Bộ có vị trí địa lý khá đặc biệt, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có khả năng đa dạng hóa cơ cấu kinh tế, với thế mạnh về lâm nghiệp, công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, thủy điện, nền nông nghiệp nhiệt đới kết hợp với giao thông thuận lợi nên dễ dàng cho việc giao lưu với các vùng khác trong nước và xây dựng nền kinh tế mở

2.2 Đặc điểm của các công ty nghiên cứu

2.2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, xã hội và tình hình sản xuất kinh doanh của của công ty cổ phần chè Văn Hưng - Yên Bái

* Điều kiện tự nhiên

a/ Vị trí địa lý

Công ty Cổ phần chè Văn Hưng nằm trong khoảng 21o18' – 21o49' vĩ độ Bắc

và 105o kinh đông, nằm trên địa bàn các xã Thịnh Hưng, Phú Thịnh, Bảo Ái, Tân Nguyên, Thị trấn Yên Bình thuộc huyện Yên Bình và xã Văn Tiến, Văn Lãng thuộc huyện Trấn Yên Độ cao trung bình khoảng xấp xỉ 400m so với mặt nước biển Riêng vùng chè đặc sản Suối Giàng có độ cao trung bình 1350m so với mặt nước biển

b/ Đất đai

Đất trồng chè thuộc loại đất Feralit màu đỏ, vàng phát triển trên phiến thạch sét và biến chất, có tầng canh tác dày trên 1m, thành phần cơ giới đất thịt trung bình, đất có đặc điểm màu đỏ, tầng dày khá tơi xốp, kết cấu hạt viên, đạm khá, ka ly trung bình, nghèo lân, tỷ lệ mùn cao có độ PH từ 4,5 đến 6,5 rất phù hợp cho việc phát triển trồng chè

Trước năm 2006 Công ty cổ phần chè Văn Hưng có tổng diện tích tự nhiên trên 700 ha đã được Nhà nước giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 32

với thời gian là 50 năm Tuy nhiên do thay đổi của Luật đất đai năm 2003 nên hiện tại diện tích đất mà công ty quản lý đã được chuyển sang hình thức thuê đất với thời gian thuê là 50 năm Trong đó diện tích chè kinh doanh là khoảng 500 ha với năng suất bình quân 70 tạ/ha (khu vực Văn Hưng 330 ha, khu vực Bảo Ái 170 ha) Ngoài

ra còn có vùng nguyên liệu do nhân dân các xã trong khu vực khoảng gần 2000 ha với năng suất bình quân 60 tạ/ha

* Điều kiện kinh tế xã hội

- Công ty cổ phần chè Văn Hưng nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của tỉnh Yên Bái với các cơ sở kinh tế lớn như nhà máy Thủy điện Thác Bà

- Giao thông đi lại khá thuận tiện có đường quốc lộ 70 Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai,

có tuyến đường sắt Hà Nội - Lào Cai chạy qua ga Văn Phú cách 8km

- Thông tin thuận lợi có thể liên lạc trực tiếp với cơ quan hữu trách liên quan trong

và ngoài nước qua hệ thống điện thoại, fax…

- Gần khu trung tâm du lịch Thác Bà thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài tỉnh đến thăm quan du lịch

- Công ty có 3km đường điện 10KV và 1 trạm biến áp KVA chủ yếu phục vụ cho sản xuất của công ty

- Trình độ dân trí trong khu vực hiện ngày càng được nâng cao, việc nắm bắt và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất ngày càng nhiều

* Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần chè Văn Hưng từ sau khi cổ phần hóa đến nay

a/ Về sản xuất nông nghiệp

Công ty chủ động giao khoán đồi chè đến các chủ hộ theo mô hình gọn đồi, gọn thửa, khuyến khích các chủ hộ nhận nhiều diện tích để tăng thu nhập

Hàng năm công ty đầu tư phân bón, chỉ đạo kĩ thuật chăm sóc thu hái chè và mua lại sản phẩm chè búp tươi của các hộ theo giá thị trường Hướng dẫn cho gia đình các chủ hộ ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như: máy đốn chè, máy phun thuốc, máy làm cỏ và hái chè bằng máy

Trang 33

Hàng năm đã đầu tư trồng cải tạo thay thế 10 đến 15 ha chè giống cũ bằng giống chè mới có năng suất và chất lượng cao hơn, đến nay chuyển đổi được gần 100 ha

và đã cho thu hoạch với năng suất bình quân 10 tấn/ ha

b/ Về sản xuất công nghiệp

Công ty thường xuyên nghiên cứu tìm hiểu về thiết bị công nghệ chế biến, mẫu mã sản phẩm và thị trường tiêu thụ

Năm 2005 công ty đã đầu tư một dây chuyền công nghệ chế biến chè xanh tại nhà máy chè Suối Giàng bằng thiết bị công nghệ hiện đại của Đài Loan (sào và sấy chè bằng ga) do đó chất lượng sản phẩm được nâng lên

Năm 2006 được sự quan tâm và giúp đỡ của Tỉnh ủy, UBND và các ban ngành chức năng của tỉnh, đặc biệt với sự giúp đỡ của tập đoàn Finlays, lãnh đạo công ty đã xây dựng dự án đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ dây chuyền chế biến chè đen theo công nghệ CTC tại Nhà máy chè Văn Hưng Đây là dây chuyền công nghệ hiện đại, tiết kiệm được nhân công lao động, giảm tối đa ảnh hưởng về môi trường đối với người lao động, đảm bảo được các nguyên tắc về vệ sinh và an toàn thực phẩm

Từ khi đi vào hoạt động chính thức hàng năm chế biến được 700 đến 800 tấn chè thành phẩm đạt chất lượng tốt Giá thành sản phẩm hạ do tiết kiệm được chi phí đầu vào, tỷ lệ thu hồi sản phẩm cao Giải quyết việc làm thường xuyên cho 60 lao động với mức thu nhập bình quân 2 triệu đồng/ người/ tháng

c/ Về công tác thị trường

Trước khi cổ phần hóa thị trường tiêu thụ sản phẩm của Công ty thông qua Tổng công ty chè Việt Nam nên giá bán thấp vì vậy sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn Từ khi chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần, công

ty đã chủ động nghiên cứu, tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Trong những năm qua sản phẩm của công ty đã được xuất khẩu sang nhiều nước như Đài Loan, Trung Quốc, các nước Trung cận đông, Nga…

2.2.2 Đặc điểm cơ bản của Công ty Cổ Phần Chè Phú Thọ

* Vị trí địa lý

Trang 34

Công ty Cổ Phần Chè Phú Thọ có trụ sở chính nằm trên đường Nguyễn Tất Thành- TP Việt Trì - Tỉnh Phú Thọ Địa bàn hoạt động của Công ty trải dài trên ba huyện miền núi: Thanh Sơn, Yên Lập và Sông Thao (nay là huyện Cẩm Khê)

* Khí hậu thuỷ văn

Công ty Cổ Phần Chè Phú Thọ nằm trong vùng miền núi trung du Bắc Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, được chia làm hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Khu vực này chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc vào mùa khô và gió Phơn Tây Nam (gió Lào) từ tháng 2 đến tháng 6 Nhiệt độ trung bình trong năm là 23,80C

* Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Trụ sở của công ty Cổ Phần Chè Phú Thọ tại thành Phố Việt Trì, nên có nhiều điều kiện để giới thiệu, quảng bá sản phẩm Chè của mình

Giao thông vận tải: Đây là cầu nối giao lưu kinh tế văn hoá – xã hội giữa các trung tâm kinh tế như: thành phố Việt Trì, Vĩnh Phúc, Hà Nội với các tỉnh Tây Bắc

Cơ sở hạ tầng giao thông vận tải đã phát triển và nâng cao tạo điều kiện giao lưu, buôn bán thuận lợi hơn rất nhiều Vì vậy, đây là những điều kiện thuận lợi để công ty tiếp tục phát triển, nâng cao mức sống cho cán bộ công nhân viên trong công ty cũng như những hộ nhận khoán trồng Chè

2.2.3 Đặc điểm cơ bản Công ty Cổ phần chè Sông Lô

* Vị trí địa lý

Công ty Cổ phần chè Sông Lô có trụ sở làm việc đóng tại xã Kim Phú huyện Yên Sơn, cách trung tâm thị xã Tuyên Quang 8km, có đường địa giới tiếp giáp như sau:

- Phía bắc giáp xã Đức Ninh huyện Hàm Yên

- Phía nam giáp huyện Đoan Hùng tỉnh Phú

- Phía đông giáp thị xã Tuyên Quang

- Phía tây giáp xã Phú Lâm, Nhữ Hán

- Nằm trên địa bàn 13 xã, thị trấn của huyện Yên Sơn gồm: xã Thắng Quân, xã Chân Sơn, xã Lang Quán, xã Kim Phú, xã Hoàng Khai, xã Thái Long, xã An

Trang 35

Khang, xã Đội Cấn, xã Đội Bình, xã Như Khê, xã An Tường, xã Lưỡng Vượng và thị trấn Tân Bình

* Địa hình

Địa bàn sản xuất của công ty nằm trong vuàng có địa hìn thấp từ tây bắc xuống đông nam: phía tây bắc có dãy núi Là có đỉnh cao 958m, phía đông nam có dãy núi Nghiêm có đỉnh cao 533m Diện tích đất sản xuất của Công ty chủ yếu có dịa mạo là các đồi bát úp, độ cao trung bình 50 – 100 m, độ dốc < 250, xen kẽ giữa các đồi bát úp là các vùng đất bằng phẳng và các khe lạch

* Khí hậu, Thổ nhưỡng

Nằm trong vùng có đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa

rõ rệt: Mùa hè thì nóng, ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 9, mùa đông khô, lạnh

từ tháng 10 năm trước đến tháng 3 năm sau

Địa bàn phân bố đất sản xuất của Công ty bao gồm các nhóm đất:

+ Nhóm đất dốc tụ: phân bố trong các thung lũng, gặp hầu hết ở các xã trong vùng sản xuất được hình thành qua quá trình bồi tụ các sản phẩm rửa trôi từ trên cao xuống

+ Nhóm đất đỏ vàng gồm hai loại đất sau:

- Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất: phân bố ở các xã Thắng Quân, Lang Quán, Đội Cấn… đây là nhóm đất chiếm tỷ lệ lớn trong diện tích đất của Công ty

- Đất đỏ vàng trên đá mácma acid: phân bố ở các xã: Nhữ Khê, Hoàng Khai

* Dân sinh kinh tế xã hội

Công ty cổ phần chè Sông Lô – Tuyên Quang đóng trên địa bàn huyện Yên Sơn, là huyện có diện tích và dân số lớn nhất tỉnh: huyện có tổng diện tích là 1210km, dân số là 16700 người

Huyện Yên Sơn có quốc lộ 2 và quốc lộ 37 chạy qua là cầu nối giao lưu kinh

tế, văn hóa, xã hội với Hà Nội, Phú Thọ.Tuy nhiên xuất phát điểm của nền kinh tế thấp, kinh tế chậm phát triển, nền kinh tế còn nặng về sản xuất thủ công, nông, lâm nghiệp Sản xuất nông nghiệp của vùng còn mang tính tự cấp, tự túc, chủ yếu là độc canh cây lương thực, cơ cấu cây trồng còn nghèo nàn, chưa hợp lý Trình độ dân trí

Trang 36

còn thấp và không đồng đều giữa các xã, dân tộc, tỷ lệ hộ nghèo còn cao Công tác

an ninh, quốc phòng, và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn trong những năm qua nhìn chung đã được tăng cường và giữ vững

2.2.4 Đặc điểm cơ bản của Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Thác Bà

* Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý và địa giới hành chính

+ Vĩ độ bắc 21040’ đến 2303’

+ Kinh độ đông 104056’ đến 10507’3’’

* Địa giới hành chính: Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Thác

Bà nằm ở Thị trấn Thác Bà, phạm vi quản lý nằm trên rộng khắp 16 xã tả ngạn sông Chảy

+ Phía bắc giáp với huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

+ Phía nam giáp với tỉnh Phú Thọ

+ Phía đông giáp với tỉnh Tuyên Quang

+ Phía tây giáp với Lâm trường Yên Bình tỉnh Yên Bái

* Điều kiện tự nhiên

- Là vùng đồi núi thấp được tạo bởi những dãy núi chính có tên là Núi Là, Núi Yừn, Núi Ngàng, Núi Lương nằm trong khu vực sông Chảy và hồ Thác Bà

+ Độ cao tuyệt đối cao nhất là 958m

+ Độ cao tuyệt đối trung bình 450m

+ Độ cao tuyệt đối bình quân 70m

+ Độ dốc bình quân là 320

* Tình hình dân sinh kinh tế xã hội

- Trong vùng hiện có 61.750 người với 10.850 hộ Bao gồm các dân tộc Kinh, tày , Dao, Nùng, Cao Lan và một số dân tộc khác Trong đó người Kinh, người Tày và

người Dao chiếm đa số

- Trong tổng 61.750 nhân khẩu thì có 42.000 lao động và 9000 hộ thường xuyên lao động nông- lâm nghiệp Mật độ dân số bình quân là 151người/km2

Trang 37

Nhìn chung các dân tộc trên sống thành các bản làng ven theo đường quốc lộ, ven theo các khe ngòi và các cánh đồng nhỏ Sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tuy các

hộ dân đã coi trồng rừng như một nghề nhưng chưa dám mạnh dạn áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chủ yếu trồng theo phương thức cũ không có đầu

tư nên năng suất và chất lượng rừng không cao Bình quân lương thực quy thóc 450kg/người/năm Thu nhập bình quân của người dân trong vùng chưa cao khoảng

10 triệu đến 12 triệu đồng trên năm

2.2.5 Đặc điểm cơ bản của Công ty lâm nghiệp Xuân Đài

+ Về địa giới hành chính:

Phía Bắc giáp xã Mỹ Thuận – Huyện Tân Sơn

Phía Tây giáp xã Cự Thắng – Huyện Thanh Sơn

Phía Đông giáp xã Địch Quả - Huyện Thanh Sơn

* Khí hậu

Công ty lâm nghiệp Xuân Đài nằm trong vùng miền núi trung du Bắc Bộ, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10; Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc vào mùa khô và gió Lào từ

tháng 2 đến tháng 6 hàng năm

* Giao thông vận tải

Trang 38

Hiện nay điều kiện giao thông vận tải của huyện Tân Sơn tương đối thuận lợi, có quốc lộ 32A chạy qua huyện, dọc theo chiều dài huyện và các

tuyến đường liên xã trong huyện đã được nhà nước đầu tư xây dựng từ dự án 135,

xe ôtô có thể vào được tận nơi Đặc biệt trên đại bàn công ty quản lý có tuyến đường đang được nhà nước đầu tư dải nhựa bắt đầu từ quốc lộ 32A đến vườn Quốc gia Xuân Sơn, dài 38km

* Dân sinh kinh tế xã hội

Công ty lâm nghiệp Xuân Đài đóng trên địa bàn huyện Tân Sơn, là huyện mới thành lập theo Nghị định số 61/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của Thủ tướng chính phủ Huyện có tổng diện tích tự nhiên là 68.858ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm 89,5% Dân số của huyện là 75.175người, dân tộc thiểu số chiếm 83% tổng số dân Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt 10,2% Cơ cấu kinh tế phân

bổ như sau:

+ Nông nghiệp chiếm 61,6%

+ Dịch vụ chiếm 22,4%

+ Công nghiệp xây dựng chiếm16%

Huyện Tân Sơn có quốc lộ 32A chạy qua là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hoá, xã hội giữa các trung tâm kinh tế như: Hà Nội, thành phố Việt Trì, với các tỉnh Tây Bắc

2.2.6 Đặc điểm tự nhiênCông ty Lâm nghiệp Yên Sơn

Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn tương đối phức tạp với địa hình đồi núi phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống sông suối Với điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi này thì rất khó khăn cho việc vận xuất gỗ trong rừng ra ngoài bãi gỗ I, gây tốn kém cho việc tu sửa và làm đường vận xuất, vận chuyển

* Vị trí địa lý

Huyện Yên Sơn là huyện miền núi, nằm về phía nam của tỉnh Tuyên Quang, gồm 35 xã và một thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên là 120.949,01 ha, chiếm 20,60% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Trong đó Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn đóng trên địa bàn 8 xã thuộc địa bàn ATK của huyện Yên Sơn gồm: Xã Tiến Bộ, Xã Thái

Trang 39

Bình, Xã Phú Thịnh, Xã Công Đa, Xã Trung Sơn, Xã Kiến Thiết, Xã Kim Quan, Xã Đạo Viện Có tổng diện tích quản lý và sử dụng là 6.322,67 ha, chiếm 5,22% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn nằm phía đông huyện Yên Sơn – Tuyên Quang

- Phía Nam: giáp huyện Sơn Dương

- Phía Đông: giáp tỉnh Thái Nguyên

- Phía Bắc: giáp huyện Chiêm Hóa

- Phía Tây: giáp thị xã Tuyên Quang

Văn phòng Công ty cách thị xã 30 km

* Địa hình

Địa hình của huyện Yên Sơn khá phức tạp và đa dạng, bị chia cắt bởi hệ thống sông, suối đồi núi, thung lũng tạo thành các kiểu địa hình khác nhau, địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam Toàn khu vực có độ cao trung bình là 30m

Địa mạo thung lũng ven sông Lô, sông Phó Đáy, các bãi dốc theo chiều dòng sông; địa mạo núi cao trên 500 m phân bố ở vùng phía Bắc của huyện; địa mạo vùng núi thấp dưới 300 m phân bố ở phía Nam của huyện

Công ty nằm trên vùng đồi núi thấp của tỉnh với địa hình khá phức tạp, địa hình bị chia cắt bởi các khe suối đổ ra hai con sông là sông Lô và sông Phó Đáy

* Đặc điểm dân sinh, kinh tế xã hội, giao thông

- Thành phần xã hội

Công ty Lâm nghiệp Yên Sơn nằm trong vùng ATK với 27.771 nhân khẩu, 12.955 lao động, gồm có 6 dân tộc cùng chung sống trong khu vực Mật độ dân phân bố không đều, phần lớn tập trung ven đường quốc lộ 37 và 2C, còn một số bộ phận dân số sống xen kẽ những khe lạch rải rác 7-12 hộ thành một làng nhỏ

- Đời sống kinh tế xã hội

Trong những năm qua nhà nước đã hỗ trợ một phần kinh phí để xây dựng các công trình thủy lợi, cứng hóa kênh mương nội đồng phục vụ sản xuất nhưng do áp dụng khoa học kỹ thuật khoa học còn kém do còn một bộ phận nhỏ người dân tộc

Trang 40

thiểu số nên còn hạn chế dẫn đến năng suất lao động không cao nên hàng năm còn 1

- 2 tháng thiếu lương thực

- Giao thông

Công ty có điều kiện thuận lợi là nằm trong vùng có hệ thống giao thông khá thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như đường quốc lộ 2C và tuyến đường 379 Ngoài ra các đường liên xã đã được mở rộng nâng cấp trong toàn huyện Từ Công ty đến các đơn vị sản xuất của Công ty tương đối thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa lâm sản

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Chọn địa điểm nghiên cứu

Đề tài chọn địa điểm nghiên cứu tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ Việt Nam, trong đó chọn 3 tỉnh đại diện nghiên cứu là Phú Thọ, Tuyên Quang và Yên Bái Để thuận lợi cho quá trình thu thập số liệu tôi đã lựa chọn mỗi tỉnh là một công ty nông nghiệp và một công ty lâm nghiệp, cụ thể là như sau:

+ Tỉnh Phú Thọ có: Công ty cổ phần chè Phú Thọ

Công ty lâm nghiệp Xuân Đài

+ Tỉnh Tuyên Quang có: Công ty cổ phần chè Sông Lô

Công ty lâm nghiệp Yên Sơn

+ Tỉnh Yên Bái có: Công ty cổ phần chè Văn Hưng

Công ty TNHH MTV lâm nghiệp Thác Bà

2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu dùng để phân tích trong luận văn bao gồm 2 loại là số liệu thứ cấp và

số liệu sơ cấp Những số liệu này sau khi thu thập sẽ giúp chúng ta xác định được các phương pháp xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp trong vùng

2.3.2.1 Số liệu thứ cấp

Trong luận văn này số liệu thứ cấp được thu thập tại 3 công ty nông nghiệp

và 3 công ty lâm nghiêp của vùng thông qua các báo cáo tài chính, các sổ sách chứng từ ghi chép khác tại đơn vị nghiên cứu Ngoài ra, luận văn thu thập số liệu

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Bản đồ vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Hình 2.1 Bản đồ vùng Trung du miền núi phía Bắc Việt Nam (Trang 30)
Bảng 3.1: Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của 3 công ty nông nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.1 Giá trị tài sản cố định và đầu tư dài hạn của 3 công ty nông nghiệp (Trang 51)
Bảng 3.2: Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.2 Giá trị tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn (Trang 53)
Bảng 3.3: Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty nông nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.3 Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty nông nghiệp (Trang 55)
Bảng 3.5: Giá trị vườn chè đánh giá lại năm 2011 - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.5 Giá trị vườn chè đánh giá lại năm 2011 (Trang 62)
Bảng 3.6: Giá trị vườn cây của ba công ty nông nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.6 Giá trị vườn cây của ba công ty nông nghiệp (Trang 64)
Bảng 3.9: Giá trị đất phi nông nghiệp Công ty CP chè Sông Lô - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.9 Giá trị đất phi nông nghiệp Công ty CP chè Sông Lô (Trang 69)
Bảng 3.13: Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty lâm ngiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.13 Giá trị tài sản đầu tư tài chính của ba công ty lâm ngiệp (Trang 77)
Bảng 3.14. Giá trị tài sản vô hình của ba công ty lâm nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.14. Giá trị tài sản vô hình của ba công ty lâm nghiệp (Trang 78)
Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu xác định giá trị lợi thế kinh doanh - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.15 Một số chỉ tiêu xác định giá trị lợi thế kinh doanh (Trang 79)
Bảng 3.17: Tổng chi phí cho 1ha rừng Keo từ năm 2005-2011 - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.17 Tổng chi phí cho 1ha rừng Keo từ năm 2005-2011 (Trang 88)
Bảng 3.18: Tổng hợp chi phí cho 1ha rừng Bạch đàn từ năm 2005-2011 - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.18 Tổng hợp chi phí cho 1ha rừng Bạch đàn từ năm 2005-2011 (Trang 89)
Bảng 3.20: Tập hợp giá trị rừng đến 31/12/2011. - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.20 Tập hợp giá trị rừng đến 31/12/2011 (Trang 91)
Bảng 3.22: Tổng hợp giá trị rừng của ba công ty lâm nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.22 Tổng hợp giá trị rừng của ba công ty lâm nghiệp (Trang 93)
Bảng 3.26: Tổng hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp - Nghiên cứu phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nông lâm nghiệp tại vùng trung du miền núi bắc bộ
Bảng 3.26 Tổng hợp kết quả xác định giá trị doanh nghiệp (Trang 98)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w