Để làm rõ kết quả thực hiện Dự án từ 2000-2004, đánh giá mức độ tác động của Dự án KFW3 pha 1 đến kinh tế - xã hội, môi trường trên địa bàn huyện Đông Triều, cũng như những thuận lợi, kh
Trang 1Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, tác giả cũng đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất của tập thể cán bộ và thầy giáo khoa Đào tạo sau nói riêng và các thầy cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp nói chung Nhân dịp này, tác giả xin chân thành cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô
Tác giả cũng xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới lãnh đạo Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ban quản lý Dự án trồng rừng KfW3 tỉnh Quảng Ninh và Ban quản lý Dự án trồng rừng KfW3 huyện Đông Triều, Công ty TNHH 1 TV Lâm nghiệp Đông Triều, Hạt Kiểm lâm, Phòng Nông nghiệp và PTNT, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Triều đã ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n cho tác giả tham gia khoá ho ̣c và làm luâ ̣n văn đúng thời ha ̣n
Tác giả xin ghi nhâ ̣n sự giúp đỡ quý báu của UBND xã Tràng Lương, An Sinh, Hồng Thái Tây, Hoàng Quế huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Tôi xin cam đoan số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội , tháng năm 2012
Tác giả
Vũ Duy Văn
Trang 2ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ ÁN 6
1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá dự án 6
1.1.1 Ý nghĩa của việc đánh giá tác động 6
1.1.2 Khái niệm về Dự án 7
1.1.3 Đánh giá Dự án 9
1.1.4 Khái niệm về đánh giá tác động dự án……….9
1.1.5.Ý nghĩa của việc đánh giá tác động 9
1.1.6 Các khía cạnh đánh giá tác động của dự án………10
1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu 12
1.2.1 Trên thế giới 12
1.2.2 Tại Việt Nam 14
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Đông Triều 20
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 20
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 20
2.1.3 Đặc điểm kinh tế xã hội 26
2.1.4 Khái quát Dự án KfW3 31
2.2 Phương pháp nghiên cứu 37
Trang 3iii
2.2.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 37
2.2.2 Phương pháp đánh giá tác động của dự án 39
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Quá trình thực hiện dự án 42
3.1.1 Các bước tiến hành thực hiện dự án 42
3.1.2 Lập kế hoạch trồng rừng của Dự án 43
3.1.3 Hoạt động phổ cập và dịch vụ hỗ trợ: 49
3.1.4 Cung cấp vật tư đầu vào cho trồng rừng 52
3.1.5 Kết quả trồng, KNXTTS rừng 55
3.1.6 Lập và quản lý tài khoản tiền gửi cho các hộ trồng rừng DA 57
3.1.7.Thành lập tổ chức cấp thôn bản 58
3.1.8 Công tác giám sát đánh giá 59
3.1.9.Những thành công 60
3.2 Tác động của Dự án đến sự phát triển kinh tế 65
3.2.1 Tác động của Dự án đến cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình tham gia Dự án 68
3.2.2 Tác động của Dự án đến cơ cấu chi phí và đầu tư cho sản xuất của các hộ gia đình tham gia Dự án……… 70
3.2.3 Tác động đến cơ cấu sử dụng đất sản xuất của các hộ 72
3.2.4 Tác động của Dự án đến các chỉ tiêu phân loại kinh tế hộ 73
3.2.5 Đánh giá hiệu quả kinh tế theo phương pháp động 76
3.2.6 Tác động của mô hình tài khoản tiền gửi 77
3.3 Đánh giá tác động đến xã hội của Dự án 78
3.3.1 Yếu tố, mức độ tham gia của người dân 78
3.3.2 Tác động đến cơ cấu sử dụng thời gian của các hộ và tạo việc làm 81 3.3.3 Tác động của Dự án đối với sự bình đẳng về giới, trong các hoạt động sản xuất và đời sống 82
Trang 4iv
3.3.4 Tác động tới nhận thức của cộng đồng về kinh doanh rừng bền vững.
83
3.3.5 Khả năng lan rộng của dự án 85
3.4 Tác động của Dự án đến môi trường 86
3.4.1 Tác động của Dự án đến độ che phủ của rừng 86
3.4.2 Tác động của Dự án đến cải thiện nguồn nước 87
3.5 Đề xuất một số giải pháp quản lý sử dụng rừng bền vững sau đầu tư và bài học kinh nghiệm rút ra cho các Dự án tiếp theo 89
3.5.1 Bài học kinh nghiệm rút ra từ kết quả thực hiện Dự án 89
3.5.2 Đề xuất một số kiến nghị nhằm duy trì sự bền vững của Dự án 92
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 99
1 Kết luận 99
2 Tồn tại 100
3 Kiến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Tổng hợp diện tích điều tra lập địa tại vùng Dự án 4 xã huyện Đông
3.3 Cơ cấu loài cây trồng của các nhóm dạng lập địa theo thứ tự ưu tiên
3.4 Tổng hợp kết quả thiết kế đo đạc diện tích thiết lập rừng huyện
3.8 Kết quả trồng rừng của Dự án tại 4 xã huyện Đông Triều từ năm
3.15 Tiêu chí phân loại kinh tế hộ của xã Tràng Lương trước và sau Dự án 74 3.16 Số lượng hộ gia đình phân theo loại kinh tế hộ tại thôn Trung
Trang 7vii
Trang 8viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
3.12 Biểu đồ cơ cấu các nguồn thu nhập của các nhóm hộ gia đình
3.16 Cơ cấu sử dụng thời gian làm việc bình quân trong năm (cho 1 lao
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có chiều ngang hẹp, chiều dài chạy dọc theo bờ biển Đông trên 3.000 km, chịu ảnh hưởng của vùng nhiệt đới gió mùa, địa hình dốc, bị chia cắt nhiều và có hệ thống sông suối ngắn và dốc Hiện nay ước tính
có khoảng 25 triệu người sống ở các vùng rừng núi, vùng sâu, vùng xa, trong đó
có 12 triệu đồng bào dân tộc thiểu số cuộc sống còn nghèo khó, phụ thuộc vào rừng Vì vậy, rừng có ý nghĩa rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế
xã hội và bảo vệ sự bền vững về môi trường Rừng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài
gỗ cho nền kinh tế quốc dân, góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu tác hại của lũ tụt, bão, chống sói mòn, chống sạt lở đất, chống bồi tụ lòng hồ, cung cấp nước cho sản xuất và đời sống, bảo tồn đa dạng sinh học, lưu trữ nguồn gen, du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng Rừng có vai trò sống còn đối với khí hậu của trái đất trong việc hấp thụ và lưu giữ Cacbon, một nguồn phát thải chính làm trái đất nóng lên
Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Quốc Hội, Chính phủ,
sự ủng hộ mạnh mẽ của các tổ chức quốc tế và người dân, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng khá cao và tương đối toàn diện, với mức tăng tưởng giá trị sản xuất hàng năm đạt 4%, độ che phủ rừng năm 2009 đạt 39,1%, giá trị xuất khẩu ngành lâm nghiệp năm 2010 đạt 3,2 tỷ USD Nhằm chống lại tình trạng thoái hóa rừng, khôi phục lại nguồn tài nguyên xanh cho đất nước, Chính phủ Việt Nam đã đề ra chiến lược tăng nhanh diện tích rừng bằng những chính sách và biện pháp quyết liệt Nhằm đưa độ che phủ của rừng lên 43% vào năm 2015 và 47% vào năm 2020 Dự án “Trồng mới 5 triệu ha rừng” được thực hiện với quy mô đầu tư tài chính lớn đi đôi với việc phát triển khoa học công nghệ đã và đang đưa độ che phủ tăng nhanh Bên cạnh sự phát huy nội lực, Chính phủ cũng đã thu hút các nhà tài trợ quốc tế cùng nỗ lực hỗ trợ Việt Nam
cả về tài chính lẫn kỹ thuật trong công cuộc khôi phục rừng Nhiều Dự án phục
Trang 102
hồi rừng đã và đang được thực hiện trong vài thập kỷ qua với nguồn vốn của Chính phủ và các nhà tài trợ Quốc tế như: 327, 661, PAM (Chương trình Lương thực thế giới), ADB (Ngân hàng phát triển châu Á), WB (Ngân hàng thế giới), KfW (Ngân hàng Tái thiết Đức), GEF (Quỹ môi trường toàn cầu), JBIC (Ngân hàng Quốc tế Nhật Bản), JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản)…
Đông Triều là huyện cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, là một trong
2 huyện được tỉnh Quảng Ninh lựa chọn làm điểm thực hiện Đề án công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn từ năm 2001, Tài nguyên rừng có tính
đa dạng sinh học cao, độ che phủ của rừng đến năm 2011 là 51,3% Là huyện có
cơ cấu kinh tế trong đó tỷ trọng công nghiệp chiếm 60,3%, dịch vụ 25,8%, nông lâm ngư nghiệp 13,9% Tuy công nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhưng tập trung chủ yếu vào các hoạt động khai thác than, nhiệt điện, gốm sứ, vật liệu xây dựng từ đất sét nung gây ô nhiễm môi trường cao, đây cũng là nguyên nhân chính làm cho diện tích rừng bị suy giảm hoặc làm giảm khả năng tự phục hồi của rừng
Nhằm nâng cao độ che phủ của rừng và góp phần cải thiện môi trường, nâng cao mức sống cho nhân dân ở miền núi, giảm sức ép mang tính tiêu cực của người dân sống gần rừng đối với rừng tự nhiên, những năm qua huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh đã nhận được sự quan tâm đầu tư của các ngành, các cấp
từ nhiều chương trình Dự án của quốc gia như: 327, 661 và các Dự án quốc tế như: Dự án PAM, KFW
Một trong các Dự án triển khai tại huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh được đánh giá là có hiệu quả đó là: Dự án “ Trồng rừng tại các tỉnh Bắc Giang
và Quảng Ninh” gọi tắt là KFW3- Pha 1 do Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) tài trợ không hoàn lại Dự án được triển khai tại huyện Đông Triều từ 11/1999 đến 12/2004 với 04 xã được lựa chọn tham gia là: An Sinh, Tràng Lương, Hồng Thái Tây, Hoàng Quế
Mục tiêu của Dự án là nâng cao mức sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và các khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vùng và tăng tính đa dạng sinh học
Trang 113
Xuất phát từ mục tiêu dự án cho thấy đánh giá tác động dự án là hoạt động quan trọng đảm bảo sự thành công của một dự án, là cơ sở để rút ra bài học kinh nghiệm về giá trị, tính phù hợp của các hoạt động nhằm triển khai các hoạt động tương tự trong tương lai Đánh giá tác động dự án được hình thành như một yêu cầu khách quan vì sự phát triển bền vững của con người Thông qua đánh giá tác động dự án, đưa ra nhìn nhận xem xét bằng cách nào đó có thể thu được kết quả tốt hơn hay xem xét lại trách nhiệm của các bên tham gia trong quản lý dự án Kết quả của công tác đánh giá tác động dự án sẽ giúp thúc đẩy sự bền vững về nhiều mặt của dự án và hướng đến xây dựng năng lực, sự tự chủ của các vùng dự
án Như vậy, đánh giá tác động dự án giúp chủ đầu tư, các nhà tài trợ xác định liệu dự án có mang lại kết quả như mong muốn không, những kết quả đó có thực
sự do dự án mang lại không và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
Để làm rõ kết quả thực hiện Dự án từ 2000-2004, đánh giá mức độ tác động của Dự án KFW3 pha 1 đến kinh tế - xã hội, môi trường trên địa bàn huyện Đông Triều, cũng như những thuận lợi, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện dự án, làm căn cứ đưa ra các giải pháp duy trì kết quả của dự án, khuyến nghị, đề xuất đối với các Dự án khác có đặc điểm tương tự, tác giả tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá tác động về kinh tế, xã hội và môi trường của
Dự án trồng rừng Việt Đức ( KFW3- pha1) trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá tác động của Dự án KFW3 - pha 1 tại vùng thực hiện dự án trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai các dự án lâm nghiệp phù hợp tiềm năng, nhu cầu của từng vùng, phát huy hiệu quả đầu tư của các chương trình, dự án
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống cơ sở lý luận về đánh giá tác động dự án
Trang 124
- Đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động của Dự án trồng rừng Việt Đức KFW3 pha I tại huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2000 đến năm
2004
- Phân tích một số tác động của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và
môi trường trên địa bàn nghiên cứu
- Đề xuất một số giải pháp để duy trì, phát triển các kết quả của Dự án, có rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện Dự án khác có điều kiện tương tự
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Dự án “Trồng rừng tại các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh - KfW3 pha 1
sử dụng vốn tài trợ không hoàn lại của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ CHLB Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức với mục tiêu trồng, KNXTTS rừng Các bên có liên quan và các đối tượng hưởng lợi trực tiếp (hộ gia đình tham gia dự án) trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung:
Đánh giá hiệu quả và một số tác động chủ yếu của Dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường trong giới hạn một số chỉ tiêu chính phù hợp với thời gian và nội dung luận văn cao học
+ Phạm vi về không gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động của Dự án trồng rừng KfW3 pha 1 tại các xã Tràng Lương, An Sinh, Hoàng Quế huyện Đông Triều
+ Phạm vi về thời gian:
Giai đoạn thực hiện Dự án từ năm 2000 đến năm 2004
4 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ mục tiêu và giới hạn nghiên cứu của đề tài, nội dung đề tài được xác định như sau:
4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Trang 135
4.2 Đánh giá kết quả thực hiện Dự án KfW3 pha 1 trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2000 đến 2004 về các chỉ tiêu: Quy hoạch sử dụng đất, điều tra lập địa, thiết kế đo đạc diện tích, giao đất, sản xuất cây con, trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, mở và quản lý tài khoản tiền gửi hỗ trợ công lao động, chất lượng rừng trồng và rừng khoanh nuôi, công tác đào tạo tập huấn nâng cao năng lực
4.3 Đánh giá một số tác động của Dự án đến sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường tại vùng Dự án huyện Đông Triều
a) Về kinh tế:
- Nghiên cứu về sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất trong sản xuất, cơ cấu thu nhập và chi phí hộ gia đình
- Nghiên cứu về sự thay đổi loại kinh tế hộ và các tiêu chí phân loại kinh tế hộ
- Tác động của mô hình Tài khoản tiền gửi
- Tác động của Dự án đối với một số chỉ tiêu phát triển kinh tế của địa phương
b) Về xã hội:
- Nghiên cứu nhận thức của người dân thông qua mức độ tham gia của người dân đối với quá trình thực hiện DA
- Nhận thức của cộng đồng về lâm nghiệp bền vững
- Tạo việc làm, hạn chế tệ nạn xã hội
- Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của DA đến một số vấn đề khác của xã hội: Sự ảnh hưởng của DA đến vai trò của người phụ nữ trong việc bình đẳng giới, nhận thức của cộng đồng về phát triển rừng bền vững
c) Về môi trường:
- Nghiên cứu tác động của DA đến độ che phủ của rừng
- Nghiên cứu tác động của Dự án đến khả năng chống xói mòn
- Nghiên cứu tác động của DA đến môi trường đất và nước ở khu vực nghiên cứu
4.4 Đề xuất một số giải pháp để duy trì, phát triển, có rút ra bài học kinh nghiệm cho việc triển khai thực hiện các Dự án tương tự tiếp theo
Trang 146
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ ÁN 1.1 Cơ sở lý luận về đánh giá dự án
1.1.1 Ý nghĩa của việc đánh giá tác động
Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đang đứng trước thời kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu gây thiên tai lũ lụt, băng tan, sóng thần với tính chất ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Bên cạnh đó việc gia tăng dân số, phát triển công nghiệp như vũ bão, nhu cầu về năng lượng ngày càng lớn đã gây sức
ép rất lớn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người trên trái đất Đứng trước tình hình đó các giải pháp đã được nghiên cứu, thảo luận của các nhà khoa học hàng đầu thế giới Trong đó, giải pháp hiệu quả nhất, thực tế nhất đó là phải phục hồi lại lá phổi xanh của trái đất mà con người đang tàn phá dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng, chất lượng, đó chính là tài nguyên rừng Hàng loạt các Dự án lâm nghiệp với mục tiêu chính là phục hồi, phát triển rừng nằm trong chương trình quốc gia, quốc tế
đã và đang được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, với số vốn đầu tư lên đến nhiều tỷ đồng Tuy nhiên hiệu quả tích cực hay tiêu cực, đã tương xứng với tiềm năng đất đai, nguồn vốn đầu tư chưa, mức độ tác động của chúng đến kinh
tế, xã hội, môi trường đến đâu thì vẫn còn là một dấu hỏi Đánh giá tác động Dự
án (DA) ra đời để trả lời cho các câu hỏi trên, đồng thời thông qua công tác đánh giá có thể định tính, định lượng được mức độ ảnh hưởng từ phía DA đến các đối tượng hưởng lợi nói riêng và xã hội nói chung, làm cơ sở cho việc xây dựng các mức chi phí cần thiết cho bảo vệ môi trường, thể chế hóa bằng luật pháp để buộc mọi thành viên trong xã hội phải điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên, chịu trách nhiệm về những hậu quả, tổn thất do cá nhân, tổ chức mình gây ra thông qua các kênh đầu
tư, đóng góp để phục hồi, tái tạo lại tài nguyên rừng Đánh giá tác động còn giúp cho việc điều chỉnh, hoàn thiện hơn, rút ra được bài học kinh nghiệm để sửa đổi theo chiều hướng tích cực trong quá trình triển khai các giai đoạn DA
Trang 157
1.1.2 Khái niệm về Dự án
Thuật ngữ “Dự án” đã được sử dụng từ rất lâu để đặt tên cho một loạt các họat động của mình nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu nhất định trong khoảng thời gian hạn định “Dự án” có thể coi là một quá trình gồm các các hoạt động có liên quan tới nhau được thực hiện nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong điều kiện ràng buộc về thời gian, nguồn lực và ngân sách Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Dự án, hướng mục tiêu thường bị chi phối, mức độ đạt mục tiêu khác với dự kiến đặt ra ban đầu Điều đó thể hiện sự phản hồi của các hoạt động trong Dự án và mối liên hệ giữa các mặt trong phạm vi thời gian và không gian thực hiện Dự án Trong lý thuyết cũng như trong thực tiễn quản lý kinh tế hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về dự án Mỗi quan điểm về Dự
án xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu
Theo từ điển tiếng Anh Oxford: “Dự án (DA) là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”
Theo Ngân hàng thế giới-WB: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định
Từ điển xã hội học của David Jary và Julia Jury[40], đưa ra định nghĩa về
Dự án như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài
và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của
Dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến
xã hội tại cộng đồng
Cũng như trên thế giới, ở Việt Nam thuật ngữ Dự án được dùng rộng rãi, tuy nhiên chỉ mới phổ biến trong vài thập kỷ gần đây
Trang 16và các quy trình đã được tạo ra để thực hiện các mục tiêu riêng biệt trong các giới hạn về nguồn lực, ngân sách và các kỳ hạn đã được xác định trước
Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh,
Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang, tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây Dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa về DA Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch DA để có được những mục tiêu mong muốn
Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “DA là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định” Cũng theo MPI thì “DA đầu tư là một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”
Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: DA là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường
Trang 179
1.1.3 Đánh giá Dự án
Đánh giá DA là một nhiệm vụ nằm trong các chuỗi hoạt động của DA Tùy thuộc mục tiêu đánh giá mà có quy mô thực hiện đánh giá khác nhau Đánh giá giai đoạn hoặc là đánh giá định kỳ là nhằm rà soát, so sánh nhiệm vụ, mục tiêu theo một kế hoạch nào đó đồng thời dự đoán hiệu quả trong tương lai
1.1.4 Khái niệm về đánh giá tác động dự án
Đánh giá tác động dự án là xem xét sự tương xứng giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp cũng như các kết quả đạt được của dự án, thông qua đánh giá tác động dự án giúp chủ đầu tư, các nhà tài trợ xác định liệu dự án có mang lại kết quả như mong muốn không, những kết quả đó có thực sự do dự án mang
lại không và từ đó rút ra bài học kinh nghiệm
1.1.5.Ý nghĩa của việc đánh giá tác động
Hiện nay ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung đang đứng trước thời kỳ biến đổi khí hậu toàn cầu gây thiên tai lũ lụt, băng tan, sóng thần với tính chất ngày càng phức tạp và khó kiểm soát Bên cạnh đó việc gia tăng dân số, phát triển công nghiệp như vũ bão, nhu cầu về năng lượng ngày càng lớn đã gây sức ép rất lớn đến nguồn tài nguyên thiên nhiên, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người trên trái đất Đứng trước tình hình đó các giải pháp đã được nghiên cứu, thảo luận của các nhà khoa học hàng đầu thế giới Trong đó, giải pháp hiệu quả nhất, thực tế nhất đó là phải phục hồi lại lá phổi xanh của trái đất
mà con người đang tàn phá dẫn đến sự suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng, chất lượng, đó chính là tài nguyên rừng Hàng nghìn Dự án lâm nghiệp với mục tiêu chính là phục hồi, phát triển rừng ra đời một cách ồ ạt, nằm trong chương trình quốc gia, quốc tế với số vốn đầu tư lên đến nhiều tỷ đồng Tuy nhiên hiệu quả tích cực hay tiêu cực, đã tương xứng với tiềm năng đất đai, nguồn vốn đầu
tư chưa, mức độ tác động của chúng đến kinh tế, xã hội, môi trường đến đâu thì vẫn còn là một dấu hỏi Đánh giá tác động Dự án (DA) ra đời để trả lời cho các câu hỏi trên, đồng thời thông qua công tác đánh giá có thể định tính, định lượng
Trang 1810
được mức độ ảnh hưởng từ phía DA đến các đối tượng xung quanh làm cơ sở cho việc xây dựng các mức chi phí cần thiết cho bảo vệ môi trường, thể chế hóa bằng luật pháp để buộc mọi thành viên trong xã hội phải điều chỉnh các hoạt động thực tiễn đảm bảo có lợi cho sự tồn tại lâu bền của con người và thiên nhiên, chịu trách nhiệm về những hậu quả, tổn thất do cá nhân, tổ chức mình gây ra thông qua các kênh đầu tư, đóng góp để phục hồi, tái tạo lại tài nguyên rừng Đánh giá tác động còn giúp cho việc điều chỉnh, hoàn thiện hơn, rút ra được bài học kinh nghiệm để sửa đổi theo chiều hướng tích cực trong quá trình triển khai các giai đoạn DA
1.1.6 Các khía cạnh đánh giá tác động của dự án
Trên thế giới, việc đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường của Dự
án hay một hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó đã có lịch sử hàng trăm năm Trên cơ sở xem xét các nội dung mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, kết quả đạt được của từng Dự án làm căn cứ để đánh giá Tùy theo tính chất, thể loại Dự án
mà công tác đánh giá có những điểm khác nhau Dự án đầu tư cho sản xuất tập chung phân tích khía cạnh về kinh tế, Dự án hỗ trợ đi sâu vào khía cạnh xã hội
và những Dự án đầu tư cho các khu bảo tồn, phòng hộ lại chú ý đến khía cạnh môi trường là chính Các giai đoạn, thời điểm và mục tiêu đánh giá khác nhau thì yêu cầu, nội dung đánh giá cũng khác nhau Trong một số trường hợp đối với những Dự án có quy mô lớn đa mục đích thì cần phải tách riêng từng hợp phần
để đánh giá Trong quá trình phát triển có thể chia làm hai giai đoạn:
trưng của giai đoạn này là những nghiên cứu xung quanh những vấn đề về chất lượng môi trường mâu thuẫn với sự tăng trưởng kinh tế;
Ban đầu là những nghiên cứu về vấn đề đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái thông qua việc hạn chế nạn phá rừng Nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các phương thức sử dụng đất, các hoạt động canh tác đến đất đai và môi trường đã được công bố như: Nghiên cứu của
Trang 1911
Freizendaling (1968) về “Tác động của con người đến sinh quyển”; Gober (Pháp, 1968) về “Đất và việc giữ độ phì của đất - các nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất” Tổ chức nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO) trong nhiều năm nghiên cứu vấn đề canh tác trên đất dốc đã đưa ra các mô hình canh tác có hiệu quả như SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4 ;
Đến đầu những năm 1970, Quốc hội Hoa Kỳ đã ban hành luật chính sách quốc gia về môi trường, thường gọi tắt là NEPA Luật này quy định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp tiểu bang về luật pháp, hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được nhà nước chấp nhận đều phải kèm theo một báo cáo về tác động đến môi trường của việc làm được kiến nghị Tiếp theo Hoa Kỳ là Canada, Australia, Anh, Nhật, Đức cũng lần lượt ban hành luật đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994) Trong những năm 1970 và đầu 1980, ở một số nước đang phát triển như Thái Lan, Singapo, Philippine, Indonesia đã ban hành những quy định về đánh giá tác động môi trường;
Năm 1972, Liên hiệp quốc đã tổ chức hội nghị về môi trường của con người với mục đích là tìm hướng giải quyết những tác động không mong muốn
mà cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật gây ra đối với môi trường sống Các tổ chức UNEP, UNDP, WB đã công bố “Tuyên bố về các chính sách và thủ tục về môi trường” nói lên quan điểm phải kết hợp giữa phát triển kinh tế - xã hội với việc bảo vệ môi trường và quy định trong các Dự án phát triển do các cơ quan này viện trợ hoặc cho vay vốn phải báo cáo đánh giá tác động môi trường (Lê Thạc Cán, 1994);
Năm 1979, tổ chức FAO đã xuất bản tài liệu “Phân tích các Dự án lâm nghiệp” do Hans M-Gregersen và Amoldo H Contresal biên soạn Đây là tài liệu giảng dạy dùng cho các địa phương mà tổ chức FAO có đầu tư Dự án trồng rừng
và phát triển lâm nghiệp; tài liệu này tương đối đầy đủ và phù hợp với điều kiện đánh giá hiệu quả các Dự án lâm nghiệp ở các nước đang phát triển
Trang 2012
Giai đoạn 2: Từ đầu những năm 1980 đến nay, với đặc trưng của giai đoạn này là phát triển bền vững, trong đó đã thể hiện được sự bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường;
Từ những năm 1980 cho đến nay, khái niệm phát triển bền vững đã được nêu ra và ngày càng trở nên phổ biến Ngày nay quan điểm phát triển bền vững
đã trở thành một quan điểm chính thống và bắt buộc mọi người không thể bỏ qua Bản báo cáo “Tương lai Chung của Chúng ta” của ủy ban Brundtland (1987) đã công nhận đánh giá tác động môi trường là một cấu thành thiết yếu trong quá trình thúc đẩy phát triển bền vững Báo cáo cũng đã vạch ra sự tham gia rộng lớn hơn của cộng đồng vào các quyết định có ảnh hưởng đến môi trường, tạo điều kiện cho các cộng đồng sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên địa phương;
Tại Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, ở Rio de Janeiro (Braxin) đã
đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới”;
Năm 1994, Walfredo Raqual Rola đã đưa ra một mô phỏng về tác động của các phương thức canh tác Theo mô phỏng này hiệu quả của một phương thức canh tác được đánh giá theo quan điểm tổng hợp, trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và sinh thái môi trường Tất cả các tác động đó đều nhằm mục tiêu cuối cùng
là phát triển toàn diện kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững
1.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Trên thế giới
Theo lý thuyết về đánh giá DA thì tại các công trình nghiên cứu của một
số tác giả như: L.Therse Barker, Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt, đã thể hiện đánh giá liên quan đến việc đo lường, so sánh và đưa ra những nhận định về kết quả của hệ thống các họat động DA, so sánh kết quả với mục tiêu đề ra ban đầu Đối với một DA, đánh giá còn là xem xét một cách logic
Trang 2113
có hệ thống nhằm xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của DA, tác động đến các mặt của đời sống xã hội và tự nhiên Hoạt động đánh giá là một công tác được triển khai khi đã có một số các hoạt động chính của DA diễn ra theo định
kỳ hay gọi cách khác là đánh giá giai đoạn, hoặc khi tổng thể các họat động của
DA đã chấm dứt
Joachimtheis, Heather, M.Grady đã phân loại đánh giá DA bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá mục tiêu Đánh giá mục tiêu là xem xét, so sánh tính hiệu quả của DA có đạt được mục tiêu hay không Đánh giá tiến trình là công việc ngoài sự xem xét các nội dung của DA để đạt được mục tiêu thì còn xem xét tiến độ thực hiện DA theo từng công đoạn của thời gian
Để đánh giá DA, người ta sử dụng nhiều phương pháp thực hiện như điều tra khảo sát (servey), phỏng vấn (interview), thảo luận nhóm (focus group), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não… tất cả các nội dung của hoạt động đánh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp khách quan với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện DA
Đánh giá tác động của DA là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội
và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của DA Về phương pháp đánh giá tác động DA tùy thuộc loại Dự án mà có phương pháp phù hợp Theo FAO thì đánh giá tác động của DA về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí
xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản phẩm DA chưa có đoạn kết như DA trồng rừng phải sau một thời gian nhất định mới có sản phẩm của rừng
Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của DA thì tổng mức đầu tư khi bắt đầu triển khai DA đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc DA và mức chiết khấu nguồn đầu tư
Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks [dẫn theo 40] nêu rằng: Bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một DA như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng suất sản xuất, chất lượng sản
Trang 2214
phẩm tăng lên… thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện DA thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính xã hội
Về môi trường UNEP, đã xây dựng bản hướng đánh giá tác động môi trường của các DA phát triển Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo các tác động môi trường của một DA, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của DA đối với môi trường
1.2.2 Tại Việt Nam
Hàng loạt các công trình về đánh giá hiệu quả và tác động của các dự án, đặc biệt là các Dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu thực hiện trong những năm qua, nhất là trong thời gian gần đây khi
mà xu thế quản lý rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi tất cả các nước phải giám sát chặt chẽ các tác động từ các hoạt động Dự án mang lại
Nhóm chuyên gia của chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thuỷ điển (MRDP1) và viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu sự thay đổi của thảm thực vật và độ che phủ rừng trong giai đoạn 10 năm (1989- 1998), trên địa bàn 5 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang”, Nghiên cứu đã đánh giá sự thay đổi chung của 5 tỉnh và đánh giá chi tiết
sự thay đổi của 20 xã trong đó có 10 xã được sự hỗ trợ của chương trình Hợp tác xã Lâm nghiệp (FCP2) và 10 xã ngoài 2 chương trình đó
Trong báo cáo đánh giá tác động “Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà trong chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên châu Tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu”, do Annette Luibrand (2000), thông qua phương pháp điều tra hộ gia đình đã tiến hành đánh
1 :Mountainous Rrural Devenlopment Programe;
2 : Forestry Cooperation Program
Trang 2315
giá tác động của Dự án đến phương pháp canh tác của các hộ nông dân trên các loại hình sử dụng đất mà gia đình hiện có
Nghiên cứu tác động “Công tác giao đất đến một số yếu tố kinh tế, xã hội
ở cấp gia đình ” thuộc Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà - chương trình hợp tác
kỹ thuật Việt- Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu” Scott Fritzen đã đi sâu vào việc phân tích một số mô hình sử dụng đất cấp thôn và hộ gia đình, phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp của các hộ gia đình, đánh giá chiến lược phát triển kinh tế hộ, sản xuất cấp thôn và tác động của công tác giao đất do
Dự án thực hiện đến đời sống kinh tế xã hội của các hộ gia đình về các mặt chủ yếu như cơ cấu thu nhập, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường
Trong báo cáo tổng kết đề án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh
tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”, Đỗ Đức Bảo và cộng sự đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở vùng lòng hồ Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: vườn tạp, cây ăn quả, Nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên Trong phương pháp ma trận môi trường, việc phân tích số liệu dược thể hiện thông qua các hàng và các cột ( hàng - các chỉ tiêu đánh giá cột - trị số của chỉ tiêu đánh giá) Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như: Kinh tế, xã hội và môi trường Những tác động cụ thể của từng hoạt động của từng phương án được đánh giá qua tổng điểm, mức tổng điểm càng cao thì DA càng có hiệu quả Tuy nhiên, chính tác giả cũng thừa nhận rằng phương pháp ma trận môi trường là phương pháp “bán định hướng” và chỉ mang tính tương đối bởi vì việc cho điểm phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan Yếu tố này chủ yếu dựa vào trình độ và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu Mặc dù vậy đây là phương pháp đơn giản dễ vận
Trang 24Tháng 5/1997 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ đã đưa ra “Báo cáo nghiên cứu ban đầu về tác động kinh tế xã hội trực tiếp của Dự án khu Công nghiệp cao Hà Nội3 tại 5 xã thuộc tỉnh Hà Tây” [39], Báo cáo nghiên cứu đề cập chủ yếu đến việc khảo sát hiện trạng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đến năm 2010, đồng thời dự kiến một số tác động chính khi Dự án triển khai trên địa bàn Báo cáo nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện để phát huy tối đa các tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của Dự án đến đời sống kinh tế xã hội trong vùng
Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động Dự án hồ chứa nước Nàng Hươm -
Xã Mường Nhà huyện Điện Biên tỉnh Lai Châu”, Vũ Thị Lộc, đã tiến hành phân tích những ảnh hưởng của Dự án đến khả năng mở rộng diện tích, thay đổi hệ số
sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề ổn định dân cư vùng Dự án
Năm 1990, Per – H Stahl, chuyên gia về lâm sinh học cùng với nhà kinh
tế học Heime Krekula, đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy tại khu Công nghiệp giấy Bãi Bằng – Phú Thọ Trong công trình này, các tác giả nói trên chủ yếu đề cập đến các chỉ tiêu NPV, IRR còn các chỉ tiêu về môi trường - sinh thái và xã hội thì
3 :Còn gọi là khu công nghệ cao Hoà lạc
Trang 25“Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” (1994) Hoàng Xuân Tý [36], đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Tuy nhiên trong các phân tích và đánh giá, tác giả thường thiên về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên
Năm 2000, Hubertus Kraienhorst, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá Dự án KfW1, Thông qua kết quả khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện các Dự án, phân tích ưu nhược điểm của các hoạt động, đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Dự án Báo cáo đánh giá cũng đã nêu bật những thành công của Dự án tại 2 tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn, trong đó nhấn mạnh; i) Đã góp phần đưa độ che phủ bình quân của các xã vùng Dự án từ 15% đến 36%; ii) Tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế hộ cho một bộ phận dân cư miền núi; iii)
Mô hình hỗ trợ công lao động thông qua tài khoản tiền gửi (TKTG) tỏ ra rất hữu hiệu trong việc quản lý nguồn vốn của Dự án đúng mục tiêu và là đòn bẩy kinh
tế quan trọng trong việc thúc đẩ các hộ nông dân tham gia trồng rừng; iv) Nhận thức của nông dân cũng được thay đổi khi được tiếp cận với những kiến thức về một nền lâm nghiệp bền vững; v) Về môi trường còn quá sớm để đưa ra nhận định một cách chính xác và có định lượng, tuy nhiên đã nhận thấy những dấu hiệu tích cực trong cải thiện môi trường tại khu vực: nguồn nước cho sinh hoạt
và sản xuất dồi dào hơn, chim và thú nhỏ đã xuất hiện trở lại trong các khu rừng trồng, cây tái sinh đã bắt đầu xuất hiện trên các lập địa xấu mà trước khi trồng rừng không có… Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tính rủi ro cao khi mà 84%
Trang 2618
diện tích rừng trồng (lập địa D) của Dự án là cây Thông Mã vĩ, sẽ vấp phải những vấn đề: cháy, sâu bệnh, đơn điệu về sản phẩm, cần phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
Vào năm 2004 và 2007, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã thực hiện cuộc đánh giá cuối kỳ đối với 2 Dự án “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh
và Lạng Sơn – KfW3” và “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh – KfW3 pha 2” [37][38] Trong các báo cáo đã nêu rõ: Ngoài những thành quả nổi bật đã đạt được giống như Dự án KfW1 trước đây về: Độ che phủ, bảo vệ nguồn nước va chống xói mòn, góp phần phát triển kinh tế xã hội Báo cáo cũng nhận định: Ở cả 2 Dự án tính chất phát triển bền vững của các Dự án KfW được củng
cố hơn Những tác động tích cực tới môi trường, tới sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội đã thể hiện ngày rõ nét bởi các tác động của Dự án đã mang lại Những tiềm năng rủi ro đã nêu trong các báo cáo đánh giá về Dự án KfW1 và KfW2 (Trồng rừng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị” đã được 2
Dự án KfW3 và KfW3 pha 2 cải thiện hoặc hạn chế như: Tăng cường diện tích trồng cây bản địa trong cơ cấu cây trồng, cải thiện việc kiểm soát trong lập và quản lý TKCN, cải thiện và phân cấp trách nhiệm trong hệ thống giám sát nội bộ các hoạt động của dự án, cải thiện các khâu trong đo đạc giao đất và thiết kế trồng rừng
Bên cạnh công tác giám sát, có thể nói đánh giá tác động DA, đặc biệt là các DA đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp là một hoạt động không thể thiếu được
và đòi hỏi phải được tuân thủ nghiêm ngặt Chỉ có như vậy mới có thể nhìn thấy
rõ hiệu quả cũng như khiếm khuyết trong quá trình đầu tư Đánh giá tác động cần phải được thực hiện một cách toàn diện trên cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường Chỉ có như vậy mới có đủ cơ sở đề xuất những giải pháp cho quá trình phát triển bền vững của đất nước nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng
theo tinh thần của Hội nghị quốc tế về môi trường năm 1992, tại Rio de Janeiro
(Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi
Trang 2820
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Đông Triều
2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu
Đông Triều có 21 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 19 xã và 02 thị trấn, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 39.721,55 ha Tính đến 31/12/2010 tổng dân số toàn huyện có 165.625 người, nhìn chung dân số huyện Đông Triều là dân số trẻ, có 9 dân tộc đang sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 97,8% Huyện có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng là nóng, ẩm mưa nhiều vào mùa hè và khô, lạnh vào mùa đông
Năm 2011 tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện đạt 14,4%, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện (theo giá cố định) đạt 2.698,5 tỷ đồng Cơ cấu kinh
tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp, tỷ trọng công nghiệp chiếm 60,3%; dịch vụ chiếm 25,8%, nông lâm ngư nghiệp chiếm 13,9%, thu nhập bình quân đầu người đạt 1.130USD/người Tổng thu ngân sách trên địa bàn 490,7 tỷ đồng
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí
Đông Triều là huyện cửa ngõ phía Tây của tỉnh Quảng Ninh, trung tâm huyện lỵ cách Thành phố Hạ Long 78 km, cách thủ đô Hà Nội 90 km, huyện có toạ độ địa lý như sau:
- Từ 21o29’04’’- 21o44’ 55’’vĩ độ Bắc
- Từ 106o33’ - 106o44’55’’ kinh độ Đông
Phía Đông giáp thành phố Uông Bí
Phía Tây giáp huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương
Phía Nam giáp huyện Thủy nguyên thành phố Hải phòng và huyện Kinh Môn tỉnh Hải Dương
Phía Bắc giáp huyện Sơn Động và huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang
Trang 2921
2.1.2.2 Địa hình, địa thế
Đông Triều là huyện trung du có đồi núi xen lẫn đồng bằng ven sông Phía bắc và tây bắc là vùng đồi núi thuộc cánh cung Đông Triều, phía nam là vùng đồng bằng ven sông và được chia thành 3 vùng chính:
Vùng đồi núi phía Bắc: Bao gồm các xã: An Sinh, Bình Khê, Tràng
Lương, có độ cao trung bình 300-400 m, đỉnh cao nhất là Am Váp cao 1.031 m, đoạn giữa đứt gãy tạo thành thung lũng lớn Bình Khê - Tràng Lương Địa hình vùng đồi núi thích hợp cho phát triển lâm nghiệp, nông nghiệp, cây ăn quả và cây công nghiệp
Vùng giữa: Kéo dài từ giáp Dốc Đỏ thuộc xã Hồng Thái Đông qua phía
bắc thị trấn Mạo Khê, xã Kim Sơn, xã Tràng An là vùng đồi thấp xen kẽ, có nguồn gốc là đất phù sa cổ, thích hợp cho phát triển cây lâu năm, cây công nghiệp và trồng lúa
Vùng đồng bằng phía Nam:Vùng này chủ yếu do phù sa sông Kinh Thầy
và sông Đá Bạc bồi đắp tạo thành Địa hình của vùng thích hợp cho trồng lúa và nuôi trồng thủy sản nước ngọt
2.1.2.3 Khí hậu, thủy văn
Huyện Đông Triều nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng là nóng, ẩm mưa nhiều vào mùa hè và khô, lạnh vào mùa đông Nhiệt độ trung bình năm là 2304 (dao động từ 16,60C đến 29,40C), độ ẩm 81%, lượng mưa trong năm là 1809 mm, thấp hơn nhiều huyện trong tỉnh, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80-90% lượng mưa cả năm Số giờ nắng trung bình
từ 1.500 đến 1.600 giờ/năm
Có hai hướng gió mùa chính: Gió Đông Nam xuất hiện vào mùa mưa thổi
từ biển vào mang theo hơi nước và gây ra mưa lớn Gió mùa Đông Bắc xuất hiện vào mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, gió Đông Bắc thường lạnh và mang theo gió rét Hàng năm, thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của 3-5 cơn bão với cấp gió từ cấp 8 đến cấp 10, giật trên cấp 10
Trang 3022
Sương muối thường xuất hiện ở Đông Triều vào khoảng thời gian tháng
12 năm trước đến tháng 3 năm sau, tập trung ở các vùng núi như An Sinh, Bình Khê, Tràng Lương, khi nhiệt độ có nơi xuống tới 30C
Các chỉ tiêu khí hậu bình quân các tháng (Giai đoạn 1999-2005) tại khu vực nghiên cứu được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu khí hậu bình quân của các tháng trong năm
(mm)
Lượng bốc hơi (mm) Nhiệt độ không khí (0C)
Độ ẩm không khí (%)
(Nguồn: Trung Tâm khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ninh)
Từ số liệu tại bảng 2.1, mô tả Bảng đồ vũ nhiệt Gaussea-Walter qua hình 2.1:
Hình 2.1: Biểu đồ vũ nhiệt Gaussea-Walter huyện Đông Triều
Trang 31- Nhóm đất phù sa: diện tích 5.974,99 ha chiếm 15% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, đất có thành phần thịt trung bình đến sét nhẹ, hàm lượng hữu cơ trung bình, hướng sử dụng cho loại đất này là trồng lúa và rau màu Tập trung tại các xã Yên Đức, Hưng Đạo, Nguyễn Huệ, Bình Dương
- Nhóm đất xám: diện tích 2.570,6 ha chiếm 6,47% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, đất có phản ứng chua, thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, hướng sử dụng chính trên loại đất này là trồng lúa ở nơi thuận tiện nước
- Nhóm đất vàng đỏ: diện tích 22.869,56 ha chiếm 57,58% diện tích đất tự nhiên toàn huyện, đất phát triển trên sản phẩm phong hóa của đá sét, cát bột kết
và đá macma axit, hàm lượng hữu cơ tầng mặt đạt mức trung bình, hướng sử dụng chính trên loại đất này là trồng rừng và cây ăn quả Tập trung tại các xã Tràng Lương, Bình Khê, An Sinh, Việt Dân, Tân Việt, Tràng An
- Nhóm đất mùm vàng nhạt trên núi: diện tích 224,29ha chiếm 0,56% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở độ cao tuyệt đối trêm 700m, hình thành chủ yếu trên
đá dăm cuội, độ phì khá tuy nhiên do ở địa hình cao, đi lại khó khăn nên hướng
sử dụng chính trên loại đất này là khoanh nuôi bảo vệ rừng Tập trung tại các xã Anh Sinh, Bình Khê, Tràng Lương
- Nhóm đất tầng mỏng và nhóm đất tác nhân: diện tích 1009,17ha chiếm 3,13% diện tích tự nhiên toàn huyện, đất hình thành trên đá sa phiến thạch và quá trình khai thác mỏ của con người, hướng sử dụng là trồng rừng ở nơi hoàn nguyên sau khi khai thác than Đất tập trung tại các xã có đồi núi tại phía bắc huyện
Trang 3224
2.1.2.5 Hiện trạng tài nguyên, thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện: 39.721,55 ha trong đó:
- Đất nông nghiệp: 27.833,44 ha chiếm 70,1% diện tích tự nhiên
+ Đất lúa nước: 5.730,87 ha chiếm 14,4%
+ Đất trồng cây lâu năm : 3.552, 58ha chiếm 0,41%
+ Đất lâm nghiệp: 17.423,44 ha chiếm 43,86%
+ Đất nuôi trồng thủy sản: 955,3ha chiếm 2,4%
+ Đất nông nghiệp khác: 171,19 ha chiếm 0,4%
- Đất phi nông nghiệp : 9.016,99 ha chiếm 22,7% diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 2.871,12 chiếm 7,2%
Trong đó, tính đến 10/11/2011 huyện Đông Triều đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với kết quả như sau: đất nông nghiệp 27.091/33.999 giấy đạt 79,7%; đất lâm nghiệp đã cấp 1.218/2.638 giấy đạt 46,17%; đất nuôi trồng thủy sản 1.055/1504 giấy đạt 70,15%; đất trồng cây ăn quả 1.604/3.947 giấy đạt 40,64%; đất phi nông nghiệp đã cấp 40.357 giấy (đất ở 40.226/42.088 giấy đạt 95,58%)
b) Tài nguyên nước
Huyện Đông Triều có 44 hồ đập lớn nhỏ và sông Cầm, sông Đạm với tổng trữ lượng và dòng chảy vào khoảng 500 triệu m3, một số hồ lớn như Khe Chè 12 triệu m3; Bến Châu 8 triệu m3; Trại Lốc 4,7 triệu m3 Với hệ thống hồ chứa như trên đảm bảo tưới cho khoảng 11.731 ha đất gieo trồng các loại, đảm bảo cơ bản nguồn nước tưới sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và đời sống dân sinh Đông Triều có 46,113 km đê, trong đó đê cấp IV có 22,472
km, đê cấp V có 23,641 km Có tổng cộng 44 cống dưới đê, trong những năm qua các tuyến đê này đã được từng bước nâng cấp, đảm bảo an toàn chống lũ cho vùng hưởng lợi, góp phần tích cực cho việc phát triển sản xuất Về tiêu nước toàn huyện có có 09 trạm bơm và 44 cống tiêu dưới đê, đảm bảo tiêu cho
Trang 33+ Diện tích rừng tự nhiên 7.857 ha chiếm 20% tổng diện tích tự nhiên với các loài cây như: Lim xanh, Sến trắng, Xoay, Cà ổi, Re gừng, Giổi, Kháo tía, Bời lời giấy, Giẻ cau, Kháo, Thành ngạnh, Chẹo tía, Kháo vàng, Lòng mang, Ba soi, Ba bét
+ Diện tích rừng trồng hiện có 10.254 ha chiếm 26 % tổng diện tích tự nhiên với các loài cây chủ lực như: Thông nhựa (thông lùn), Keo tai tượng, Bạch đàn, Thông mã vĩ
+ Diện tích chưa có rừng 1.932 ha chiếm tới 4,9 % tổng diện tích tự nhiên + Năm 2011: Sản lượng nhựa thông toàn huyện là 430 tấn; sản lượng gỗ 32.000 m3; và một số sản phẩm khác
d) Tài nguyên khoáng sản
Đông Triều có 03 nhóm khoáng sản là: khoáng sản cháy, khoáng sản không kim loại và khoáng sản vật liệu xây dựng
- Khoáng sản cháy: chủ yếu là than đá, với trữ lượng 261,1 triệu tấn, chất lượng than tốt, tập trung tại Mạo Khê, Hoàng Quế, Yên Thọ, Hồng Thái Tây
- Khoáng sản không kim loại: đa vối đất đèn 5,184 triệu tấn, Kaolin 7.000 tấn, Sét gốm 3 triệu tấn Tập trung tại Yên Thọ, mỏ Đức Sơn, Việt Dân
- Khoáng sản vật liệu xây dựng: đá vôi xi măng 5,338 triệu tấn, sét xi măng 0,75 triệu tấn, sét gạch ngói 45 triệu tấn Tập trung tại Yên Đức, Hoàng Quế, Bình Khê, Việt Dân
Trang 34là 83.464 lao động chiếm 50,4% dân số, hàng năm giải quyết việc làm cho 2.000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 30%
Mật độ dân số năm 2010 là 416 người/km2, tăng 29 người so với năm
2005 Mật độ dân số phân bố không đều, nơi cao nhất là thị trấn Đông Triều 6.685 người/km2, nơi thấp nhất là xã Tràng Lương 34 người/km2, An Sinh 77 người/km2, Bình Khê 170 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình qua các năm 2005-2010 là 1% (tỷ lệ sinh 1,52%, tỷ lệ chết 0,52%)
Nhìn chung dân số huyện Đông Triều là dân số trẻ, có 9 dân tộc đang sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 97,8% dân số, dân tộc Tày 1,3%, Sán Dìu 0,5%, Hoa 0,2%, còn lại là các dân tộc Nùng, Dao, Mường, Thái và Sán Cháy chỉ chiếm 0,2% Mật độ dân số bình quân toàn huyện 415 người/km2
2.1.3.2 Kinh tế
Đông Triều là địa phương được chọn làm điểm thực hiện công nghiệp hóa
- hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, được sự quan tâm của Đảng, chính quyền các cấp, các ngành và sự cố gắng vươn lên của nhân dân do đó kinh tế của huyện có bước chuyển biến rõ rệt Trong đó nông nghiệp, nông thôn có bước phát triển quan trọng: Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn được đầu tư xây dựng, bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi, đời sống nhân dân được cải thiện nhiều mặt Nhờ sự phát triển mà những năm gần đây đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong huyện ngày càng được cải thiện, tỷ lệ đói nghèo năm
2011 giảm xuống còn 3,32% (hộ nghèo theo tiêu chí mới)
Trang 352.1.3.3 Hiện trạng Xã hội, cơ sở hạ tầng
Nằm ở cửa ngõ phía tây của tỉnh Quảng Ninh, Đông Triều có hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy khá thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với các khu vực trong và ngoài tỉnh Những năm gần đây được sự quan tâm của UBND tỉnh cùng với sự cố gắng của chính quyền địa phương đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các công trình trọng điểm phục vụ cho phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn huyện
- Hệ thống giao thông:
Giao thông đường bộ: nhìn chung hệ thống giao thông đường bộ của huyện khá dày, rất thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa giữa trung tâm huyện với các
xã và thị trấn Quốc lộ 18 A chạy qua 12 xã và 02 thị trấn từ xã Bình Dương đến
xã Hồng Thái Đông chiều dài 28,2km, rộng 12m; tỉnh lộ dài 6,8km; đường huyện gồm 3 tuyến dài 43,9km; hệ thống đường xã, thôn dài 537,66km, đã bên tông hóa được 85%
Giao thông thủy: Đông Triều có một số sông lớn, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa bao gồm: sông Kinh Thầy chảy qua Bắc Ninh, Hải Dương, Đông Triều xuống Hải Phòng ra cửa Nam Triệu Trên tuyến sông có các bến phục vụ vận chuyển than, vật liệu xây dựng Mặc khác còn có các sông chảy trong nội huyện là Sông Vàm, sông Đạm, Sông Cầm, sông Đá Vách đổ ra sông Kinh Thầy thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và lưu thông bằng đường thủy
Giao thông đường sắt: trên địa bàn huyện có tuyến đường sắt Kép - Bãi Cháy chạy qua, dài 26,8km, đường đơn, khổ lồng 1,435m, chủ yếu chở khách và hàng nông sản
Trang 3628
- Hệ thống thuỷ lợi:
Trong những năm qua, các công trình thuỷ lợi của huyện đã được đầu tư xây dựng, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất nông lâm nghiệp phát triển Toàn huyện có 108 công trình đầu mối, 3 đập dâng, 71 trạm bơm tưới, 5 trạm bơm tiêu; toàn huyện có 407,35 km kênh mương, đã kiêm cố được 146,71km đạt 36,02%; có 51,86 km đê các loại; có 01 nhà máy xử lý nước với công suất 4.300m3/ngày đêm; có 06 giếng khoan nước ngầm với công suất khai thác 7.500m3/ngày đêm, nước được xử lý và phục vụ cho sinh hoạt trên địa bàn
- Mạng lưới điện:
Huyện có 102 trạm biến áp với tổng công suất 28.067 KVA; 95,80 km đường dây trung, cao thế; 572,07 km đường dây hạ thế Tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia đạt 99% trở lên Số máy phát điện trên địa bàn là 1.132 chiếc Trên địa bàn huyện hiện đang xây dựng nhà máy nhiệt điện Mạo Khê công suất 440MW do Tập đoàn than và Khoáng sản Việt Nam làm chủ đầu tư, dự kiến phát điện tổ máy đầu tiên vào cuối năm 2012
- Hệ thống thông tin liên lạc:
Hệ thống thông tin liên lạc trên địa bàn huyện phát triển mạnh và đa dạng, mạng lưới phát triển đến khắp các địa phương, bao gồm: 01 bưu điện huyện, 04 trạm viễn thông, 18 điểm bưu điện văn hóa xã, 100% các điểm bưu điện văn hóa
xã được trang bị máy fax và internet phục vụ nhu cầu của nhân dân Đến nay số máy điện thoại cố định trên địa bàn huyện đạt 17 máy/100 dân
- Y tế, giáo dục:
+ Về y tế: Hệ thống cơ sở y tế trong huyện được sự quan tâm đầu tư đến nay phát triển tương đối tốt, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh của tuyến cơ sở Tuyến huyện có 01 bệnh viện đa khoa huyện với 135 giường bệnh, phòng khám đa khoa Mạo Khê, 03 trung tâm y tế Tuyến xã có 21/21 xã có trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, ngoài ra có 03 phòng khám đa khoa tư nhân trên địa bàn huyện
Trang 3729
+ Về giáo dục:
Công tác giáo dục đào tạo tiếp tục phát triển toàn diện, trên địa bàn huyện
có 80 trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở; 07 trường trung học phổ thông với trên 3.200 học sinh Huyện tích cực đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo gắn với xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia Đã có 42 trường đạt chuẩn quốc gia, hoàn thành giáo dục phổ cập mầm non cho trẻ em 5 tuổi và cho trẻ em 5 tuổi làm quyen với tiếng Anh Hoàn thành và đưa vào sử dụng Trung tâm thông tin và thư viện điện tử ngành giáo dục vào đào tạo huyện, khai thác có hiệu quả đường truyền trực tuyến từ huyện đến 80 trường học và 21 xã, thị trấn Đến nay có 100% số xã có trường học được kiên cố hóa, xây dựng cao tầng, 49 trường có phòng máy vi tính phục
vụ cho công tác giảng dạy và học tập
2.1.3.4 Ngành nghề và mức sống
Nhìn chung giai đoạn (2005-2011) việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện tích cực, giảm dầm tỷ nông lâm ngư nghiệp, kinh tế phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân đạt 14,14% Về tổng thể cơ cấu ngành năm
2011 cho thấy công nghiệp là ngành đóng vai trò chủ đạo chiếm 60,3 tăng 11,1%
so với năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân giai đoạn 2011) là 18,44%/năm; tỷ trọng dịch vụ chiếm 25,8% tăng 5% so với năm 2005, tốc độ tăng trưởng bình quân (2005-2011) đạt 18,55%; tỷ trọng nông lâm ngư nghiệp 13,9% giảm so với năm 2005 là 16,1%
(2005 Nông (2005 lâm (2005 ngư nghiệp
Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp (giá cố định) đạt 375,5 tỷ đồng, có cấu kinh tế ngành nông nghiệp chuyển dịch tích cực, tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 41%, tăng 7,1% so với năm 2005
Trong trồng trọt thực hiện chuyển dịch cơ cấu mùa vụ, chuyển đổi giống cây trồng, đưa giống lúa thuần có chất lượng cao vào sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hình thành vùng tập trung chuyên canh, giá trị thu được hình quân năm 2010 đạt 60 triệu đồng/ha canh tác, tăng 37 triệu đồng so với năm
2005 Chăn nuôi ổn định và phát triển, tính đến 01/10/2011 toàn huyện có đàn
Trang 3830
trâu 3.102 con, đàn bò 1.750 con, đàn lợn 61.788 con, đàn gia cầm 643.400 con Nét mới trong chăn nuôi là nhiều hộ gia đình đã hình thành các trang trại tập trung, phát triển một số con vật nuôi hoang dã như lợn rừng 950 con, nhím 320 con, chồn nhung đen 400 con, Đũn vv bước đầu có hiệu quả, tạo hướng cho người dân một số xã miền núi tăng thêm thu nhập, ổn định đời sống
Lâm nghiệp trên địa bàn huyện đóng vai trò quan trọng trong khu vực phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, rửa trôi đất, bảo vệ môi trường sinh thái, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Trong các năm qua đã có sự chuyển hướng tích cực từ lâm nghiệp nhà nước thuần túy sang lâm nghiệp xã hội với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, quy hoạch chuyển 1.800 ha cây ăn quả kém hiệu quả sang trồng các loại cây lâm nghiệp và cây trồng khác trong giai đoạn 2009-2011 Từ năm 2005-2011 toàn huyện đã trồng được 4.871,7ha rừng, nâng độ che phủ lên 51,3% vào năm 2011
Thủy sản trong những năm qua có bước phát triển tốt, đã tập trung quy hoạch, mở rộng vùng nuôi, ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất giống và nuôi trồng thủy sản Huyện đã chỉ đạo chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản ở 7 xã Sản lượng thủy sản năm 2011 đạt 3.600 tấn, tăng gấp 3,6 lần so với năm 2005
- Công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp trong thời gian qua có nhiều khởi sắc, tổng giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 1.628 tỷ đồng tăng 2,9 lần so với năm 2005 Trong đó giá trị sản xuất công nghiệp địa phương thực hiện 388 tỷ đồng tăng
298 tỷ đồng so với năm 2005 Một số sản phẩm chính như gạch ngói 516 triệu viên, đá xây dựng 135.000m3, cát xây dựng 48.000m3, than sạch 3,2 triệu tấn
Hiện tại trên địa bàn huyện đã và đang hình thành các khu, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như cụm công nghiệp Kim Sen, khu công nghiệp Quán Triều đã góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa trên địa bàn huyện
Dịch vụ thương mại phát triển đa dạng và có bước phát triển khá tổng giá trị ngành dịch vụ thương mại 695 tỷ đồng tăng 465 tỷ đồng so với năm 2005 Thị
Trang 3931
trường giao lưu hàng hóa và các loại hình dịch vụ được mở rộng, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, đảm bảo cung ứng hàng hóa cho mọi nhu cầu của xã hội Đến nay huyện có 320 doanh nghiệp và trên 3.000 hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, huyện có 01 chợ loại I, 01 chợ loại II và 13 chợ loại III đang hoạt động có hiệu quả đã đáp ứng cơ bản nhu cầu vật tư phục vụ sản xuất và hàng hoá phục vụ đời sống của nhân dân
2.1.4 Khái quát Dự án KfW3
2.1.4.1 Lý do đề xuất dự án và bối cảnh ra đời Dự án
Xuất phát từ thực trạng tài nguyên rừng đang có nguy cơ suy giảm, các chính sách phát triển lâm nghiệp của Việt Nam, đặc biệt là góp phần thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, ừ thành công của dự án KfW1: “Trồng rừng Việt - Đức tại các tỉnh Lạng Sơn và Bắc Giang” do KfW đồng tài trợ đã được triển khai tháng 11 năm 1995 Một số kinh nghiệm quý báu của dự án KfW1 sẽ được tiếp tục chuyển giao và áp dụng cho dự án KfW3 Những vấn đề còn vướng mắc trong dự án KfW1 sẽ được dự án KfW3 khắc phục
Mặt khác, tại vùng dự án, độ che phủ rừng thấp, rừng tự nhiên thuộc loại nghèo và có trữ lượng thấp, diện tích đất trống đồi núi trọc nhiều, đời sống của người dân còn khó khăn, có nhiều diện tích đất rừng song chưa phát huy hết thế mạnh để phát triển lâm nghiệp…
Trong khuôn khổ các chương trình hợp tác, Chính phủ CHLB Đức đã thoả thuận cấp một khoản viện trợ tài chính hỗ trợ phát triển lâm nghiệp VN và giao cho Ngân hàng tín dụng Tái thiết Đức (KfW) thẩm định văn bản đề nghị của phía Việt Nam
Bộ NN&PTNT uỷ nhiệm cho KfW đấu thầu chọn Công ty tiến hành triển khai dự án khả thi Kết quả là Liên doanh 2 công ty là Công ty các dự án Nông nghiệp (GFA) và công ty kinh doanh rừng (GWB) của CHLB Đức đã trúng thầu
và được giao nhiệm vụ lập báo cáo khả thi dự án Dự án khả thi đã được bắt đầu triển khai từ tháng 4 năm 1998 Sau khi khảo sát hiện trường trồng rừng theo đề xuất ban đầu của các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh, các nhà chức trách phía Việt
Trang 4032
Nam và phía công ty tư vấn Đức đã đi đến sự nhất trí mở rộng vùng dự án sang tỉnh Lạng Sơn Các công việc nghiên cứu tại hiện trường của 3 tỉnh được kết thúc vào cuối tháng 6 năm 1998 Báo cáo khả thi đã được nộp cho KfW vào tháng 7 năm 1998
Từ 19 đến ngày 26/10/1998 Ngân hàng KfW đã cử đoàn sang Việt Nam thẩm định dự án này Sau đợt thẩm định, phía Ngân hàng KfW đã loại bỏ 2 huyện dự kiến của tỉnh Quảng Ninh là Tiên Yên và Quảng Hà với lý do là không đáp ứng được các tiêu chuẩn của dự án và đề nghị Bộ NN&PTNT kết hợp với công ty tư vấn GFA tiến hành nghiên cứu khả thi bổ sung để chọn thêm một huyện của tỉnh Quảng Ninh tham gia dự án
Trong tháng 11/1998, một đoàn công tác gồm các cán bộ của phía Việt Nam và chuyên gia của Công ty tư vấn GFA đã tiến hành khảo sát huyện Đông Triều tỉnh Quảng Ninh và chính thức đề nghị phía KfW chấp nhận đưa huyện Đông Triều được tham gia dự án
Tháng 12/1998, bản báo cáo cuối cùng của dự án khả thi chính thức được hoàn thiện
b Thời gian thực hiện dự án
Bắt đầu từ tháng 11/1999 , kết thúc vào 31/5/2005
c Cơ quan và nước viện trợ
Ngân hàng tái thiết Đức KfW - Nước Cộng hòa liên bang Đức
d Cơ quan nhận viên trợ và chủ quản dự án