Từ điển phân tích kinh tế của Bernard Guerrien định nghĩa khái niệm đầu tư như sau: “Tác vụ - của một doanh nghiệp hay một nước – nhằm gia tăng quỹ tư liệu sản xuất máy móc, trang thiết
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp đang phát triển với gần 60% lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và trên 70% dân số đang sinh sống trong khu vực nông thôn Đất đai, khí hậu và điều kiện
tự nhiên rất phù hợp với sự phát triển nông nghiệp Phát triển nông nghiệp nông thôn sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống, đổi mới nông thôn, đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững, góp phần ổn định an ninh chính trị xã hội của đất nước
Đối với các nước đang phát triển có ICOR (hệ số gia tăng vốn trên sản lượng) thấp còn các nước phát triển ngược lại Đồng thời chỉ số ICOR của nhiều ngành kinh tế là khác nhau, trong đó ICOR trong nông nghiệp thường là rất thấp, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp cũng không cao
Đầu tư là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm và nâng cao đời sống của người dân trong xã hội, đầu tư là cốt lõi, là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Ta có thể khẳng định rằng đầu tư là chìa khoá cho sự phát triển của mỗi quốc gia và cho toàn thế giới Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, nhất thiết phải có nhiều vốn đầu tư và việc đầu tư sử dụng vốn như thế nào cho hợp lý là rất quan trọng Tuy nhiên, thực tế vốn đầu tư trong nước và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông lâm nghiệp và nông thôn thời gian qua còn hết sức hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng cũng như nhu cầu phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam Trong khi xu thế đầu tư vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày một tăng thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại, vốn đăng ký tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ và xây dựng do vậy khó tận dụng được cơ hội thị trường và lợi thế của Việt Nam
Trang 2Bắc Ninh là tỉnh giáp thủ đô Hà Nội, nằm trong tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh, có vị trí địa lý thuận lợi cùng với tài nguyên thiên nhiên phong phú và con người năng động Bắc Ninh có rất nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp nói riêng Tuy vậy, vì đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nên sự quan tâm và đầu tư của các cấp chính quyền cũng như các tầng lớp dân cư cho nông nghiệp sẽ kém hơn trước Đất nông nghiệp bị thu hẹp để phục vụ cho mục đích khác, cơ sở hạ tầng cho nông nghiệp đã quá cũ và hỏng nhiều, chưa có những chính sách thật phù hợp thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu
tư và khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp
Để góp phần nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp trong thời
gian tới, tôi đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở phân tích thực trạng, những kết quả và bài học kinh nghiệm trong việc đầu tư phát triển nông nghiệp Bắc Ninh thời gian qua, đề xuất những định hướng, các giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận, đặc điểm và các tiêu thức đánh giá hiệu quả đầu
tư phát triển nông nghiệp
- Đánh giá thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, các nguyên nhân thành công, thất bại trong đầu tư phát triển nông nghiệp
- Đề xuất các giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
Trang 33 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tình hình đầu tư phát triển nông nghiệp ở tỉnh Bắc Ninh
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu từ năm 2006 đến năm 2010
- Phạm vi không gian: Tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung vào nghiên cứu thực trạng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong nước dành cho phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
từ đó đánh giá tác động và hiệu quả đầu tư vào nông nghiệp và đưa ra giải pháp cho đầu tư phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển nông nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của đầu tư phát triển nông nghiệp
- Những nguồn lực cho sự phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
- Thực trạng đầu tư phát triển nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Đánh giá tác động của đầu tư đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp qua 3 chỉ tiêu:
+ Giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất trồng trọt và mặt nước nuôi trồng thủy sản
+ Mức tăng của giá trị sản xuất so với vốn đầu tư
+ Hệ số gia tăng vốn trên sản lượng ICOR
- Các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh
Trang 4Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở lý luận về đầu tư phát triển nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển
* Khái niệm đầu tư:
Theo cách hiểu thông thường trong kinh tế học, đầu tư được định nghĩa như là việc sử dụng, theo bất cứ cách nào, các nguồn lực với mục đích làm tăng sản lượng hay thu nhập trong tương lai
Từ điển phân tích kinh tế của Bernard Guerrien định nghĩa khái niệm
đầu tư như sau: “Tác vụ - của một doanh nghiệp hay một nước – nhằm gia tăng quỹ tư liệu sản xuất (máy móc, trang thiết bị các loại, hạ tầng cơ sở, sản phẩm các loại, kể cả việc thu thập kiến thức và đào tạo con người), để sản xuất trong tương lai.”
* Khái niệm đầu tư phát triển:
Trong đầu tư thì người ta lại chia thành các loại đầu tư cụ thể như sau: đầu tư thương mại, đầu tư tài chính, đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tư, là việc chi dùng vốn
trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xưởng thiết bị ) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng ) gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển
1.1.2 Đặc điểm của đầu tư phát triển
- Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát triển thường rất lớn Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư Qui mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch,kế hoạch đầu tư
Trang 5đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ đầu tư, thực hiện đầu tư trọng tâm, trọng điểm
- Thời kỳ đầu tư kéo dài: thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện
dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động Nhiều công trình đầu
tư phát triển có thời gian đầu tư kéo dài hàng chục năm
- Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài: Thời gian vận hành các kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình
- Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được tạo dựng lên, do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng
- Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao: Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư phát triển thường cao
1.1.3 Nội dung cơ bản của đầu tư phát triển
Hoạt động đầu tư phát triển bao gồm nhiều nội dung, tùy theo cách tiếp cận
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư phát triển bao gồm các nội dung: đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng – kỹ thuật chung của nền kinh tế, đầu tư phát triển văn hóa giáo dục, y tế và dịch vụ xã hội khác, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật và những nội dung đầu tư phát triển khác Cách tiếp cận này là căn cứ để xác định quy mô vốn đầu tư, đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động cho từng ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân
Theo khái niệm, nội dung đầu tư phát triển bao gồm: đầu tư những tài sản vật chất(tài sản thực) và đầu tư phát triển những tài sản vô hình Đầu tư
Trang 6phát triển các tài sản vật chất gồm: đầu tư tài sản cố định (đầu tư xây dựng cơ bản) và đầu tư vào hàng tồn trữ Đầu tư phát triển tài sản vô hình gồm các nội dung: đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu triển khai các hoạt động khoa học, kỹ thuật, đầu tư xây dựng thương hiệu, quảng cáo
1.1.4 Vốn và nguồn vốn đầu tư phát triển
* Nội dung cơ bản của vốn đầu tư phát triển bao gồm:
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc dân
Vốn lưu động bổ sung bao gồm những khoản đầu tư dùng mua sắm nguyên nhiên vật liệu, thuê mướn lao động làm tăng thêm tài sản lưu động trong kỳ của toàn bộ xã hội
Vốn đầu tư phát triển khác là tất cả các khoản đầu tư của xã hội nhằm gia tăng năng lực phát triển của xã hội, nâng cao trình độ dân trí, cải thiện chất lượng môi trường
* Nguồn vốn đầu tư phát triển là thuật ngữ để chỉ các nguồn tích lũy tập trung
và phân phối cho đầu tư Về bản chất, nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển
là phần tiết kiệm hay tích lũy mà nền kinh tế có thể huy động để đưa vào quá trình tái sản xuất xã hội
Nguồn vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Nguồn vốn trong nước gồm: vốn nhà nước, vốn dân doanh
và vốn trên thị trường vốn Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay thương mại nước ngoài và nguồn vốn trên thị trường vốn quốc tế
Trang 71.1.5 Tác động của đầu tư phát triển đến tăng trưởng và phát triển
1.1.5.1 Tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế
* Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm từ 24 đến 28% trong cơ cấu tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Xét về mặt ngắn hạn đầu tư tác động trực tiếp tới tổng cầu theo một
tỷ lệ thuận Mỗi sự thay đổi của đầu tư đều ảnh hưởng tới ổn định của tổng cầu nền kinh tế Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, gia tăng đầu tư làm cho tổng cầu tăng (nếu các yếu tố khác không đổi)
là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế, nếu các yêu tố khác không đổi
Q = F (K, L, T, R…)
K: Vốn đầu tư
L: Lao động
T: Công nghệ
Trang 8R: Nguồn tài nguyên
Xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa và dịch
vụ cho nền kinh tế nhưng đứng về mặt cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng Tăng tiêu dùng là nhân tố kéo tiếp tục kích thích sản xuất phát triển, tăng qui mô đầu tư Sản xuất phát triển chính là nguồn gốc tăng tích lũy, phát triển kinh tế
xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội
Mối quan hệ giữa đầu tư với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế là mối quan hệ biện chứng, nhân quả, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Đây là cơ sở lý luận để giải thích chính sách kích cầu đầu tư và tiêu dùng ở nhiều nước trong thời kỳ nền kinh tế tăng trưởng chậm
1.1.5.2 Tác động đến tăng trưởng kinh tế
Đầu tư vừa tác động đến tốc độ tăng trưởng vừa tác động đến chất lượng tăng trưởng Tăng quy mô vốn đầu tư và sử dụng vốn đầu tư hợp lý là những nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng năng suất nhân tố tổng hợp, tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế… do đó nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế
* Biểu hiện tập trung của mối quan hệ giữa đầu tư phát triển với tăng trưởng kinh tế thể hiện ở công thức tính hệ số ICOR (Incremental Capital Output Ratio – tỷ số gia tăng của vốn so với sản lượng) là tỷ số giữa quy mô đầu tư tăng thêm với mức gia tăng sản lượng, hay là suất đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị sản lượng (GDP) tăng thêm
Có hai phương pháp tính hệ số ICOR:
* Phương pháp thứ nhất được tính theo công thức:
ICOR =
Trang 9Trong đó:
V1 : Tổng vốn đầu tư của năm báo cáo
G1: Tổng sản phẩm trong nước của năm báo cáo
G0: Tổng sản phẩm trong nước của năm trước năm báo cáo
Các chỉ tiêu về vốn đầu tư và tổng sản phẩm trong nước để tính hệ số ICOR theo phương pháp này phải được tính theo cùng một loại giá: Giá thực
tế hoặc giá so sánh Phương pháp tính thể hiện: Để tăng thêm đơn vị tổng sản phẩm trong nước, đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư thực hiện
* Phương pháp thứ hai được tính theo công thức:
ICOR = (%)
(%)
v G
I I
Trong đó:
Iv: Tỷ lệ vốn đầu tư so với tổng sản phẩm trong nước
IG: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Hệ số ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: Để tăng thêm 1% tổng sản phẩm trong nước đòi hỏi phải tăng bao nhiêu % tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP
ICOR là chỉ tiêu quan trọng để dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc
dự báo quy mô vốn đầu tư cần thiết đề đạt một tốc độ tăng trưởng kinh tế cần thiết trong tương lai Trong những trường hợp nhất định, hệ số ICOR được xem là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư ICOR giảm cho thấy: để tạo ra một đơn vị GDP tăng thêm, nền kinh tế chỉ phải bỏ ra một số lượng vốn đầu tư ít hơn nếu các điều kiện khác ít thay đổi Hệ số ICOR của nền kinh tế cao hay thấp chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: do thay đổi cơ cấu đầu tư ngành, do sự phát triển của khoa học và công nghệ, do thay đổi cơ chế chính sách và phương pháp tổ chức quản lý
Trang 10Tuy nhiên, hệ số ICOR mới chỉ phản ánh ảnh hưởng của yếu tố vốn đầu tư mà chưa tính đến ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất khác trong việc tạo ra GDP tăng thêm ICOR cũng bỏ qua sự tác động của các ngoại ứng như điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ chế chính sách… Hệ số ICOR không tính đến yếu tố độ trễ thời gian của kết quả và chi phí, vấn đề tái đầu tư…
1.1.5.3 Tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế được hiểu là sự thay đổi tỷ trọng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế Sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế xảy ra khi có sự phát triển không đồng đều về quy mô, tốc độ giữa các ngành, vùng
Đầu tư có tác động quan trọng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế Đầu tư góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp quy luật và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia trong từng thời kỳ, tạo ra sự cân đối mới trên phạm vi nền kinh tế quốc dân và giữa các ngành, vùng, phát huy nội lực của nền kinh tế trong khi vẫn coi trọng yếu tố ngoại lực Đối với cơ cấu ngành, đầu tư vốn vào ngành nào, qui mô vốn đầu tư từng ngành nhiều hay ít, việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp… đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển, đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành
Trong mỗi thời kỳ, các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Trong giai đoạn đầu các nước đang phát triển, do có nhiều lao
Trang 11động và nguyên liệu, thường đầu tư các loại công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu, sau đó giảm dần hàm lượng lao động và nguyên liệu trong sản xuất sản phẩm và tăng dần hàm lượng vốn thiết bị và tri thức thông qua việc đầu tư công nghệ hiện đại hơn và đầu tư đúng mức để phát triển nguồn nhân lực Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị
và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên, quá trình chuyển từ giai đoạn thứ nhất sang giai đoạn thứ ba cũng là quá trình chuyển
từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học và công nghệ
1.1.6 Khái quát về đầu tư phát triển nông nghiệp
1.1.6.1 Khái niệm nông nghiệp và đầu tư trong nông nghiệp
Nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nhất bao gồm nông – lâm – ngư nghiệp, phát triển nông nghiệp cũng có nghĩa là phát triển nông – lâm – ngư nghiệp Ngoài ra phát triển nông nghiệp còn gắn liền với phát triển nông thôn
và nâng cao các điều kiện sinh hoạt ở nông thôn Nông nghiệp được hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm hai ngành trồng trọt và chăn nuôi
Đầu tư trong nông nghiệp – nông thôn là các hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, sản xuất kinh doanh (nông, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp và ngành nghề nông thôn) và phát triển các loại hình dịch vụ nhằm thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển, tạo việc làm và tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân sống ở nông thôn và
sống dựa vào nông nghiệp Có thể phân nguồn vốn đầu tư theo hai loại sau:
- Vốn đầu tư của Nhà nước: Lượng vốn ngân sách nhà nước hàng năm
do Chính phủ quyết định bỏ ra để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội nông thôn, các công trình trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (thủy lợi, điện, giao thông đồng ruộng, giáo
Trang 12dục đào tạo ) Các nguồn vốn viện trợ cho không hoặc hỗ trợ phát triển chính thức của nước ngoài (ODA), vốn trái phiếu Chính phủ cũng coi là nguồn của nhà nước
- Đầu tư ngoài ngân sách nhà nước gồm:
+ Vốn đầu tư của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh: Doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, trang trại, hộ gia đình
+ Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
1.1.6.2 Đặc điểm nông nghiệp
a Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật
Trong khi đối tượng của sản xuất công nghiệp phần lớn là các vật vô tri
vô giác, thì nông nghiệp có đối tượng sản xuất là sinh vật Vì thế, nếu như trong công nghiệp con người có thể tác động vào đối tượng sản xuất ở bất cứ phạm vi mức độ nào theo ý muốn thì trong nông nghiệp, con người phải nhận
thức cho được quy luật sinh học và quy luật tự nhiên để cho sinh vật phát
triển theo chiều hướng có lợi cho con người Mọi sự can thiệp thô bạo vào quy luật sinh học và quy luật tự nhiên đều dẫn đến sự thất bại Vì vậy, nhận thức và tác động phù hợp với các quy luật tự nhiên là một yêu cầu quan trọng nhất của bất cứ một quá trình sản xuất nông nghiệp nào
Từ đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật, cần lưu ý những vấn
đề cơ bản khác như sau:
* Trong nông nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với quá trình tái sản xuất tự nhiên của sinh vật, thời gian lao động không ăn khớp mà xen kẽ với thời gian sản xuất và sinh ra tính thời vụ trong nông nghiệp
Tác động của con người phải đáp ứng quy luật sinh học của sinh vật và điều kiện ngoại cảnh để làm cho sinh vật phát triển tốt Tính thời vụ không những thể hiện ở nhu cầu đầu vào như lao động, vật tư, phân bón rất khác nhau giữa các thời kỳ của quá trình sản xuất mà còn thể hiện ở khâu thu
Trang 13hoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Từ đây, cần phải làm tốt các biện pháp để khắc phục tính thời vụ như bố trí sản xuất hợp lý, thực hiện đa dạng hoá sản xuất, hoàn thiện công cụ lao động, thực hiện tốt việc bảo quản và chế biến nông sản, làm tốt các chiến lược marketing cả đầu vào và đầu ra trong nông nghiệp
* Trong nông nghiệp, khối lượng đầu ra không tương ứng cả về số lượng và chất lượng so với đầu vào
Cần phải tìm ra giống cây, giống con tốt, phù hợp với điều kiện của mỗi vùng (chịu úng, hạn hay chua phèn) và tiến hành bố trí mùa vụ cho thích hợp
để phát huy tối đa mặt lợi và hạn chế mặt tiêu cực của tự nhiên Bên cạnh đó, cần phải làm tốt công tác khuyến nông, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp như thủy lợi và cải tạo đất, hệ thống điện và nâng cao kiến thức cho nông dân để có khả năng hạn chế rủi ro, phát huy tác động của môi trường sống với sinh vật
b Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế
Con người dùng đất đai để trồng cấy và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Vì thế, số lượng và chất lượng đất đai quy định lợi thế so sánh của mỗi vùng cũng như cơ cấu sản xuất của từng nông trại và cả vùng Hướng sử dụng đất quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Chỉ có thông qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng, và sử dụng đất đai đúng hướng còn quyết định đến hiệu quả của sản xuất Vì vậy, cần sử dụng đầy đủ và hợp lý để vừa làm tăng năng suất đất đai, vừa giữ gìn và bảo vệ đất Quỹ đất đai phải được bảo tồn cả cho lợi ích trước mắt cũng như mục tiêu lâu dài
c Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn
Tích tụ và tập trung cao là đặc điểm cơ bản của sản xuất nông nghiệp Trái lại, nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn Đặc
Trang 14điểm này do tính chất của đất đai quy định Đất với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu có địa bàn trải rộng Tính chất này kéo theo sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồn nước, sinh vật sống ở đó và điều kiện thời tiết khí hậu Mỗi vùng đất có một hệ thống kinh tế - sinh thái riêng Do đó, mỗi vùng có lợi thế
so sánh riêng Từ đây, cần phải bố trí sinh vật phù hợp với lợi thế so sánh của mỗi vùng đó, thực hiện chuyên môn hoá gắn liền với phát triển tổng hợp
d Sản phẩm nông nghiệp vừa được tiêu dùng tại chỗ lại vừa trao đổi trên thị trường
Trong nông nghiệp, sản phẩm sản xuất ra vừa được người sản xuất giữ lại để tiêu dùng nội bộ vừa được bán trên thị trường Sản phẩm tiêu dùng nội
bộ bao gồm các sản phẩm giữ lại đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của gia đình nông dân, làm giống cho vụ sản xuất tiếp theo Sản phẩm bán trên thị trường bao gồm sản phẩm bán cho người tiêu dùng và các ngành công nghiệp trong nước và các sản phẩm xuất khẩu Vì thế, nông sản có thể tham gia vào rất nhiều kênh thị trường Các kênh này đan xen nhau theo mối quan hệ phức tạp, nhiều chiều Tỷ trọng sản phẩm bán ra trong tổng số sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc nhiều vào mục tiêu của người sản xuất, trình độ phát triển của hệ thống thị trường và thông tin mà người sản xuất có được Từ đây, cần thấy rõ các luồng đi của các sản phẩm nông nghiệp, tác động vào khâu thị trường trọng yếu để có chiến lược sản xuất, tiêu thụ sản phẩm có hiệu quả
e Cung về nông sản hàng hoá và cầu về đầu vào cho nông nghiệp mang tính thời vụ
Đặc điểm này dẫn đến sự biến động lớn về giá cả nông sản cũng như vật tư, nguyên liệu giữa đầu vụ, chính vụ và cuối vụ Thông thường, giá nông sản chính vụ thường thấp hơn so với giá lúc đầu vụ và cuối vụ Trái lại, giá vật tư, đầu vào lúc chính vụ (như phân bón ở thời kỳ chăm sóc cây trồng) thường cao hơn so với giá lúc đầu vụ hay sau vụ sản xuất Mặt khác, trong khi
Trang 15ở ngành công nghiệp, chỉ trong thời gian rất ngắn, người sản xuất có thể đưa
ra thị trường sản phẩm mà người tiêu dùng cần, thì trong nông nghiệp, người sản xuất phải trải qua hàng vụ, hàng năm, thậm chí dài hơn (thí dụ 2 đến 5 năm với cây ăn quả hay cà phê) mới đưa ra thị trường sản phẩm mà người tiêu dùng cần Tính muộn màng của cung về nông sản đòi hỏi phải có sự dự tính,
dự báo chính xác về giá cả và thị trường của nông sản hàng hoá nhất là khi sản xuất và marketing các sản phẩm cây lâu năm và gia súc phải nuôi lâu năm Tính thời vụ trong cung về nông sản và cầu về vật tư nguyên liệu, đòi hỏi phải có cơ chế thị trường linh hoạt mềm dẻo với sự tham gia của thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể và tư nhân Chính phủ cần có chính sách giá
cả và ổn định giá đầu vào và đầu ra phù hợp
f Nông nghiệp liên quan chặt chẽ đến các ngành công nghiệp và dịch vụ
Sự liên quan này thể hiện ở chỗ không những nông nghiệp cung cấp nguyên liệu, vốn, lao động cho công nghiệp mà còn là thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ Mối liên hệ này thể hiện ở cả khoa học và công nghệ
áp dụng trong các ngành sản xuất Chúng có tác dụng như đòn bẩy để cho cả công nghiệp và nông nghiệp phát triển Vì thế, mọi chiến lược phát triển kinh
tế nói chung, của công nghiệp nói riêng đều phải tính toán đến mối quan hệ tương hỗ nhiều chiều giữa công nghiệp và nông nghiệp
1.1.6.3 Vị trí của nông nghiệp
Ở bất cứ nước nào dù là nước giàu hay nước nghèo, nông nghiệp đều
có vị trí quan trọng; Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền
kinh tế cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho
con người tồn tại và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế, nông nghiệp cần được phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực, thực phẩm của xã hội Vì thế, sự phát triển ổn định
Trang 16của xã hội và mức an toàn về lương thực của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào
sự phát triển của nông nghiệp
Mặt khác, phần lớn nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm, công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ khác là do nông nghiệp cung cấp Vì vậy sự phát triển các ngành công nghiệp sản xuất của các sản phẩm tiêu dùng này lệ thuộc nhiều vào việc cung cấp nguyên liệu của nông nghiệp
Ở những nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá,
nông nghiệp còn là nguồn tạo ra thu nhập về ngoại tệ Tuỳ theo lợi thế so
sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp
và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp không những là nguồn cung cấp sản phẩm hàng hoá cho
thị trường trong nước và ngoài nước mà còn cung cấp các yếu tố sản xuất như lao động và vốn cho các khu vực kinh tế khác Sự phát triển của các ngành
công nghiệp lệ thuộc nhiều vào lực lượng lao động do nông thôn cung cấp Phần lớn lao động công nghiệp, nhất là ở các nước đang phát triển đều từ nông thôn Sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến khả năng đáp ứng về lao động cho các ngành công nghiệp và phi nông nghiệp khác Về chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp tuỳ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ công nghiệp hoá của mỗi nước Quá trình công nghiệp hoá đều cần sự đầu tư lớn về vốn Với những nước đang phát triển, một phần đáng kể về vốn đó phải do nông nghiệp cung cấp Sự cung cấp vốn từ nông nghiệp cho các ngành kinh tế khác thông qua nhiều con đường như thuế nông nghiệp, thuế nông sản xuất khẩu và sự thay thế các sản phẩm nhập khẩu của nông nghiệp
Nông nghiệp còn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác Vì thế, nông nghiệp là một trong những
Trang 17nhân tố bảo đảm cho các ngành công nghiệp khác như công nghiệp hoá học,
cơ khí, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ sản xuất và đời sống phát triển Sự phát triển ổn định của nông nghiệp đòi hỏi phải cung cấp một lượng hàng ổn định về vật tư, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy móc nông
cụ cũng như các mặt hàng tiêu dùng công nghiệp như vải, xà phòng, đường Ở hầu hết các nước nông nghiệp, thị trường nông thôn là thị trường tiêu thụ chính các sản phẩm trên
Nông nghiệp có tác dụng giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Ở bất kỳ nước nào, sản xuất nông nghiệp cũng gắn liền với việc
sử dụng và quản lý các tài nguyên thiên nhiên như đất đai, nguồn nước, rừng, thực vật và động vật Một nền nông nghiệp phát triển ngoài việc đảm bảo các vai trò nói trên cần phải góp phần giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, chống giảm cấp về nguồn lực và mất đa dạng sinh học Đó là yếu
tố cơ bản cho sự phát triển một nền nông nghiệp ổn định và bền vững
Ở Việt Nam, nền nông nghiệp chiếm vị trí quan trọng Các vai trò của nông nghiệp thảo luận ở trên thể hiện khá rõ Xu hướng chung tỷ trọng GDP của nông nghiệp sẽ giảm dần trong quá trình tăng trưởng nền kinh tế Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn còn lớn so với các nước trong vùng và nói lên rằng Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp
1.1.6.4 Vai trò của đầu tư đối với phát triển nông nghiệp
Đầu tư để xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng và hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, dân trí được nâng cao, môi trường sinh
Trang 18thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Đầu tư tạo cho nông nghiệp một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và có quy hoạch, tập trung Đầu tư để cơ giới hóa, hiện đại hóa nông nghiệp Đầu
tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ sẽ góp phần tạo ra cho nông nghiệp những giống cây trồng vật nuôi mới hiệu quả hơn Đầu tư góp phần tạo ra cho nông nghiệp một lực lượng lao động hùng hậu có tay nghề chuyên môn và trình độ kỹ thuật cao Đầu tư góp phần tạo cho nông nghiệp một cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi hợp lý hơn Đầu tư còn góp phần cải thiện đời sống người nông dân, cải cách phương thức tổ chức quản lý nông thôn… đầu tư có vai trò quyết định sự tiến bộ đi lên không ngừng của nông nghiệp Khi nền kinh tế càng hiện đại, nông nghiệp càng không thể không có đầu tư
1.1.7 Đặc trưng đầu tư trong nông nghiệp
Hunt (1991) xác định đặc trưng của các tác nhân trong khu vực nông nghiệp là những đơn vị có sản xuất và tiêu dùng hỗn hợp, nghĩa là chỉ một phần sản phẩm được bán trên thị trường, còn một phần là tự sản tự tiêu Họ thường tiếp cận các thị trường đang phát triển, còn rời rạc, nhỏ lẻ và không liên tục cả theo không gian lẫn thời gian
Liên quan đến các tác nhân kinh tế trong khu vực này, WB (2007) cho rằng đây là nơi được đặc trưng bởi các tác nhân có mức tài sản thấp và không đồng đều, vốn con người có khuynh hướng giảm (so với khu vực thành thị), quy mô đất đai ngày càng nhỏ do dân số tăng (đặc biệt ở châu Á), sản xuất có tính rủi ro lớn mà không có bảo hiểm, nên nông dân dễ bị bần cùng hóa Đồng thời do sự phân tán và manh mún, các hộ nông dân cũng yếu thế về cạnh
Trang 19tranh vì có quy mô nhỏ Tất cả các yếu tố trên cho thấy tích lũy thấp, khả năng tạo vốn cũng như tiếp cận vốn là khó, nên đầu tư tự thân của khu vực này nhìn chung thấp
Bảng 1.1: Ba giai đoạn phát triển nông nghiệp và đặc điểm của đầu tư
Tự cung tự cấp Hỗn hợp Chuyên môn hóa
Thành phần sản
phẩm
Một cây trồng chính phổ biến và các loại cây phụ
Đa dạng Một cây thương
phẩm phổ biến và các loại cây phụ Mục đích sản xuất Đáp ứng nhu cầu
của gia đình
Cho gia đình và bán
Chi để bán
Thời gian làm việc Theo mùa vụ Cân bằng Theo mùa vụ
xuất của nông dân
Chuyên môn hóa Đa dạng Chuyên môn hoá
Mức độ phụ thuộc
vào một hệ thống hỗ
trợ
Không phụ thuộc Một phần Hoàn toàn
Nguồn: Weitz (1971): 20 (dẫn lại theo Todaro (1998):325
Đặc trưng thứ nhất là kết quả đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều của các điều kiện tự nhiên Do sản xuất nông nghiệp có tính thời vụ nên đầu tư trong nông nghiệp cũng mang tính thời vụ khá rõ rệt Rất
Trang 20nhiều hoạt động đầu tư trong nông nghiệp phải nghiên cứu thời điểm đầu tư
và chọn khu vực đầu tư bởi vì trồng trọt và chăn nuôi không thể tiến hành quanh năm Tuy nhiên, với trình độ khoa học phát triển chúng ta có thể đầu tư
đa dạng và với khoảng thời gian rộng hơn
Đặc trưng thứ hai của đầu tư trong nông nghiệp là nó đòi hỏi một lượng vốn đầu tư khá lớn, có độ rủi ro cao nhưng tỷ suất lợi nhuận lại thấp hơn nhiều so với các ngành, lĩnh vực khác
Tóm lại, hoạt động đầu tư trong nông nghiệp có những nét riêng, chính
mà những nét này mà các nhà đầu tư tư nhân thường không muốn bỏ vốn của mình đẩu tư vào ngành nông nghiệp hoặc có thì cũng rất ít Do vậy, để thúc đẩy nền nông nghiệp phát triển thì đòi hỏi chính phủ mỗi nước phải có những chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư và bản thân nhà nước phải bỏ vốn đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở
1.1.8 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp
Để xem xét thành quả hay mức độ thành công của các công cuộc đầu tư của một ngành của một tỉnh hay của cả nước; ngoài chỉ tiêu kết quả đầu tư người ta còn phải sử dụng chỉ tiêu hiệu quả đầu tư để tính Ngành nông nghiệp do có những đặc điểm cũng như do đầu tư trong nông nghiệp có các đặc trưng riêng nên trong nông nghiệp người ta có thể sử dụng những chỉ tiêu hiệu quả sau:
a Chỉ tiêu mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội so với toàn bộ vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu (ký hiệu H Iv(GDP) )
HIv(GDP)=
PHTD Iv GDP
Trong đó:
+ ∆GDP: Mức tăng của tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ nghiên cứu của vùng, địa phương hoặc của nền kinh tế
Trang 21+ IvPHTD: Số vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu cuả ngành, địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế
Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu đã tạo ra được bao nhiêu đơn vị mức tăng tổng sản phẩm quốc nội trong kỳ nghiên cứu cho các địa phương, vùng và toàn bộ nền kinh tế Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ công cuộc đầu tư càng thành công
b Thời hạn thu hồi vốn đầu tư: là thời gian mà các kết quả của quá trình đầu
tư cần hoạt động để có thể thu hồi vốn đã bỏ ra từ lợi nhuận thu được
Công thức tính:
W
vo pv
T và T: là thời gian thu hồi vốn đầu tư tính theo tháng, quý, năm
Thời hạn T thường được tính cho một dự án Nó phản ánh phần nào mức độ hiệu quả của dự án Đối với những dự án tương tự nhau thì dự án có thời gian thu hồi vốn đầu tư càng nhỏ càng tốt Tuy nhiên đối với nhiều dự án của một tỉnh, một giai đoạn thì T rất khó tính, thậm chí là không tính được Trong nông nghiệp có nhiều dự án khó tính được thời gian T bởi vì đầu tư trong nông nghiệp mang tính xã hội cao, nhiều khi không có lợi nhuận nên nó không được sử dụng nhiều
c Hệ số hoàn vốn nội bộ: là tỷ suất lợi nhuận mà nếu được sử dụng để tính
chuyển các khoản thu chi của toàn bộ công cuộc đầu tư về mặt bằng thời gian
ở hiện tại sẽ làm cho tổng thu cân bằng với tổng chi Công cuộc đầu tư được coi là có hiệu quả khi:
IRR IRRđịnh mức
Trang 22Trong đó IRR định mức có thể là lãi suất đi vay nếu ta phải vay vốn để đầu tư, có thể là tỷ suất lợi nhuận định mức do nhà nước qui định nếu vốn đầu
tư do ngân sách cấp, có thể là tỷ suất lợi nhuận bình quân hoặc là chi phí cơ hội của vốn tự có…
Để tính IRR của một dự án người ta có thể tính bằng nhiều cách khác nhau: như bằng máy tính, bằng phương pháp nội suy, ngoại suy… chỉ tiêu IRR rất quan trọng trong việc tính hiệu quả dự án đầu tư Nói chung dự án có IRR càng lớn càng tốt Trong ngành nông nghiệp, do đặc trưng của đầu tư trong ngành nên các công cuộc đầu tư thường có IRR là tương đối thấp Đây
là công thức có thể tính được nếu công tác thống kê thu thập tốt
d Chỉ tiêu số lao động tăng thêm từng năm của dự án
số việc làm = số lao động - số lao động
tăng thêm thu hút thêm mất việc làm
Số lao động tăng thêm nói lên sự đóng góp của dự án đối với nền kinh
tế xã hội Số lao động tăng thêm nói chung là tương đối dễ tính, tuy nhiên trong ngành nông nghiệp, người nông dân dù có thêm hay giảm đầu tư thì họ vẫn phải làm nông nghiệp nên trong nông nghiệp tính không phải là dễ Còn
số lao động tăng thêm càng nhiều, dự án đó càng hiệu quả (nhưng ta còn phải xét thêm thu nhập của người lao động từ dự án như thế nào)
e Giá trị sản phẩm thuần tuý tăng thêm (NVA):
Đây là chỉ tiêu cơ bản phản ánh hiệu quả kinh tế xã hội ở tầm vĩ mô của đầu tư NVA là mức chênh lệch giữa giá trị đầu ra và giá trị đầu vào
Công thức tính: NVA = MO – (MI + Iv)
Trong đó: - NVA là giá trị sản phẩm thuần túy tăng thêm do đầu tư đem lại
- MO: là giá trị đầu ra của công cuộc đầu tư (doanh thu)
Trang 23- MI: là giá trị đầu vào của vật chất thường xuyên và các dịch vụ mua ngoài theo yêu cầu để đạt dược đầu ra trên đây (năng lượng, nhiên liệu, giao thông…)
- Iv: vốn đầu tư
Trong ngành nông nghiệp, chỉ tiêu này rất phù hợp bởi nhiều dự án nông nghiệp mang tính lợi ích xã hội hơn là lợi nhuận Nếu tính theo chỉ tiêu này thì mức lợi ích của đầu tư trong nông nghiệp là tương đối cao Tuy nhiên, đây lại là chỉ tiêu rất khó tính được chính xác NVA còn có thể tính cho từng năm hoặc tính cho nhiều dự án trong một thời kỳ nhất định
f Mức tăng của giá trị sản xuất so với toàn bộ vốn đầu tư phát huy tác dụng trong kỳ nghiên cứu (ký hiệu H Iv(GO) )
HIv(GO)=
PHTD Iv GO
g Chỉ tiêu công bằng xã hội: chỉ tiêu này xem xét mức độ bình đẳng của
người dân trong xã hội, mức độ phân phối thu nhập từ công cuộc đầu tư…
Trên đây là một vài chỉ tiêu tiêu biểu phản ánh hiệu quả đầu tư trong nông nghiệp Muốn tính hiệu quả đầu tư chính xác ta nên kết hợp chúng với nhau
Trang 241.2 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Các công trình liên quan đến vấn đề đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam
Ở nước ta thời gian qua đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu về nông nghiệp nông thôn trong đó có đề cập đến vấn đề đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội nông thôn như:
Công trình của PGS.TS Đỗ Hoài Nam, TS Lê Cao Đoàn (2001): “Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam”, đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về hạ tầng, phát triển hạ tầng ở nông thôn và đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển hạ tầng cơ sở ở tỉnh Thái Bình Công trình tập trung vào phân tích các khía cạnh từ những vấn
đề về lý luận cơ bản, vai trò, yếu tố tác động, sự cần thiết và nội dung của công nghiệp hóa nói chung và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn nói riêng
Tác giả Trần Ngọc Bút (2002) có công trình: “Chính sách nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa thế kỷ cuối XX và một số định hướng đến năm 2010”, đã đi sâu nghiên cứu những chính sách, cơ chế, giải pháp cho phát triển nông nghiệp, nông thôn… trong đó có đề cập đến một số chính sách phát triển nông nghiệp như: chính sách ruộng đất, chính sách khuyến nông, chính sách tín dụng, chính sách thương mại, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giao thông nông thôn, chính sách phát triển công nghiệp chế biến, công nghiệp nhỏ bé và hệ thống dịch vụ trong nông thôn, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
Luận án tiến sĩ kinh tế của NCS Phạm Thị Tùy (2006), “Thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát triển kết cấu hạ tầng ở Việt Nam”, đã tập trung nghiên cứu về nguồn vốn ODA cho phát triển kết cấu hạ tầng của Việt Nam Tác giả đã phân tích những mặt hạn chế trong thu hút vốn ODA về môi trường đầu tư, hệ thống luật pháp chính sách về đầu tư, công tác quy hoạch,
Trang 25thủ tục thẩm định, danh mục dự án kêu gọi đầu tư, công tác xúc tiến đầu tư
và việc đa dạng hóa các hình thức đầu tư từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể: tăng cường thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư; hoàn chỉnh quy hoạch, xóa bỏ độc quyền và bảo hộ sản xuất trong nước; bổ sung những dự án qui
mô lớn cần kêu gọi đầu tư nước ngoài; hoàn chỉnh luật pháp chính sách đầu tư phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế; cải tiến quy trình thẩm định dự án; nâng cao hiệu quả xúc tiến đầu tư; phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài
Công trình nghiên cứu của PGS TS Vũ Năng Dũng (2004): “Cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí, bước đi, cơ chế chính sách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn”; đã nghiên cứu những nội dung của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gồm: phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng nông thôn; Coi trọng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học vào nông nghiệp; Từng bước thực hiện cơ khí hóa, hoá học hóa, hiện đại hóa ở các khâu thích hợp; Xây dựng và hoàn thiện cơ cấu kinh tế nông thôn; Xây dựng các trọng điểm kinh tế ở từng vùng… công trình đi sâu nghiên cứu cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chí bước đi, cơ chế chính sách của công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn và đặt vấn đề khá cụ thể về phương hướng, nội dung và giải pháp thực hiện chuyển đổi
cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, vấn đề phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn
1.2.2 Các công trình liên quan đến vấn đề đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn ở Bắc Ninh
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Phương Bắc (2001), “Định hướng
và giải pháp đầu tư phát triển kinh tế tỉnh Bắc Ninh”, luận án đi sâu về hoạt động đầu tư phát triển, các giải pháp cho đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn
Trang 26Phương pháp sử dụng trong luận án là phương pháp duy vật lịch sử, phân tích, thống kê, tổng hợp Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện lý luận về đầu tư phát triển vận dụng vào tỉnh Bắc Ninh, trong đó xác định rõ vai trò của đầu tư đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, phân tích thực trạng đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đánh giá những ưu nhược điểm, làm rõ những cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất những giải pháp cho đầu tư phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Sỹ (2006), “Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh – Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”, đi sâu nghiên cứu những vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Bắc Ninh trong đó đề cập tới
hạ tầng kinh tế - xã hội Luận án sử dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp lịch sử và logic; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp thống kê, mô hình hóa và tiếp cận hệ thống, phương pháp khảo sát, điều tra thực tế Kết quả nghiên cứu làm rõ vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn; phát triển các làng nghề truyền thống, làng nghề mới, phát triển các khu, cụm công nghiệp làng nghề; xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; phát triển nguồn nhân lực… thời gian từ năm 1986, mà chủ yếu từ năm 1997 đến nay
Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Lương Thành (2006), “Tăng cường huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời kỳ đổi mới – Thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp”,
đã đưa ra những cơ sở lý luận và những giải pháp huy động vốn phát triển cơ
sở hạ tầng nói chung trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Luận án kết hợp sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp logic để tiếp cận nghiên cứu từ lý luận đến
Trang 27đánh giá thực trạng cụ thể của từng loại hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, hạ tầng xã hội trên địa bàn trên cơ sở đó nhìn nhận rõ tính hai mặt của vấn đề đó là thành tựu và hạn chế Quá trình nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đối chứng so sánh và các phương pháp phân tích kinh tế dựa trên các nguồn số liệu, tài liệu thu thập, tài liệu tham khảo của các cơ quan quản lý tại tỉnh Bắc Ninh có liên quan đến phát triển hạ tầng KT - XH như: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Giáo dục - Đào tạo để làm rõ nội dung nghiên cứu, đúc rút được kinh nghiệm từ thực tiễn Nội dung nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn ở những cơ sở vật chất làm điều kiện cho các hoạt động kinh tế, xã hội như: Hệ thống giao thông, hệ thống cung cấp điện, nước sạch nông thôn, hệ thống chợ, hệ thống giáo dục, y tế… ở nông thôn Nội dung của luận án không đề cập đến các tổ chức, thiết chế xã hội đối với sự phát triển
KT - XH ở nông thôn Sự phát triển hạ tầng KT - XH nông thôn chịu ảnh hưởng của nhiều nhóm nhân tố, tuy nhiên trong nghiên cứu luận án chủ yếu tập trung phân tích nhóm nhân tố về cơ chế, chính sách của Nhà nước tác động đến sự phát triển hạ tầng KT - XH nông thôn Đó cũng là cơ sở để luận
án rút ra một số bài học có ý nghĩa thực tiễn cũng như đề xuất các giải pháp
và kiến nghị đối với phát triển hạ tầng KT - XH trong tiến trình CNH, HĐH nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
Hiện chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về thực trạng và giải pháp đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh nên việc lựa chọn thực hiện đề tài này sẽ góp phần đề xuất các chính sách và giải pháp tiếp tục thúc đẩy đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
Trang 28Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Những nguồn lực cho sự phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Bắc Ninh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng với diện tích lãnh thổ 822,71 km2, là cửa ngõ phía Bắc Thủ đô Hà Nội Phía Bắc tỉnh Bắc Ninh giáp tỉnh Bắc Giang, phía Tây và Tây Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương
Bắc Ninh có hệ thống giao thông thuận lợi kết nối với các tỉnh trong vùng như: Quốc lộ 1A nối Hà Nội - Bắc Ninh - Lạng Sơn, Quốc lộ 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long; Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh - Hải Dương - Hải Phòng Trục đường sắt xuyên Việt chạy qua Bắc Ninh đi Lạng Sơn và Trung Quốc, và đang hình thành tuyến đường sắt mới qua Bắc Ninh đi
Hạ Long (đoạn Lim - Phả Lại) Với mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, gồm 3
hệ thống sông lớn chảy qua là sông Đuống, sông Cầu, sông Thái Bình và các
hệ thống sông nội địa như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đồng Khởi Hệ thống sông ngòi trên địa bàn đã hình thành mạng đường thuỷ nối Bắc Ninh với hệ thống cảng sông và cảng biển của vùng, là yếu tố rất thuận lợi cho phát triển KT - XH
Địa hình Bắc Ninh tương đối bằng phẳng, là vùng đất chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi Mức độ chênh lệch địa hình không lớn, vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3 - 7m, địa hình trung du đồi núi có độ cao phổ biến từ 300 m - 400 m, có xen lẫn đồi núi với độ cao từ 20 m đến 120 m
so với mặt nước biển Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở 2 huyện Quế Võ và Tiên Du Ngoài
Trang 29ra còn có một số khu vực thấp trũng ven đê gần các con sông các thung lũng
có thể tạo thành hồ nước rộng hàng chục ha với những di tích lịch sử, văn hoá tạo môi trường sinh thái cảnh quan cho các điểm du lịch thuộc huyện Gia Bình, Lương Tài, Quế Võ và Yên Phong
Hệ thống sông, ngòi cùng các loại ao hồ trên địa bàn tạo cho tỉnh Bắc Ninh có tổng lưu lượng mặt nước tương đối lớn, vào khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chứa trong các sông là khoảng 176 tỷ m3, còn lại là chứa trong các ao, hồ… Nhìn chung, tỉnh Bắc Ninh có nhiều điều kiện để phát triển
hệ thống trạm bơm, kênh mương đáp ứng được nhu cầu tưới, tiêu cho vùng và một số địa phương giáp ranh như tỉnh Hải Dương và thủ đô Hà Nội Ngoài ra,
do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên hàm lượng phù sa lớn, đó là những yếu tố rất thuận lợi cho phát triển ngành nông nghiệp Đất lâm nghiệp của tỉnh Bắc Ninh không lớn, tổng diện tích đất lâm nghiệp khoảng hơn 600 ha, phân bố tập trung ở huyện Quế Võ và Tiên Du
Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có các loại vật liệu xây dựng như: Đất sét làm gạch, ngói, gốm với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở huyện Quế Võ và huyện Tiên Du; đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh; đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu; đá sa thạch ở Vũ Ninh (thành phố Bắc Ninh) có trữ lượng khoảng 300.000 m3; than bùn ở Yên Phong với trữ lượng khoảng từ 6 vạn đến 20 vạn tấn
Trang 30Hình 2.1: Bản đồ địa chính Bắc Ninh
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Bắc Ninh là: 82.271 ha, trong đó đất nông nghiệp là 48.761,1ha (chiếm 59,21%), đất chuyên dùng và đất ở là 32.975,5ha (chiếm 40,08%), đất chưa sử dụng là 579,5 ha (chiếm 0,7%) (xem bảng 2.1)
Trang 31Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất đai tỉnh Bắc Ninh các năm 2005 - 2010
Năm Phân loại
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Đất sản xuất nông nghiệp 46.428,9 56,43 42.941,6 52,2 Đất trồng cây hàng năm 46.001 55,91 42.500,4 51,66 Đất trồng lúa 43.470,6 52,84 40.151,1 48,8 Đất có dùng vào chăn nuôi 42,2 0,06 52,2 0,06 Đất trồng cây hàng năm khác 2.478,2 3,01 2.297,1 2,79 Đất lâm nghiệp có rừng 427,9 0,52 441,1 0,54
nghiệp
207 0,25 207,7 0,25
Đất quốc phòng, an ninh 108,7 0,13 206,2 0,25 Đất sản xuất, kinh doanh phi NN 2.446,7 2,97 4.520,2 5,49 Đất có mục đích công cộng 11.407,8 13,87 12.359,2 15,02 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 196,7 0,24 201,8 0,25
Trang 32Đất nghĩa trang, nghĩa địa 769 0,93 788,3 0,96 Đất sông suối và mặt nước chuyên
Nguồn: Sở tài nguyên và môi trường
Nhìn chung, Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển KT - XH Đặc biệt, vị trí địa lý, địa hình… là điều kiện rất thuận lợi cho việc mở mang phát triển nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên, quỹ đất đai
có hạn, mật độ dân số trung bình là 1.262 người/km2, một mức cao so với cả nước, đó cũng là vấn đề khó khăn trong phát triển nông nghiệp hiện nay Nhìn vào bảng 2.1 cho thấy diện tích đất nông nghiệp giảm và diện đất phi nông nghiệp tăng, trong vòng 6 năm từ năm 2005 đến năm 2010 tổng diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp là 3.322,5 ha chiếm 4,1% và tăng cho khu vực phi nông nghiệp là 4,18% Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng bất cập lớn là hiện ruộng đất cho canh tác đã quá manh mún khó chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội
Bắc Ninh là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm có mức tăng trưởng kinh tế cao Thời gian qua, Bắc Ninh luôn duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, nhiều năm có mức tăng trưởng hai con số Giai đoạn 2006- 2010, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Bắc Ninh vẫn đạt tốc độ tăng GDP (theo giá so sánh 1994) cao, năm 2006 là 15,05% xếp thứ 3 khu vực đồng bằng sông Hồng và năm 2010 là 17,86% đứng thứ 2 khu vực đồng bằng sông Hồng (12,52%) và gấp 2,6 lần tốc độ tăng GDP cả nước (6,78%)
Trang 33(xem hình 2.2)
196 214 215
250 280
315 370 441
650 795
526 10.2
7.8
16.6 15.9
15.7 15.1
GDP bình quân đầu người Tốc độ tăng trưởng kinh tế BN
Hình 2.2: Tốc độ tăng GDP của Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2007
Cùng với tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Năm 2005, tổng giá trị sản xuất của các ngành trong GDP là 8.331,1 tỷ đồng (theo giá thực tế), tỷ trọng khu vực nông, lâm, thuỷ sản còn chiếm 26,6%; khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm tới 45,92% và khu vực dịch vụ chiếm 27,82% GDP Và đến năm
2010, tổng giá trị sản xuất của các ngành trong GDP là 35.963,4 tỷ đồng (theo giá thực tế), tỷ trọng khu vực nông, lâm, thuỷ sản chỉ còn chiếm 10,45%, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm tới 66,11% và khu vực dịch
vụ chiếm 23,44% GDP Sự chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế đó hoàn toàn phù hợp với định hướng phát triển và phù hợp với mục tiêu CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh (xem bảng 2.2 và hình 2.3 dưới đây)
Trang 34Bảng 2.2: Tổng sản phẩm xã hội theo giá thực tế phân theo
TT (%)
GT (tỷ đ)
TT (%)
GT (tỷ đ)
TT (%)
GT (tỷ đ)
TT (%)
GT (tỷ đ)
TT (%)
GT (tỷ đ)
TT (%)
Ngành NLN,
và thủy sản 2.187,6 26,26 2.238 21,31 2.575,6 16,61 3.077,9 13,94 3.473,8 12,44 3.759,4 10,45Ngành CN, XD 3.825,6 45,92 5.201,5 49,52 8.875,6 57,24 13.632,4 61,74 17.812,0 63,79 23.775,2 66,11
Ngành DV 2.317,9 27,82 3.064,7 29,18 4.055,3 26,15 5.370,5 24,32 6.638,3 23,77 8.428,8 23,44
Trang 35C ơ cấu kinh tế năm
Hình 2.3: Cơ cấu kinh tế năm 2006 và năm 2010
Về dân số và nguồn nhân lực: Năm 2010 dân số Bắc Ninh có 1.038 nghìn
người đứng thứ 8 khu vực đồng bằng sông Hồng trong đó khu vực nông thôn là 769.725 người chiếm 74,14%, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 1997-2010 là -0,9% Hiện vẫn còn 86,52% dân số sống ở nông thôn, dân số khu vực thành thị chỉ chiếm 13,48%, chưa bằng 1/2 tỷ lệ dân đô thị của cả nước.
Về lực lượng lao động và trình độ học vấn: Năm 2010 giải quyết việc
làm mới trong năm 2010 là 25.770 người trong đó nữ là 12.250 người, thu nhập bình quân 1 nhân khẩu 1 tháng là 1.823.800 đồng Nhìn chung, nguồn nhân lực của Bắc Ninh chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn và nguồn nhân lực trẻ chiếm
tỷ trọng cao
Trình độ học vấn của lực lượng lao động tuy cao hơn so với mức trung bình cả nước, nhưng vẫn còn thấp hơn so với mức trung bình của đồng bằng
Trang 36sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Trong tổng số lao động đang làm việc 593.143 người (năm 2010), có 47,97% làm việc trong nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp, 31,82% làm việc trong nhóm ngành công nghiệp, xây dựng và 20,21% làm việc trong khu vực dịch vụ Theo số liệu thống kê năm
2005, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của Bắc Ninh là 28%, năm 2006 là 31,5%; năm 2007 là 34,5%; năm 2008 là 36,7%; năm 2009 là 37,8% và đến năm
2010 là 38,5% Nhìn chung, phần lớn lao động trong các ngành kinh tế của tỉnh mới chỉ là lao động phổ thông chưa qua đào tạo, tỷ lệ công nhân lành nghề và cán bộ kỹ thuật còn ít Đó là một hạn chế lớn của tỉnh Bắc Ninh trong phát triển KT - XH
Bắc Ninh là tỉnh có nhiều làng nghề truyền thống: Hiện nay tỉnh có trên
100 làng nghề, trong đó có 62 làng nghề truyền thống, trong đó có những làng nghề tiêu biểu như: Làng tranh dân gian Đông Hồ (Thuận Thành), làng gốm Phù Lãng (Quế Võ), làng đúc đồng Đại Bái, làng nghề tre trúc Xuân Lai (Gia Bình), làng rèn Đa Hội, làng dệt Hồi Quan, sơn mài Đình Bảng, chạm khắc
gỗ Kim Thiều, Phù Khê, đồ gỗ Đồng Kỵ (Từ Sơn), làng giấy Phong Khê (Yên Phong)… Sự khôi phục và phát triển của các làng nghề truyền thống cũng như các làng nghề mới ngày càng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH của tỉnh Đồng thời đó cũng là yêu cầu rất quan trọng trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bắc Ninh
Bắc Ninh là tỉnh có ưu thế về nguồn tài nguyên văn hoá - du lịch: Miền
đất Kinh Bắc xưa là vùng đất linh kiệt, là nơi hội tụ của của kho tàng văn hoá văn nghệ đặc sắc với những làn điệu quan họ Tỉnh Bắc Ninh có rất nhiều di tích lịch sử, văn hoá tập trung ở các huyện Từ Sơn, Yên Phong, Tiên Du, thành phố Bắc Ninh như: Đền Đô, chùa Dâu, chùa Bút Tháp và các di tích này thường gắn với các lễ hội Hiện nay, hàng năm trên địa bàn tỉnh có khoảng 41 lễ hội như: Hội Lim, hội chùa Dâu, hội chùa Bút Tháp, hội chùa Phật Tích…
Trang 372.1.3 Những thuận lợi và khó khăn đối với phát triển kinh tễ xã hội của tỉnh Bắc Ninh
* Thuận lợi
+ Với địa hình bằng phẳng, hệ thống sông ngòi dày đặc, tiềm năng đất
đai khá lớn, Bắc Ninh có điều kiện thuận lợi để đầu tư phát triển giao thông
và thuỷ lợi nông thôn Các tuyến Quốc lộ 1A (mới và cũ), Quốc lộ 18, 38, các tuyến tỉnh lộ 276, 282, 295, 287… lan toả, kết nối các cụm dân cư ở các làng,
xã nông thôn Hệ thống sông Cầu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Thái Bình, sông Cà Lồ… và nhiều hồ ao với trữ lượng nước lớn chính là những điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống thuỷ nông thực hiện chức năng cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tiêu úng cho những vùng trũng
+ Do ở liền kề thủ đô Hà Nội và được xác định là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên Bắc Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển hạ tầng giao thông, hạ tầng ngành điện, bưu chính viễn thông, chợ và các trung tâm buôn bán… chính là một thị trường tiêu thụ nông sản linh hoạt
+ Mặc dù là tỉnh có diện tích nhỏ nhưng lại nằm trên các trục giao thông đường bộ, đường sắt quan trọng của vùng và của đất nước nên tỉnh Bắc Ninh được hưởng nhiều thuận lợi trong mở mang, phát triển hệ thống giao thông từ nguồn ngân sách trung ương, trong đó có nhiều tuyến đường trung ương quản lý đi qua các vùng nông thôn như: Quốc lộ 1A, 18, 38 Như vậy, việc kết nối các vùng nông thôn Bắc Ninh vào mạng lưới giao thông chung của Quốc gia là rất thuận lợi trong mở rộng thị trường nông sản
+ Với tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng khá nhanh cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, nguồn nhân lực dồi dào cả về số lượng và chất lượng, có trình độ kỹ thuật, tay nghề, năng lực quản lý…đã tạo
ra thế và lực mới cho sự phát triển KT - XH trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Nói cách khác, chính sự phát triển KT - XH một mặt đặt ra những yêu cầu mới đối
Trang 38với sự phát triển của nông nghiệp nông thôn nhưng đồng thời cũng làm gia tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển nông nghiệp Bắc Ninh
+ Sự phong phú, đa dạng và nhiều về số lượng các làng nghề truyền thống cùng với nguồn tài nguyên văn hoá - du lịch đa dạng có thể tạo tiền đề nền tảng cho phát triển nông thôn Bởi làng nghề truyền thống và các di tích văn hoá, du lịch lịch sử là những điểm thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Chính điều đó là một yếu tố thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tiến hành các hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ Qua đó cũng có tác động đến việc đầu tư vào cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện những hạ tầng liên quan đến các hoạt động như xây dựng các điểm du lịch di tích lịch sử văn hoá, các làng nghề và kết hợp với du lịch sinh thái
Tuy nhiên, sự khôi phục và phát triển các làng nghề (cả làng nghề truyền thống và làng nghề mới) cùng sự ra đời các KCN, CCN ở nông thôn cũng đặt ra nhiều vấn đề bức thiết về môi trường ở nông thôn Đó là các nhu cầu xây dựng các dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, các dự
án xử lý chất thải, các dự án chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng
Trang 39mặt xã hội ở cả thành thị và nông thôn
+ Kinh tế tăng trưởng nhanh nhưng tính bền vững chưa cao Chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Khung logic vấn đề nghiên cứu
(1)
Nguồn lực cho sự
phát triển
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế xã hội
- Thuận lợi và khó khăn
1c Xác định khoảng thời gian tiến hành điều tra
- Phân theo nguồn vốn
- Phân theo hình thức quản lý
- Phân theo mục đích sử dụng
- Cơ cấu vốn đầu tư theo ngành
- Cơ cấu vốn đầu tư nông nghiệp theo nguồn vốn
- Cơ cấu vốn đầu tư nông nghiệp theo lĩnh vực
- Đầu tư vào nông nghiệp từ các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
- Tác động tăng trưởng và phát triển kinh tế
- Tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
- Chỉ tiêu giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha
- Chỉ tiêu mức tăng của giá trị sản xuất so với vốn đầu tư
- Hệ số gia tăng vốn trên sản lượng ICOR
Hình 2.4: Khung logic vấn đề nghiên cứu
- Chính sách thu hút, ưu tiên đầu tư
- Chính sách đối với vốn đầu tư từ ngân sách
- Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn
- Quy hoạch đầu tư trong nông nghiệp khoa học và hợp lý
Trang 402.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Các số liệu thống kê có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài như: báo cáo về vốn đầu tư phát triển toàn xã hội phân theo hình thức quản lý, nguồn vốn và cấu thành, vốn đầu tư xây dựng cơ bản do địa phương quản lý phân theo ngành kinh tế, một số mục tiêu chủ yếu nhiệm kỳ đại hội đảng bộ tỉnh lần thứ 18, một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu tỉnh Bắc Ninh thời kỳ 2006-2010 về nông, lâm nghiệp và thủy sản
- Các bài báo, bản tin trên các phương tiện truyền thông như: báo nông nghiệp Việt Nam, tìm hiểu kiến thức pháp luật nông nghiệp, chương trình bạn của nhà nông, nhà nông cần biết, các trang web như: http://www.baobacninh.com.vn, nông nghiệp@vtv.vn, cục chăn nuôi.gov.vn, kinhtenongthon.com.vn, chế biến.gov.vn, ppd.gov.vn…
b Tài liệu sơ cấp
- Đề tài tiến hành các đợt khảo sát thực tiễn tại sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, sở kế hoạch đầu tư để thu thập thông tin về kết quả đầu tư phát triển nông nghiệp tỉnh Bắc Ninh
- Số liệu sơ cấp thu thập thông qua các phỏng vấn đối với cán bộ ngành tỉnh có liên quan đến chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn tỉnh Bắc Ninh
- Phiếu câu hỏi, phiếu lấy ý kiến từ các nhà quản lý nhằm đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong đầu tư vào lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp