1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính tại viện khoa học lâm nghiệp việt nam

113 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 819,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ trong giai đoạn 2006-20010 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam .... Thực trạng việc khai thác các ng

Trang 1

NGUYỄN LÂM TUẤN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 20 tháng 04 năm 2012

Học viên thực hiện

Nguyễn Lâm Tuấn

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian 2 năm học tập ở Trường Đại học Lâm nghiệp, em

đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp nói chung và Khoa Sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp nói riêng truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ là hành trang giúp em trưởng thành và tự tin thực hiện công việc chuyên môn ngày càng tốt hơn và có hiệu quả hơn

Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Văn Hà đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này

Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể Ban giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản, lãnh đạo các Phòng, Ban của Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam và toàn thể bạn bè đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt Luận văn tốt nghiệp của mình

Trong quá trình thực hiện mặc dù đã nỗ lực cố gắng làm việc hết mình Song do điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô, các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu mọi ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Học viên thực hiện

Nguyễn Lâm Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TRONG CÁC ĐƠN VỊ HCSN 5

1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và quản lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 5 1.1.1 Nghiên cứu khoa học và vấn đề đầu tư ở Việt Nam 5

1.1.2 Thực trạng cơ chế quản lý khoa học và công nghệ 13

1.1.3 Quản lý khoa học và công nghệ 19

1.2 Nội dung cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN 21

1.2.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính 21

1.2.2 Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính 22

1.2.3 Nguồn tài chính và nội dung chi của tổ chức khoa học và công nghệ công lập 22

1.2 4 Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập 26

Trang 5

1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính 31

1.3 Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn 32

Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Khái quát về Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam 34

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Lâm nghiệp 35

2.1.2 Tài sản của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 36

2.1.3 Những thành tựu nghiên cứu khoa học chủ yếu giai đoạn 2006 – 2010 39

2.1.4 Những thành tựu trong công tác đào tạo sau đại học giai đoạn 2006 – 2010 45

2.1.5 Những thành tựu trong công tác thông tin tư liệu giai đoạn 2006 – 2010 48

2.2 Phương pháp nghiên cứu 48

2.2.1 Phương pháp kế thừa 48

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 49

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 49

2.2.4 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 50

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ trong giai đoạn 2006-20010 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 51

3.1.1 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN do cơ quan Nhà nước giao 51

3.1.2 Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN khác và kết quả thực hiện sản xuất kinh doanh dịch vụ 53

3.2 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính cho hoạt động NCKH và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 57 3.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính kế toán 57

Trang 6

3.2.2 Thực trạng việc khai thác các nguồn tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 58 3.2.2.1 Đối với nguồn tài chính từ Ngân sách Nhà nước cấp trực tiếp cho hoạt động KH&CN của Viện 60 3.2.2.2 Đối với nguồn tài chính huy động khác 62 3.2.3 Thực trạng sử dụng các nguồn tài chính phục vụ hoạt động Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 63 3.3 Đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính hoạt động Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 66 3.3.1 Thành quả đạt được: 66 3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân chủ yếu: 70 3.4 Một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính hoạt động

NCKH và phát triển công nghệ nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam 76 3.4.1 Chiến lược phát triển sự nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam và sự cần thiết hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính 76 3.4.2 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính hoạt động NCKH và phát triển công nghệ tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam 82 3.4.3 Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính hoạt động NCKH và phát triển công nghệ nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam 85 3.4.4 Kiến nghị 93 KẾT LUẬN 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

Geographical Information System (Hệ thống thông tin địa lí) Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)

Hợp đồng Hành chính sự nghiệp Viện thông tin khoa học Khoa học và công nghệ Khoa học sản xuất

Kỹ thuật Khoa học lâm nghiệp Việt Nam Nghiên cứu khoa học

Ngân sách nhà nước Nghiên cứu khoa học lâm nghiệp Nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật Nghiên cứu sinh

Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phó giáo sư

Nghiên cứu và triển khai

TS

ThS

Tiến sĩ Thạc sĩ

TT

TSCĐ

XDCB

Trung tâm Tài sản cố định Xây dựng cơ bản

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên

các tạp chí khoa học quốc tế 7

1.2 Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng

quốc gia (GDP) và mức độ đầu tư vào KH&CN 8 1.3 Bài báo dùng nguồn nội lực phân chia theo ngành, 1995 2004 12 2.1 Cơ cấu cán bộ của Viện năm 2010 35 2.2 Diện tích đất hiện có đến năm 2010 của toàn Viện 37

2.3 Tổng hợp diện tích nhà làm việc, cơ sở sản xuất thực nghiệm

và dịch vụ toàn Viện năm 2010 38 2.4 Kết quả đào tạo sinh viên, thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2006 – 2010 47

3.1 Tổng hợp số lượng nhiệm vụ khoa học công nghệ và môi

trường được Nhà nước giao giai đoạn 2006-2010 52 3.2 Nhiệm vụ KHCN hợp tác với nước ngoài giai đoạn 2006 – 2010 54

3.3 Kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học, sản xuất kinh doanh

và dịch vụ 5 năm 2006-2010 55

3.4

Cơ cấu huy động các nguồn tài chính cho hoạt động

KH&CN giai đoạn 2006- 2010 của Viện Khoa học Lâm

nghiệp Việt Nam

59

3.5 Tài chính từ NSNN cấp trực tiếp cho hoạt động KH&CN của

Viện Khoa học Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2010 61

3.6 Cơ cấu sử dụng tài chính cho hoạt động KH&CN giai đoạn

Trang 9

3.7

Số kinh phí và số lượng nhiệm vụ, đề tài, dự án KHCN giai

đoạn 2006-2010 do Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam

thực hiện qua các năm

64

3.8

Số lượng, kinh phí các dự án đầu tư tăng cường năng lực

nghiên cứu giai đoạn 2006-2010 (tăng cường thiết bị, xây

dựng cơ sở hạ tầng) và sửa chữa, xây dựng nhỏ của Viện

66

3.9 Mức thu nhập của cán bộ viên chức qua các năm từ 2006 – 2010 68

3.10 Mức thu nhập tăng thêm của cán bộ viên chức qua các năm

3.11 Tỷ lệ kinh phí tự trang trải cho hoạt động bộ máy của Viện

3.12

Số lượng, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ KHCN và hoạt

động sản xuất kinh doanh cung ứng dịch vụ KHCN của Viện

giai đoạn 2006 – 2010

73

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Số bài báo đã được công bố 10

3.1 Tổng các nguồn tài chính cho hoạt động KH&CN giai đoạn

2006- 2010 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

60

3.2 Kinh phí NSNN cấp cho hoạt động KH&CN của Viện Khoa

học Lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2010

61

3.3

Số lượng nhiệm vụ, đề tài, dự án KHCN giai đoạn

2006-2010 do Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam thực hiện qua

các năm

65

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ đang được các tổ chức khoa học và công nghệ trong nước chú trọng đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời hội nhập Để hoạt động trên thật sự mang lại hiệu quả, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách khuyến khích các tổ chức khoa học đầu tư cho Nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ

Chính phủ đã có Nghị định 115/2005/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 115) ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học

và công nghệ công lập và Thông tư liên tịch số BNV ngày 5 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Nghị định này Theo lộ trình các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên thì chậm nhất đến tháng 12/2009 phải chuyển đổi tổ chức thành Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí hay Doanh nghiệp khoa học và công nghệ hoặc sáp nhập, giải thể

12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-Tư tưởng chỉ đạo và đổi mới của Nghị định 115 là Nhà nước giao quyền tự chủ toàn diện về tổ chức, biên chế, xác định nhiệm vụ và tài chính cho các tổ chức khoa học và công nghệ công lập với mức tự chủ cao nhất, với

cơ chế thông thoáng nhất Đây là một Nghị định có rất nhiều điểm tiến bộ mang tính đột phá Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền tự chủ, trong đó có một quyền quan trọng nhất là tự chủ về tài chính

Theo Nghị định 115, các tổ chức KH&CN còn được quyền sản xuất kinh doanh như một doanh nghiệp và được hưởng mọi ưu đãi của doanh nghiệp Đây là nội dung quan trọng làm cho kết quả nghiên cứu của các viện, các trung tâm được chuyển giao vào sản xuất kinh doanh theo con đường ngắn

Trang 12

nhất, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tăng thu nhập của mình cũng như bảo

vệ được quyền sở hữu trí tuệ đối với kết quả nghiên cứu do mình làm ra

Nghị định 115 của Chính phủ về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của

tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã trải qua gần 6 năm thực hiện Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định 80/2007/ NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp khoa học và công nghệ; Nghị định 96/2010/NĐ-CP về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Mặc dù được đánh giá là khởi đầu trong việc thay đổi cơ chế tài chính, nhưng thực tế, ngành KH&CN vẫn chưa phát huy được thế mạnh, tạo bước tăng trưởng nhảy vọt do các vấn đề khoa học được giải quyết theo kiểu hành chính hóa nên cho đến nay, Nghị định này vẫn chưa thực sự được triển khai theo đúng tinh thần và lộ trình của nó Để cho các tổ chức KH&CN có thời gian chuẩn bị, thời hạn hoàn thành thực hiện Nghị định 115 trên toàn quốc đã được lùi lại đến đầu năm 2014

Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam là đơn vị nghiên cứu khoa học đầu ngành trong lĩnh vực lâm nghiệp đã được phê duyệt chuyển đổi là tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trang kinh phí theo Quyết định số 3281/QĐ/BNN-KHCN ngày 24/10/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thời hạn chuyển đổi toàn Viện là từ 01/01/2010 Sau thời gian chuyển đổi, Viện đã được tự chủ về tổ chức bộ máy, biên chế, tuy nhiên về tài chính vẫn còn phụ thuộc vào ngân sách nhà nước cấp Xuất phát

từ lý luận và thực tiễn trên đây, tôi lựa chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn tìm hiểu thực trạng cơ chế quản

lý tài chính tại Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính tại đơn vị này

Trang 13

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm làm rõ thực trạng cơ chế quản

lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị phương hướng, giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính nhằm nâng cao khả năng tự chủ tài chính trong giai đoạn chuyển đổi theo Nghị định 115

2.2 Mục tiêu cụ thể

Đề tài hướng tới các mục tiêu cụ thể như sau:

- Làm rõ về mặt lý luận cơ chế quản lý tài chính hoạt động nghiên cứu khoa học lâm nghiệp

- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính để nâng cao khả năng tự chủ tài chính trong giai đoạn chuyển đổi theo Nghị định

115 tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu cơ chế quản lý tài

chính hoạt động nghiên cứu khoa học lâm nghiệp tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: tình hình khai thác, sử dụng các nguồn tài chính tại Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 – 2010

Trang 14

4 Nội dung nghiên cứu

- Tìm hiểu về thực trạng hoạt động Nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, sản xuất và dịch vụ trong giai đoạn 2006 -2010 của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

- Tìm hiểu về cơ chế quản lý tài chính hoạt động Nghiên cứu khoa học

và phát triển công nghệ tại Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN

CÔNG NGHỆ TRONG CÁC ĐƠN VỊ HCSN

1.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và quản lý tài chính trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

1.1.1 Nghiên cứu khoa học và vấn đề đầu tư ở Việt Nam

Đối với các nước phát triển, NCKH là một trong những động lực (cũng

có thể nói là nền tảng) của sự phát triển kinh tế Đối với các nước đang phát triển NCKH cũng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình chuyển bước thành một nền kinh tế phát triển cao và KH&CN tiên tiến Singapore, Đài Loan và Hàn Quốc phát triển như ngày nay là do thành tựu NCKH xuất phát từ chiến lược đầu tư lâu dài cho NCKH từ những thập niên trước đó Do

đó, đầu tư cho KH&CN cũng được đánh giá là một “công cụ” quan trọng của một quốc gia trong môi trường cạnh tranh tri thức ở thời đại “toàn cầu hóa” như hiện nay

Không giống như hoạt động sản xuất kỹ nghệ với những sản phẩm vật chất cụ thể mà công chúng có thể sử dụng được cho cuộc sống hàng ngày, sản phẩm của NCKH, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản thường mang tính trìu tượng,

ít “gần gũi”, trực tiếp với người tiêu dùng Trong nhiều trường hợp, thành tựu của NCKH chỉ thấy được sau khi công trình nghiên cứu kết thúc vài chục năm Chẳng hạn, các nhà vật lý học nghiên cứu về khả năng truyền dẫn hình ảnh qua fibre optics (sợi quang) trong thập niên 50 của thế kỷ trước, những mãi đến 30 năm sau người ta mới tìm được ứng dụng của thành tựu này qua việc phát triển các máy nội soi trong y khoa Tương tự, khám phá về vai trò của testosterone (một hormone nội tiết) trong thập niên 30 của thế kỷ trước,

Trang 16

phải chờ đến 40 năm sau mới tìm thấy ứng dụng trong lâm sàng và chăn nuôi

Do đó, những thành tựu của NCKH thường không được công chúng ghi nhận hay để ý đến Nhưng các nhà đầu tư cho khoa học (như Nhà nước hay các công ty kỹ nghệ) thì quan tâm đến thành quả khoa học, ít ra là thành quả trong một giai đoạn ngắn, để có thể hoạch định chính sách và ngân sách

Một thước đo về thành quả KH&CN của một quốc gia là số lượng bài báo khoa học và số lần trích dẫn những bài báo đó được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế có hệ thống bình duyệt Số lượng bài báo khoa học phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động khoa học của một nước cho tri thức khoa học toàn cầu Một nhà khoa học có thể công bố nhiều bài báo, nhưng có thể những bài báo đó chẳng ai để ý đến hay gây ảnh hưởng gì, cho nên số lần trích dẫn những bài báo khoa học được xem là phản ánh chất lượng của các công trình NCKH Để công trình được công bố trên các tạp chí khoa học, bài báo phải được ba chuyên gia cùng ngành bình duyệt và chấp nhận cho đăng Nếu công trình có ảnh hưởng, bài báo đó sẽ được trích dẫn nhiều lần sau khi công bố Hàng năm, tổ chức Thomson Scienentific Information (tổ chức gồm khoảng 4.000 tạp chí được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận là nghiêm chỉnh và đáng tin cậy) thu thập tất cả các bài báo trên thế giới, kể cả các chi tiết như tên và địa chỉ của tác giả, quốc gia, đề tài, lĩnh vực nghiên cứu, năm công bố, số lần trích dẫn… Dựa vào các số liệu này, chúng ta có thể đánh giá một phần tình trạng hoạt động NCKH ở nước ta và so sánh với các nước trong khu vực

Trong thời gian 10 năm (1996-2005), có 3.456 bài báo khoa học trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất phát từ Việt Nam (Bảng 1.1) Khi so sánh con số này với các nước trong khu vực cho thấy công suất khoa học ở nước ta thuộc hàng thấp: Chỉ bằng khoảng 1/5 số bài báo từ Thái Lan (14.594), 1/3 Malaysia (9.742), 1/12 Singapore (39.020) và thấp hơn Indonexia (4.389) và

Trang 17

Philipin (3.901) Tuy nhiên, phân tích theo thời kỳ 1996-2000 và 2001-2005 cho thấy một bức tranh tương đối tích cực hơn So với thời kỳ 1996-2000, số bài báo trong thời kỳ 2001-2005 tăng khoảng 81% (từ 1.231 lên 2.225 bài), tương đương với Singapore (80%), nhưng cao hơn Malaysia (62%), Indonexia (38%) và Philipin (30%) nhưng thấp hơn Thái Lan (105%) Trong

số 3.456 bài báo khoa học của Việt Nam được công bố trên các tạp chí quốc

tế có gần 30% liên quan đến lĩnh vực y sinh học, 11% liên quan đến lĩnh vực toán học, vật lý (11%), kỹ thuật (10%), nông nghiệp (10%), hóa học (10%), khoa học vật liệu (7%) Phần còn lại là các bài báo liên quan đến ngành môi trường học (5%), kinh tế học (3%) và các bộ môn liên ngành (4%)

Bảng 1.1: Số lượng bài báo từ một số nước Đông Nam Á công bố trên các

tạp chí khoa học quốc tế Nước Số bài báo 1996-2000 Số bài báo 2001-2006

(Nguồn: Báo Hoạt động khoa học - Bộ KH & CN số 585 Tháng 2.2008)

Đầu tư cho KH&CN ở Việt Nam còn rất khiêm tốn so với các nước trong vùng (Bảng 1.2) Trong năm 2006, nước ta đầu tư 428 triệu USD cho KH&CN, chiếm khoảng 0,17% GDP Theo số liệu của UNESCO, Singapore

là nước có đầu tư cho KH&CN cao nhất trong khu vực, với 2,2% GDP (tương đương 3,01 tỷ USD), kế đến là Malaysia 0,5% GDP ( 1,54 tỷ USD), Thái Lan 0,3% GDP (1,79 tỷ USD) Tuy nhiên, tính theo GDP , đầu tư cho KH&CN ở nước ta vẫn còn cao hơn Indonexia (0,05% GDP) và Philipin (0,12% GDP)

Trang 18

Các phân tích trên đây cho thấy sự có mặt hay đóng góp của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế và ngay cả trong khu vực vẫn còn khiêm tốn

So với Thái Lan, Malaysia và Singapore, số lượng bài báo khoa học từ nước

ta không đáng kể Tuy nhiên, một xu hướng tích cực hơn là mức độ tăng trưởng về hoạt động khoa học tăng khá nhanh trong thời gian gần đây Dựa vào mối liên hệ giữa số bài báo, số lần trích dẫn và đầu tư cho KH&CN có thể giải thích rằng sự đóng góp khiêm tốn của Việt Nam là do đầu tư của Nhà nước cho hoạt động này còn quá thấp

Bảng 1.2: Năng suất khoa học (bài báo) tính trên dân số, tổng sản lượng

quốc gia (GDP) và mức độ đầu tư vào KH&CN

Nước

Dân số trung bình (1.000 người)

GDP (tỷ USD)

Đầu tư vào KH&CN (triệu USD)

Số bài báo trên 100.000 dân

Số bài báo trên 1 triệu USD đầu tư vào KH&CN Việt Nam 87.375 251,8 428,1 4 8

(Nguồn: Báo Hoạt động khoa học - Bộ KH & CN số 585 Tháng 2.2008)

Một điều rất đáng quan tâm là nền khoa học nước ta hiện nay còn lệ thuộc rất lớn vào các đồng nghiệp nước ngoài Theo phân tích của GS Phạm Duy Hiển, trong số trên 3.000 bài báo từ Việt Nam, chỉ có 25% là do nội lực tức là do hoàn toàn các nhà khoa học Việt Nam thực hiện, phần còn lại là đứng tên hay hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài Trong ngành y sinh học, một ngành tương đối mạnh ở nước ta thì chỉ có 2% số công trình được công bố trên các tạp chí quốc tế là do nội lực, 98% còn lại là do hợp tác hay

Trang 19

đứng tên chung cùng các nhà khoa học nước ngoài NCKH ở tầm quốc tế đòi hỏi các phương tiện khoa học tương đối tiên tiến, đắt tiền Vì hoàn cảnh kinh

tế, nước ta còn thiếu những phương tiện như thế, và có lẽ đó cũng chính là lời giải thích tại sao các nhà khoa học trong nước phải hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài Nhưng thiếu phương tiện hiện đại chỉ là vấn đề mang tính

“ngoại tại”, còn một nguyên nhân “nội tại” đáng quan tâm hơn là vấn đề nhân lực Nước ta vẫn còn thiếu các chuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu, thiếu các nhà khoa học có kinh nghiệm làm nghiên cứu tầm cỡ quốc tế Cho nên dù

có phương tiện hiện đại và kinh phí, chưa chắc Việt Nam đã có chuyên gia sử dụng thiết bị và có khả năng thực hiện những nghiên cứu chuyên sâu Vấn đề này dẫn đến một hệ quả khác là các NCKH từ Việt Nam thiếu “cái mới” và thiếu phương pháp khoa học Đây chính là lý do tại sao các nghiên cứu y học

từ Việt Nam ít có khả năng xuất hiện trên các tạp chí y học quốc tế

Hiện nay, hàng năm ước tính có đến 800.000 bài báo thuộc 21 ngành KH&CN được công bố trên gần 6.000 tạp chí quốc tế mà ISI đó tập hợp trong

cơ sở dữ liệu của mình cùng với số lần trích dẫn cho từng bài Đứng đầu là

Mỹ, khoảng 300.000 (vì con số quá lớn nên không thể thống kê thật chính xác), sau đó đến Nhật (75.000), và các nước tiên tiến có nền khoa học lâu đời như Đức (66.000), Anh (59.000), Pháp (47.000) hoặc đông dân như Trung Quốc (57.000)

Mười năm qua (1995-2004), số bài báo khoa học có địa chỉ Việt Nam xuất hiện trên các tạp chí quốc tế tăng từ 204 bài năm 1995 lên 456 bài năm

2004, cả thảy có 3.236 bài Nhưng trong số này, hơn 2.400 bài (quá 3/4) là của các tác giả Việt Nam đứng chung tên với người nước ngoài, chỉ có gần

800 bài là "thuần Việt", được thực hiện chủ yếu bằng nguồn nội lực Số lượng quá ít ỏi này lại cứ dẫm chân tại chỗ quanh con số 80 bài mỗi năm suốt thời

gian qua (hình 1)

Trang 20

Hình 1.1 Số bài báo đã được công bố

Hai ngành toán và vật lý lý thuyết chiếm 54% các bài báo dùng nguồn nội lực, đó là chưa kể những công trình về toán có mặt trong chuyên ngành máy tính và cơ học Số đông tác giả làm việc tại Viện Toán (300 bài) và Trung tâm Vật lý lý thuyết (131 bài), thuộc Viện KH&CN Việt nam Có 124 bài về Toán và 31 bài về vật lý lý thuyết lấy địa chỉ từ các trường đại học, đặc biệt từ những trường ít tên tuổi ở Quy Nhơn, Thái Nguyên v.v Những con

số này tuy rất ấn tượng, song vẫn chưa tương xứng với lực lượng đội ngũ thầy giáo rất đông đảo ở nước ta

Số lần trích dẫn trung bình của những bài báo dùng nguồn nội lực trong mười năm qua là 1,7 trong khi những bài báo do hợp tác với nước ngoài lên đến 7,5 Có một nửa số bài báo dùng nguồn nội lực không được ai trích dẫn

Trang 21

Chưa đầy một nửa còn lại thuộc về các ngành thực nghiệm, ứng dụng

và công nghệ đòi hỏi thiết bị, cơ sở vật chất và nhiều người tham gia

Khác với công trình lý thuyết, một công trình khoa học thực nghiệm tiến hành ở Việt Nam thường gặp rất nhiều khó khăn khách quan, nên việc chen chân được trên các tạp chí quốc tế phải xem như một thành công lớn Vì thế, rất dễ hiểu tại sao ta có nhiều bài báo lý thuyết hơn thực nghiệm Song, bức tranh của ta khác hẳn với các nước xung quanh, nơi mà toán học và vật lý

lý thuyết luôn đứng cuối bảng, phía đầu bảng thường là các khoa học thực nghiệm, ứng dụng và công nghệ có tác động trực tiếp đến đời sống và những ngành kinh tế chủ lực của họ

Trong khi số lượng những bài báo do hợp tác với nước ngoài tăng theo quy luật hàm mũ, tăng gấp đôi sau 5,5 năm, thì công trình do nội lực hầu như dẫm chân tại chỗ quanh con số 80 hàng năm Đặc biệt, chưa thấy rõ dấu ấn của bước đột phá tăng đầu tư cho KH&CN lên 2% ngân sách nhà nước bắt đầu từ năm 2000 (các nhà khoa học cũng nên tự đặt câu hỏi cho trách nhiệm của mình trong vấn đề này)

Những con số trên đây tự nó nói lên bức tranh hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) ở nước ta Những nhà quản lý chắc chắn sẽ rút ra nhiều kết luận đúng đắn bổ sung vào luận cứ của các chính sách sắp thực thi về đổi mới

cơ chế quản lý KH&CN

Trang 22

Bảng 1.3 Bài báo dùng nguồn nội lực phân chia theo ngành, 1995-2004

đại học

Số lần trích dẫn trung bình trong

Trang 23

cứu mà chỉ đảm nhận các chức vụ hành chính Hệ quả là, tuy trên giấy tờ Việt Nam có đến 30.000 nhà khoa học, nhưng năng suất khoa học thì quá thấp để

có thể so sánh với các nước trong khu vực, chứ chưa nói đến so sánh với các nước tiên tiến trên thế giới Do đó, để nâng cao vị thế khoa học Việt Nam trên trường quốc tế, Nhà nước cần phải nâng cao hiệu suất đầu tư cho KH&CN, cải cách hệ thống hoạt động NCKH và bắt đầu bằng việc phát triển các chuẩn mực cho các nhà khoa học, kể cả tiêu chuẩn giáo sư, sao cho phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và không quá xa rời thực tế ở nước ta

1.1.2 Thực trạng cơ chế quản lý khoa học và công nghệ

Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã đào tạo được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở lên với trên 30 nghìn người có trình độ trên đại học (trên 14 nghìn tiến sĩ và 16 nghìn thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật; trong

đó, có khoảng 34 nghìn người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN thuộc khu vực nhà nước Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất nước Thực tế cho thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện đại trong một số ngành và lĩnh vực

Thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng được một mạng lưới các tổ chức KH&CN với trên 1.100 tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có gần 500 tổ chức ngoài nhà nước; 197 trường đại học

và cao đẳng, trong đó có 30 trường ngoài công lập Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện, trung tâm nghiên cứu, các phòng thí nghiệm, các trung tâm thông tin KH&CN, thư viện, cũng được tăng cường và nâng cấp Đã xuất hiện một số loại hình gắn kết tốt giữa nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ với sản xuất - kinh doanh

Trang 24

Mặc dù ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, nhưng với sự nỗ lực rất lớn của Nhà nước, từ năm 2000 tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho KH&CN đã đạt 2%, đánh dấu một mốc quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách đầu tư phát triển KH&CN của Đảng và Nhà nước

Khoa học và công nghệ trong những năm qua đã góp phần đào tạo và nâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc

Cùng với quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, trong những năm qua, cơ chế quản

lý khoa học và công nghệ từng bước được đổi mới và đạt được một số kết quả bước đầu

Hệ thống quản lý nhà nước về KH&CN được tổ chức từ trung ương đến địa phương đã đẩy mạnh phát triển KH&CN, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của ngành và địa phương

Thực hiện Luật Khoa học và công nghệ, các chương trình, đề tài, dự án KH&CN đã bám sát hơn nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì nhiệm vụ KH&CN đã bước đầu được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai

Hoạt động của các tổ chức KH&CN đã mở rộng từ nghiên cứu - phát triển đến sản xuất và dịch vụ KH&CN Quyền tự chủ của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động KH&CN bước đầu được tăng cường Quyền tự chủ về hợp tác quốc tế của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN được mở rộng Vốn huy động cho KH&CN từ các nguồn hợp đồng với khu vực sản xuất - kinh doanh, tín dụng ngân hàng, tài trợ quốc tế và các nguồn khác, tăng đáng

kể nhờ chính sách đa dạng hoá nguồn vốn đầu tư cho KH&CN Đã cải tiến một bước việc cấp phát kinh phí đến nhà khoa học theo hướng giảm bớt các khâu trung gian

Trang 25

Việc xây dựng và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ được đổi mới theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, bám sát hơn các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Các chương trình, đề tài Nhà nước được bố trí tập trung hơn, khắc phục một bước tình trạng phân tán, dàn trải, cân đối hơn giữa khoa học tự nhiên và công nghệ với khoa học xã hội và nhân văn Cơ chế tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ theo nguyên tắc cạnh tranh, dân chủ, bình đẳng và công khai bước đầu được áp dụng, góp phần nâng cao chất lượng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Cơ chế quản lý các tổ chức khoa học và công nghệ đã từng bước được đổi mới theo hướng xã hội hóa và gắn kết với sản xuất kinh doanh Các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có quyền thành lập các tổ chức khoa học và công nghệ Phạm vi hoạt động của các tổ chức này được mở rộng

từ nghiên cứu, đào tạo, đến sản xuất và dịch vụ khoa học và công nghệ Đã xuất hiện nhiều tổ chức khoa học và công nghệ ngoài nhà nước, nhiều cơ sở sản xuất trong các viện nghiên cứu, trường đại học, góp phần đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất

Cơ chế, chính sách tài chính cho khoa học và công nghệ đã được đổi mới theo hướng tăng dần tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ trong tổng chi ngân sách nhà nước và đa dạng hóa nguồn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ Việc cấp kinh phí đến nhà khoa học đã được cải tiến một bước trên cơ

sở tuyển chọn theo nguyên tắc cạnh tranh và giảm bớt các khâu trung gian không cần thiết Quyền tự chủ về tài chính bước đầu được triển khai áp dụng đối với các tổ chức khoa học và công nghệ công lập

Cơ chế quản lý nhân lực được đổi mới theo hướng mở rộng hơn quyền chủ động cho cán bộ khoa học và công nghệ trong việc ký kết hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong hoạt động kiêm nhiệm và

Trang 26

hoạt động hợp tác quốc tế Chế độ hợp đồng lao động đã được mở rộng hơn đối với các tổ chức khoa học và công nghệ Đã áp dụng một số hình thức tôn vinh, khen thưởng đối với cán bộ khoa học và công nghệ

Các thể chế hỗ trợ cho phát triển thị trường công nghệ đã bước đầu được hình thành Các quy định pháp lý về hợp đồng khoa học và công nghệ, hoạt động chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ đã được ban hành tạo điều kiện cho việc thương mại hóa các thành quả khoa học và công nghệ Chợ công nghệ - thiết bị đã được tổ chức ở nhiều địa phương và ở phạm vi quốc gia, hình thành kênh giao dịch thị trường thúc đẩy hoạt động mua bán thiết bị

và các sản phẩm khoa học và công nghệ Việc phân công, phân cấp trong quản lý nhà nước về KH&CN từng bước được hoàn thiện thông qua các quy định về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ,

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được nâng cao Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích cực của các tổ chức KH&CN, các tổ chức khuyến nông, lâm, ngư và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của KH&CN đến sản xuất và đời sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức KH&CN của người dân trong thời gian qua đã tăng lên rõ rệt Hoạt động KH&CN ngày càng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước

Mặc dù có những tiến bộ nhất định, cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở nước ta hiện nay còn chưa được đổi mới cơ bản, còn chưa phù hợp với

cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với đặc thù của hoạt động khoa học và công nghệ trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ chưa thực sự xuất phát từ các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội Tiêu chuẩn

Trang 27

lựa chọn và việc lựa chọn chuyên gia tham gia các hội đồng tư vấn để xác định, tuyển chọn các tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ, đánh giá kết quả nghiên cứu còn bất cập Công tác đánh giá kết quả nghiên cứu khoa học chưa tương hợp với chuẩn mực quốc tế

Cơ chế, chính sách tài chính chưa tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ Cơ chế tài chính còn chưa tạo ra sự tự chủ cao đối với các tổ chức khoa học và công nghệ Đầu tư

từ ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ còn dàn trải, thiếu tập trung cho các lĩnh vực, công trình trọng điểm Thiếu biện pháp hữu hiệu để huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ Thiếu các nguồn vốn đầu tư mạo hiểm để khuyến khích nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất kinh doanh

Cơ chế quản lý cán bộ khoa học và công nghệ chưa tạo động lực để phát huy năng lực sáng tạo của cán bộ khoa học và công nghệ Thiếu cơ chế, biện pháp cụ thể xây dựng và nâng cao vai trò của đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đầu ngành với các tập thể khoa học và công nghệ mạnh Chế độ tiền lương còn bất hợp lý, không khuyến khích cán bộ toàn tâm với sự nghiệp NCKH và công nghệ Chưa có các chính sách cụ thể khuyến khích mạnh lực lượng khoa học và công nghệ ngoài nước tham gia đóng góp vào sự nghiệp phát triển đất nước

Thị trường công nghệ còn nhỏ bé, chậm phát triển Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông các kết quả nghiên cứu còn rất hạn chế do thiếu nhiều tác nhân quan trọng, các yếu tố cấu thành thị trường và các quy định pháp lý cần thiết Phần lớn các kết quả nghiên cứu còn dừng ở phạm vi phòng thí nghiệm, chưa tạo ra được nhiều công nghệ hoàn chỉnh có thể thương mại hóa

Những yếu kém trên đây là do những nguyên nhân chủ yếu sau:

Trang 28

Một là, quan điểm khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực phát triển đất nước đã được khẳng định trong các Nghị quyết của Đảng, nhưng chưa được quán triệt đầy đủ để chuyển thành hành động thực tế của các cấp chính quyền, các Bộ, ngành, địa phương trong xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội

Hai là, chậm đổi mới tư duy, phương pháp quản lý khoa học và công nghệ trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế Chưa tách biệt quản lý hành chính nhà nước với hoạt động sự nghiệp dẫn đến tình trạng các cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ Thiếu cơ chế hữu hiệu về thanh tra, kiểm tra và quy định trách nhiệm rõ ràng trong hoạt động khoa học và công nghệ

Ba là, chưa coi trọng tổng kết thực tiễn các điển hình tiên tiến.Trong những năm gần đây, với sự năng động sáng tạo của các tổ chức khoa học và công nghệ, đã xuất hiện nhiều điển hình tốt về gắn kết giữa nghiên cứu khoa học với sản xuất, nhưng chưa được tổng kết kịp thời để nhân rộng

Bốn là, cơ chế quản lý kinh tế hiện nay còn duy trì sự bao cấp gián tiếp của Nhà nước thông qua các ưu đãi, độc quyền trong nhiều lĩnh vực, khiến cho các doanh nghiệp nhà nước ít quan tâm đến nghiên cứu, ứng dụng và đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh Năng lực khoa học và công nghệ của doanh nghiệp còn bất cập, thiếu đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ trong các doanh nghiệp làm cầu nối cho ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất Hệ thống tài chính, tiền tệ kém phát triển cũng không tạo điều kiện cho doanh nghiệp tự huy động được nguồn vốn để đầu tư cho khoa học và công nghệ

Trang 29

1.1.3 Quản lý khoa học và công nghệ

Đổi mới cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ nhằm tạo điều kiện thuận lợi phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, xây dựng một số tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước đạt trình độ tiên tiến trong khu vực thuộc các lĩnh vực trọng điểm, tăng cường mối liên kết giữa nghiên cứu – đào tạo – sản xuất

Thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược và chính sách, nghiên cứu các lĩnh vực khoa học và công nghệ trọng điểm và một số lĩnh vực khác do Nhà nước quy định

Tự chủ về hoạt động khoa học và công nghệ: các tổ chức khoa học và công nghệ phải có trách nhiệm thực hiện tốt các nhiệm vụ nhà nước giao, đồng thời tự chủ tiến hành các hoạt động khoa học và công nghệ khác theo quy định của pháp luật

Tự chủ về tài chính: Nhà nước đảm bảo kinh phí hoạt động để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo phương thức khoán chi quỹ lương, hoạt động bộ máy và kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ Các tổ chức này được tự chủ trong việc sử dụng các nguồn thu khác từ hợp đồng khoa học và công nghệ với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước

Tự chủ về quản lý nhân sự: thực hiện phân cấp và trao quyền tự chủ nhân sự cho tổ chức khoa học và công nghệ của Nhà nước trên cơ sở thực hiện chế độ viên chức và hợp đồng khoa học và công nghệ

Tự chủ về quan hệ hợp tác quốc tế: phân cấp mạnh hơn nữa cho các tổ chức khoa học và công nghệ trong việc cử cán bộ khoa học và công nghệ ra

Trang 30

nước ngoài, thuê chuyên gia nước ngoài thực hiện nghiên cứu, đào tạo, tư vấn khoa học và công nghệ và đảm nhiệm chức vụ quản lý trong các tổ chức khoa học và công nghệ thuộc các lĩnh vực do Nhà nước quy định

Chuyển các tổ chức nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ sang hình thức doanh nghiệp, tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí Theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 về quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Nghị định 96/2010/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005, Thông tư số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 05/06/2006 về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập thì tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên được lựa chọn việc chuyển đổi tổ chức

và hoạt động theo một trong hai hình thức sau đây:

+ Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí

+ Doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ chưa tự bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên được lùi thời hạn đến đầu năm 2014 phải chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo một trong hai hình thức này

Căn cứ vào danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ do Bộ Khoa học và công nghệ, các Bộ, ngành và các địa phương công bố hàng năm, các tổ chức khoa học và công nghệ tự quyết định việc tham gia tuyển chọn, đấu thầu thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước và biện pháp tổ chức thực hiện

Trang 31

Các tổ chức khoa học và công nghệ được quyền ký hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ với các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước, hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ

1.2 Nội dung cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN

Với bản chất và các chức năng của tài chính, cơ chế tài chính là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều cấp độ khác nhau Trên phạm vi quốc gia,

cơ chế tài chính bao gồm các chính sách và các hình thức tổ chức quản lý quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng vốn, quản lý tài chính đối với các doanh nghiệp, đối với NSNN, đối với hộ gia đình, đối với hoạt động tài chính đối ngoại Các phân hệ chính sách tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Đồng thời, mỗi phân hệ này cũng mang tính độc lập tương đối, thực hiện mục tiêu của mình bằng các giải pháp và công cụ thích hợp

Trong hoạt động KH&CN, cơ chế tài chính cũng được hình thành từ nhiều bộ phận cấu thành và mỗi bộ phận có vị trí vai trò nhất định của nó Nhưng tổng thể cơ chế tài chính đảm bảo nguồn tài chính cho lĩnh vực KH&CN hoạt động và nhà nước có thể điều tiết hoạt động của lĩnh vực này phục vụ mục tiêu điều tiết vĩ mô trong mỗi thời kỳ

1.2.1 Khái niệm cơ chế tự chủ tài chính

Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ của đơn vị

Cơ chế quản lý tài chính có thể khái quát đó là hệ thống các nguyên tắc, luật định, chính sách, chế độ về quản lý tài chính và mối quan hệ tài chính giữa các đơn vị dự toán các cấp với cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý Nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính còn là mối quan hệ tài chính theo phân cấp:

Trang 32

+ Giữa Chính phủ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với các

Theo quy định pháp luật hiện hành, chế độ quản lý tài chính đối với các

tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ áp dụng theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP

1.2.2 Mục tiêu thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

+ Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức khoa học và công nghệ và thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ

+ Tạo điều kiện gắn nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với sản xuất, kinh doanh và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ

+ Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm cho các tổ chức khoa học

Trang 33

chức và từ đó có những dự toán thu và chi dựa trên các nguồn thu đó một cách hợp lý và hiệu quả Phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và hoạt động, tổ chức khoa học và công nghệ có thể có các nguồn kinh phí sau đây:

* Kinh phí do ngân sách nhà nước cấp, bao gồm:

- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước do các cơ quan nhà nước giao, đặt hàng trực tiếp hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu và được cấp theo phương thức khoán trên cơ sở hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ giữa cơ quan nhà nước và tổ chức khoa học và công nghệ

- Kinh phí hoạt động thường xuyên

Việc cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho các tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau:

+ Đối với các tổ chức khoa học và công nghệ không tự bảo đảm được kinh phí hoạt động thường xuyên thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp tục bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên trong thời gian chuẩn bị chuyển đổi tổ chức và hoạt động (tối đa đến tháng 12 năm 2009) nếu các tổ chức này đã có đề án chuyển đổi tổ chức và hoạt động được phê duyệt trong năm 2006

+ Đối với tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao thì kinh phí hoạt động thương xuyên hàng năm được cấp theo phương thức khoán tương ứng với chức năng, nhiệm vụ được giao

- Vốn đầu tư xây dung cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định

- Các nguồn kinh phí khác ( nếu có)

Trang 34

* Nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp, bao gồm: thu từ phí và lệ phí theo

quy định; thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ; thu từ hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hợp đồng chuyển giao công nghệ; thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh; thu sự nghiệp khác ( nếu có)

* Nguồn kinh phí khác của tổ chức khoa học và công nghệ, bao gồm: vốn

khấu hao tài sản cố định; thu thanh lý tài sản được để lại theo quy định; vốn huy động của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật (nếu có)

1.2.3 2 Nội dung chi của tổ chức khoa học công nghệ công lập

Việc xác định các nội dung chi trong các tổ chức khoa học công nghệ công lập có ý nghĩa to lớn trong việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí, các khoản chi phải đảm bảo đúng tiêu chuẩn định mức theo quy định của nhà nước Đồng thời, các khoản chi phải đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao

và đảm bảo đời sống của cán bộ nghiên cứu

Việc sử dụng các nguồn kinh phí của tổ chức khoa học và công nghệ được như sau:

* Về chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ:

Áp dụng phương thức khoán chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Nhà nước (dưới dạng các chương trình, đề tài, dự án khoa học

và công nghệ) thuộc tất cả các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ (kể cả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiệm vụ khoa học và công nghệ giao đột xuất) do các cơ quan Nhà nước giao, đặt hàng hoặc thông qua tuyển chọn, đấu thầu Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng kinh phí được khoán để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiến độ thực hiện theo hợp đồng

* Về chi tiền lương

Trang 35

Tổ chức khoa học và công nghệ phải đảm bảo chi trả tiền lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ, viên chức và người lao động tối thiểu bằng quy định của Nhà nước về ngạch lương, bậc lương và chức vụ

Khi Nhà nước điều chỉnh mức lương tổi thiểu, ngạch, bậc lương và các khoản trích theo lương, tổ chức khoa học và công nghệ phải sử dụng các nguồn kinh phí của đơn vị để trả lương và các khoản trích theo lương cho cán

bộ, viên chức và người lao động của đơn vị theo sự điều chỉnh của Nhà nước Đối với các tổ chức khoa học và công nghệ hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao thì cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền sẽ xem xét việc cấp bổ sung kinh phí đối với từng tổ chức khoa học và công nghệ cụ thể

* Về trích lập quỹ

Hàng năm, sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nước theo quy định, trong phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có), tổ chức khoa học và công nghệ được trích lập các quỹ theo quy định của pháp luật Riêng mức kinh phí trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu phải bằng 30% tổng số chênh lệch thu lớn hơn chi,

Việc sử dụng các quỹ do Thủ trưởng tổ chức khoa học và công nghệ quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

* Về chi thực hiện các hoạt động khác

Đối với vốn đầu tư xây dung cơ bản; vốn đối ứng dự án; kinh phí mua sắm trang thiết bị và sửa chữa lớn tài sản cố định và một số khoản kinh phí khác tổ chức khoa học và công nghệ phải thực hiện theo quy định của Nhà nước về các tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi

Tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định sử dụng các nguồn kinh phí để chi cho các hoạt động của đơn vị (ngoại trừ các khoản chi ở trên)

Trang 36

* Về chi thu nhập tăng thêm

Số dư kinh phí còn lại sau khi đã trừ tất cả các khoản chi và trích lập quỹ theo quy định, tổ chức khoa học và công nghệ được tự quyết định việc sử dụng để chi tăng thêm thu nhập cho cán bộ, viên chức và người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị

1.2 4 Các nguyên tắc cơ bản của cơ chế tự chủ tài chính đối với tổ chức khoa học và công nghệ công lập

1.2.4.1 Xây dựng và thực hiện Quy chế chi tiêu nội bộ

- Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ KH&CN các cấp, duy trì hoạt động thường xuyên và tăng cường hiệu quả của công tác quản lý trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai, phân phối theo lao động và trách nhiệm của từng vị trí công tác

- Quy chế chi tiêu nội bộ do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chế độ tự chủ ban hành sau khi có ý kiến tham gia của tổ chức công đoàn cơ quan và phải được công khai trong toàn cơ quan, phải gửi đến Kho bạc nhà nước nơi

cơ quan mở tài khoản giao dịch để kiểm soát chi theo quy định, cơ quan quản

lý cấp trên hoặc cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi, giám sát

- Ngoài các tiêu chuẩn, định mức và nội dung chi đối với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, tổ chức KH&CN được xây dựng định mức chi cao hơn mức quy định của Nhà nước cho từng nội dung hoạt động trong phạm vi nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của đơn vị Riêng tiêu chuẩn định mức

sử dụng xe ô tô, trụ sở làm việc và các khoản chi không thường xuyên của các

tổ chức KH&CN phảI thực hiện theo đúng quy định hiện hành

- Tổ chức KH&CN không được dùng kinh phí của đơn vị để mua sắm tài sản trang bị tại nhà riêng cho cá nhân hoặc cho cá nhân vay, mượn dưới

Trang 37

mọi hình thức ( trừ trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng theo quy định)

Phạm vi và nội dung cụ thể của Quy chế chi tiêu nội bộ:

- Về thu nhập: Trước hết bảo đảm mức lương theo ngạch, bậc và các chế độ phụ cấp do Nhà nước quy định, sau đó phân chia theo hệ số điều chỉnh tăng thêm cho cán bộ, viên chức và người lao động theo nguyên tắc người nào có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao, trách nhiệm cao và đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi thì được hưởng mức thu nhập nhiều hơn

- Về chi tiêu hội nghị và công tác phí trong nước: Đơn vị được quy định mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước thì phải sử dụng nguồn kinh phí từ các Quỹ của đơn vị để chi trả

- Về chế độ công tác phí nước ngoài: Đơn vị thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước; trường hợp đơn vị quy định mức chi cao hơn mức quy định của Nhà nước thì phải sử dụng nguồn kinh phí từ các Quỹ của đơn vị để chi trả

- Về sử dụng điện thoại công vụ: tiêu chuẩn trang bị điện thoại (cố định

và di động) cho cán bộ quản lý và chi phí mua máy điện thoại, lắp đặt và hoà mạng thực hiện theo quy định hiện hành Riêng mức thanh toán tiền cước sử dụng điện thoại, đơn vị được quyền xây dựng cao hơn hoặc thấp hơn quy định của Nhà nước đối với cơ quan hành chính

- Về thanh toán chi nghiệp vụ thường xuyên: Tuỳ theo từng loại hình hoạt động, tổ chức KH&CN xây dựng mức chi cụ thể cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước

- Về hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ: Tuỳ theo tình hình cụ thể, tổ chức KH&CN thực hiện phương thức quản lý cho phù hợp, có thể khoán thu, khoán chi đối với các bộ phận trực thuộc, trong đó quy định rõ tỷ lệ trích nộp để chi quản lý chung của đơn vị cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh và

Trang 38

dịch vụ, quy định chế độ thống kê, kế toán theo quy định của pháp luật

- Về mức chi khen thưởng và phúc lợi: Căn cứ vào các hình thức khen thưởng, nguồn quỹ và nhu cầu hoạt động cụ thể, tổ chức KH&CN xây dựng mức chi cao hơn hoặc thấp hơn mức quy định của Nhà nước

Quy chế chi tiêu nội bộ được xây dựng và thảo luận dân chủ, công khai, phảI được báo cáo và thông qua tại Hội nghị cán bộ, viên chức của đơn vị bằng phương thức bỏ phiếu kín với ít nhất 2/3 số đại biểu chính thức tán thành Sau khi có quyết định ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, Thủ trưởng tổ chức KH&CN phải gửi cơ quan chủ quản để báo cáo và gửi Kho bạc nhà nước nơI đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi

1.2.4.2 Trích lập và sử dụng các quỹ

Hàng năm, sau khi trang trải tất cả các khoản chi phí hợp lý, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định, kể cả nộp thuế (nếu có) phần chênh lệch thu chi còn lại, tổ chức KH&CN được trích lập các Quỹ như sau:

- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: tối thiểu là 30% tổng số tiền chênh lệch

thu lớn hơn chi Đơn vị có quyền quyết định sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để đầu tư phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc, trang thiết bị, phương tiện làm việc, chi nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư liên doanh, liên kết, trợ giúp hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho đơn vị

- Quỹ dự phòng ổn định thu nhập: Được trích theo khả năng tài chính của tổ

chức KH&CN và được chi để bù đắp thu nhập cho cán bộ viên chức trong các trường hợp: khi nguồn thu của đơn vị bị giảm sút, khi Nhà nước thay đổi chính sách tiền lương, hỗ trợ chế độ thôi việc hoặc tìm việc mới cho người lao động dôi dư

Trang 39

- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: Tối đa không quá 03 tháng lương và thu

nhập tăng thêm bình quân trong năm cho cả hai quỹ; Quỹ khen thưởng được

sử dụng để thưởng định kỳ, đột xuất cho các tập thể và cá nhân trong và ngoài đơn vị theo hiệu quả công việc và thành tích đóng góp cho hoạt động của đơn vị; Quỹ phúc lợi được sử dụng để xây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể, trợ cấp khó khăn đột xuất, chi thêm cho người lao động nghỉ hưu, nghỉ mất sức, nghỉ do chấm dứt hợp đồng

Thủ trưởng đơn vị căn cứ vào các quy định trên và khả năng tài chính của đơn vị, quyết định mức cụ thể trích lập và sử dụng các quỹ theo quy chế chi tiêu nội bộ

1.2.4.3 Về quản lý vốn và tài sản

- Khi lập Đề án chuyển đổi, tổ chức KH&CN phải thống kê đầy đủ những tài sản hiện có tại đơn vị, giá trị tài sản tính theo nguyên giá và giá trị còn lại của tài sản tại thời điểm lập Đề án có phương án đề nghị được giao quản lý và sử dụng tài sản, khấu hao tài sản Trước khi phê duyệt Đề án của tổ chức KH&CN, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản để tiến hành xác minh, kiểm tra, định giá tài sản, sau đó Thủ trưởng cơ quan nhà nước có thẩm quyền ký quyết định giao tài sản và Thủ trưởng tổ chức KH&CN ký nhận tài sản

- Tổ chức KH&CN được dùng giá trị quyền sử dụng đất, tài sản được giao sử dụng để góp vốn liên doanh theo quy định của pháp luật; được dùng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay để thế chấp theo quy định

- Sau khi có quyết định giao tài sản của cơ quan có thẩm quyền, Thủ trưởng đơn vị phải có phương án sử dụng tài sản và tính hao mòn, tính khấu hao tài sản cố định được giao:

+ Phần tài sản được giao sử dụng cho sản xuất kinh doanh được tính

Trang 40

vào vốn cố định của đơn vị và phảI trích khấu hao theo quy định đối với doanh nghiệp nhà nước, tiền trích khấu hao được để lại tái đầu tư cơ sở vật chất của đơn vị

+ Phần tài sản được giao để nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ

và đào tạo thì phải lập phương án tính hao mòn ( bao gồm hao mòn hữu hình

và hao mòn vô hình) làm cơ sở cho việc xác định giá trị tài sản Trường hợp cho thuê tài sản này theo quy định của pháp luật để làm dịch vụ phải được sự đồng ý của Thủ trưởng đơn vị và phải trích nộp ít nhất 30% số tiền thu dịch

vụ cho thuê theo hợp đồng vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn

vị, sau khi trừ chi phí khấu hao tài sản theo quy định đối với doanh nghiệp nhà nước trong thời gian cho thuê

- Trong mọi trường hợp, thủ trưởng đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, bảo toàn tổng giá trị và phát triển tài sản của Nhà nước giao cho đơn vị Khi kết thúc nhiệm kỳ quản lý, nghỉ chế độ hoặc thuyên chuyển công tác, Thủ trưởng đơn vị phải bàn giao đầy đủ tài sản của đơn vị cho người kế nhiệm

- Những tài sản không còn giá trị sử dụng hoặc không còn nhu cầu sử dụng, đơn vị được quyền làm thủ tục thanh lý hoặc chuyển nhượng theo trình

tự và thủ tục quy định của pháp luật, số tiền thu được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị

- Đối với những tài sản sử dụng vào sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, tổ chức KH&CN có thể khấu hao nhanh trong trường hợp hoạt động có hiệu quả

và mức khấu hao không quá 2 lần mức khấu hao theo quy định của Nhà nước, được chủ động quyết định thanh lý

- Số tiền thu từ trích khấu hao, thanh lý đối với tài sản thuộc nguồn ngân sách nhà nước, nguồn tự có được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động

sự nghiệp của đơn vị

- Số tiền thu từ trích khấu hao, thanh lý đối với tài sản thuộc vốn vay

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và công nghệ - Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ (2006), Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 05/06/2006 về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 12/2006/TTLT/BKHCN-BTC-BNV ngày 05/06/2006 về Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tác giả: Bộ Khoa học và công nghệ - Bộ Tài chính – Bộ Nội vụ
Năm: 2006
2. Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và công nghệ (2006), Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN về Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN về Hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước
Tác giả: Bộ Tài chính - Bộ Khoa học và công nghệ
Năm: 2006
3. Chính Phủ (2007), Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 về phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 về phê duyệt chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2007
4. Chính phủ (2005), Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
5. Chính phủ (2010), Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/09/2005 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 96/2010/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 115/2005/NĐ-CP
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
6. Dương Đăng Trinh (2003), Giáo trình lý thuyết tài chính, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý thuyết tài chính
Tác giả: Dương Đăng Trinh
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2003
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Đậu Thị Thu Thanh (2011), Một số giải pháp nhằm nâng cao quyền tự chủ tài chính của Trường Đại học Xây dựng, Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nhằm nâng cao quyền tự chủ tài chính của Trường Đại học Xây dựng
Tác giả: Đậu Thị Thu Thanh
Năm: 2011
9. Hồ Thị Hải Yến (2008), Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học ở Việt Nam, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện cơ chế tài chính đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học ở Việt Nam
Tác giả: Hồ Thị Hải Yến
Năm: 2008
10. Minh Nguyệt (2006), "Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó đong đếm”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (tháng 09), trang 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chi cho KH&CN: Hiệu quả khó đong đếm
Tác giả: Minh Nguyệt
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Tuấn; Nguyễn Đình Nguyên (đồng chủ biên), (2008), "Nghiên cứu khoa học và vấn đề đầu tư ở Việt Nam”,Tạp chí Hoạt động khoa học số 585, (tháng 02), trang 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học và vấn đề đầu tư ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Đình Nguyên
Nhà XB: Tạp chí Hoạt động khoa học
Năm: 2008
12. Nguyễn Văn Sáu (2001), Giáo trình Quản lý kinh tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý kinh tế
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
13. Nguyễn Thị Anh Thư ( 2006), "Đổi mới chính sách tài chính đối với KH & CN”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (số 03), trang 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách tài chính đối với KH & CN
14. Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (2006 – 2010), Báo cáo tài chính của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 đến 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tài chính của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 đến 2010
Tác giả: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006 – 2010
15. Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam, Các báo cáo tổng kết của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 đến 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các báo cáo tổng kết của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam từ năm 2006 đến 2010
17. Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam (2011), Đề án tổ chức lại và nâng cấp Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 181/2005/QĐ-TTg ngày 19 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án tổ chức lại và nâng cấp Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam theo quy định tại Quyết định số 181/2005/QĐ-TTg ngày 19 tháng 7 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
Tác giả: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
18. Võ Thị Hảo (2011), "Vấn đề cải cách quản lý khoa học công nghệ”, Thông tin khoa học công nghệ (số 01), trang 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cải cách quản lý khoa học công nghệ
Tác giả: Võ Thị Hảo
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w