1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn huyện mỹ đức thành phố hà nội

111 342 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc xây dựng một mô hình kinh doanh và khai thác tài nguyên du lịch tại khu du lịch Hương Sơn là một yêu cầu cấp thiết mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao không chỉ đối với sự phát tr

Trang 1

NGUYỄN HUY THỊNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI

KHU DI TÍCH THẮNG CẢNH HƯƠNG SƠN – HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬT VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

HÀ NỘI, 2012

Trang 2

NGUYỄN HUY THỊNH

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI

KHU DI TÍCH THẮNG CẢNH HƯƠNG SƠN – HUYỆN MỸ ĐỨC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ XUÂN HƯƠNG

HÀ NỘI, 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là trung thực chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tác giả đề tài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của khoa Sau đại học, trường Đại học Lâm Nghiệp, tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp tại Ban quản lý di tích thắng cảnh Hương Sơn, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Sau một thời gian làm việc cố gắng

và nỗ lực hết mình, đến nay đề tài đã được hoàn thành Qua đây tôi xin gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến toàn bộ các cán bộ, công nhân viên viên chức làm việc tại Ban quản

lý di tích thắng cảnh Hương Sơn, các thầy cô giáo trong khoa Sau đại học và đặc biệt là cô Nguyễn Thị Xuân Hương công tác tại trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp này

Quá trình thực tập mặc dù đã có nhiều cố gắng của bản thân nhưng do thời gian

và khả năng trình bày chưa được tốt đo đó đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong được sự chỉ dẫn, góp ý của các thầy cô giáo để hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 09 tháng 6 năm 2012

Học viên thực hiện

Nguyễn Huy Thịnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục sơ đồ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững và du lịch bền vững 4

1.1 Phát triển bền vững 4

1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững 4

1.1.2 Khái niệm về du lịch 4

1.1.3 Hệ thống du lịch 5

1.1.4 Khái niệm phát triển du lịch bền vững 6

1.2 Du lịch bền vững và các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 8

1.2.1 Du lịch bền vững và du lịch không bền vững 8

1.2.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững 10

1.3 Đánh giá tính bền vững của du lịch 11

1.3.1 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch dựa vào sức chứa 12

1.3.2 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch dựa vào bộ tiêu chỉ tiêu môi trường của Tổ chức du lịch thế giới UNWTO 14

1.3.3 Ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững 20

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững 22

1.4.1 Các nhân tố ảnh hưởng 22

1.4.2 Nhận xét chung về các nhân tố ảnh hưởng 27

1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững 29

Trang 6

1.5.1 Kinh nghiệm trên thế giới 29

1.5.2 Kinh nghiệm ở Việt Nam 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43

2 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 43

2.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên khu di tích Hương Sơn 43

2.1.1 Vị trí địa lý của khu du lịch Hương Sơn 43

2.1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 43

2.2 Đặc điểm điều kiện về kinh tế, xã hội tại khu di tích Hương Sơn 45

2.2.1 Dân số 45

2.2.2 Đặc điểm cơ sở hạ tầng 46

2.2.3 Đặc điểm phát triển kinh tế 50

2.3 Tiềm năng phát triển du lịch của khu di tích Hương Sơn 52

2.3.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 52

2.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 55

2.4 Giới thiệu lễ hội Hương Sơn 57

2.5 Phương pháp nghiên cứu 59

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 59

2.5.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 60

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 61

3.1 Thực trạng hoạt động du lịch tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 61

3.1.1 Thực trạng tổ chức quản lý các hoạt động du lịch tại khu di tích Hương Sơn 61

3.1.2 Thực trạng phát triển các hoạt động du lịch tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 67

3.1.3 Kết quả du lịch tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 68

3.2 Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 85

3.2.1 Kết quả phát triển du lịch bền vững xét trên khía cạnh kinh tế 85

3.2.2 Kết quả phát triển du lịch bền vững xét trên khía cạnh môi trường 90

3.2.3 Kết quả phát triển du lịch bền vững xét trên khía cạnh văn hóa, xã hội 92

Trang 7

3.3 Đánh giá chung về những thuận lợi, khó khăn trong phát triển du lịch bền

vững tại khu di tích Hương Sơn 95

3.4 Những giải pháp đề xuất góp phần thúc đẩy phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn 97

3.4.1 Những căn cứ để xây dựng giải pháp 97

3.4.2 Giải pháp về tổ chức quản lý 98

3.4.3 Giải pháp cơ chế chính sách 98

3.4.4 Giải pháp về vốn 99

3.4.5 Giải pháp về xúc tiến tuyên truyền quảng cáo 99

3.4.6 Giải pháp về đào tạo 100

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

FDI Đầu tư trực tiếp từ ngước ngoài

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Du lịch bền vững và du lịch không bền vững 9 1.2 Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh tính bền vững

của điểm du lịch 15 1.3 Chủ đề du lịch tại Trung Quốc một số năm 15 2.1 Dân số xã Hương Sơn 34 2.2 Tình hình cung ứng dịch vụ lưu trú tại khu vực Hương Sơn năm 2005-2011 45 2.3 Tình hình cung ứng dịch vụ ăn uống tại khu vực Hương Sơn năm 2011 46 2.4 Lực lượng lao động trong ngành du lịch tại khu di tích thắng cảnh

Hương Sơn từ năm 2005 đến năm 2011 47 2.5 Giá trị sản xuất của các ngành tại xã Hương Sơn 50 2.6 Thu nhập bình quân đầu người 51 3.1 Thống kê kênh thông tin khách du lịch tìm hiểu về khu di tích thắng

cảnh Hương Sơn 52 3.2 Lượng khách tới Hương Sơn từ 2005-2011 68 3.3 Lượng khách thăm quan khu di tích thắng cảnh Hương Sơn vào các tháng

trong năm 69 3.4 Tình hình doanh thu của Hương Sơn năm 2005-2011 83 3.5 Tình hình nộp ngân sách của khu di tích Hương Sơn năm 2005-2011 84 3.6 Thu nhập từ du lịch và thu nhập chung dân cư xã Hương Sơn 85 3.7 Cơ cấu dân số tham gia hoạt động du lịch xã Hương Sơn 86 3.8 Cơ cấu giá trị ngành TM& DL xã Hương Sơn năm 2005-2011 87 3.9 Tình hình đóng góp cho ngân sách địa phương của các hộ tham gia KDDL 88 3.10 Cơ cấu đất đai dành cho các hoạt động du lịch trong khu di tích Hương

Sơn 89 3.11 Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường của khách du lịch 90 3.12 Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường khác 91

Trang 10

3.13 Thống kê số lượng lao động 92 3.14 Tình hình trích đầu tư tu bổ các công trình trong khu du lịch 93 3.15 Thống kê số tiền đóng góp vào xây dựng cơ sở hạ tầng địa phương 93 3.16 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến an ninh, chính trị, kinh tế địa phương 94

DANH MỤC SƠ ĐỒ

01 Mô hình quản lý khu du lịch Hương Sơn 61

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ 1- Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại cũng như nền kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc sống con người Trong xu thế mới, với mong muốn hiểu biết về văn hoá, nâng cao dân trí, tiếp nối truyền thống thì niềm khát khao được đi du lịch để tìm hiểu và tận mắt chứng kiến các di tích lịch sử, các phong cảnh hữu tình ngày càng mạnh mẽ hơn Đây là nguyên nhân chính thúc đẩy

du lịch phát triển

Du lịch Việt Nam với khẩu hiệu “ Việt Nam - điểm đến của thiên niên kỷ mới” đang cố gắng để tạo được các sản phẩm du lịch có chất lượng cao vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại, có sức hấp dẫn lớn đối với du khách trong và ngoài nước Du lịch Hà Nội cũng không nằm ngoài xu hướng đó

Khu di tích thắng cảnh Hương Sơn ( Chùa Hương) - một quần thể di tích và danh lam thắng cảnh mang đậm màu sắc tâm linh và sinh thái là một trong những tài sản du lịch vô giá không chỉ của Hà Nội mà của Việt Nam nói chung Khu di tích thắng cảnh Hương Sơn với một hệ thống hang động, đền chùa xen lẫn trong rừng núi, hoa lá cỏ cây ở một vùng văn hoá đặc sắc với các lễ hội và phong tục nếp sống sinh hoạt đặc trưng của làng quê Việt Nam Đây còn là miền đất của đạo Phật với nhiều truyền thuyết mang ý nghĩa tôn giáo có sức hấp dẫn đặc biệt với người dân Việt ở mọi miền đất nước Có thể nói, khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn là một bức tranh “ sơn thuỷ hữu tình ” tuyệt đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người

Theo quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam nói chung và quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội nói riêng giai đoạn 2005- 2015 đã xác định khu di tích thắng cảnh Hương Sơn là điểm du lịch quan trọng có ý nghĩa quốc gia và quốc

tế trong khu du lịch Bắc Bộ Với khoảng cách từ trung tâm Hà Nội không xa và giao thông tương đối thuận lợi, khu di tích thắng cảnh Hương Sơn là một trong những điểm du lịch mà du khách quốc tế lựa chọn hàng đầu khi đặt chân đến thủ đô

Hà Nội

Trang 12

Mặc dù có nhiều tiềm năng và lợi thế lớn trong phát triển du lịch, nhưng việc khai thác các hoạt động du lịch ở khu di tích thắng cảnh Hương Sơn chưa thực sự tương xứng với những tiềm năng và lợi thế to lớn đó Đặc biệt với xu thế chạy theo

cơ chế thị trường, theo đuổi lợi nhuận tư nhân đã làm xuất hiện nhiều vấn đề nổi cộm trong việc phát triển du lịch theo hướng bền vững ở khu du lịch này Sự phát triển du lịch ở đây thể hiện một kiểu du lịch tự phát, nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch tổng thể và một tầm nhìn chiến lược lâu dài

Việc xây dựng một mô hình kinh doanh và khai thác tài nguyên du lịch tại khu

du lịch Hương Sơn là một yêu cầu cấp thiết mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao không chỉ đối với sự phát triển của du lịch Hà Nội mà còn góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Ngoài ra, sự phát triển bền vững của khu di tích thắng cảnh Hương Sơn còn góp phần đáp ứng được yêu cầu của chiến lược phát triển trung tâm du lịch Hà Nội, các vùng phụ cận cũng như của khu vực Bắc Bộ và du lịch cả nước

Với những lý do trên, tôi lựa chọn chọn đề tài: “ Giải pháp phát triển du lịch

bền vững tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn- Huyện Mỹ Đức- Thành phố

Hà Nội ” làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp của mình

2- Mục tiêu nghiên cứu

+ Đề xuất được các giải pháp phát triển bền vững hoạt động du lịch tại Hương Sơn- Mỹ Đức- Hà Nội

Trang 13

3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

+ Hoạt động du lịch tại khu vực di tích thắng cảnh Hương Sơn

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài :

+ Phạm vi về không gian: Các hoạt động du lịch trong khu di tích thắng cảnh Hương Sơn thuộc địa bàn xã Hương Sơn và các xã liền kề- huyện Mỹ Đức- Hà nội + Phạm vi về thời gian: số liệu từ năm 2005 đến năm 2011

4- Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luâ ̣n về phát triển bền vững và hoạt động du lịch bền vững

- Thực tra ̣ng phát triển hoạt động du lịch tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn- Mỹ Đức- Hà Nội

- Giải pháp đề xuất phát triển bền vững hoạt động du lịch tại khu di tích thắng cảnh Hương Sơn- Mỹ Đức- Hà Nội

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững và du lịch bền vững

1.1 Phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm phát triển bền vững

Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học với sự phát triển kinh tế

Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, WCED) thì “ phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ ”

Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế

và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai (Gôdian và hecdue, 1988, GS Grima Lino)

1.1.2 Khái niệm về du lịch

Trong những năm gần đây, trên thế giới đã chứng kiến một sự bùng nổ của hoạt động du lịch trên phạm vi toàn cầu Du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều quốc gia và đã góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế thế giới

Theo Tổ chức du lịch thế giới- UNWTO: “ Du lịch là tập hợp các mối quan hệ, các hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ sự hình thành và lưu trú của các cá thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên với mục đích nghỉ dưỡng và nơi họ đến không phải là nơi họ làm việc “

Theo Luật du lịch của Việt Nam mà Quốc hội mới ban hành vào tháng 06/2005: “ Du lịch là một trong những hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định “

Trang 15

Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức ( International Union of Oficial Travel Oragnization- IUOTO ): Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm một nghề hay thăm gia một việc kiếm tiền sinh sống

Tại hội nghị LHQ về du lịch họp tại Roma- Italia ( 21/8- 5/9/1963 ), các chuyên gia đưa định nghĩa về du lịch: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích nghỉ dưỡng Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ

Theo các nhà du lịch Trung Quốc: Hoạt động du lịch là tổng hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội nhất định làm cơ

sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du lịch làm điều kiện

Theo L.L Pirogionic, 1985: Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa

Nhìn từ góc độ thay đổi không gian của du khách thì du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc Nhìn

từ góc độ kinh tế thì du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu thăm quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và nhu cầu khác

Trang 16

ngoạn, nghỉ dưỡng chữa bệnh trong một thời gian nhất định, có thể một hoặc nhiều ngày có chi tiêu chứ không vì lý do nghề nghiệp và kiếm sống ở nơi đến

- Điểm hấp dẫn: là đặc điểm vật thể hoặc văn hóa ( phi vật thể ) của một nơi

mà khách du lịch cảm thấy đáp ứng nhu cầu tò mò, thưởng ngoạn, hiểu biết, trải nghiệm hoặc giải trí của mình Điểm hấp dẫn là động lực chủ yếu ( nhưng không phải là duy nhất ) thu hút khách du lịch

- Nhà kinh doanh và cung ứng dịch vụ du lịch

1.1.4 Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Theo Luật du lịch Việt Nam ( 2006): “ Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai ”

Theo Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế (1996): “ Phát triển du lịch bền vững

là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn bảo đảm những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”

Theo Uỷ ban môi trường và phát triển quốc tế (1987): “ Phát triển du lịch bền vững là một quá trình nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của những thế hệ mai sau ”

Từ những khái niệm nêu trên, ta có thể hiểu: Phát triển du lịch bền vững là sự phát triển du lịch có sự quan tâm đến việc bảo tồn các giá trị của tài nguyên du lịch đồng thời giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác hại xấu đến môi trường, kinh tế, văn hoá – xã hội nhằm phục vụ nhu cầu hiện tại của du khách và điểm du lịch mà không làm phương hại đến nhu cầu của tương lai

Như vậy, phát triển du lịch bền vững là phát triển du lịch trong điều kiện bảo tồn và cải thiện các mặt môi trường, kinh tế, văn hoá , xã hội Vì vậy, phát triển du

Trang 17

lịch bền vững cần:

Sử dụng tài nguyên môi trường một cách tối ưu để những tài nguyên này hình thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, duy trì những quá trình sinh thái thiết yếu và hỗ trợ cho việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học.Tôn trọng bản sắc văn hoá - xã hội của các cộng đồng ở các điểm đến, bảo tồn

di sản văn hoá và những giá trị truyền thống trong cuộc sống của họ và thăm gia vào quá trình hiểu biết và chấp thuận các nền văn hoá khác Bảo đảm những hoạt động kinh tế sống động lâu dài, đem lại lợi ích kinh tế, xã hội cho tất cả mọi thành viên bao gồm những công nhân viên chức có thu nhập cao hay những người có thu nhập thấp và góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo

Theo Hội đồng khoa học, Tổng Cục du lịch, những mục tiêu trong chương trình

du lịch của du lịch bền vững bao gồm:

- Hiệu quả kinh tế: Đảm bảo tính hiệu quả kinh tế, tính cạnh tranh để các doanh nghiệp, các điểm du lịch có khả năng tiếp tục phát triển phồn thịnh có lợi nhuận lâu dài

- Sự phồn thịnh cho địa phương: Tăng tối đa đóng góp của du lịch vào sự phát triển thịnh vượng của kinh tế địa phương tại các điểm du lịch

- Việc làm: Tăng cường số lượng và chất lượng việc làm tại địa phương do ngành du lịch tạo ra và được ngành du lịch hỗ trợ, bao gồm mức thu nhập, điều kiện

và khả năng dịch vụ, không có sự phân biệt đối xử về giới, chủng tộc, bệnh tật và các mặt khác

- Công bằng xã hội: Cần có sự phân phối lợi ích kinh tế và xã hội thu được từ hoạt động du lịch một cách công bằng và rộng rãi cho tất cả những người trong cộng đồng, kể cả những cơ hội cải thiện cuộc sống, nâng cao mức thu nhập và cung cấp dịch vụ cho người nghèo

- Sự thoả mãn của khách du lịch: Cần cung cấp những dịch vụ an toàn, thoả mãn đầy đủ những yêu cầu của khách du lịch, không phân biệt về giới, chủng tộc và các mặt khác

- Khả năng kiểm soát của địa phương: Thu hút và trao quyền cho các cộng đồng

Trang 18

địa phương trong việc xây dựng kế hoạch và đề ra quyết định về quản lý du lịch và phát triển du lịch trong tương lai tại địa phương, có sự thăm khảo tư vấn của các thành phần hữu quan khác

- An sinh cộng đồng: Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống của người dân địa phương, bao gồm cơ cấu tổ chức xã hội và cách tiếp cận các nguồn tài nguyên, hệ thống hỗ trợ đời sống, tránh làm suy thoái và khai thác quá mức môi trường cũng như xã hội dưới mọi hình thức

- Đa dạng văn hoá: Tôn trọng và tăng cường giá trị các di sản lịch sử, bản sắc văn hoá, truyền thống và những bản sắc đặc biệt của cộng đồng tại các điểm du lịch

- Thống nhất về tự nhiên: Duy trì và nâng cao chất lượng của cảnh vật, kể cả ở nông thôn cũng như ở thành thị, tránh để môi trường xuống cấp về thực thể và về nhãn quan

- Đa dạng sinh học: Hỗ trợ cho việc bảo tồn khu vực tự nhiên, môi trường sống, sinh vật hoang dã và giảm thiểu thiệt hại đối với các yếu tố này

- Hiệu quả của nguồn lực: Giảm thiểu mức sử dụng những nguồn tài nguyên quí hiếm và không thể tái tạo được trong việc phát triển và khai thác các cơ sở, phương tiện và dịch vụ du lịch

- Môi trường trong lành: Phải giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước, đất, và rác thải từ du khách và các hãng du lịch

1.2 Du lịch bền vững và các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

1.2.1 Du lịch bền vững và du lịch không bền vững

Có những loại hình du lịch được coi là bền vững hơn các loại hình khác Tuy nhiên, phần lớn các loại hình du lịch đều có thể phát triển với quy mô rất lớn, do đó trở nên không bền vững Phần lớn các mô hình du lịch có thẻ làm cho bền vững hơn thông qua những thay đổi định lượng hoặc định tính

Trang 19

+ Phương pháp tiếp cận theo chất lượng

- Khái niệm chung:

+ Phát triển nhanh + Phát triển không kiểm soát + Quy mô không phù hợp + Mục tiêu ngắn hạn + Phương pháp tiếp cận theo số lượng + Tìm kiếm sự tối đa

- Chiến lược phát triển

+ Quy hoạch trước, triển khai sau

+ Kế hoạch theo quan điểm

+ Phương pháp tiếp cận chính luận

+ Quan tâm tới cả vùng

+ Phân tán áp lực và lợi ích

+ Quanh năm và cân bằng

+ Các nhà thầu địa phương

+ Nhân công địa phương

+ Kiến trúc bản địa

+ Maketing có tập trung đối tượng

- Chiến lược phát triển + Không triển khai tùy tiện + Kế hoạch theo dự án + Phương pháp tiếp cận theo lĩnh vực + Tập trung vào các trọng điểm + Áp lực và lợi ích tập trung + Thời vụ và mùa cao điểm + Các nhà thầu bên ngoài + Nhân công bên ngoài + Kiến trúc theo thị hiếu của khách + Maketing tràn lan

- Nguồn lực

+ Sử dụng vừa phải tài nguyên

+ Tăng cường tái sinh

+ Không chú ý tới lãng phí sản xuất + Thực phẩm nhập khẩu

+ Tiền bất hợp pháp, không rõ ràng + Nguồn nhân lực kém chất lượng

- Khách du lịch:

+ Số lượng ít

- Khách du lịch:

+ Số lượng nhiều

Trang 20

+ Có thông tin chi tiết bất kỳ lúc nào

+ Học tiếng địa phương

+ Tìm kiếm du lịch có những lịch trình tình dục

+ Không trở lại thăm quan

(Nguồn: A machado, 2003)

1.2.2 Các nguyên tắc phát triển du lịch bền vững

- Nguyên tắc 1: Khai thác, sử dụng nguồn lực một cách bền vững đó là việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và xã hội là hết sức cần thiết Chính điều này sẽ khiến cho việc du lịch phát triển lâu dài

- Nguyên tắc 2: Giảm sự tiêu thụ quá mức tài nguyên và giảm thiểu chất thải

đó là việc giảm tiêu thụ quá mức tài nguyên như nước, năng lượng và giảm chất thải

ra môi trường sẽ tránh được những chi phí tốn kém cho việc hồi phục tổn hại về môi trường và đóng góp cho chất lượng của du lịch

- Nguyên tắc 3: Duy trì tính đa dạng, đa dạng thiên nhiên, đa dạng xã hội và đa dạng văn hóa; đó là việc duy trị và tăng cường tính đa dạng của thiên nhiên, văn hóa

và đời sống xã hội; là yếu tố cốt yếu cho du lịch phát triển bền vững lâu dài và cũng

là chỗ dựa sinh tồn của ngành công nghiệp du lịch

- Nguyên tắc 4: Phát triển du lịch phải đặt trong quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế - xã hội đó là hợp nhất phát triển du lịch vào trong khuôn khổ quy hoạch chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cấp quốc gia và địa phương, việc tiến hành đánh giá tác động môi trường sẽ tăng khả năng tồn tại lâu dài của ngành du lịch

- Nguyên tắc 5: Phát triển du lịch phải hỗ trợ phát triển kinh tế địa phương và

có tính đến giá trị và chi phí về môi trường sẽ bảo vệ được kinh tế địa phương phát triển và vừa tránh được tổn hại về môi trường

- Nguyên tắc 6: Lôi kéo sự thăm gia của cộng đồng địa phương đó là việc thăm gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch sẽ không chỉ mang lại lợi ích

Trang 21

cho cộng đồng địa phương và môi trường mà còn nâng cao chất lượng phục vụ du lịch

- Nguyên tắc 7: Lấy ý kiến quần chúng và các đối tượng có liên quan; đó là việc trao đổi, thảo luận giữa ngành du lịch và cộng đồng địa phương, các tổ chức và

cơ quan liên quan khác nhau là rất cần thiết nhằm cùng nhau giải tỏa các mâu thuẫn tiềm ẩn về quyền lợi

- Nguyên tắc 8: Chủ động công tác đào tạo nguồn lực, đó là việc đào tạo nguồn nhân lực trong đó có lồng ghép vấn đề phát triển du lịch bền vững vào thực tiễn và cùng với việc tuyển dụng lao động địa phương ở mọi cấp sẽ làm tăng các sản phẩm

du lịch

- Nguyên tắc 9: Tiếp thị du lịch một cách có trách nhiệm đó là việc tiếp thị cung cấp cho khách du lịch những thông tin đầy đủ, sẽ nâng cao sự tôn trọng của du khách đối với môi trường thiên nhiên, văn hóa và xã hội ở nơi thăm quan đồng thời

sẽ làm tăng sự hài lòng của du khách

- Nguyên tác 10: Coi trọng công tác nghiên cứu, đó là tiếp tục nghiên cứu và giám sát các hoạt động du lịch thông qua việc sử dụng và phân tích có hiệu quả các

số liệu, là yếu tố rất cần thiết để giúp cho việc giải quyết những vấn đề tồn đọng và mang lại lợi ích cho các điểm thăm quan, cho ngành du lịch và cho khách hàng

1.3 Đánh giá tính bền vững của du lịch

Là một ngành kinh tế trọng yếu của thế giới, du lịch phụ thuộc rất nhiều vào sự thành công của các lĩnh vực kinh tế khác, đồng thời du lịch có thị trường biến động rất nhanh Chính vì vậy, du lịch là ngành kinh tế đặc biệt nhạy cảm, rất dễ bị ảnh hưởng dưới tác động khác, không chỉ của các điều kiện tự nhiên ( một vụ khủng bố, một cuộc nổi loạn, một thay đổi về chính trị hay vụ việc nhỏ như ô nhiễm một bãi biển cũng có thể tác động mạnh mẽ đến các hoạt động du lịch ở nơi đó ) vì đơn giản

là khách du lịch sẽ chọn một điểm du lịch khác

Để đánh giá tính bền vững của các hoạt động du lịch tại một địa điểm du lịch, khu du lịch, cần phải có những phương pháp thích hợp, tiết kiệm chi phí và thời gian Những phương pháp này một mặt là để đo sự thành công của công tác điều

Trang 22

hành, quản lý, phát hiện sớm tình trạng lâm nguy của một điểm du lịch, khu du lịch

để đưa ra những phương pháp đánh giá tính bền vững của khu du lịch được sử dụng dựa vào việc xác định sức chứa ( khả năng tải ) và dựa vào bộ chỉ tiêu môi trường

1.3.1 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch dựa vào sức chứa

Đây là phương pháp mà các nhà nghiên cứu cần phải xác định được sức chứa của khu du lịch, điểm du lịch, để xem khả năng khu du lịch, điểm du lịch đang xem xét có khả năng tiếp nhận được bao nhiêu khách du lịch thì vừa Nếu số du khách đến thăm quan thường xuyên vượt sức chứa sẽ dẫn đến suy thoái môi trường nghiêm trọng và du lịch phát triển không bền vững

Khái niệm sức chứa (khả năng tải) của điểm du lịch bắt nguồn từ nông nghiệp, trong việc chăn nuôi gia súc trên đồng cỏ Các nhà chăn nuôi cần phải biết rõ vào từng mùa, đồng cỏ có thể nuôi được tối đa bao nhiêu gia súc Sau đó khả năng tải được áp dụng vào lĩnh vực dân số để xác định số dân mà một vùng đất có thể tiếp nhận được (với một cuộc sống đầy đủ trên một trình độ công nghệ nhất định) Việc

áp dụng sức chứa vào lĩnh vực xã hội trở nên khó khăn vì tính đa giá trị của các hệ thống xã hội và nhân văn

Như vậy, sức chứa trong du lịch là số lượng người cực đại mà điểm du lịch có thể chấp nhận được, không gây suy thoái hệ sinh thái, không gây xung đột giữa cộng đồng dân cư địa phương với du khách và không gây xung đột giữa cộng đồng dân cư địa phương với du khách và không gây suy thoái nền kinh tế của cộng đồng bản địa

Đối với khái niệm sức chứa du lịch cần hiểu từ các khía cạnh: Vật lý ( hạ tầng ), sinh thái, tâm lý, xã hội và quản lý

- Về góc độ hạ tầng cơ sở: Số lượng khách tối đa mà một điểm du lịch có thể chứa được Điều này liên quan tới các tiêu chuẩn tối thiểu về không gian, về nhu cầu sinh hoạt ( nước sinh hoạt, điện, phòng ngủ, vui chơi giải trí…) của mỗi du khách

- Về góc độ sinh thái: Số lượng du khách mà tài nguyên ở điểm du lịch có thể đáp ứng mà không gây thiệt hại ( xuống cấp quá mức ) của môi trường tự nhiên,

Trang 23

không ảnh hưởng đến tập tục sinh hoạt của các loài thú hoang dã và không làm cho

hệ sinh thái bị phá vỡ

- Về góc tâm lý: Số lượng khách mà điểm du lịch có thể chứa được trước sức

ép tâm lý gia tăng Hay nói cách khác, mức độ thỏa mãn của du khách không bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng đông đúc gây ra

- Về góc độ quản lý: Số lượng khách tối đa mà điểm du lịch có thể phục vụ được Nếu vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý ( số lượng và trình độ nhân viên, phương tiện quản lý … ) của điểm du lịch không đáp ứng được nhu cầu của

du khách

Việc xác định sức chứa bao gồm cả ba giá trị: Sinh thái, kinh tế, xã hội Như vậy, việc xác định sức chứa là xác định số lượng khách du lịch cực đại mà điểm du lịch có thể chấp nhận, không gây suy thoái hệ sinh thái tự nhiên, không gây xung đột xã hội giữa cộng đồng dân cư địa phương và khách du lịch và không gây suy thoái nền kinh tế truyền thống của cộng đồng bản địa Đây là một nghiên cứu chuyên sâu va khó khăn do có nhiều trở ngại Phương pháp sức chứa thường chỉ được áp dụng tương đối trong trường hợp điểm du lịch có các đặc tính như: Tính đồng nhất về đối tượng du lịch khá cao, kích thước nhỏ, độ độc lập cao, tách khỏi các khu vực hoạt động dân sinh khác, độ đồng nhất cao của khách du lịch Thông thường, người ta chọn những yếu tố môi trường nhạy cảm nhất ( tạo ra sức chứa thấp nhất ) để xem xét khả năng tải của điểm du lịch vì những yếu tố môi trường nhạy cảm thường bị ảnh hưởng trước hết Ví dụ, đối với các hòn đảo du lịch thì hai yếu tố nhạy cảm nhất là nước sinh hoạt và diện tích mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng, không gian xanh hay các điểm vui chơi giải trí Có thể dựa vào hai yếu tố này

để tính số lượng du khách du lịch tối đa mà hòn đảo có thể tiếp nhận được ( số lượng du khách du lịch tối đa sẽ là tổng lượng nước sạch có thể cung cấp được hay tổng thể diện tích mặt bằng của hòn đảo sử dụng cho các hoạt động du lịch chia cho mức tiêu thụ nước tối thiểu hay diện tích mặt bằng cần thiết cho một du khách du lịch )

- Các công thức tính sức chứa của một điểm du lịch được tính như sau:

Trang 24

Sức chứa thường xuyên: CPI = ( AR / a )

Trong đó:

CPI: Sức chứa thường xuyên

AR: Diện tích của khu vực

a : Tiêu chuẩn không gian

Sức chứa hàng ngày: CPD = CPI x TR = ( TR / a )

Trong đó:

CPD: Sức chứa hàng ngày

TR: Công suất sử dụng mỗi ngày

Sức chứa hàng năm: CPY = ( CPD / PR ) = ( AR x TR ) / ( a x PR )

Trong đó:

CPY: Sức chứa hàng năm

PR: Ngày sử dụng ( tỷ lệ ngày sử dụng liên tục trong năm )

Boullon ( 1985 ) đã đưa ra một công thức chung đơn giản để xác định sức chứa của một khu du lịch như sau:

Sức chứa = ( Khu vực do du khách sử dụng ) / ( Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân )

Trong đó, tiêu chuẩn không gian trung bình cho mỗi cá nhân thường được xác định bằng thực nghiệm và thay đổi phụ thuộc vào hình thức hoạt động du lịch (Ví dụ: nghỉ dưỡng bãi biển: 30 – 40 m2 / người ; Picnic: 60 – 70 m2/ người; Thể thao:

200 – 400 m2/ người; Cắm trại: 100 – 200 m2/ người )

Tổng số du khách thăm quan một ngày có thể được tính như sau:

- Số lượng khách thăm quan hàng ngày = ( Sức chứa ) x ( Hệ số luân chuyển )

- Hệ số luân chuyển = ( Thời gian khu vực mở cửa cho du khách thăm quan ) / (thời gian trung bình của một cuộc thăm quan )

1.3.2 Đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch dựa vào bộ tiêu chỉ tiêu môi trường của Tổ chức du lịch thế giới UNWTO

Chỉ tiêu môi trường là phép đo độ nhạy cảm của môi trường và phát triển, là những thông tin tổng hợp giúp đánh giá các hoạt động bền vững của du lịch Chỉ

Trang 25

tiêu môi trường đòi hỏi những tiêu chuẩn như: Phải là một phép đo khách quan, ai

đo cũng cho giá trị như nhau; có thể xác định được với giá cả và thời gian hợp lý (

xu thế là nhanh hơn và rẻ hơn ); phản ánh các giá trị cập nhật

Để đánh giá mức độ phát triển của một điểm du lịch cụ thể, chúng ta thường dùng các chỉ tiêu đơn giản và bộ chỉ tiêu đơn Tổ chức du lịch thế giới UNWTO xây dựng hai bộ chỉ tiêu đơn là: Chỉ tiêu chung cho ngành du lịch bền vững và chỉ tiêu đặc thù cho điểm du lịch Ngoài ra, theo phương pháp PRA ( phương pháp đánh giá nhanh có sự thăm gia của cộng đồng ), hệ thống chỉ tiêu đánh giá nhanh tính bền vững của một điểm du lịch cũng được xây dựng

Bảng 1.2: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh

động của du lịch lên phân hệ

sinh thái tự nhiên

- Tỷ lệ % số công trình kiến trúc không phù hợp với kiến thức bản địa ( hoặc cảnh quan ) / ( tổng số công trình )

- Mức độ tiêu thụ các sản phẩm động, thực vật quý hiếm ( phổ biến – hiếm hoi - không

có )

- Tỷ lệ % khả năng vận tải sạch / khả năng vận tải cơ giới ( tính theo trọng tải )

3 - Bộ chỉ tiêu đánh giá tác

động lên phân hệ kinh tế

- Tỷ lệ % đầu tư từ du lịch cho phúc lợi xã hội của địa phương so với tổng giá trị đầu tư từ các nguồn khác

- Tỷ lệ % chỗ làm việc trong ngành du lịch

Trang 26

dành cho người địa phương so với tổng số lao động địa phương

- Tỷ lệ % GDP của kinh tế địa phương bị thiệt hại do du lịch gây ra hoặc có lợi do du lịch mang lại

- Tỷ lệ % chi phí vật liệu xây dựng địa phương / tổng chi phí vật liệu xây dựng

- Tỷ lệ % giá trị hàng hóa địa phương / tổng giá trị hàng hóa tiêu dùng cho du lịch

4 - Bộ chỉ tiêu đánh giá tác

động của du lịch lên phân hệ

xã hội – nhân văn

- Chỉ số Doxey

- Sự xuất hiện các bệnh dịch liên quan đến tới

du lịch

- Tệ nạn xã hội liên quan đến du lịch

- Hiện trạng các di tích lịch sử - văn hóa của địa phương (so với dạng nguyên thủy)

- Số người ăn xin / tống số dân địa phương

- Tỷ lệ % mất giá đồng tiền vào mùa cao điểm

du lịch

- Độ thương mại hóa của các sinh hoạt văn hóa truyền thống ( lễ hội, ma chay, cưới xin, phong tục, tập quán…) xác định thông qua trao đổi với các chuyên gia

(Nguồn: Tổ chức du lịch thế giới UNWTO)

- Ngoài ra, theo hiệp hội du lịch Việt Nam cho biết, các tiêu chí đánh giá tính bền vững trong phát triển du lịch còn được thể hiện dưới các góc độ như sau:

+ Tỷ lệ các khu, điểm du lịch được bảo vệ: Phát triển du lịch được coi là bền vững nếu như số lượng các khu, điểm du lịch cũng như các nguồn tài nguyên du lịch được bảo vệ Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các khu du lịch được Chính Phủ giao trực tiếp cho các hộ tư nhân và các doanh nghiệp tư nhân trong một thời gian

Trang 27

xác định, mọi hoạt động phát triển du lịch đều nằm dưới sự kiểm soát của tư nhân Vai trò của Nhà Nước đối với các khu điểm du lịch lúc này chỉ là việc định ra những định hướng phát triển, quy định trong khai thác, cũng như các yêu cầu đặt ra cho bảo tồn, tôn tạo

Ở Việt Nam, hầu hết các nguồn tài nguyên du lịch đều được đặt dưới sự quản

lý của Nhà Nước, mọi hoạt động khai thác hay đầu tư đều phải tuân theo các văn bản pháp quy quy định Đây chính là một đặc điểm cơ bản của du lịch Việt Nam Vì vậy, việc phân biệt giữa điểm du lịch “được bảo vệ” với điểm du lịch “chưa được bảo vệ” để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch là điểm du lịch đó có được Nhà Nước quan tâm đầu tư tôn tạo, xây dựng các hệ thống xử lý, và kiểm soát chất thải hay không

Để đánh giá tính bền vững của các khu điểm du lịch trên lãnh thổ Việt Nam nhất thiết phải dựa vào “ tỷ lệ các khu du lịch được đầu tư bảo vệ, tôn tạo trong tổng

số các khu du lịch nằm trong danh mục được Nhà Nước phê duyệt” Theo Tổ chức

du lịch thế giới - UNWTO nếu tỷ số này vượt quá 50% thì được đánh giá là phát triển bền vững

+ Quản lý áp lực môi trường tại các điểm du lịch: Quản lý áp lực từ hoạt động du lịch lên môi trường thực chất là việc giới hạn các tác động tiêu cực từ du lịch lên môi trường, trong đó việc giới hạn và quản lý “sức chứa” của điểm du lịch

đó được đặt lên hàng đầu Bản chất của việc này là hạn chế lượng khách du lịch tập trung quá đông tại một khu, điểm du lịch trong cùng một thời điểm Mục tiêu của phát triển bền vững là tạo ra một sự phát triển và tăng trưởng ổn định về kinh tế, do

đó việc khai thác quá giới hạn cho phép của một điểm du lịch sẽ mang lại những tác động tiêu cực, làm suy giảm tính bền vững của một khu vực, phá vỡ khả năng phát triển bền vững của ngành

+ Số lượng khách du lịch quay trở lại cam du lịch: Khách du lịch là yếu tố quyết định trong việc hình thành nên “cầu” du lịch, là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để đánh giá sự phát triển du lịch của một điểm du lịch cụ thể Các chỉ tiêu về khách có thể cho biết rất nhiều thông tin, cụ thể là thước đo của sự phát

Trang 28

triển du lịch, của sự nổi tiếng của điểm du lịch, của sức hấp dẫn của điểm du lịch, của khả năng “cung” và đáp ứng các nhu cầu của du khách của điểm du lịch… Các đánh giá về khách du lịch là bức tranh về hoạt động du lịch của điểm du lịch, các đánh giá về khách du lịch sẽ làm cơ sở cho nhiều đánh giá liên quan khác cũng như đưa ra những định hướng phát triển du lịch trong tương lai Để có những đánh giá

cụ thể về khách du lịch cần thường xuyên tổ chức các cuộc điều tra nhằm đánh giá mức độ hài lòng của du khách đối với các dịch vụ du lịch cũng như thái độ đón tiếp của chính quyền và cộng đồng địa phương tại các điểm du lịch

Đối với khách du lịch quốc tế: Phát triển du lịch bền vững dưới góc độ đánh giá các tiêu chí về khách du lịch quốc tế đó là việc có được những đánh giá cụ thể của

du khách trong việc “mong muốn dược quay trở lại điểm du lịch đó lần thứ hai, thứ ba ”, nói cách khác phát triển du lịch bền vững theo tiêu chí về khách du lịch là việc phân tích “tỷ lệ khách du lịch quốc tế quay trở lại lần thứ hai, thứ ba, ” trong

cơ cấu khách quốc tế Các giá trị này có được thông qua việc tiến hành các cuộc điều tra, phỏng vấn khách du lịch tại các khu điểm du lịch trên toàn lãnh thổ hoặc thông qua việc phối hợp với các hãng lữ hành trên toàn quốc tổ chức các cuộc phỏng vấn Tỷ lệ khách du lịch quốc tế quay trở lại lần thứ hai càng cao chứng tỏ rằng hoạt động du lịch tại khu vực đó đang phát triển đúng hướng, có hiệu quả cao Ngoài ra tiêu chí về sự ổn định và tăng trưởng của lượng khách quốc tế từ các thị trường nguồn trọng điểm đến Việt Nam cũng có ý nghĩa quan trọng để đánh giá tính bền vững của phát triển du lịch

Đối với khách du lịch nội địa: Khách du lịch quốc tế là đối tượng được tập trung chú ý như một nguồn thu ngoại tệ chính đối với ngành du lịch thì khách du lịch nội địa có vai trò duy trì sự phát triển và tăng trưởng chung của ngành du lịch Việc khuyến khích được người dân trong nước đi du lịch đã tạo điều kiện phân phối lại thu nhập giữa các thành phần lao động trong xã hội, góp phần tạo thêm công ăn việc làm cho xã hội, hỗ trợ tích cực cho các chương trình cứu trợ của Chính Phủ như các chương trình xoá đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức cho cộng đồng Như vậy đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện thành công mục tiêu đặt ra của phát triển bền vững cả dưới góc độ về kinh tế và góc độ xã hội

Trang 29

+ Mức độ đóng góp của ngành du lịch cho bảo tồn và phát triển kinh tế của địa phương: Du lịch tự bản thân nó là một ngành kinh tế tổng hợp, trực tiếp khai thác các thế mạnh tài nguyên thiên nhiên, do vậy để có thể phát triển bền vững cần có sự tập trung cho công tác bảo tồn và cần sự thăm gia của mọi bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng tại các điểm du lịch

Để đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịch, trước hết chúng ta phải có được những số liệu báo cáo cụ thể về “mức độ đóng góp của ngành du lịch cho công tác bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên du lịch”

Đối với tài nguyên du lịch nhân văn: Khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là

do con người sáng tạo ra Theo quan điểm chung được chấp nhận hiện nay, toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra đều được coi là những sản phẩm văn hoá

Không phải sản phẩm văn hoá nào cũng đều là những sản phẩm du lịch nhân văn, chỉ những sản phẩm văn hoá nào có giá trị phục vụ du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch nhân văn “ Tỷ lệ các tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác phục vụ du lịch trên tổng số tài nguyên du lịch nhân văn được thống kê ” sẽ là cơ sở đánh giá mức độ khai thác cũng như hiện trạng tái đầu tư cho công tác bảo tồn Tài nguyên du lịch khi được khai thác phục vụ mục đích du lịch đều đem lại một nguồn thu nhất định đối với ngành du lịch nói chung và cộng đồng địa phương nói riêng Nguồn thu này có thể có được từ việc bán vé thăm quan, vé cho các dịch

vụ vui chơi giải trí, từ việc bán các sản phẩm lưu niệm hay các đặc sản của địa phương… và được tính vào doanh thu cho ngành du lịch Sự đóng góp của ngành

du lịch cho bảo tồn thể hiện ở “ tỷ lệ doanh thu du lịch được trích lại cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch đó phục vụ công tác bảo tồn và tôn tạo ”

Du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao Chính vì vậy tỷ lệ doanh thu mà ngành du lịch trích lại cho cơ quan chủ quản các nguồn tài nguyên du lịch càng cao chứng tỏ khả năng phối hợp liên ngành càng tốt

Trang 30

Việc đánh giá khả năng phát triển bền vững của ngành bắt buộc phải dựa trên yếu tố này, kết quả thu được có thể có sai sót do nhiều khi doanh thu du lịch trích lại không được dùng vào mục tiêu bảo tồn, tôn tạo các nguồn tài nguyên nói trên nhưng phần nào cũng thể hiện nội dung của phát triển bền vững

+ Hiệu quả hoạt động của các điểm du lịch đã được quy hoạch: Đối với một chiến lược hoặc kế hoạch phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng lãnh thổ hoặc một điểm du lịch cụ thể thì công tác quy hoạch luôn có vai trò quan trọng và quyết định Đặc biệt với quy hoạch cho phát triển bền vững thì yếu tố thiết kế dự án quy hoạch, thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch lại càng quan trọng

“ Số lượng các địa phương có quy hoạch tổng thể du lịch được phê duyệt ” và “

Số lượng các khu, điểm du lịch có trong danh mục các điểm du lịch quốc gia đã xây dựng quy hoạch chi tiết ” là những chỉ số quan trọng trong việc đánh giá tính bền vững trong mục tiêu phát triển của ngành Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh của các khu du lịch đã được quy hoạch cũng đưa lại những kết luận chính xác về tính bền vững trong mục tiêu hoạt động của khu du lịch đó Hiệu quả hoạt động kinh doanh của một khu du lịch được thể hiện thông qua các số liệu về doanh thu, lượng khách, số lượng buồng phòng khách sạn và công suất sử dụng buồng phòng

1.3.3 Ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững

Việc phát triển du lịch bền vững có ý nghĩa như sau:

- Sự bền vững về kinh tế: Tạo nên sự thịnh vượng cho tất cả mọi tầng lớp xã hội

và đạt được hiệu quả giá trị cho tất cả mọi hoạt động kinh tế Điều cốt lõi, đó là sức sống và phát triển của các doanh nghiệp và các hoạt động của các doanh nghiệp đó

có thể duy trì được lâu dài

- Sự bền vững xã hội: tôn trọng nhân quyền và sự bình đẳng cho tất cả mọi người trong xã hội Đòi hỏi phải phân chia lợi ích một cách công bằng với trọng tâm

là giảm đói nghèo Chú ý đến những cộng đồng địa phương, duy trì và tăng cường những hệ thống, những chế độ hỗ trợ đời sống của họ, thừa nhận và tôn trọng các nền văn hoá khác nhau và tránh được mọi hình thức bóc lột

- Sự bền vững về môi trường: Bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên, đặc biệt

Trang 31

là các nguồn tài nguyên không thể thay mới và quý hiếm đối với cuộc sống con người Hạn chế đến mức độ tối thiểu sự ô nhiễm không khí, đất và nước, bảo tồn sự

đa dạng sinh học và các tài sản thiên nhiên đang còn tồn tại

- Quản lý sự tăng trưởng năng động: Hoạt động du lịch quốc tế sẽ tăng lên gấp đôi theo dự báo trong 15- 20 năm tới và sẽ đem lại những sức ép rất lớn Muốn tránh được những tổn thất nghiêm trọng do bất kỳ nguồn tài nguyên nào làm chỗ dựa cho phát triển du lịch thì phải quản lý tốt sự tăng trưởng đó Phải quy hoạch một cách chu đáo những địa điểm và loại hình phát triển mới, cải thiện những biện pháp quản

lý môi trường và những hoạt động có nhiều ảnh hưởng Một số loại hình địa bàn đặc biệt nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng trước sức ép: Môi trường biển và ven biển, những thành phố, thị trấn lịch sử, những di sản văn hoá, môi trường tự nhiên dễ bị xâm hại

- Thay đổi khí hậu: Là một vấn đề lớn cho sự bền vững lâu dài của hoạt động du lịch ở hai phía, khí hậu thay đổi sẽ ảnh hưởng tới du lịch và du lịch là một tác nhân khiến khí hậu thay đổi Hậu quả của sự thay đổi khí hậu, mực nước biển dâng cao, tần số và cường độ của sóng và bão tăng lên, bãi biển bị xói mòn, san hô bị tàn phá, nguồn cung cấp nước bị ảnh hưởng tại các điểm du lịch Những nơi nghỉ dưỡng tại miền núi cũng chịu nhiều ảnh hưởng, tuyết tan nhanh khi nhiệt độ tăng cao, thời gian dành cho những hoạt động thể thao mùa đông bị rút ngắn Hoạt động du lịch còn có thể chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như sự phát triển của các dịch bệnh nhiệt đới, nguồn cung cấp nước

- Xoá đói giảm nghèo: Du lịch có tiềm lực lớn góp phần vào việc giảm đói nghèo Mục đích là phải tìm ra những biện pháp tốt hơn để hướng sự chi tiêu của khách du lịch đối với người nghèo Có một mục đích khác là những người làm việc trong ngành du lịch có xu thế bị trả lương thấp Do đó, cần bảo đảm trả thù lao đúng mức cho người làm việc trong ngành du lịch

- Hỗ trợ cho việc bảo tồn: Đối với mỗi quốc gia việc phát triển du lịch luôn luôn đứng trước một thách thức rất quan trọng là việc giải ngân kinh phí hàng năm cho việc bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch Tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi nước mà

số vốn đầu tư cho việc tu bổ, bảo vệ ít nhiều khác nhau

Trang 32

- Sự lành mạnh, an toàn và an ninh: Đây là một vấn đề rất phức tạp Bản thân khách du lịch khi đi đến một nước nào đó thì nhu cầu, mục đích của họ khác nhau thậm chí có cả những mục đích xấu Việc kiểm soát mục đích không lành mạnh của

Cần phải nghiên cứu, phân tích kết cấu dân cư theo nghề nghiệp, lứa tuổi để xác định nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch, vì đây là nhân tố có tác dụng thúc đẩy du lịch phát triển Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự tăng dân số, tăng mật độ, độ dài của tuổi thọ, sự phát triển đô thị hóa… liên quan mật thiết với sự phát triển du lịch

- Sự phát triển của ngành kinh tế: Sự phát triển của ngành kinh tế có tầm quan trọng hàng đầu, làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầu du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất

xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém

Vai trò to lớn của nhân tố này được thể hiện ở nhiều khía cạnh quan trọng Sự phát triển của nền sản xuất xã hội sinh ra nhu cầu nghỉ ngơi du lịch Các nhà kinh điển đã chỉ ra rằng sự xuất hiện và mở rộng nhưng nhu cầu khác nhau (tất nhiên trong đó có nhu cầu nghỉ ngơi du lịch) là kết quả của sự phát triển nền sản xuất Các nhu cầu thường nảy sinh trực tiếp từ sản xuất Nền sản xuất xã hội càng phát triển, thị trường nhu cầu của nhân dân càng lớn, chất lượng càng cao

Trang 33

Ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển, nhìn chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn hạn chế Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi du lịch ở các nước phát triển rất đa dạng Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối tuần, hàng năm nhân dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ dài ngày ở vùng biển (vào mùa hè), trên núi (vào mùa đông), trong nước hoặc ở nước ngoài Rõ ràng những nhu cầu này phải dựa trên cơ sở vững chắc của nền sản xuất xã hội

Nền sản xuất xã hội phát triển tạo điều kiện ra đời của nhiều nhân tố khác nhau như nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, mức sống, mức thu nhập, thời gian nhàn rỗi

Trong nền sản xuất xã hội nói chung, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch Công nghiệp cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tạo nên những tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, đồng thời tăng thêm khả năng đi du lịch Công nghiệp phát triển cao, sản xuất ra những vật liệu đa dạng để xây dựng các công trình du lịch và hàng tiêu dùng cho khách du lịch Sự tập trung dân cư trong các trung tâm du lịch lớn, bầu không khí bị các xí nghiệp công nghiệp làm bẩn, tình trạng căng thẳng và tiếng ồn làm tăng thêm bệnh tật khiến con người tìm chỗ nghỉ ngơi và hồi phục sức khỏe ngoài nơi sinh sống

Nông nghiệp có ý nghĩa rất lớn trong việc thúc đẩy phát triển du lịch vì du lịch không thể phát triển được nếu như không đảm bảo việc ăn uống cho khách du lịch

Sự có mặt của nguồn rau quả, rau xanh, … Mở ra khả năng phát triển ngành hoa quả chữa bệnh Ngoài ra, các cảnh đẹp phục vụ cho du lịch cũng có thể xuất phát từ nông nghiệp như ruộng bậc thang, vườn cây ăn trái

Mạng lưới giao thông cũng là một trong những tiền đề kinh tế quan trọng nhất

để phát triển du lịch Nhờ mạng lưới giao thông hoàn thiện mà du lịch phát triển với tốc độ nhanh Điều đó làm giảm thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật là nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch Trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất của con người được thay đổi tận gốc Lao động chân tay giảm xuống với tốc độ nhanh

Trang 34

chóng, cường độ và sự căng thẳng trong lao động lại tăng lên với tốc độ tương ứng Điều đó đòi hỏi phải được phục hồi sức lực sau những ngày làm việc căng thẳng thông qua con đường du lịch nghĩ ngơi Cuộc cách mạng này đã khuấy động mọi ngành sản xuất, đem lại năng suất lao động và hiệu quả cao Đó là tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, tăng thêm khả năng thực tế tham gia hoạt động nghĩ ngơi du lịch, hoàn thiện cơ cấu hạ tầng và tạo cho du lịch có bước phát triển vững chắc hơn

- Yếu tố xu hướng tiêu dùng: Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong nhưng nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Các hoạt động mang tính chất xã hội của cá nhân trong thời gian rỗi được quyết định bởi nhu cầu và định hướng có giá trị Nhu cầu nghỉ ngơi là hình thức thể hiện và giải quyết mâu thuẫn giữa chủ thể với môi trường bên ngơi khác nhau.ngoài, giữa điều kiện sống hiện có với điều kiện sống cần có thông qua các dạng nghỉ

Nhu cầu nghỉ ngơi có tính chất kinh tế - xã hội, là sản phẩm của sự phát triển

xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội dưới tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất Cụ thể hơn, đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch là một hệ thống và được thể hiện ở 3 mức độ: Xã hội-Nhóm người - Cá nhân

Quan trọng hàng đầu là nhu cầu nghỉ ngơi phát triển xã hội Nó được xác định

về sự phát triển toàn diện thể chất và tinh thần cho mỗi thành viên trong xã hội Nhu cầu này quyết định cấu trúc của ngành du lịch và được phản ánh qua các hình thức

tổ chức lãnh thổ của nó

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch theo nhóm thể hiện nhu cầu của một nhóm dân cư phân theo nghề nghiệp, lứa tuổi

Trang 35

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch cá nhân bao gồm những đòi hỏi của cá nhân về hoạt động nghỉ ngơi du lịch nhằm góp phần tăng sức khỏe, giảm mệt mỏi, mở rộng khả năng lao động, tầm hiểu biết… cho cá nhân

Nhu cầu của xã hội, nhóm người và cá nhân không phải tách rời nhau, mà có mối quan hệ qua lại biện chứng Trong các mối liên hệ ấy, nhu cầu của cá nhân có tác động đến cơ cấu nhu cầu của nhóm người và xã hội Thông qua việc thỏa mãn nhu cầu của nhóm người có nghĩa là nhu cầu của xã hội đã được thực hiện

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch mang đặc trưng cho từng giai đoạn phát triển của xã hội Nó ra đời ở một trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất, là kết quả tác động tổng hợp của quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, tăng mật độ và

sự tập trung dân cư vào các thành phố, kéo dài tuổi thọ…

- Quá trình đô thị hóa: Là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đô thị hóa như là nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch.Đô thị hóa tạo nên một lối sống đặc biệt – lối sống thành thị, đồng thời hình thành các thành phố lớn và các cụm thành phố Đô thị hóa có những đóng góp to lớn trong việc cải thiện điều kiện sống cho nhân dân về phương diện vật chất và văn hóa Mặt khác, đô thị hóa cũng có những mặt trái của nó như là tách con người ra khỏi tự nhiên, thay đổi bầu không khí và các quá trình khác của tự nhiên Chính điều đó đã có tác động xấu đến sức khỏe con người

Từ những mặt trái nêu trên, nghỉ ngơi giải trí đã trở thành nhu cầu không thể thay thế được của người dân thành phố

- Mức sống của dân cư: mức sống của người dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, phát triển y tế, văn hóa, giáo dục

Du lịch chỉ có thể phát triển được khi mức sống (vật chất, tinh thần) của con người đạt tới trình độ nhất định Một trong những nhân tố quan trọng nhất là thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội Cùng với mức thu nhập thực tế, các điều kiện sống khác được cải thiện Các phương tiện đi lại của cá nhân tăng lên sẽ góp phần phát triển du lịch, tăng cường tính cơ động của nhân dân trong quá trình nghỉ ngơi, giải trí

Trang 36

- Thời gian nhàn rỗi của dân cư: Du lịch trong nước và quốc tế không thể nào phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Đó là một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy du lịch phát triển Để phát triển du lịch trong nước, điều kiện quan trọng là có nhiều ngày nghỉ trong năm

- Nhân tố an ninh chính trị: Là điều kiện đặc biệt quan trọng để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và quốc tế Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại, chiến tranh ngăn cản hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn thất môi trường tự nhiên Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình Thông qua du lịch quốc tế, con người thể hiện khát vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị

- Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của khu du lịch: Du lịch thế giới phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước Nhu cầu của khách du lịch ngày càng cao và ngày càng quan tâm tới điều kiện về an toàn và sức khỏe, xu hướng du khách chỉ chọn những điểm đến, những cơ sở dịch vụ du lịch, quan tâm đến bảo vệ môi trường

+ Cơ Sở hạ tầng: Mạng lưới giao thông vận tải là những nhân tố quan trọng hàng đầu Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải Thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện và nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt Giao thông bằng ô tô tạo điều kiện cho khách dễ dàng đi theo lộ trình lựa chọn Giao thông đường sắt rẻ tiền nhưng chỉ đi theo những tuyến cố định Giao thông đường hàng không rất nhanh, rút ngắn thời gian đi lại nhưng đắt tiền Giao thông đường thuỷ tuy chậm nhưng có thể kết hợp với việc thăm quan giải trí… dọc theo sông hoặc ven biển

Trang 37

Giao thông là một bộ phận của cơ sở hạ tầng, tuy nhiên hiện nay đã có một số phương tiện giao thông được sản xuất với mục đích chủ yếu phục vụ du lịch Nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch

+ Thông tin liên lạc: Thông tin liên lạc là một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc

+ Các công trình cung cấp điện, nước: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên… Khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên để đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống, ở, đi lại… du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện, nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường Cho nên yếu

tố điện, nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch

1.4.2 Nhận xét chung về các nhân tố ảnh hưởng

Các ảnh hưởng tích cực: Về khía cạnh kinh tế, phát triển du lịch ở một địa phương kéo theo sự phát triển của các cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, điều này cho phép thu hút những nguồn đầu tư lớn không chỉ vào lĩnh vực du lịch mà vào cả các lĩnh vực khác có liên quan (xây dựng, giao thông, kinh doanh…) Nhờ đó, những lợi ích có thể thấy rõ là việc tạo ra thu nhập trực tiếp cho người dân bản địa thông qua lương, kinh doanh các đồ thủ công, đồ lưu niệm địa phương… và gián tiếp tạo

ra thu nhập cho địa phương đó thông qua hoạt động của các nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch cũng góp phần tạo ra việc làm, từ đó tăng

Trang 38

cơ hội việc làm cho lao động địa phương, góp phần giải quyết nạn thất nghiệp Du lịch còn là điều kiện tốt để tăng nguồn thu ngân sách địa phương qua việc thu thuế các cơ sở hoạt động, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, nhà ở thông qua việc xây mới hoặc tu bổ, sửa chữa Bên cạnh đó, để đáp ứng các đòi hỏi của hoạt động du lịch, thông qua việc đào tạo về về kiến thức và chuyên môn, chất lượng nguồn nhân lực địa phương cũng được củng cố vững chắc hơn

Về khía cạnh môi trường: Phát triển cơ sở hạ tầng du lịch sẽ góp phần vào việc bảo tồn hoặc tu bổ các di tích lịch sử, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

Về khía cạnh văn hóa, xã hội: Phát triển du lịch sẽ tạo ra cơ hội trao đổi văn hóa giữa người bản địa và khách du lịch nước ngoài Mặt khác, đây cũng là yếu tố góp phần thay đổi tích cực các giá trị và lối sống của người địa phương Bên cạnh việc bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, đây cũng là cơ hội để giới thiệu rõ nét hơn các giá trị văn hóa địa phương của khách du lịch trong nước và nước ngoài, khuyến khích việc gìn giữ và phát huy các lễ hội truyền thống và các sự kiện văn hóa địa phương Ngoài ra, nhu cầu giao tiếp sẽ khuyến khích người dân địa phương học ngoại ngữ và rèn luyện các kỹ năng mới Chất lượng sống của người họ cũng được nâng cao qua việc hưởng lợi từ các cơ sở hạ tầng mới như đường xá, nước sạch…

Các ảnh hưởng tiêu cực : Về khía cạnh môi trường, phát triển du lịch đi kèm với sự gia tăng ô nhiễm không khí, nước, tiếng ồn… Nguy cơ phá rừng để lấy đất xây dựng dẫn đến suy giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thảm động thực vật, đe dọa các loài quý hiếm…Các công đoạn xây dựng có khả năng dẫn đến xói mòn đất đai và sử dụng bừa bãi các nguồn vật liệu xây dựng

Về khía cạnh văn hóa xã hội, việc phát triển du lịch có thể gây ra các xung đột

do sự khác nhau về văn hóa, lối sống của khách du lịch và người dân bản địa Vấn

đề di dân, xung đột trong nội bộ cộng đồng hoặc giữa các cộng đồng do quyền lợi kinh tế cũng là các nguy cơ tiềm tàng Một mặt trái khác của phát triển du lịch là hiện tượng gia tăng các tệ nạn xã hội như mại dâm, cướp giật, mê tín dị đoan Việc thương mại hóa các hoạt động văn hóa làm suy thoái các giá trị văn hóa truyền

Trang 39

thống Sự xuất hiện quá đông của khách nước ngoài có thể gây ra cảm giác mất cân bằng trong cuộc sống người dân đồng thời có khả năng gây ra các phân biệt đối xử, phân hóa giàu nghèo…

1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững

1.5.1 Kinh nghiệm trên thế giới

+ Thái Lan: Du lịch là một thế mạnh của Thái Lan Ngành công nghiệp " không khói " này hằng năm mang lại nguồn thu chiếm 6,5% GDP của Thái Lan Số lượng khách du lịch quốc tế tới Thái Lan liên tục tăng, tạo nên những con số ấn tượng đối với các nước trong khu vực Tuy nhiên, bất ổn về chính trị, kinh tế khiến ngành này giảm sút

Ngành du lịch Thái Lan vốn tự hào với danh "đất nước nụ cười" và nụ cười của người Thái để lại ấn tượng khó phai mờ trong du khách Năm 1998, lượng khách tới Thái Lan là 7,76 triệu lượt người với tổng doanh thu gần 250 tỷ bạt ( khoảng sáu tỷ USD tính theo tỷ giá trung bình) thì mười năm sau, năm 2008, con số này đã tăng gấp hai lần, tới 14,5 triệu người với doanh thu 540 tỷ bạt (16,38 tỷ USD) Thái Lan

là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á Truyền thống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọng góp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này Ngành du lịch là ngành thu được nguồn ngoại

tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuất khác của Thái Lan Hàng năm, Thái Lan đón một lượng khách du lịch quốc tế trên 10 triệu lượt người Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là các nước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu … Năm 2005, Chính Phủ Thái Lan đẩy mạnh đầu tư vào ngành công nghiệp không khói này với mục tiêu đón 13 triệu khách quốc tế, đem về 409 tỷ Baht (tương đương khoảng 10 tỷ USD) Thái Lan đặt mục tiêu đạt 20 triệu khách quốc tế vào năm 2008

Cơ quan du lịch quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lý Nhà Nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan TAT là cơ quan trực thuộc Chính Phủ, hoạt động độc lập Đứng đầu Cơ quan du lịch Quốc gia

là Thống đốc Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòng thống đốc, Hội đồng tư vấn,

Trang 40

Viện đào tạo khách sạn và du lịch, Văn phòng du lịch Bangkok, Ban quản lý hoạt động khu du lịch và Thanh tra tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiến lược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệp thực hiện TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến

du lịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liên tục đề xuất, trình Chính Phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đến các chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách du lịch cụ thể, trong từng giai đoạn nhất định

Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúp ngành du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là các chiến dịch quảng

bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982, 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là năm du lịch Thái Lan; hai năm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm

1997, khi Thái Lan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì ngành du lịch là ngành kinh tế chủ đạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổn định và tăng trưởng trở lại

Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối với các tài nguyên

du lịch như vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường, thay đổi sắc thái nền văn hóa Nhận thức được ảnh hưởng tiêu cực đó, Chính Phủ Thái Lan đã chuyển mục tiêu phát triển du lịch, tập trung vào việc nâng cao phần đóng góp tăng trưởng kinh tế của đất nước, bảo vệ môi trường trên cơ sở phát triển một cách ổn định và cân bằng, khuyến khích phát triển các nguồn lực, đảm bảo năng lực thăm gia vào quá trình phát triển du lịch

Thực hiện sự chỉ đạo của Chính Phủ, TAT đã đưa ra các chính sách cụ thể nhằm xúc tiến, phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo như sau:

Khôi phục và giữ gìn các tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường, văn hóa nghệ thuật thông qua việc ưu tiên phát triển du lịch bền vững Thúc đẩy hợp tác giữa khu

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Thích Viên Thành (1998), Kỷ niệm Hương Sơn, Nxb văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ niệm Hương Sơn
Tác giả: Thích Viên Thành
Nhà XB: Nxb văn hoá thông tin
Năm: 1998
4. Thích Viên Thành (2000), Hương Sơn ngày nay, Nxb văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hương Sơn ngày nay
Tác giả: Thích Viên Thành
Nhà XB: Nxb văn hoá thông tin
Năm: 2000
5. Nguyễn Quang Thành (1999), Lịch sử Hương Sơn, Nxb văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Hương Sơn
Tác giả: Nguyễn Quang Thành
Nhà XB: Nxb văn hoá thông tin
Năm: 1999
1. Ban quản lý di tích thắng cảnh Hương Sơn (2010), Tình hình quản lý di tích thắng cảnh Hương Sơn 2005 - 2010 Khác
2. Ban quản lý di tích thăng cảnh Hương Sơn (2011), Báo cáo công tác tổ chức lễ hội Chùa Hương năm 2005 - 2011 Khác
6. UBND Thành phố Hà Nội (2010), Chương trình phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2010-2015 Khác
7. Viện nghiên cứu phát triển du lịch - Sở du lịch Hà Nội (2005), Quy hoạch phát triển khu du lịch thắng cảnh Hương Sơn 2005-2015 Khác
8. Viện nghiên cứu phát triển du lịch - Sở du lịch Hà Nội (2005), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội 2005-2015 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 1.2 Hệ thống chỉ tiêu môi trường dùng để đánh giá nhanh (Trang 25)
Bảng 2.6: Thu nhập bình quân đầu người - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 2.6 Thu nhập bình quân đầu người (Trang 62)
Sơ đồ 01: Mô hình quản lý khu du lịch Hương Sơn - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Sơ đồ 01 Mô hình quản lý khu du lịch Hương Sơn (Trang 71)
Bảng 3.2:  Lượng khách tới Hương Sơn từ 2005-2011 - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.2 Lượng khách tới Hương Sơn từ 2005-2011 (Trang 79)
Bảng 3.3:  Lượng khách thăm quan khu di tích thắng cảnh Hương Sơn vào các tháng trong năm - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.3 Lượng khách thăm quan khu di tích thắng cảnh Hương Sơn vào các tháng trong năm (Trang 82)
Bảng 3.4: Tình hình doanh thu của Hương Sơn năm 2005-2011 - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.4 Tình hình doanh thu của Hương Sơn năm 2005-2011 (Trang 83)
Bảng 3.5: Tình hình nộp ngân sách của khu di tích Hương Sơn - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.5 Tình hình nộp ngân sách của khu di tích Hương Sơn (Trang 84)
Bảng 3.7: Cơ cấu dân số tham gia hoạt động du lịch xã Hương Sơn - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.7 Cơ cấu dân số tham gia hoạt động du lịch xã Hương Sơn (Trang 86)
Bảng 3.9: Tình hình đóng góp cho ngân sách địa phương của các hộ - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.9 Tình hình đóng góp cho ngân sách địa phương của các hộ (Trang 88)
Bảng 3.10: Cơ cấu đất đai dành cho các hoạt động du lịch trong - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.10 Cơ cấu đất đai dành cho các hoạt động du lịch trong (Trang 89)
Bảng 3.11: Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường của khách du lịch - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.11 Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường của khách du lịch (Trang 90)
Bảng 3.12: Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường khác                                                                                  Đơn vị tính: người - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.12 Ý kiến đánh giá chất lượng môi trường khác Đơn vị tính: người (Trang 91)
Bảng 3.13: Bảng thống kê số lượng lao động - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.13 Bảng thống kê số lượng lao động (Trang 91)
Bảng 3.14: Tình hình trích đầu tư tu bổ các công trình trong khu du lịch - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.14 Tình hình trích đầu tư tu bổ các công trình trong khu du lịch (Trang 92)
Bảng 3.16: Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến an ninh, chính trị, - Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu di tích thắng cảnh hương sơn   huyện mỹ đức thành phố hà nội
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của phát triển du lịch đến an ninh, chính trị, (Trang 93)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w