1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của một số cây ăn quả chính tại xã mễ sở, huyện văn giang, tỉnh hưng yên

98 367 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, các hộ nông dân ở Mễ Sở đã mạnh dạn đưa các loại cây ăn quả vào trồng trên một phần diện tích trước đó vẫn trồng lúa nhưng hiệu quả thu được ít hơn

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Duy Hân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của một số

cây ăn quả chính tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” được hoàn thành với sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và gia đình đồng thời với sự ủng hộ và giúp đỡ rất nhiệt tình của các cơ quan đoàn thể và người dân ở xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc đối với

TS Nguyễn Nghĩa Biên người thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm phòng sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Có được kết quả này, tôi không thể không nói đến công lao và sự giúp

đỡ của lãnh đạo UBND xã Mễ Sở, UBND huyện Văn Giang, các ban ngành, đoàn thể, các cấp đã tạo điều kiện nghiên cứu, cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến quý báu Xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và bà con nông dân xã Mễ

Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã quan tâm, động viên, đóng góp ý kiến quý báu cho tôi trong quá trình hoàn

thiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2014

Tác giả

Nguyễn Duy Hân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ 4

1.1 Cơ sở lý luâ ̣n về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Vai trò của cây ăn quả trong phát triển kinh tế 4

1.1.2 Đặc điểm hiệu quả kinh tế 9

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả 14

1.1.4 Ý nghĩa của nâng cao hiệu quả kinh tế CAQ 17

1.2 Cơ sở thực tiễn 18

1.2.1 Vài nét về li ̣ch sử nguồ n gố c, phân bố và tình hình sản xuất, tiêu thụ CAQ ở Viê ̣t Nam 18

1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả kinh tế CAQ của một số nước trên thế giới 23

1.2.3 Những kinh nghiệm rút ra đối với nâng cao hiệu quả kinh tế CAQ tại Việt Nam 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của xã Mễ Sở 27

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Mễ Sở 28

2.2 Phương pháp nghiên cứu 38

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 38

2.2.2 Phương pháp phân tích số liê ̣u: 38

2.2.3 Chỉ tiêu đánh giá hiê ̣u quả kinh tế: 39

3.1 Phân tích hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của xã Mễ Sở 42

3.1.1 Tình hình cơ bản về tiêu thụ sản phẩm quả của xã Mễ Sở 42

3.1.2 H iệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của xã Mễ Sở 52

3.1.3 Ảnh hưởng của các nhân tố đến thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả của hộ trồng cây ăn quả của xã Mễ Sở 62

3.2 Đánh giá chung về tình hình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên 65

3.2.1 Những mặt đạt được 65

3.2.2 Những mặt còn hạn chế Error! Bookmark not defined 3.3 Định hướng và một số giải pháp phát triển cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hoá xã Mễ Sở Error! Bookmark not defined 3.3.1 Quan điểm và định hướng phát triển sản xuất cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hoá Error! Bookmark not defined 3.3.2 Một số giải pháp chủ yếu để phát triển cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hoá ở xã Mễ Sở 69

3.3.3 Phương hướng và mục tiêu chung (Đến năm 2020) 74

3.3.4 Các giải pháp kinh tế kỹ thuật khác có liên quan đến đẩy mạnh sản xuất kinh doanh cây ăn quả ở xã Mễ Sở trong những năm tới 75

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Viết đầy đủ

HQKT Hiệu quả kinh tế

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

1.1 Sản lượng tính theo đầu người/năm ở các nước trong khu

vực Châu Á - Thái Bình Dương ( từ năm 2006-2013 )

4

2.1 Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Mễ Sở qua 3 năm

(2011 – 2013)

32

2.3 Hoạt động thuỷ lợi đối với sản xuất nông nghiệp 35 2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã Mễ Sở (2011- 2013) 37 3.1 Giá bán một số loại quả chính của các hộ nông dân xã Mễ

Sở năm 2013

49

3.2 Tình hình diện tích cây ăn quả của xã Mễ Sở Error!

Bookmark not defined

3.3 Diện tích giống cây ăn quả của xã Mễ Sở Error!

Bookmark not defined

Bookmark not defined

3.5 Thông tin chung về các hộ gia đình đã điều tra 52 3.6 Thông tin về diện tích trồng và các giống cây ăn quả 54 3.7 Chi phí trồng mới và kiến thiết cơ bản cho 1ha cây ăn quả 55

Trang 8

3.8 Chi phí đầu vào cho 1ha cây ăn quả ở giai đoạn kinh

3.11 Dự kiến sản lượng cây ăn quả của xã năm 2015-2020 69 3.12 Dự kiến sản phẩm hàng hoá và tỷ suất hàng hoácủa xã

năm 2013– 2015

Error! Bookmark not defined

DANH MỤC HÌNH

3.1 Hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm cây ăn quả của xã Mễ Sở 50 3.2 Sơ đồ kênh tiêu thụ sản phẩm cây ăn quả 70

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển kinh tế sản xuất cây ăn quả cũng như bất kỳ ngành sản xuất kinh doanh nào, muốn tồn tại và phát triển, đứng vững trên thương trường thì vấn đề hiệu quả kinh tế (HQKT) phải được đặt lên hàng đầu Qua mỗi thời kỳ sản xuất kinh doanh phải phân tích tìm ra những ưu điểm tồn tại,

có hướng khắc phục tổ chức sản xuất, trong chu kỳ sản xuất tiếp theo

Sản xuất nông nghiệp cần đa dạng hóa cây trồng, thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng tỷ trọng các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao Do đó, ngành trồng trọt không thể thiếu việc phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất cây ăn quả theo thế mạnh của từng vùng Đó là nhu cầu thiết thực, phát triển tích cực, khai thác được lợi thế so sánh của cá c xã là m kinh tế nông nghiê ̣p nông thôn Việt Nam

Xã Mễ Sở thuộc huyện Văn Giang, nằm ven sông Hồng có điều kiện ưu đãi về đất đai màu mỡ rất phù hợp phát triển các loại cây ăn quả Quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, các hộ nông dân ở Mễ Sở đã mạnh dạn đưa các loại cây ăn quả vào trồng trên một phần diện tích trước đó vẫn trồng lúa nhưng hiệu quả thu được ít hơn Đ những sản phẩm cây ăn quả được thị trường chấp nhận và có thương hiệu thực sự cần có các giải pháp kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế của các diện tích cây ăn quả tại

địa phương.Trên cơ sở đó, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp

nâng cao hiệu quả kinh tế của một số cây ăn quả chính tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng yên” làm đề tài luận văn cao học

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu tổng qua ́ t

Đánh giá thực tra ̣ng hiệu quả kinh tế củ a mô ̣t số cây ăn quả chính tại xã Mễ Sở trong thờ i gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu

Trang 10

nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người nông dân nông thôn trên địa bàn xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

- Mục tiêu cụ thể cu ̉ a đề tài

1 Góp phần hệ thống hoá về cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế,nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả

2 Phân tích, đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế của mô ̣t số cây ăn quả chính trên địa bàn xã Mễ Sở

3 Đề xuất định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cây ăn quả xã Mễ Sở

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đố i tươ ̣ng nghiên cứu cử đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề về hiê ̣u quả kinh tế của một số cây ăn quả chính trồng cây ăn quả tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

3.2 Pha ̣m vi nghiên cứu của đề tài

- Pha ̣m vi về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu, hiê ̣u quả kinh tế của ba

loại cây ăn quả chính là Nhãn, vải, cây cam đường Canh và nhãn, vải

- Phạm vi về không gian: Tại xã Mễ Sở, huyện Văn Giang

- Pha ̣m vi về thời gian: Tiến hành nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2013

4 Nội dung nghiên cứu

4.1 Cơ sơ ̉ lý luận về vấn đề nghiên cứu

- Hệ thố ng hóa các vấn đề lý luâ ̣n về hiê ̣u quả kinh tế

4.2 Khảo sát phân tích thư ̣c trạng vấn đề cần nghiên cứu

- Phân tích, đánh giá thực tra ̣ng về sản xuất cây ăn quả và những nhân tố ảnh hưởng đến hiê ̣u quả kinh tế của các hô ̣ trồng cây ăn quả trên đi ̣a bàn xã Mễ Sở , huyên Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Trang 11

4.3 Đề xuất các gia ̉i pháp nâng cao hiê ̣u quả của các cây ăn quả trồng trên

đất xã Mễ Sở

- Đề ra đi ̣nh hướng và những giải pháp tốt nhất trong sản xuất nhằm nâng cao hiê ̣u quả kinh tế cho các hô ̣ nông dân sản xuất bưởi diễn, cam canh trong thờ i gian tới

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ

SẢN XUẤT CÂY ĂN QUẢ

1.1 Cơ sở lý luâ ̣n về vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Vai trò của cây ăn quả trong phát triển kinh tế

CAQ phần lớn là cây lâu năm, có tán lá rộng, chịu hạn tốt và không kén đất Vì vậy chúng ta có thể được trồng trên nhiều loại đất không thể trồng cây lương thực hoặc trồng cây lương thực kém hiệu quả

Sản phẩm quả ngày càng cao cả về số lượng lẫn chất lượng Có thể nói rằng cây ăn quả có vai trò hết sức to lớn đối với con người Cụ thể là:

- Quả dùng cho bữa ăn hàng ngày

Các loại quả là nguồn dinh dưỡng quý giá của con người ở mọi lứa tuổi và ngành nghề khác nhau Trong quả có loại đường dể tiêu, các axit hữu

cơ, prôtêin, lipit, chất khoáng, pectin, tananh, các hợp chất thơm và các chất khác có nhiều loại vitamin khácc như A, B1, B2, B6,C, PP Đặc biệt là vitamin C rất cần thiết cho cơ thể con người, vitamin A cần thiết cho trẻ em Trong khẩu phần ăn của con người không những cần đầy đủ calo mà cần có vitamin, muối khoáng, các axit hữu cơ và các hoạt chất khác để các họt động sinh lý được tiến hành bình thường

Theo tài liệu điều tra gần đây (năm 2010) lượng tiêu thụ quả tươi ở Hà Nội bình quân là 50/kg/người

Trang 13

Bảng 1.1: Sản lượng tính theo đầu người/năm ở các nước trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương ( từ năm 2006-2013 )

Số

Sản lượng theo đầu người

(Kg/năm)

Số

Sảnlượng theo đầu người

(Kg/ năm)

1 Bangladesh 13,0 11 Papua Niu Ghilê 307,8

(Nguồn: Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc 2013)

- Sản xuất cây ăn quả cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến-xuất khẩu

Vai trò cung cấp nguyên liệu cho công nghệ chế biến và xuất khẩu đã tác động tới sự phát triển của công nghiệp, tạo nguồn ngoại tệ mạnh cho sự phát triển kinh tế nhất là những nước chưa phát triển, đặc biệt là Việt Nam Vào đầu những năm 60, ngành công nghiệp chế biến rau quả của Việt Nam đã được hình thành và phát triển Nó phát triển mạnh vào những năm 70 với nhiều chủng loại sản phẩm như: quả hộp, quả sấy, bán thành phẩm của quả (puple) Trước những năm 75, song song với việc phát triển các nhà máy ở phía Bắc, việc sản xuất phục vụ và các mặt hàng chế biến ngày cành phong phú, đa dạng:

* Mặt hàng sấy có: chuối sấy, vải sấy, long nhãn

Trang 14

* Mặt hàng nước giải khát:

- Nước quả tự nhiên (nguyên chất): là sản phẩm mà thành phẩm chủ yếu

là dịch quả, trong đó có một phần thịt quả hoặc không chứa dịch quả Nước quả tự nhiên có hàm lượng dinh dưỡng cao, cảm quan hấp dẫn do có màu sắc của sản phẩm rất gần với hương vị màu sấc của nguyên liệu

- Necta quả: Còn gọi là nước quả đục, nước quả nghiền với thịt quả Necta quả khác với nước quả tự nhiên ở chỗ chứa nhiều thịt quả và ở dạng sệ, chế biến bằng cách chà mịn các loại quả khó ép lấy dịch như: chuối, xoài, đu

đủ, mẵng cầu Do chứa thành phần quả; là chủ yếu nên Necta quả cũng có giá trị dinh dưỡng cao- tương tự như nước quả tự nhiên

- Nước quả cô đặc: là nước quả ép, lọc trong rồi được cô đặc tới hàm lượng chất khô 60-70% Có thể coi nước quả cô đặc là một dạng bán chế phẩm để chế biến nước giải khát, rượu vang quả, rượu mùi, kem Để nước quả cô đặc có mùi

vị và giá trị dinh dưỡng cao người ta ứng dụng những công nghệ cô đặc tiên tiến Phổ biến hơn cả là công nghệ cho nước quả bốc hơi ở độ chân không cao (trên 500mm thuỷ ngân) để nhiệt độ được hạ thấp 50-600C Cũng có thể áp dụng công nghệ làm lạnh đông: dịch quả được làm đông tới nhiệt độ -5 đến -100C Khi ấy phần nước trong dung dịch đóng băng trước và được tách khỏi dịch quả bằng cách li tâm Dịch quả được làm đặc từng bước và sản phẩm cuối cùng đạt độ khô 60-70%

-Xirô quả: Là nước quả được pha thêm nhiều đường (thường dùng đường kính trắng) để độ đường trong Xirô đạt 60-70% Cần phân biệt Xiro quả với nước quả cô đặc, 2 sản phẩm này cùng chứa dịch quả, có cùng hàm lượng đường cao nhưng nước quả cô đặc không bổ sung đường còn Xiro quả đường bổ sung đường với số lượng lớn

-Squash quả: Tương tự như Xiro quả nhưng chứa nhiều thịt quả hơn và ở dạng đặc sánh hơn

Trang 15

-Nước quả lên men: được chế biến bằng cách cho nước quả lên men rượu Sau thời gian lên men từ 24-36 giờ, độ rượu trong sản phẩm đạt tới 4 -5% V Sau đó sản phẩm được triệt trùng, đóng vào bao bì kín và tiêu thụ nhanh Nước quả lên men có hương vị đặc biệt do nấm men tạo ra, lại chứa nhiều CO2 nên có tác dụng tiêu hoá tốt

-Bột quả giải khát: Bao gồm dạng cao cấp là dạng bột quả hoà tan và dạng cấp thấp hơn là dạng bột quả không hoà tan Bột quả hoà tan được chế biến từ nước quả, qua quá trình sấy đặc vừa sấy khô thành dạng bột , có thêm một số phụ gia thực phẩm để tăng thêm màu sắc hương vị và độ hoà tan cho sản phẩm Bột quả giải khát không hoà tan thì được chế biến từ quả nghiền mịn ( cả thịt lẫn với phần xơ ) rồi sấy khô bằng máy sấp phun hoặc máy sấy kiểu trục cán để sản phẩm đạt độ khô rất cao, thuỷ phân chỉ còn 2-5% Sau đó, sản phẩm được gia màu, gia hương tương tự như bột quả giải khát hoà tan

-Nước quả giải khát : Thành phần chủ yếu là dịch quả, chiếm 10-50% ( tuỳ theo dạng nguyên liệu và dạng sản phẩm) cộng với đường axit thực phẩm, chất màu thực phẩm và hương liệu Sản phẩm có thể được nạp CO2 hoặc không nạp CO2

Hiện nay công ty rau quả Việt Nam đang lập dự án xây dựng mới các

cơ sở chế biến rau quả tại các trọng điểm trước mắt là các xí nghiệp NCN Đồng Giao Trong các dự án nói trên sản phẩm nước quả giải khát luôn được coi là một trong những sản phẩm chủ yếu của các cơ sở chế biến quả

Công nghiệp chế biến rượu vang: mới phát triển trong những năm gần đây và chủ yếu là ở các xã miền Bắc như Hà Nội, Mễ Trì, Thái Nguyên Sản lượng rượu vang năm 1993 khoảng 10 triệu lít, nguyên liệu quả cần dùng khoảng 25 nghìn tấn Các loại quả được sử dụng như nho, dứa, chuối, mận và những loại quả khác

Trang 16

Công nghệ chế biến rượu vang đang có triển vọng phát triển do nhu cầu tiêu dùng của thị trường dang ngày một tăng lên Hiện nay có khoảng 17 nhà máy chế biến quả xuất khẩu.Trong đó tông công ty quản lý 12 nhà máy

và 5 nhà máy địa phương quản lý ( Sơn La, Sơn Tây, Hữu Giang, Linh Xuân, Tiền Giang) với tông công xuất 50.000 tấn /năm về đồ hộp và 25.000 tấn/năm

về quả đông lạnh Hầu hết các thiết bị đều nhập từ các nước XHCN ( cũ) như Nga, Đức, Bungari, Balan, Hungari và đã sử dụng 20-30 năm nay nên thiết bị

và công nghệ đã lạc hậu Những năm cao điểm, các nhà máy trên đã sản suất được 19.000 tấn quả đóng hộp ( 1987) và 20.000 tấn dứa đông lạnh(1984)

Từ sau 1990, khi bị mất thị trường truyền thống, quả được xuất sang thị trường Châu Á và Tây Âu , song mới ở dạng thăm dò, giới thiệu Do vậy hiện nay các nhà máy mới chỉ sử dụng 40-50% công suất và hiệu quả kinh tế đưa lại còn thấp Ngoài hệ thông các nhà máy chế biến nêu trên,vài năm gần đây hệ thống lò sấy thủ công chế biến long nhãn xuất khẩu sang Trung Quốc cũng được phát triển ở vùng nhãn đồng bằng Sông Cửu Long và các xã có nhiều nhãn ở Đồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam Theo số liệu điều tra thì cả nước có khoảng 140 lò sấy, trong đó vungf Đồng bằng Sông Hồng chỉ có 25 lò, tiêu thụ khoảng 70% nhãn tươi trong vùng Khối lượng long nhãn thành phẩm khoảng 4000-5000 tấn

Chỉ từ năm 1981-1990 ngành quả xuất khẩu được khối lượng đáng kể và thu được kim ngạch khá lớn Năm 1981 xuất được 42106 tấn sản phẩm thu được 11.992.000 USD (chiếm 9,7% tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản) Về xuất khẩu rau quả tươi chiếm 40-60% (từ năm 1989-1990 chỉ còn chiếm 18-30%) kim ngạch chỉ đạo 32 -3 6% tổng kim ngạch xuất khẩu

- Cây ăn quả còn có tác dụng lớn trong việc bảo vệ môi trường sinh thái

với các chức năng làm sạch môi trường, giảm tiếng ồn, làm rừng phòng hộ, làm đẹp cảnh quan

Trang 17

Nhiều cây giống ăn quả cho nguồn mật có chất lượng cao được nhiều người tiêu dùng ưa thích ở vùng nhiệt đới cây ăn quả còn có tác dụng bảo vệ dất chống xói mòn, làm hàng rào cản bão ở các khu dân cư, đô thị người ta trồng cây ăn quả với mục đích cây cảnh, cây bóng mát Nhiều cây ăn quả có tán lá đẹp, màu sắc hấp dẫn dùng trồng trong công viên hoặc các công trình kiến trúc, các bảo tàng, bệnh viện hay các khu điều dưỡng Các vùng vải, nhãn ở Hưng Yên, Lục Ngạn vừa là nguồn sản phẩm dinh dưỡng quý vừa có

độ che phủ chống xói mòn, bảo vệ đất với hiệu quả cao hơn nhiều so với các cây trồng trước đó

- Sản xuất cây ăn quả góp phần tăng thu nhập

Một số cây ăn quả mặc dù có giá trị kinh tế cao như nhãn, vải, xoài, nhưng lại có thể tận dụng trồng ở đất qoanh vườn nhà, đất đồi và những đất chưa được khai thác góp phần tăng thu nhập cho nông dân

1.1.2 Khái niệm về hiệu quả kinh tế

Trong doanh nghiệp hoặc nền sản xuất xã hội nói chung, người ta hay nhắc đến “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không hiệu quả” hay “sản xuất kém hiệu quả” Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Xuất phát từ các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế học đã đưa ra rất nhiều quan điểm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp , có thể khái quát như sau:

(1) Hiệu quả: Theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động “ hay tăng hiệu quả

"Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội"

- Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng

“hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật

Trang 18

kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ”

- Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thị trường, đứng đầu là Paul A Samuelson và Wiliam D Nordhalls cho rằng, một nền kinh tế có hiệu quả, một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó và “ hiệu quả có ý nghĩa là không lãng phí ” Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hoá khác Mọi nền kinh tế có hiệu quả nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó ”

- Khi bàn về khái niệm hiệu quả, các tác giả Đỗ Kim Chung, Phạm Vân Đình, Trần Văn Đức, Quyền Đình Hà thống nhất là cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật; Hiệu quả phân bổ các nguồn lực

và Hiệu quả kinh tế

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: hiệu quả của một hoạt động sản xuất, kinh doanh nào đó không chỉ xét đơn thuần ở việc so sánh giữa kết quả thu được và chi phí vật chất bỏ ra mà phải được xem xét theo nghĩa

rộng, bao hàm cả mục tiêu kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường

(2) Hiệu quả kinh tế (HQKT): Thể hiện mối liên quan giữa kết quả thu được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt đươ ̣c kết quả đó

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu vào như: vốn, lao động, kĩ thuật, nguồn lực tự nhiên và những phương pháp quản lí hữu hiệu, nó được thể hiện bằng hệ thống chỉ tiêu phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất phù hợp với các yêu cầu của

Trang 19

sẽ thu được trong hoạt động đó

HQKT là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh

tế, là cơ sở để đạt mục đích cuối cùng là lợi nhuận cực đại Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do nhu cầu vật chất của cuộc sống con người ngày càng tăng Hay nói cách khác là do yêu cầu của công tác quản

lí kinh tế cần thiết phải đánh giá nhằm nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế đã làm xuất hiện phạm trù HQKT

(3) Hiệu quả xã hội: Là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội (kết quả xét về mặt xã hội) và tổng chi phí bỏ ra, hiệu quả xã hội được thể hiện như là: Thay đổi điều kiện đặc biệt, cải thiện điều kiện sống tăng thêm việc làm, cải tạo môi sinh môi trường Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là phạm trù thứ nhất Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế trung nhất, nó liên quan trực tiếp với nền sản xuất hàng hoá, với tất cả phạm trù và các quy luật kinh tế khác

(4) Hiệu quả kinh tế - xã hội: Bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, không chỉ xét về kết quả kinh tế mà còn về cả kết quả xã hội đạt được, phản ánh mối tương quan giữa các kết quả đạt được tổng hợp các lĩnh vực kinh tế và xã hội với các chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

(5) Hiệu quả phát triển: Thể hiện sự phát triển của các đơn vị sản xuất của quốc gia Đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố như tình hình đời sống vật chất, trình độ dân trí phát triển cơ sở hạ tầng…

* Hệ thống chỉ tiêu tính hiệu quả kinh tế

 Yêu cầu sử dụng hệ thống chỉ tiêu

Đánh giá hiệu quả kinh tế là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có một hệ thống chỉ tiêu để phản ánh đúng đắn chất lượng sản xuất kinh doanh Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Đảm bảo tính toán toàn diện: tức là phải có cả chỉ tiêu tổng quát và chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu chủ yếu và chỉ tiêu bổ sung

Trang 20

- Chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm về trình độ phát triển của nền kinh

tế, xã hội

- Chỉ tiêu phải phù hợp với các chỉ tiêu đánh giá quốc tế khi so sánh trong quan hệ đối ngoại

- Hệ thống chỉ tiêu hiệu quả kinh tế bắt nguồn từ bản chất hiệu quả Đó

là mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra hay giữa chi phí và kết quả thu được từ chi phí đó, có thể hiện qua các công thức sau:

Hiệu quả = Kết quả thu được/Chi phí bỏ ra

H = Q/C Trong đó:

Hiệu quả = kết quả thu được – chi phí bỏ ra

Trang 21

Hiệu quả = Giá trị tăng thêm – chi phí tăng thêm

H = ∆Q - ∆C

∆Q: Giá trị tăng thêm

∆C: Chi phí tăng thêm

Công thức này chỉ rõ mức độ hiệu quả của việc đầu tư thêm chi phí Nó thương sử dụng để xác định hiệu quả kinh tế đầu tư thêm theo chiều sâu hoặc hiệu quả áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật

 Một số khái niệm được sử dụng

- Giá trị sản xuất GO (Gross Output) là toàn bộ của cải vật chất và dịch

vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)

- Chi phí trung gian (IC): là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất và dịch vụ khác trong thời kỳ sản xuất

Trong đó: IC: Chi phí trung gian

Cj: Số chi phí đầu tư thứ j

Pj: Đơn giá đầu tư thứ j

- Chi phí cố định FC: là những khoản chi phí không thay đổi về tổng số cho dù thay đổi về mức độ hoạt động trong một phạm vi nào đó

- Chi phí thay đổi VC: là tất cả các khoản chi phí thay đổi phụ thuộc vào

sự thay đổi của sản lượng Đó là chi phí về cây giống, hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu, lao động…

- Giá trị gia tăng (VA): là phần giá trị tăng thêm của người lao động trong sản xuất của một chu kỳ sản xuất Nó chính là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian

Trang 22

VA = GO – IC Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập thuần túy của người sản xuất bao gồm thu nhập công lao động và lợi nhuận trong một kỳ sản xuất

MI = VA – (Thuế + KHTSCĐ) Tổng chi phí sản xuất TC (Total Cots) là toàn bộ chi phí cố định và chi phí biến đổi

TC = FC + VC

 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Dùng chỉ số kinh tế Giá trị hiện tại của thu nhập thuần NPV nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của trồng chè

 Các chỉ tiêu bổ sung

Giá trị thu được trên một đơn vị thành diện tích (Giá trị sản xuất/ ha)

- Lãi ròng trên một đơn vị diện tích

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây ăn quả

- Nhân tố tự nhiên

* Đất đai: là yếu tố sản xuất không thể thiếu được của mọi nhành sản

xuất, đặc biệt là ngành trồng trọt, trong đó có ngành rau quả Số lượng, chất

Giá trị sản xuất trên 1 đơn vị chi phí trung gian = GO / IC Giá trị sản xuất trên 1 công lao động = GO / L

(L: Số ngày công lao động đã sử dụng) Giá trị gia tăng trên 1 đơn vị chi phí trung gian = VA / IC Giá trị gia tăng trên 1 công lao động = VA / L Thu nhập hỗn hợp trên 1 đơn vị chi phí trung gian = MI / IC Thu nhập hỗn hợp trên 1 công lao động = MI / L

Trang 23

lượng, vị trí của đất đai có ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành sản xuất câu ăn quả

*Khí hậu: khí hậu là môi trường sống của các loại cây trồng Vì vậy, nếu

khí hậu thời tiết thuận lợi cây trồng phát triển tốt và ngược lại, nếu thời tiết không thuận lợi thì cây trồng không phát triển được hoặc kém phát triển Việt Nam nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với sự biến đổi khí hậu giữa các miền Bắc- Nam Điều đó cho phép nước ta trồng được nhiều loại hoa quả nhiệt đới, á nhiệt đới và một số rau quả gốc ôn đới, mùa vụ thu hoạch kế tiếp nhau nhiều tháng trong năm Việt Nam còn là một trong những vùng phát sinh của một số cây ăn quả như cam, quýt, vải, chuối Bên cạnh những lợi thế sinh thái, rau quả nước ta cũng bị ảnh hưởngcủa một số hạn chế và bất lợi của khí hậu đối với nông nghiệp như : bão lụt, thời tiết kém ổn định do gió mùa đông bắc, dẫn tới rủi ro về chất lượng

*Địa hình: Rải đều khắp từ Bắc tới Nam là địa hình từ núi cao đến đồng

bằng, sông suối và ven biển đã tạo nên những lợi thế về địa lý -sinh thái so với nhiều nước khác Các hệ thống giao thông đường bộ, đường biển và hàng không thuận tiện cho việc giao lưu hàng hóa quốc tế và khu vực

- Nhân tố kinh tế xã hội

*Lao động: là yếu tố sản xuất, là nhân tố quyết định đến sự phát triển của

các ngành trong đó có ngành rau quả

Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện tại 80% dân số cả nước sống ở nông thôn và trên 70% lực lượng lao động toàn xã hội làm việc trong khu vực này Do vậy, có thể nói lực lượng lao động của nước ta rất dồi dào và có thể cung cấp đủ lao động cho sản xuất cây ăn quả

Người nông dân nước ta cần cù sáng tạo, qua nhiều thế hệ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trồng trọt, giống nhãn, vải, cam, quýt, bưởi, hồng xoài, chôm chôm, thanh long Nông dân ở nhiều vùng rau quả thuyền thống

Trang 24

đã thu được năng suất và lợi nhuận cao Tuy nhiên, chỉ với kinh nghiệm thì nhiều vấn đề chưa giải quyết được, nhất là các khâu như: giống, phòng trừ sâu bệnh, xử lý sau thu hoạch.Nhìn chung, trình độ dân trí của nước ta còn thấp so với nhiều nước trên thế giới

*Cơ sở vật chất kỹ thuật: là nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng đến việc

sản xuất cây ăn quả Hiện nay Việt Nam nhập khẩu nhiều dây chuyền sản xuất của một số nước trên thế giới do vậy nước ta đã có nhiều dây chuyền sản xuất hiện đại đưa vào sản xuất với công suất lớn, chất lượng cao Nhưng nhìn chung chúng ta vẫn còn nhiều công nghệ lạc hậu so với thé giới Vì vậy, sản lượng và chất lượng các loại sản phẩm chưa cao, khả năng cạnh tranh các loại sản phẩm nông nghiệp nước ta ( kể cả rau quả ) còn rất hạn chế

*Phong tục tập quán:sản xuất cây ăn quả nước ta vẫn còn mang tính tự

phát , sản xuất nhỏ, phân tán theo tập quán Ruộng đất phân chia nhỏ theo từng hộ nông dân, vốn liếng ít ỏi nhất là ở phía bắc, càng ngại rủi ro, chưa dám mạnh dạn đầu tư và thích ứng kịp thời với sản xuất hàng hòa theo cơ chế thị trường Do vậy, có những trường hợp nông dân bị tác động bởi giá cao hơn, không đảm bảo chữ tín hợp đồng Đây là một nhược điểm và trở ngại trong tổ chức sản xuất quả chế biến

*Cơ chế chính sách: là nhân tố ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất

cây ăn quả Nếu chính sách đúng nó sẽ tạo điều kiện và kích thích ngành rau quả phát triển sản xuất và tăng khối lượng xuất khẩu Nhưng ngược lại, nếu

cơ chế chính schs mà không đúng thì sẽ cản trở phát triển sản xuất câu ăn quả

Do hoàn cảnh nước ta một thời gian dài phải tạp trung cho sản xuất lương thực, nên khả năng đầu tư cho các ngành sản xuất nông sản có giới hạn Trong đó , ngành rau quả chưa được đầu tư đúng mức do vậy chưa phát huy được tiềm năng vốn có Những năm gần đây, nhà nước đã có chình sách đầu

tư cho ngành rau quả thích đáng hơn, công tác nghiên cứu khoa học được nhà

Trang 25

nước quan tâm nhiều hơn Cho nên, ngành rau quả đã có sj phát triển nhất định Song các chính sách khuyến khích sản xuất cây ăn quả còn nhiều hạn chế chưa khuyến khích được ngành rau quả phat triển mạnh

1.1.4 Ý nghĩa của vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế CAQ

Quả là loại thực phẩm thường dùng để ăn tươi, chứa nhiều nước, tuy cung cấp ít năng lượng nhưng lại có nhiều chất vi lượng, đặc biệt nhều vitamin, nhất là vitamin A và C – những chất không thể thiếu được đối với cơ thể con người Theo các nhà dinh dưỡng học, mỗi người mỗi ngày cần tối thiểu khoảng 100 gam quả tươi để đảm bảo cung cấp lượng vitamin cần thiết cho cơ thể hoạt động

Đặc biệt, hiện nay ở nước ta, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng khá cao ( khoảng 40 % ), tập trung nhiều ở các vùng nông thôn Nguyên nhân của hiện tượng này một phần là do chế độ dinh dưỡng của nước

ta chưa hợp lý, nặng về chất bột, nhẹ về rau và hoa quả - những thực phẩm mà nước ta có nhiều điều kiện thuận lợi để sản xuất Vì vậy, phát triển sản xuất CAQ sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện cơ cấu bữa ăn trong mỗi gia đình, cải thiện tình trạng sức khoẻ cho người dân, đặc biệt là cho trẻ em và người già

Bên cạnh đó, xã hội càng phát triển, thu nhập của người dân không ngừng được nâng cao thì nhu cầu về thực phẩm quả giàu vitamin sẽ ngày càng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Để đáp ứng nhu cầu

đó của con người, cần thiết phải phát triển sản xuất – kinh doanh CAQ

- Cây ăn quả có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là đối với các vùng trung du và miền núi

CAQ phần lớn là cây lâu năm, có tán lá rộng, chịu hạn tốt và không kén đất Vì vậy chúng ta có thể được trồng trên đất không thể trồng cây lương thực hoặc trồng cây lương thực kém hiệu quả Với tính chất này, CAQ là loại

Trang 26

cây đa dụng vừa cung cấp thực phẩm cho con người, vừa có tác dụng điều hoà khí hậu, bảo vệ đất, chống xói mòn giống như cây lâm nghiệp

- Cây ăn quả là loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao

Xuất phát từ giá trị dinh dưỡng cao của các sản phẩm quả: từ đặc điểm kinh

tế – kỹ thuật của CAQ là yêu cầu đầu tư lớn và cho khai thác nhiều lần trong thời gian tương đối dài v.v; nhất là trong điều kiện sản xuất quả ở nước ta chưa đáp ứng đủ nhu cầu của thị trường cả về số lượng, chất lượng và về giá cả, mà trồng CAQ đã mang lại thu nhập cao hơn so với trồng nhiều loại cây khác Chính vì vậy cây ăn quả đựơc coi là cây xoá đói giảm nghèo của nhiều hộ nông dân

- Cây ăn quả cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu

Sản xuất cây ăn quả phát triển trong những năm qua đã góp phần làm tăng lượng hàng xuất khẩu nông sản của nước ta sang thị trường thế giới Nếu như năm 2000 giá trị xuất khẩu 213,5 triệu USD, đến năm 2006 con số đó đã tăng lên gấp đôi

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Va ̀i nét về li ̣ch sử nguồn gốc, phân bố và tình hình sản xuất, tiêu thụ CAQ ơ ̉ Viê ̣t Nam

Cây ăn quả ở nước ta tuy đã được trồng từ lâu đời, song trước kia sản xuất chủ yếu dựa theo tập quán Theo các tài liệu thì sang thế kỷ 20 các hoạt động điều tra nghiên cứu mới bắt đầu được quan tâm

Thời Pháp thuộc, từ năm 1930 một số cơ quan nông nghiệp bắt đầu điều tra giống cây ăn quả, thành lập một số trại nghiên cứu ở Gia Rai-Biên Hoà, Vân Du-Thanh Hoá; tổ chức hội thi quả ngon; lập vườn ươm giống cấp xã Sau năm 1954, Bác Hồ phát động tết trồng cây (1959), không chỉ làm bóng mát, lấy gỗ, lấy quả mà còn làm sạch môi trường Từ năm 1960 nhiều nông trường trồng cây ăn quả được thành lập, Vụ Trồng trọt - Bộ Nông nghiệp đã xây dựng các quy trình kỹ thuật trồng cam, quýt, chuối, dứa Năm

Trang 27

1968, Viện cây công nghiệp - cây ăn quả được thành lập Công tác nghiên cứu

về cam được chú trọng từ năm 1962, đến năm 1964 có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô và từ năm 1976 có các chuyên gia Cuba, cùng với các tập đoàn giống cam quýt của Cuba viện trợ cho Việt Nam Thời kỳ này một số kêt quả nghiên cứu đã được tổng kêt như: Báo cáo tổng kết thí nghiệm về cam

và cà phê tại hội nghị toàn quốc ở Tây Hiếu- Nghệ An (1977), Bộ nông nghiệp đã xây dựng quy hoạch các vùng cây ăn quả (cam dứa quýt, chuối) trình Thủ tướng Chính phủ Năm 1970 quy hoạch vùng sản xuất dứa Miền Bắc Việt Nam đã được xây dựng

Sau năm 1975, Bộ Nông nghiệp đã phát động phong trào “ vườn quả Bác Hồ ” trong cả nước (1979) Năm 1986 “ Đề án phát triển cây ăn quả có múi ở Viêt Nam thời kỳ 1986-2000 ” đã được xây dựng, xác định khả năng phát triển sản xuất cây ăn quả có múi cả nước là 70 ngàn ha Năm 1986, Hội làm vườn Việt nam được thành lập, mô hình VAC đã được phổ biến ngày càng rộng, trong đó cây ăn quả là một chủ lực Thực hiện hiệp định hợp tác rau quả Việt Xô 1986-1990, chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước đã được tiến hành, sau đó các đề tài về dứa, cam, chuối, rau đã được tổng kết Năm

1990, Viện nghiên cứu rau quả đã được thành lập, bao gồm 3 trung tâm Phú

Hộ, Xuân Mai và Phủ Quỳ Tiếp đó năm 1994, trung tâm cây ăn quả Long Định được thành lập (nay là Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam) Lực lượng nghiên cứu cây ăn quả đã được tăng cường trong cả nước

Ở nước ta cây ăn quả được phát triển dưới 2 hình thức :

+ Trồng phân tán trong các vườn của các nông hộ với mục đích tự túc,

bổ sung dinh dưỡng bữa ăn Tuy vậy chỉ mới có khoảng 15-20%số hộ có trồng cây ăn quả trong vườn Theo kết quả điều tra nông hộ ở các vùng nông nghiệp khác nhau, ước tính bình quân mỗi nông hộ ttrồng khoảng 40 m2 cây

ăn quả trong vườn với nhiều loại cây truyền thống như mít, nhãn, ổi, chuối

Trang 28

+ Tập trung trành vùng có mục đích sản xuất hàng hoá, chủ yếu là do các nông hộ trồng, trong đó có 28 nông trường có trrồng cây ăn quả với nhiều quy

mô, diện tích khác nhau

Quá trình hình thành vùng quả từ 3 khu vực đặc trưng là :

+ Do chủ trương của nhà nước về quy hoạch phát triển vùng cây ăn quả, bắt đầu từ các nông trường quốc doanh, sau đó phổ biến rộng ra các nông hộ trong vùng, gắn với công nghệ chế biến xuất khẩu, chẳng hạn như khu vực trồng dứa vùng đất phèn Tứ Giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, khu vực Đồng Giao ( Tam Điệp -Ninh Bình), Hà Trung( Thanh Hoá)

+ Do điều kiện lợi thế về sinh thái của các loại cây ăn quả có vị trí thuận lợi về giao thông vận tải và có rhị trường tiêu thụ nên đã hình thành vùng cây

ăn quả như vùng quả của đồng bằng sông cưủ long, Đông Nam Bộ, ngoại thành Hà Nội

+Từ những vườn cây ăn quả đặc sản của những địa phương được thị trường tiêu thụ mạnh phát triển nên thanhg các vùng quả tập trung như các vùng bưởi Năm Roi (Vĩnh Long) Tân Triều ( Đồng Nai), Phúc Trạch ( Hà Tĩnh), mơ mận (Tây Bắc, Đông Bắc)

Qui mô vườn quả của các nông hộ sản xuất ở các vùng tập trung tuỳ thuộc vào đặc điểm đất đai từng vùng Vùng Đồng bằng Sông Hồng dưới 200

m2; miền Nam, miền Núi Trung Du Phía Bắc Phổ biến từ 1000-2000m2 Đã

có những điện hình tổ chức sản xuất theo kiểu trang trại cây ăn quả cả vùng đồng bằng và vùng đất đồi núi Những vùng cây ăn quả thâm canh và có hiệu quả kinh tế cao thường gắn viẹc trồng cây ăn quả trong kinh tế sinh thái VAC vừa nuôi trồng thuỷ sản, phát triển chăn nuôi công nghiệp

Với điều kiện thuận lợi về khí hậu nhiệt đới, Việt Nam có rất nhiều loại trái cây đa dạng, có chất lượng tốt phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Các vùng có thế mạnh trồng trái cây xuất khẩu chủ yếu tập trung tại khu vực phía

Trang 29

Nam Các loại trái cây xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam hiện nay là dứa đóng hộp, bưởi, xoài, thanh long…

Tính kể từ năm 90 đến nay, diện tích trồng cây ăn quả của cả nước tăng đáng

kể Nếu so với thời gian cách đây chưa gần 20 năm, diện tích dành cho sản phẩm này chỉ bằng 1/3 Hiện cả nước có khoảng 775.500 ha cây ăn quả, trong đó diện tích đang thu hoạch khoảng 362.685ha với sản lượng gần 3,9 triệu tấn/năm Dự kiến đến năm 2020, diện tích cây ăn quả cả nước sẽ tăng lên 1,1 triệu ha, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,2 tỷ USD Có thể nói, trái cây ở nước ta không chỉ đa

dạng về chủng loại mà mùa nào cũng có sản phẩm

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng rau quả cả nước trong tháng 8/2008 đạt 40,396 triệu USD, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả trong

8 tháng đầu năm 2008 lên 252,203 triệu USD, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 47,2% so với tháng 7/2008 Phần lớn mặt hàng rau quả nước ta được xuất khẩu chủ yếu vào các nước như: Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Liên bang Nga, Hàn Quốc, Mỹ, Inđônêxia…

Trong thời gian gần đây, giá các loại trái cây của Việt Nam đang ngày càng tăng cao do các nhà trồng vườn trong nước đã chú trọng nhiều hơn đến chất lượng sản phẩm Ví dụ như bưởi da xanh tại thị trường Tiền Giang có giá 15.000 đ/kg,

Trang 30

cao gấp 3 lần so với giá bưởi trước đây Hiện nay, thị trường EU đang có nhu cầu rất lớn đối với loại quả này Sau bưởi da xanh, xoài và thanh long Tiền Giang và Long An cũng đang rất được quan tâm tại thị trường Nga Chôm chôm, nhãn và ớt tươi cũng được xuất khẩu nhiều

Trung Quốc là thị trường lớn nhất của rau quả Việt Nam trong tháng 8, nhưng tính cả 8 tháng đầu năm nay, Nga đã vượt qua Trung Quốc để vươn lên đứng ở vị trí dẫn đầu Đây là hai thị trường có sức tăng trưởng khá mạnh về nhu cầu trong năm nay Trong 8 tháng đầu năm nay, xuất khẩu rau quả của Việt Nam sang Trung Quốc đã đạt 28,115 triệu USD, tăng 78% so với cùng kỳ năm 2007, trong khi sang Nga đạt 28,145 triệu USD, tăng 83% so với cùng kỳ Trước đây, rau quả Việt Nam khi xuất khẩu sang Trung Quốc mới chỉ được tiêu thụ ở mấy tỉnh biên giới phía Nam của nước này Nhưng nửa đầu năm nay, rau quả nước ta

đã bắt đầu thâm nhập sâu hơn vào thị trường Trung Quốc Theo khảo sát của thương vụ Việt Nam tại Bắc Kinh, ở chợ đầu mối bán buôn trái cây của thành phố, thanh long và nhiều loại rau quả khác ở nước ta cũng đang rất được ưa chuộng, đến mức nguồn cung hiện tại chưa đáp ứng đủ nhu cầu Ngoài ra, thị trường Nga những năm gần đây tiêu thụ rau, quả đông lạnh ngày càng tăng, đây là

cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam đưa nhóm hàng trên thâm nhập và chiếm thị phần tại thị trường Nga nói chung và Viễn Đông nói riêng trong thời gian tới

Trang 31

Việc phân bố sản xuất cây ăn quả Cây ăn quả các loại được trồng rải rác trên tất cả các vùng, các địa phương, và trồng tập trung quy mô cây ăn quả ở những vùng và những địa phương có điều kiện như: vùng cây ăn quả tập trung Nam Bộ và Miền núi phía Bắc trong đó 70% diện tích nằm ở các địa phương

Những nước có diện tích trồng cây ăn quả lớn như là Mĩ, Trung Quốc,

Ấn Độ, ví dụ : năm 1995 Trung Quốc có 6,4 triệu ha cây ăn quả với sản lượng khoảng 35 triệu tấn ấn độ có 2,94 triệu ha với sản lượng 25,5 triệu tấn Theo thống kê của tổ chức FAO năm 1998 sản lượng quả toàn thế giới là 333,6 triệu tấn, trong đó số quả mọng là 3329,5 triệu tấn chiếm 98,8% tổng sản lượng toàn thế giới, còn lại 4,1 triệu tấn là quả vỏ cứng chiếm 1,2% tổng sản lượng Nếu xếp theo số thứ tự sản lượng châu á đứng đầu tiếp theo là Mĩ ,Châu Âu, Châu Phi, cuối cùng là châu Đại Dương

Năm 1998 Braxin sản xuất ra 27,5 triệu tấn chiếm 8,33% tổng sản lượng

Trang 32

quả thế giới Sau đó là các nước Mĩ 25 triệu tấn và chiếm 7,8%, Ấn Độ 24,6 triệu tấn ( chiếm 7,48%) Italia 18,8 triệu tấn ( chiếm 5,72%),Trung Quốc 18,4 triệu tấn (chiếm 5,59%) sản lượng quả của 5 nước này tương đương 35% tổng sản lượng quả trên thế giới Ngoài 5 nước có sản lượng quả lớn kể trên còn có các nước khác như Liên Xô (cũ) 14,5 triệu tấn, Pháp 11,1 triệu tấn ,Tây Ban Nha 11,02 triệu tấn, Thổ Nhĩ Kì 8,8 triệu tấn

Để phát triển diện tích và tăng sản lượng cây ăn quả,trên thế giới đã chú trọng những vấn đề như: chọn giống mới, nghiên cứu ký thuật trồng và quản

lý, chăm sóc cây ăn quả ; tưới nước giữ độ ẩm, chống xói mòn đất cho cây ăn quả ; nghiên cứu kỹ thuật thu hái xử lý sau thu hoạch

1.2.3 Những kinh nghiệm rút ra đối với nâng cao hiệu quả kinh tế CAQ tại Việt Nam

Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đa dạng phù hợp với yêu cầu sinh trưởng của nhiều loại cây ăn quả nhiệt đới và Á nhiệt đới, Việt Nam là một trong các quốc gia có những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc sản xuất cây ăn quả Trong khi đó nhu cầu tiêu dùng trái cây trên thế giới ngày càng gia tăng Trong các năm 1980-1995 thị trường trái cây thế giới tăng 20,5% Mặc dù hiện nay thị trường thế giới chỉ nhập khẩu hơn 5% tổng sản lượng trái cây nhiệt đới, song nhu cầu đối với trái cây nhiệt đới ngày càng tăng lên Trong các năm 1980-1995 trái cây nhiệt đới xuất khẩu tươi tăng mạnh: dứa tăng gấp đôi, xoài tăng gấp 6, bơ tăng gấp 3, đu đủ tăng 4 lần Hầu hết các loại trái cây nhiệt đới được ưa chuộng trên thị trường thế giới như xoài, chuối, dứa, thanh long, chôm, măng cụt, bơ nhãn đều rất phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của nhiều vùng lãnh thổ Việt Nam

Cùng với sự gia tăng nhu cầu trái cây của trị trường thế giới, nhu cầu tiêu dùng trái cây trong nước cũng ngày càng tăng do thu nhập và mức sống của dân cư ngày càng được nâng cao Hiện nay mức tiêu dùng trái cây bình

Trang 33

quân đầu người ở nông thôn nước ta là 20-30kg/ người/ năm, ở thành thị là 35-45kg/ người/ năm Mức này còn thấp xa so với mức trung bình của thế giới (năm 2000, mức trung bình của thế giới khoảng 75-80kg/ người/ năm) Với tốc độ tăng thu nhập của dân cư như những năm đổi mới vừa qua thì tới năm 2011 mức tiêu dùng trái cây bình quân đầu người ở Việt Nam có thể gần đạt tới mức trung bình của thế giới hiện nay Đến năm 2011, nếu theo dự báo dân số nước ta là 90 triệu người và mức tiêu thụ trái cây bình quân đầu người đạt mức 65 - 70kg/ người/ năm thì nhu cầu tiêu thụ trái cây trong nước ta sẽ là 6,0 - 6,3 triệu tấn/ năm Ngoài ra, nhu cầu của thị trường trái cây trong nước tăng lên còn do lượng khách nước ngoài du lịch vào Việt Nam trong những năm tới sẽ ngày càng gia tăng Như vậy, có thể thấy rằng Việt Nam có những tiềm năng to lớn về điều kiện tự nhiên và điều kiện về thị trường tiêu thụ trái cây (cả thị trường trong nước và ngoài nước) để phát triển sản xuất các loại cây ăn quả trong những năm tới

Cả nước ta hiện có 140 loài cây ăn quả thuộc gần 40 họ thực vật Những năm qua diện tích và sản lương cây ăn quả ở nước ta tăng lên nhanh chóng Năm 1999 cả nước có hơn 425.000 ha cây ăn quả, đến năm 2002 đã có khoảng 500.000 ha, trong đó Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long chiếm 54% diện tích cây ăn quả của cả nước và có tới 30 loại trái cây có sản lượng sản xuất hàng năm khá lớn như xoài, dứa, măng cụt, dưa hấu, sầu riêng, chôm chôm, cam quýt Về sản lượng trái cây, theo số liệu của Cục khuyến nông-khuyến lâm, năm 1994 cả nước sản xuất 2,6 triệu tấn trái cây, năm 1996

là 3,2 triệu tấn, Năm 2013 đạt sản lượng gần 3,9 triệu tấn

Trái với tốc độ tăng nhanh diện tích và sản lượng, việc tiêu thụ sản phẩm trái cây lại luôn gặp nhiều khó khăn và ách tắc.Trái cây Việt Nam xuất khẩu rất khó khăn, năm 1998 cả nước chỉ xuất khẩu được dưới 10.000 tấn, mới bằng 0,25% sản lượng trái cây sản xuất trong nước Các năm 1999-2000 xuất

Trang 34

khẩu trái cây có tăng song sản lượng xuất khẩu còn rất nhỏ bé Trái cây Việt Nam không chỉ ách tắc trong xuất khẩu mà tiêu thụ cũng rất khó khăn ở thị trường nội địa và rất khó cạnh tranh với trái cây cùng loại nhập khẩu Theo tổng cục Hải quan, chỉ tính nguồn nhập khẩu chính ngạch, hiện mỗi năm nước

ta nhập khẩu từ 20.000 đến 30.000 tấn trái cây,trong đó có khoảng 8000 tấn táo, 3000 tấn nho, 340 tấn nho khô Ngoài ra nguồn trái cây nhập khẩu từ Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch (bao gồm táo, lê, cam, quýt, nho) vào nước ta có khối lượng khá lớn Riêng lượng ngoại tệ để nhập khẩu trái cây chính ngạch hàng năm ước tính đã tới 13-15 triệu USD/ năm Những khó khăn và ách tắc trong tiêu thụ sản phẩm đã hạn chế việc phát huy các tiềm năng phát triển sản xuất cây ăn quả và hạn chế rất lớn hiệu quả sản xuất cũng như lợi ích của người sản xuất cây ăn quả nước ta

Trang 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên của xã Mễ Sở

Xã Mễ Sở nằm ở phía nam của huyện Văn Giang, thuộc tả ngạn sông Hồng

 Phía Bắc giáp các xã Thắng Lợi và Liên Nghĩa, huyện Văn Giang

 Phía Đông giáp xã Đông Tảo, huyện Khoái Châu

 Phía Nam giáp xã Bình Minh, huyện Khoái Châu Hồng Vân, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội (ranh giới tự nhiên là sông Hồng)

 PhíaTây giáp xã Thắng Lợi, huyện Văn Giang

Xã Mễ Sở diện tích hành chính là 6,64 km2, Dân số cuối năm 2013 là 10.300 nhân khẩu, mật độ dân số 2.415người/ km²

Xã Mễ sở gồm có 6 thôn là Phú Trạch, Nhạn Tháp, Mễ Sở, Phú Thị, Hoàng Trạch và Đồng Quê Chợ Mễ là trung tâm kinh doanh sầm uất cuả xã

và vùng phụ cận

Địa hình của xã là vùng đồng bằng khá bằng phẳng, đất đai được bồi đắp bởi phù sa của sông Hồng rất màu mỡ có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là trồng các loại cây hàng năm và cây ăn quả lưu niên Ngoài việc sản xuất lương thức (lúa, ngô)sản xuất trồng trọt của xã còn trồng các cây trồng ngắn ngàynhư đậu đỗ , rau màu, dược liệu ; Trồng cây

ăn quả (cam, quýt, vải nhãn, táo ), các loại cây cảnh.v.v

- Tình hình khí hậu thời tiết

Xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, xã thuộc đồng bằng Bắc Bộ Khí hậu của

xã mang nét đặc trưng của vùng với đặc điểm khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia làm 4 mùa Xuân, Hè, Thu và Đông khá rõ rệt

Trang 36

Nhiệt độ trung bình cả năm là 23 – 240C Hai tháng nóng nhất trong năm

là tháng 6 và tháng 7 với nhiệt độ trung bình trên 300C , nhiệt độ mùa đông trung bình là 170 C, độ ẩm trung bình hàng năm 80 – 85%

Lượng mưa trung bình hàng năm 1.600 – 1.800mm, số ngày có mưa trung bình là >100 ngày/năm Mưa nhiều nhất vào tháng 8 (16 -18 ngày mưa), lượng mưa trung bình trong tháng 8 đạt khoảng 300 – 500mm

Với đặc điểm khí hậu thời tiết như vậy rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, bao gồm cây lương thực, cây thực phẩm và cây ăn quả, đặc biệt là sản xuất các cây ăn quả

- Thuỷ văn, nguồn nước

Xã Mễ Sở có dòng sông Hồng chảy qua với chiều dài hơn 2 km qua xã Cùng với đó là hệ thống ao, hồ, kênh mương dày đặc có khả năng cung cấp nước cho các loại cây trồng trong mùa khô và hạn chế được úng lụt trong mùa mưa

2.1.2 Đă ̣c điểm kinh tế - xã hội của xã Mễ Sở

- Tình hình phân bổ đấtvà tổ chúc sản xuất nông nghiệp

Xã Mễ Sở hiện có trên 350 ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp, trong

đó có tới trên 90% diện tích trồng các loại cây ăn quả, hoa cây cảnh và các loại rau màu có giá trị kinh tế cao như: cam đường canh, cam Vinh, quất quả, hoa, cây cảnh, dưa chuột, đỗ leo Hệ thống thủy lợi tưới tiêu của xã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh, công tác nạo vét kênh mương đã được HTX dịch

vụ nông nghiệp Mễ Sở đặc biệt quan tâm Để nâng cao hiệu quả phòng chống úng nội đồng, ngay từ đầu mùa mưa, HTX đã thành lập tiểu ban phòng chống úng nội đồng, phân công trách nhiệm cho từng thành viên phụ trách từng khu vực cụ thể, bố trí đầy đủ nhân lực, vật tư Khi có mưa lớn xảy ra, tất cả thành viên tiểu ban phòng chống úng nội đồng sẵn sàng có mặt tại vị trí đã được phân công, kịp thời giải toả những ách tắc, giảm thiểu tình trạng ngập úng, ảnh hưởng tới cây trồng Ngoài ra,

Trang 37

HTX còn phối hợp với tổ BVTV xã, Hội nông dân, Hội phụ nữ, đoàn thanh niên mở các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật trong sản xuất, chăn nuôi Thường xuyên tiến hành kiểm tra đồng ruộng, thông báo tình hình sâu bệnh và biện pháp phòng trừ cũng như kỹ thuật sử dụng thuốc trên

hệ thống loa truyền thanh để nhân dân biết và áp dụng, từ đó tiết kiệm công sức, tiền của, hạn chế thiệt hại Nhờ vậy, năng suất, chất lượng hàng nông sản của địa phương ngày càng nâng cao Năm 2013, thu nhập bình quân trên 1 ha canh tác của xã đạt 82,5 triệu đồng (Max đạt 162 triệu đ/ha), tăng 24,7 triệu đồng so với năm 2011

Trong những năm gần đây, tình hình dịch bệnh trên gia súc, gia cầm có nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến chăn nuôi của nhân dân Để phòng trừ dịch bệnh, bảo đảm chăn nuôi hiệu quả, an toàn, đội ngũ cán bộ thú y của HTX có 3 người, trình độ chuyên môn vững, có trách nhiệm cao trong công việc, thường xuyên nắm bắt tình hình dịch bệnh, số lượng gia súc, gia cầm trên địa bàn, tăng cường tuyên truyền về tình hình dịch bệnh, kỹ thuật chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh Đồng thời tuyên truyền, vận động các hộ chăn nuôi nâng cao ý thức, trách nhiệm đối với cộng đồng thông qua việc chủ động thực hiện các biện pháp thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi Ngoài ra, ban thú y còn

tổ chức các đợt phun thuốc khử trùng, tiêu độc, tiêm vắc xin phòng bệnh cho gia súc, gia cầm Năm 2011, HTX đã đầu tư mua tủ lạnh để bảo quản vắc xin

và mở cửa hàng dịch vụ thú y nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của dịch

vụ thú y

Năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt 15,5 triệu đồng

Có được kết quả trên, ngoài sự lãnh đạo, chỉ đạo sát xao của Đảng uỷ, HĐND, UBND xã, sự năng động, nhanh nhạy của nhân dân còn có đóng góp không nhỏ của HTX dịch vụ nông nghiệp Trong điều kiện khó khăn chung của các HTX dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn xã do một số khâu dịch

Trang 38

vụ bị thu hẹp, khả năng sinh lợi hạn chế như: dịch vụ điện, dịch vụ thuỷ lợi Tuy nhiên, với sự quản lý, điều hành khoa học, phương án kinh doanh hợp lý nên HTX dịch vụ nông nghiệp Mễ Sở vẫn đạt được những kết quả đáng mừng Trong 3 năm từ 2011 – 2013, hoạt động của HTX vẫn duy trì ổn định, lợi nhuận bình quân đạt trên 420 triệu đồng/năm Ngoài tập trung cho các khâu dịch vụ truyền thống, HTX đã quan tâm mở rộng sang các khâu dịch vụ mới như: dịch vụ thuốc thú y, dịch vụ vệ sinh môi trường Mặc dù 2 khâu dịch vụ mới chưa đem lại lợi nhuận cho HTX nhưng đây là những dịch vụ mang tính cộng đồng cao, hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả về mặt kinh tế cũng như xã hội trong tương lai

- Dân số trong độ tuổi lao đô ̣ng, cơ cấu dân số

Mễ Sở là một xã có dân số khá đông Dân số xã năm 2013 là 10300 người Trong đó có 6509 nhân khẩu nông nghiệp chiếm 63,19% tổng dân số

xã, và 3791 nhân khẩu phi nông nghiệp chiếm 38,31% tổng dân số xã 3 năm

từ 2011 đến 2013, bình quân nhân khẩu của xã tăng 2,94%, trong đó nhân khẩu nông nghiệp tăng bình quân 1,12%/năm, Năm 2013, tổng số hộ ở xã Mễ

sở là 2820 hộ, trong đó số hộ nông nghiệp là 2345 hộ, bằng 83,16% trong tổng số hộ, số hộ phi nông nghiệp là 475 hộ, bằng 16,84% trong tổng số hộ trong xã Bình quân qua 3 năm, tổng số hộ trong xã tăng 1,45% trong đó hộ nông nghiệp tăng 1,44%, hộ phi nông nghiệp tăng 1,45%

Số lao động của xã qua 3 năm có xu hướng tăng bình quân tăng 2,21% Năm 2013, tổng số lao động trong toàn xã là 5679 lao động trong đó lao động nông nghiệp là 2701 lao động, bằng 47,56% ttổng lao động của xã, bình quân giảm 1,75% Số lao động nông nghiệp là 2978 lao động, chiếm 52,44% trong tổng lao động Lao động phi nông nghiệp của xã trong 3 năm tăng là 6,25%/năm

Bình quân số nhân khẩu/ hộ của xã năm 2013 là 3,65 người/ hộ, và số

Trang 39

khẩu nông nghiệp/ hộ nông nghiệp là 3,76 người/ hộ Bình quân số lao động nông nghiệp/ hộ nông nghiệp là 1,15 lao động/ hộ

Lao động của xã có xu hướng chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang làm các ngành nghề phi nông nghiệp Với địa bàn thuận lợi có đường quốc lộ 191

đi qua, xã Mễ Sở lại cách trung tâm thành phố Hà Nội hơn 10km, giao thông thuận tiện, lại gần các khu công nghiệp lớn như khu công nghiệp Sài Đồng (Long Biên, Hà Nội); liền kề với khu công nghiệp Như Quỳnh (huyện Văn Lâm )và khu công nghiệp Phố Nối (huyện Văn Lâm, huyện Mỹ Hào) và các công ty may mặc lớn như Công ty May 10 (Gia Lâm – HN), Công tee cổ phần May 2 Hưng Yên nên đang thu hút được nhiều lao động trẻ khỏe trong

Đặc biệt Mễ Sở lại có nghề thêu truyền thống từ lâu đời, tạo thu nhập cao cho người phụ nữ trong xã Đây cũng là xu hướng phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã

Trang 40

Bảng 2.1: Tình hình hộ khẩu và lao động của xã Mễ Sở qua 3 năm (2011 – 2013)

(Nguồn: Ban thống kê xã Mễ Sở)

II Tổng số nhân khẩu Người 9721 100 10121 100 10300 11100 104,11 101,77 102,94

1 Nhân khẩu NN Người 6242 64,21 6248 61,73 6509 63,19 100,10 104,18 102,12

2 Nhân khẩu phi NN Người 3479 35,79 3503 38,27 3791 36,81 100,69 108,22 104,39 III Tổng số lao động Người 5436 100 5584 100 5679 100 102,72 101,70 102,21

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung (1997), Kinh tế nông nghiệp, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Phạm Vân Đình, Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
3. Trần Đình Đằng, Đinh Văn Đãn (1996), Kinh tế hộ nông dân, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế hộ nông dân
Tác giả: Trần Đình Đằng, Đinh Văn Đãn
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (1986,1991,1996), Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, 7, 8, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6, 7, 8
8. Trần Thế Tục (2002), Phát triển cây ăn quả ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển cây ăn quả ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thế Tục
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002
9. UBND xã Mễ Sở (2011), Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội và tình hình phát triển cây ăn quả năm 2006-2011 và phương hướng và nhiệm vụ đến năm 2015 của xã Mễ Sở, Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND xã Mễ Sở (2011), "Báo cáo tổng kết tình hình phát triển kinh tế xã hội và tình hình phát triển cây ăn quả năm 2006-2011" và "phương hướng và nhiệm vụ đến năm 2015 của xã Mễ Sở
Tác giả: UBND xã Mễ Sở
Năm: 2011
10. UBND xã Mễ Sở (2013), Báo cáo tổng kết phát triển cây ăn quả giai đoạn năm 2011 – 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết phát triển cây ăn quả giai đoạn năm 2011 – 2013
Tác giả: UBND xã Mễ Sở
Năm: 2013
1. Báo cáo của Tổ chức Nông - Lương Liên Hiệp Quốc, giai đoạn 2006 – 2013 Khác
4. Nguyễn Đức Hoà (2011), Một số suy nghĩ và phát triển cây ăn quả theo hướng sản xuất hàng hoá trong nông hộ ở Bắc trung bộ, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH nông nghiệp I, Hà Nội Khác
5. Niên giám thống kê tỉnh Hưng Yên các năm 2011, 20112, 2013 Khác
6. Niên giám thống kê của huyện Văn Giang các năm 2011, 2012 và 2013 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w