1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội

117 371 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề đã góp phần tích cực sự nghiệp phát triển chung của toàn huyện, tạo việc làm ổn định và giúp cho đời sống của người dân lao động nông

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những kết quả trình bày trong luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Doãn Mạnh Trung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám hiệu nhà trường, phòng đào tạo sau đại học và toàn thể các thầy, cô giáo trường Đại học Lâm Nghiệp đã giúp tôi trang bị tri thức và tạo môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Với sự kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn tới Tiến sĩ Trần Văn Đức đã khuyến khích, chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện nghiên cứu này

Xin chân thành cảm ơn các tổ chức, cá nhân đã hợp tác và chia sẻ thông tin, cung cấp cho tôi nhiều nguồn tư liệu, tài liệu hữu ích phục vụ cho đề tài nghiên cứu Đặc biệt xin cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Phòng Kinh tế huyện Quốc Oai, UBND xã Liệp Tuyết, UBND xã Tân Hòa, UBND xã Ngọc Mỹ đã hỗ trợ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện Luận văn

Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và những người bạn đã động viên,

hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, làm việc và hoàn thành Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2014

Tác giả

Doãn Mạnh Trung

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

TTCN Tiểu thủ công nghiệp

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Danh mục các bảng vii

Danh mục các hình ix

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ 4

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề 4

1.1.1 Một số Khái niệm liên quan đến đề tài 4

1.1.2 Ý nghĩa của việc phát triển làng nghề 11

1.1.3 Đặc điểm sản xuất làng nghề 15

1.1.4 Nội dung phát triển bền vững làng nghề 20

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề 23

1.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số Quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam 27

1.2.1 Kinh nghiệm một số Quốc gia trên thế giới 27

1.2.2 Bài học kinh nghiệm ở Việt Nam 30

1.3 Bài học kinh nghiệm rút ra từ cơ sở lý luận và thực tiễn 34

1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 35

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 37

2.1.1 Giới thiệu chung về địa bàn nghiên cứu 37

Trang 5

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên 37

2.1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40

2.1.4 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai 46

2.2 Phương pháp nghiên cứu 48

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 48

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 48

2.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý thông tin 49

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 50

2.3 Hệ thống chỉ tiêu 50

2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế 50

2.3.2 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội 50

2.3.3 Chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả về môi trường 50

2.3.4 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh về nhân tố ảnh hưởng 50

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

3.1 Thực trạng phát triển làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai 51

3.1.3 Sản phẩm của làng nghề 53

3.1.4 Kết quả và hiệu quả về mặt kinh tế 54

3.1.6 Kết quả và hiệu quả về môi trường 61

3.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai 65

3.2.1 Nguồn cung ứng yếu tố đầu vào của các làng nghề 65

3.2.2 Kỹ thuật công nghệ áp dụng trong sản xuất 74

3.2.3 Thị trường tiêu thụ 76

3.3 Đánh giá chung về kết phát triển bền vững làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai 79

3.4 Định hướng và giải pháp phát triển bền vững làng nghề huyện Quốc Oai 81

Trang 6

3.4.1 Định hướng phát triển 81

3.4.2 Các giải pháp phát triển bền vững các làng nghề huyện Quốc Oai.

83

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Dân số huyện Quốc Oai từ năm 2011 đến năm 2013 41 2.2 Tổng hợp thực trạng phát triển kinh tế huyện Quốc Oai 44

3.2 Bảng tổng hợp lao động làng nghề Quốc Oai 2011-2013 53 3.3 Một số sản phẩm chính của làng nghề điều tra 54 3.4 Hiệu quả một số sản phẩm chính theo làng nghề điều tra 55 3.5 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề điều tra qua các năm 2011-

3.6 Giá trị sản xuất của làng nghề điều tra qua các năm 2011-2013 57 3.7 Cơ cấu kinh tế làng nghề trong GDP toàn huyện 58 3.8 Lao động việc làm tại làng nghề điều tra qua các năm 2011-2013 59 3.9 Thu nhập của lao động làng nghề điều tra 60 3.10 Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã có làng nghề điều tra 60 3.11 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các xã có làng nghề điều tra 61 3.12 Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí tại các làng ngh 62

3.15 Đánh giá mức độ hài lòng về chất lượng nguyên vật liệu 67 3.16 Tỷ lệ lao động gia đình, thuê ngoài trong cơ sở sản xuất 68

3.18 Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp huyện Quốc

3.19 Tỷ lệ các nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh 70 3.20 Mức độ đáp ứng vốn cho sản xuất kinh doanh 71 3.21 Nguyên nhân không đáp ứng được yêu cầu vốn vay 72

Trang 8

3.22 Mặt bằng sản xuất kinh doanh của cơ sở sản xuất 73 3.23 Đánh giá điều kiện nhà xưởng của cơ sở sản xuất 74 3.24 Mức độ trang bị máy móc trong sản xuất 75 3.25 Phương thức bán sản phẩm của các làng nghề 76 3.26 Nhận định tình hình tiêu thụ sản phẩm so với những năm trước 77

3.28 Kế hoạch đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề trên địa

3.29 Phát triển vùng trồng cây nguyên liệu dong riềng phục vụ làng nghề

3.30 Kế hoạch đầu tư đào tạo lao động phát triển ngành nghề nông thôn 89

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu phát triển bền vững 9 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội 37

3.2 Mô hình liên kết 5 nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề 91

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Quốc Oai thuộc đồng bằng Bắc Bộ, vừa có nét chung của một địa phương thuộc khu vực địa lý phía Tây của tam giác châu thổ sông Hồng, vừa có sắc thái riêng, có đồng bằng, có vùng bán sơn địa, đồi núi Diện tích tự nhiên 147,0062km2, với điều kiện tự nhiên phong phú, đa dạng, có nền văn hóa lâu đời, có nhiều làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống, sản xuất ra nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu Trong những năm qua, được sự quan tâm của các ban, ngành, các tổ chức chính trị xã hội, nhiều làng nghề được củng cố và phát triển

Đến năm 2014, huyện Quốc Oai có tổng số 65 làng có nghề chiếm 64,35%

số làng của toàn huyện, trong đó có 16 làng nghề được UBND Tỉnh Hà Tây (cũ) và UBND Thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề, trong đó có 5 làng nghề truyền thống Quá trình hình thành và phát triển của các làng nghề đã góp phần tích cực sự nghiệp phát triển chung của toàn huyện, tạo việc làm ổn định và giúp cho đời sống của người dân lao động nông thôn ngày càng được nâng cao, giảm tỷ lệ hộ nghèo, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang làm nghề khác, góp phần phát triển nông thôn bền vững, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, các làng nghề của huyện Quốc Oai chủ yếu vẫn mang tính tự phát, quy mô sản xuất hộ gia đình là chủ yếu, không có sự hợp tác, liên kết, khả năng cạnh tranh kém và gặp phải không ít khó khăn như: cạnh tranh khốc liệt với nhiều loại hàng hoá của nước ngoài và hàng hoá được sản xuất trong nước có trình độ tiên tiến, hiện đại được sản xuất ở các khu công nghiệp; thiếu mặt bằng để sản xuất; lao động chưa có tay nghề cao; thiếu vốn để đầu tư đổi mới trang thiết bị, máy móc để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm Một số làng nghề hoạt động cầm chừng cho thu nhập không cao, thậm chí mai một dần

Trang 11

Đặc biệt, vấn để ô nhiễm môi trường ở các làng nghề đang ngày cảng trở nên nghiêm trọng: Môi trường vật lý, môi trường sinh thái-cảnh quan bị suy thoái nặng nề Các khu vực dân cư, làng xã vừa là nơi sống, vừa là nơi sản xuất với các xưởng sản xuất tạm bợ, nguyên vật liệu và các loại chất thải đổ bừa bãi, các nhà ở mới, cũ và nhà xưởng chen nhau tạo nên một cảnh quan hỗn loạn và ô nhiễm; nhiểu diện tích mặt nước, sông, kênh mương, đất canh tác, đất dự phòng đang bị các loại chất thải lấn dần

và làm ô nhiễm…Tình trạng phát thải bừa bãi với khối lượng lớn và thường xuyên đã gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng

Hiện nay, vấn đề phát triển bền vững làng nghề về kinh tế - xã hội và môi trường đã và đang được Đảng và Chính phủ, cũng như các cấp các ngành đặc biệt quan tâm nghiên cứu, đề xuất chính sách và thực thi Để đánh giá một cách đầy đủ thực trạng phát triển làng nghề, những thuận lợi, khó khăn của làng nghề, tiềm năng của địa phương và của người dân khi khôi phục và phát triển làng nghề cần phải giải quyết Giúp các làng nghề ngày càng phát huy được thế mạnh và phát triển bền vững, tạo ra những sản phẩm có giá trị kinh tế cao và đảm bảo thân thiện với môi trường, góp phần cho địa phương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với xây dựng Nông thôn mới Với những ý nghĩa

thực tiễn nêu trên tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “ Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai – TP Hà Nội

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững làng nghề

- Đánh giá thực trạng và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện Quốc Oai

- Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững làng nghề huyện Quốc Oai

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung chủ yếu vào đánh giá thực trạng phát triển bền vững của doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình làm nghề thuộc các làng nghề về mặt kinh tế, xã hội, môi trường và phân tích những giải pháp phát triển bền vững các làng nghề truyền thống đã được chọn làm điểm nghiên cứu điển hình

3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.2.1 Phạm vi về nội dung

- Nghiên cứu thực trạng phát triển của một số làng nghề truyền thống, gồm Đục chạm gỗ cao cấp, Chế biến nông sản (miến rong), mây- tre – giang đan, nón-

mũ lá

- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững các làng nghề

- Nghiên cứu các giải pháp phát triển bền vững các làng nghề

3.2.2 Phạm vi về không gian

Địa bàn nghiên cứu huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, các nghiên cứu điển hình được tiến hành ở Thôn Phú Mỹ, xã Ngọc Mỹ; thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ; xã Liệp Tuyết; xã Tân Hòa

3.2.3 Phạm vi về thời gian

Nghiên cứu bộ số liệu 03 năm từ 2011- 2013

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LÀNG NGHỀ

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển bền vững làng nghề

1.1.1 Một số Khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1.1 Nghề và nghề truyền thống

>> Khái niệm về nghề:

Khái niệm về nghề Nghề là thuật ngữ để chỉ một hình thức lao động sản xuất nào đó trong xã hội Tác giả E.A.Klimov viết: “Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có) Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”

Theo tác giả Nguyễn Hùng thì:“Những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn và được gọi là nghề Nghề là tập hợp của một nhóm chuyên môn cùng loại, gần giống nhau Chuyên môn

là một dạng lao động đặc biệt, mà qua đó con người dùng sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần của mình để tác động vào những đối tượng cụ thể nhằm biến đổi những đối tượng đó theo hướng phục vụ mục đích, yêu cầu và lợi ích của con người” [ 18, Tr.11]

Nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nó một hệ thống giá trị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Nghề là cơ sở giúp cho con người có “nghiệp” - việc làm, sự nghiệp Cũng có thể nói nghề nghiệp

là một dạng lao động đòi hỏi con người phải có một quá trình đào tạo chuyên biệt

để có những kiến thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nhất định

>>Nghề truyền thống:

Theo Thông tư 116/2006/BNNPTNT ngày 18/12/2006 của Bộ nông nghiệp

& phát triển nông thôn nghề truyền thống là “nghề đã được hình thành từ lâu đời,

Trang 14

tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”

- Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:

+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;

+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

1.1.1.2 Khái niệm về làng nghề

>> Khái niệm về làng nghề:

Trong quá trình phát triển của lịch sử cũng như hiện nay đều cho thấy, làng

xã Việt Nam có vị trí hết sức quan trọng trong sản xuất, cũng như đời sống dân cư ở nông thôn Qua thử thách của những biến động thăng trầm, những lệ làng phép nước và phong tục tập quán ở nông thôn vẫn được duy trì, phát triển đến ngày nay

Theo PGS.TS Đặng Kim Chi, Có thể hiểu làng nghề “là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phi nông nghiệp chiếm ưu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông”

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn quy định nội dung và các tiêu chí công nhận

làng nghề, làng nghề truyền thống “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp

thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.”

Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm

đề nghị công nhận

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 15

>> Làng nghề truyền thống:

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ

Nông nghiệp & phát triển nông thôn “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” Đối với những làng chưa đạt tối thiểu

30% tổng số hộ và 02 năm sản xuất, kinh doanh làng nghề ổn định nhưng có ít nhất

1 nghề truyền thống được công nhận theo quy định của thông tư BNNPTNT thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống

116/2006/TT->>Làng nghề mới: Là làng nghề được hình thành cùng với sự phát triển của

nền kinh tế, chủ yếu do sự lan tỏa của làng nghề truyền thống, có những điều kiện

>> Phân loại làng nghề dựa vào phương thức sản xuất: Làng nghề thủ công,

làng nghề thủ công mỹ nghệ; làng nghề công nghiệp; làng nghề chế biến lương thực thực phẩm; Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu; làng nghề buôn bán và dịch vụ

>> Một số cách phân loại làng nghề khác

- Theo quy mô làng nghề: làng nghề quy mô lớn, làng nghề quy mô nhỏ…

- Theo loại hình kinh doanh của làng nghề: Làng nghề truyền thống chuyên doanh, làng nghề kinh doanh tổng hợp…

- Theo tính chất hoạt động sản xuất, kinh doanh của làng nghề: các làng nghề vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất kinh doanh các nghề phi nông nghiệp; các làng nghề thủ công chuyên nghiệp…

Trang 16

1.1.1.4 Phát triển bền vững

>> Những lý luận về phát triển bền vững

Trong quá trình phát triển sản xuất, loài người đã nhận thấy không chỉ có mối liên hệ chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và công bằng xã hội Vì mục tiêu kinh tế con người phải đối mặt với những hậu quả do chính mình gây ra: Sự nóng lên của trái đất, thiên tai, dịch bệnh Năm 1972, tại Stockholm Liên hợp quốc đã tổ chức hội thảo về môi trường con người Đặt vấn đề về “ Sự phát triển không gây hủy diệt” Đến thập niên 80, thế giới đã nhận thức: Sự can thiệp và khai thác thiên nhiên chỉ có trong một giới hạn nhất định, thiên nhiên không phải vô hạn Nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để bàn luận về tương lai chung của nhân loại, trong đó các hội nghị đã đạt được bước tiến rất quan trọng về nhận thức là phải làm gì để nền kinh tế thế giới phát triển vươn tới sự hoàn thiện hơn? Đó chính là phát triển bền vững

Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên năm 1980, do hiệp hội bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên quốc tế (IUCN) công bố Năm 1987, vấn đề về phát triển bền vững được Hội đồng Thế giới về Môi trường & Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc đề cập lần đầu tiên trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”,

theo đó phát triển bền vững là “Sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm nguy hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Theo

quan niệm này, chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo đảm môi trường sống cho con người trong quá trình phát triển

Sau đó, còn có các lý luận khác về phát triển bền vững:

Theo Costanza, R (1987), bền vững không phải là một công cụ cần thiết trong nền kinh tế trì trệ, nhưng chúng ta cần phải cẩn thận để phân biệt giữa tăng trưởng và phát triển Tuy nhiên, phát triển bền vững lại là mục tiêu hàng đầu trong chính sách phát triển dài hạn Do đó, mục tiêu phát triển bền vững đóng vai trò chi phối phát triển kinh tế Cũng theo Costanza, R và các cộng sự (1991), tính bền vững toàn cầu được xác định như sau: tính bền vững biểu thị mối quan hệ giữa các

hệ thống kinh tế của nhân loại biến đổi nhanh và tạo áp lực mạnh hơn, nhưng các hệ sinh thái biến đổi chậm hơn, trong đó: Cuộc sống của nhân loại có thể tiếp tục trong

Trang 17

một khoảng thời gian rất dài, nhân loại trở nên hưng thịnh; Văn hoá và truyền thống nhân loại sẽ được bảo tồn và phát triển; Các tác động do hoạt động của con người duy trì trong khoảng giới hạn, không phá huỷ tính đa dạng, tính phức tạp và chức năng của hệ sinh thái

Năm 1992, khái niệm phát triển bền vững được tái khẳng định tại hội nghị thượng đỉnh trái đất họp tại Rio de Janeiro (Braxin) họp bàn về phát triển bền vững toàn cầu, thông qua chương trình nghị sự 21 Hội nghị đã đưa ra 2500 khuyến nghị hành động của cộng đồng quốc tế về phát triển bền vững

Năm 2002, tại Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững toàn cầu họp tại Johannesbug (Cộng hoà Nam Phi) đánh giá 10 năm thực hiện chương trình nghị sự

21 đã xác định: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: Tăng trưởng kinh tế, cải thiện các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững

là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường sống

>>Nội dung của phát triển bền vững:

- Bền vững về kinh tế: Được hiểu là sự tiến bộ mọi mặt của nền kinh tế thể hiện ở quá trình tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và sự thay đổi về chất của nền kinh

tế, gắn với quá trình tăng năng suất lao động Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng nhanh, ổn định, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trong tương lai, tránh gây nợ nần cho thế hệ mai sau

- Bền vững về xã hội: Là quá trình phát triển đạt được kết quả ngày càng cao trong việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội Đảm bảo chế dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe cho người dân; mọi người đều có cơ hội trong giáo dục, có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho mọi thành viên của xã hội Bền vững về xã hội phải đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân; xóa đói giảm nghèo; tạo việc làm cho người lao động; gắn liền với việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội

Trang 18

- Bền vững về môi trường: Là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm , hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường Môi trường có 3 chức năng: là không gian sinh tồn của con người; là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; là nơi chứa đựng, xử lý, tái chế các phế thải của con người Vì thế, môi trường bền vững là môi trường luôn luôn thay đổi nhưng vẫn đảm bảo thực hiện cả

ba chức năng nói trên

Như vậy, điều kiện để phát triển bền vững là: Tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài; tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ cải thiện môi trường và tăng trưởng kinh tế vì con người

Hình 1.1: Mối quan hệ của các mục tiêu phát triển bền vững

>> Quan điểm phát triển bền vững ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Quan điểm phát triển bền vững đã được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 là: "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường

Về mặt Kinh tế:

Tăng trưởng ổn định trong thời gian dài

Phát triển bền vững

Về mặt xã hội:

Giải quyết các vấn đề xã hội

Về mặt môi trường:

Bảo vệ và cải thiện môi trường

Trang 19

thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học" Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được những kết quả bước đầu; nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước

Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam không thay thế các chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch hiện có, mà là căn cứ để cụ thể hóa Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010, Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, xây dựng kế hoạch 5 năm 2006-

2010, cũng như xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương, nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững đất nước

Ngày 17 tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành

Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg về việc phê duyệt và ban hành “ Định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam”(Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Nguyên tắc phát triển bền vững ở Việt Nam:

Thứ nhất, con người là trung tâm của phát triển bền vững

Thứ hai, coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn phát triển

sắp tới, bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền vững, bảo đảm

vệ sinh và an toàn thực phẩm cho nhân dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa với phát triển xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn cho phép về mặt sinh thái và bảo vệ môi trường lâu bền

Thứ ba, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu

tố không thể tách rời của quá trình phát triển

Trang 20

Thứ tư, quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai

Thứ năm, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp

hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước

Thứ sáu, phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính

quyền, các bộ, ngành và địa phương; của các cơ quan, doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân

Thứ bảy, gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững đất nước

Thứ tám, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ

môi trường với bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội [quyết định 153]

1.1.2 Ý nghĩa của việc phát triển làng nghề

1.1.2.1 Về mặt kinh tế

>> Phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Quá trình phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất có thu nhập còn rất thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn

Các làng nghề truyền thống ở vùng nông thôn góp phần phá vỡ thế thuần nông, mở ra khả năng phát triển công nghiệp và dịch vụ một cách hợp lý Mặt hàng sản xuất của các làng nghề chính là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp, bản thân

nó là dạng sơ khai của công nghiệp, đồng thời việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và máy móc hiện đại vào quá trình sản xuất rõ ràng sẽ thúc đẩy công nghiệp phát triển Làng nghề phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, đó là các dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Đặc biệt khi phát triển các làng nghề truyền thống gắn với du lịch, đòi hỏi một số dịch vụ của vùng cũng phải phát triển để phục vụ du khách Đến nay cơ cấu kinh tế

ở nhiều làng nghề đạt 60% - 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 20% - 40% cho nông nghiệp [26]

Trang 21

>> Tăng giá trị sản phẩm hàng hóa

Với quy mô nhỏ bé, được phân bố rộng khắp ở các vùng nông thôn, hàng năm các làng nghề luôn sản xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hoá khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng Thực tế cho thấy ở địa phương nào có nhiều làng nghề thì ở đó kinh tế hàng hoá phát triển

Mặt khác, sản xuất trong các làng nghề thường tương đối năng động và gắn chặt chẽ với nhu cầu thị trường, vì vậy mà sản xuất của làng nghề mang tính chuyên môn hoá và đa dạng hoá cao hơn so với sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến tỷ trọng sản phẩm hàng hoá ở các làng nghề thường cao hơn rất nhiều so với các làng thuần nông và khối lượng sản xuất hàng hoá sản xuất ra cũng lớn hơn nhiều Sản phẩm của làng nghề có giá trị kinh tế và xuất khẩu, nên việc phát triển làng nghề góp phần cùng sản xuất nông nghiệp làm tăng trưởng kinh tế ở nông thôn Người có trí tuệ, có vốn thì làm chủ hoặc thợ cả, người không có vốn, trình độ thì làm những công việc giản đơn, phục vụ hoặc dịch vụ

>> Giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động

Cả nước ta hiện có 2.790 làng nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống Người dân nhiều làng nghề với tay nghề cao, sản phẩm độc đáo đã biết nắm bắt cơ hội để làm giàu ngay trên thôn làng của mình Nhiều làng nghề từ nam chí bắc đang ăn nên làm ra như gốm sứ Bình Dương, Chu Ðậu, Phù Lãng; Gò Công; dệt Vạn Phúc; cơ khí Ý Yên; mây tre đan Củ Chi, Chương Mỹ; chạm bạc Ðồng Xâm, Ðại Bái; đá mỹ nghệ Non Nước Nếu như năm 2000, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam mới đạt 274 triệu USD, thì năm 2006 đã đạt khoảng 650 triệu USD, bán ra hơn 100 nước và vùng lãnh thổ, chưa kể hai ngành

gỗ, da giày xuất khẩu mỗi năm hàng tỷ USD đều có đóng góp rất lớn của các làng nghề Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu đạt 35 tỷ USD

Thực tế cho thấy, địa phương nào có làng nghề thì mức sống của người dân nơi đó thường ở mức khá Thu nhập của người lao động ở làng nghề hiện phổ biến khoảng 600.000 - 1.500.000 đồng, cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ làm ruộng Tỷ

Trang 22

lệ hộ nghèo ở khu vực có làng nghề chỉ chiếm 3,7% trong khi mức bình quân cả nước là 10,4% Hiện các làng nghề đang giải quyết việc làm cho khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không thường xuyên Làng nghề phát triển sẽ giải quyết việc làm cho nông thôn; gìn giữ và phát triển văn hóa truyền thống; đặc biệt tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương và làm giàu trên quê hương mình Ngoài ra, khu vực kinh tế làng nghề, đặc biệt là các nghề truyền thống, còn có một ý nghĩa khác là

sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận [10]

1.1.2.2 Về mặt xã hội

>> Phát huy nội lực của địa phương

- Nghề, làng nghề phát triển tạo điều kiện khai thác thế mạnh của địa phương

về nguồn lực (lao động, thiết bị máy móc, vốn) để tập trung cho sản xuất kinh doanh theo quy mô hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợp tác Trong quá trình phát triển của làng nghề sẽ tạo ra đội ngũ lao động có tay nghề cao, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật Sự phát triển của các làng nghề kéo theo sự đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng ở làng nghề như :Điện, đường giao thông, các cơ sở văn hóa được nâng cấp, cải tạo Góp phần đảm bảo nhu cầu sinh hoạt về vật chất lẫn tinh thần của người dân địa phương

- Các cơ sở sản xuất tại hầu hết các làng nghề có quy mô hộ gia đình, cơ cấu lao động và cơ cấu vốn ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất, kinh doanh Mặt khác, quá trình sản xuất của các làng nghề sử dụng lao động thủ công là chủ yếu nên có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động Sự phát triển các làng nghề không chỉ đem lại thu nhập cao và tương đối ổn định cho người lao động mà còn hạn chế việc di dân tự do, giảm sức

ép về lao động tại các thành phố lớn

>> Phát triển làng nghề góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới

Một trong những mục tiêu trong chương trình xây dựng nông thôn mới là phải chuyển dịch được cơ cấu lao động nông thôn sang hướng phi nông nghiệp

Trang 23

Chính vì vậy, việc xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống có một ý nghĩa rất lớn cả về kinh tế lẫn xã hội Đây là giải pháp quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhằm tăng thu nhập, cải thiện

và nâng cao đời sống cho lao động cho nông nghiệp, nông thôn

Thực tế cho thấy, một trong những khó khăn lớn của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn chính là chuyển dịch cơ cấu lao động Việc phát triển công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp liên quan trực tiếp đến nhiều tiêu chí quan trọng khác như: Mức thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu lao động và hình thức tổ chức sản xuất

Mặt khác, Phát triển làng nghề cùng với việc tăng thu nhập của người dân đã tạo ra một nguồn tích luỹ khá lớn và ổn định cho ngân sách địa phương cũng như cho các hộ gia đình Vì vậy, việc huy động nguồn vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn thuận lợi hơn Phát triển làng nghề không chỉ tạo điều kiện mà còn là nhân tố kích thích sự phát triển cơ sở vất chất kỹ thuật và nâng cao dân trí ở nông thôn, thúc đẩy xã hội nông thôn tiến lên, văn minh hiện đại, thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

1.1.2.3 Về mặt văn hóa

Do hầu hết các làng nghề có khởi nguồn từ sáng tạo của dân cư địa phương nên trong sản phẩm làng nghề từ kiểu dáng, mẫu mã đều có những dấu ấn riêng về bản sắc văn hoá của từng địa phương Lịch sử phát triển của các làng nghề truyền thống gắn với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc

Nhiều sản phẩm truyền thống có tính nghệ thuật cao, trong đó thể hiện những sắc thái riêng của mỗi làng nghề Bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống chính là sự kế thừa và phát huy đội ngũ nghệ nhân có bàn tay khéo léo cùng những

bí quyết nghề quý giá và thông qua đó bảo tồn những nét độc đáo của bản sắc dân tộc Việt Nam

Ngoài việc tạo sản phẩm, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, nhiều làng nghề đã hình thành việc liên kết có tính cộng đồng theo từng nhóm làng nghề, duy trì các truyền thống, lễ hội theo nhóm ngành nghề Thông qua việc tạo ra các sản phẩm của làng nghề, cộng đồng dân cư trở nên gắn bó hơn trong cuộc sống, góp phần hạn chế và đẩy lùi những tiêu cực của văn hoá ngoại lai, không lành mạnh

Trang 24

Hơn thế nữa, không gian của làng nghề, đó chính là cảnh quan tự nhiên với những di tích văn hóa, lịch sử, những đền thờ, miếu thờ, nhà thờ tổ nghề, những giếng nước, gốc đa, cổng làng… đều là sự thể hiện các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương, dân tộc Mỗi làng nghề trong quá trình sống và sản xuất lâu dài của mình đều hình thành nên những phong tục tập quán, những sinh hoạt văn hóa như lễ hội, trò chơi dân gian… đặc trưng của địa phương cũng như của nghề Bằng việc bảo tồn và phát huy các làng nghề truyền thống, nhất là khi làng nghề phục vụ du lịch, tất cả các giá trị văn hóa đặc trưng của địa phương, dân tộc đã được xây dựng

và lưu giữ hàng trăm năm, nghìn năm nay sẽ vẫn được tiếp nối trong mạch ngầm của cuộc sống hôm nay, được quảng bá, giới thiệu tới bạn bè quốc tế

- Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam, là đại

sứ đặc mệnh toàn quyền trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể của Việt Nam đối với cả thế giới, nó có vai trò cực kì quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động Văn hóa Việt Nam Mặc dù nó không quyết định sự sống còn như làng thuần nông nhưng sản phẩm tạo ra lại mang tính đặc thù của nền văn hóa dân tộc

1.1.3 Đặc điểm sản xuất làng nghề

1.1.3.1 Sản phẩm làng nghề

- Sản phẩm của các làng nghề có tính độc đáo và có tính nghệ thuật cao, được tạo nên bởi kỹ thuật sản xuất thủ công truyền thống Sản phẩm của mỗi làng nghề, mỗi vùng mang một đặc trưng riêng

- Do tính chất sản xuất của các làng nghề chủ yếu là thủ công nên các sản phẩm được tạo ra mang tính đơn lẻ và đơn chiếc, tạo nên sự hấp dẫn riêng Cũng chính vì đặc điểm sản xuất này mà sản phẩm của các làng nghề trở nên phong phú,

đa dạng về chủng loại và mẫu mã

Hiện nay, các sản phẩm của làng nghề xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Tuy nhiên, sản phẩm chưa đa dạng, mẫu mã chậm thay đổi, chất lượng chưa đồng nhất, chưa cao nên chưa đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của thị trường thế giới

Trang 25

1.1.3.2 Thị trường đầu ra các sản phẩm làng nghề

Thị trường là một yếu tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định tới sự tồn tại và phát triển đối với mỗi làng nghề Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề được hình thành trên cơ sở phát triển sản xuất và nhu cầu trao đổi hàng hóa Thị trường này về cơ bản vẫn là thị trường tại chỗ, nhỏ hẹp Sản phẩm của làng nghề được tiêu thụ chủ yếu ở nông thôn vì dân cư nông thôn chiếm tỷ lệ lớn, tiền công lao động thấp nên giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế và tâm

lý, thói quen tiêu dùng của người dân Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, ở nông thôn đã diễn ra sự chuyển dịch trong quan hệ sản xuất, đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển sản xuất, kinh doanh của các làng nghề Việc từ hình thức sản xuất tập thể chuyển sang hình thức hộ gia đình là chủ yếu đã tạo nên ưu thế trong việc tận dụng sức lao động và thời gian sản xuất, đặc biệt là tạo sự chủ động trong việc mua bán nguyên vật liệu, thay đổi mặt hàng và tiêu thụ sản phẩm Nhiều sản phẩm truyền thống đã được thị trường trong nước chấp nhận và đã vươn tới nhiều vùng của đất nước Đối với thị trường nước ngoài thì đã từ lâu các sản phẩm truyền thống

đã thực sự hấp dẫn đối với nhiều khách hàng Các sản phẩm gốm, sứ, dệt tơ tằm

đã được các thương nhân nước ngoài mua với số lượng lớn Chúng có mặt ở nhiều nước trên thế giới như Pháp, Nhật, Trung Quốc [5]

Hiện nay, thị trường xuất khẩu làng nghề truyền thống đã được mở rộng sang khoảng hơn 100 nước trên thế giới, trong đó các thị trường tiêu thụ lớn nhất là Nhật Bản, Hoa kỳ, Liên minh Châu Âu, Đài Loan, Hồng Kông

Kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ 6 tháng đầu năm 2013 so với cùng kỳ năm trước tăng 18,3%, cao hơn tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước (16,1%) Trong đó kim ngạch xuất khẩu túi xách, ví, va li, mũ và ô dù đạt

925 triệu USD, tăng 23,6%, đồ gốm sứ đạt 218 triệu USD, tăng 6,6%, hàng mây tre cói đạt 110 triệu USD, tăng 5,3%

1.1.3.3 Nguồn cung ứng nguyên vật liệu

Thị trường cung cấp nguyên vật liệu: Để sản xuất ra các sản phẩm thì nguyên liệu đầu vào là rất cần thiết cho quá trình sản xuất Thị trường cung ứng nguyên vật

Trang 26

liệu của các làng nghề trước kia là thị trường mua, bán tại chỗ, nhất là nguyên liệu phục vụ cho nghề chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất sản phẩm tiêu dùng như đan lát Sau một thời gian thì nguồn nguyên liệu này cũng cạn kiệt dần do đó phải được bổ sung bằng các nguồn ở nơi khác và xuất hiện các tổ chức, cá nhân chuyên khai thác hay làm dịch vụ cung cấp nguyên vật liệu cho các hộ và các cơ sở chuyên làm nghề Phương thức mua – bán hoàn toàn dựa trên sự thoả thuận ngầm giữa các tác nhân Chính điều này dẫn đến người sản xuất bị lệ thuộc vào việc khai thác và thu gom của người cung ứng, làm ảnh hưởng tới tiến độ sản xuất Gần đây, do sự phát triển của các làng nghề đã hình thành một thị trường nguyên liệu rộng lớn hơn, không chỉ có những hộ chuyên cung cấp ở các làng nghề đó mà đã có mạng lưới những cá nhân, doanh nghiệp ở các địa phương khác, vùng khác chuyên làm dịch vụ cung cấp theo những hợp đồng lớn cho các hộ gia đình và cơ sở sản xuất làng nghề

Hiện tại khó khăn lớn nhất của các làng nghề là thiếu nguyên liệu đủ chất lượng phục vụ sản xuất của các làng nghề trong thời gian gần đây Vùng nguyên liệu phục vụ hàng thủ công mỹ nghệ như tre, nứa giảm rất nhanh khiến nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang phải nhập khẩu nguyên liệu Trung Quốc, Lào, Campuchia…

1.1.3.4 Công nghệ sử dụng

Phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất nghề ở nông thôn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được các yêu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh trên thị trường

Hầu hết các cơ sở sản xuất nghề nông thôn, nhất là ở khu vực hộ gia đình tư nhân vẫn còn sử dụng các loại công cụ thủ công truyền thống hoặc có cải tiến một phần Trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ cơ khí hóa còn thấp, thiết bị phần lớn đã

cũ, được thải loại từ sản xuất công nghiệp quy mô lớn không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, an toàn và vệ sinh môi trường Trình độ công nghệ thủ công và bán cơ khí còn chiếm một tỷ lệ khá lớn ở các làng nghề, khoảng 60%

Hiện nay, để sản phẩm của làng nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới, nhiều nơi đã có sự áp dụng công nghệ mới, thay thế nhiều

Trang 27

thiết bị máy mọc cũ bằng thiết bị máy móc mới, hiện đại Nhiều làng nghề đã dùng điện làm động lực chạy máy như xay xát, máy nghiền bột, máy cưa, máy bào thay cho lao động thủ công

Giải pháp công nghệ nhằm giảm thiểu lượng phát thải bằng các biện pháp cải tiến công nghệ, nhằm sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn nguyên nhiên liệu, tài nguyên; áp dụng các biện pháp quản lý và xử lý chất thải phù hợp nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả đang là mục tiêu cần hướng tới trong vấn đề cải tiến công nghệ sản xuất tại các làng nghề

1.1.3.5 Trình độ người lao động, người quản lý

Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến sức cạnh tranh của sản phẩm làng nghề, việc tạo ra những sản phẩm có tính đặc trưng, độc đáo với những mẫu mã mới, đa dạng đủ sức cạnh tranh trên thị trường phụ thuộc rất lớn vào chất lượng nguồn nhân lực Tuy nhiên, thực tế hiện nay các làng nghề truyền thống đang thiếu nguồn nhân lực, đặc biệt là thợ lành nghề, thợ tạo mẫu Lao động làng nghề nhìn chung vừa thiếu, vừa yếu, trong khi các nghệ nhân đang già yếu và ngày càng mỏng dần vì tuổi tác thì lực lượng lao động trẻ lại không thiết tha với lao động làng nghề, chính vì vậy sự hẫng hụt nguồn nhân lực kế cận về số lượng cũng như chất lượng ở các làng nghề truyền thống đang trở nên báo động khi 90,4% làng nghề thiếu lao động, chỉ có 9% làng nghề có đủ lao động và 0,6% làng nghề thừa lao động Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làng nghề chỉ là 12,3%; Sự thiếu

về số lượng và kém về chất lượng trong nguồn nhân lực của các làng nghề chủ yếu

do thu nhập của người lao động làng nghề còn thấp nên chưa thu hút được nhiều thế

hệ trẻ và do hạn chế trong công tác đào tạo nghề tại các làng nghề truyền thống Việc dạy nghề tại các làng nghề phần lớn theo lối truyền nghề trong các gia đình, cầm tay chỉ việc (78,21%) hoặc tổ chức những lớp học ngắn ngày cho con em trong địa phương (21,4%) Việc truyền nghề trong từng cơ sở sản xuất với số lượng ít, cơ

sở vật chất phục vụ cho đào tạo còn đơn giản, thô sơ chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực Hơn nữa, mỗi nghệ nhân truyền nghề theo một kiểu nên không có

sự thống nhất Cùng với đó là việc không có sách vở nên nếu công việc không ổn định thì nguy cơ bị thất truyền nghề rất cao.[22]

Trang 28

Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, nhìn chung trình độ học vấn, chuyên môn còn rất hạn chế Có tới 1,3 – 1,6% trong số họ không biết chữ, trình độ học vấn bình quân mới đạt lớp 7 – 8/12 Tỷ lệ chưa qua đào tạo kiến thức quản lý chuyên môn ở các chủ hộ chiếm 51,5 – 69,89%, đối với các chủ doanh nghiệp chiếm hơn 43% [40]

Theo Báo cáo môi trường quốc gia năm 2008 với chủ đề "Môi trường làng nghề Việt Nam", Hiện nay “hầu hết các làng nghề ở Việt Nam đều bị ô nhiễm môi trường (trừ các làng nghề không sản xuất hoặc dùng các nguyên liêu không gây

ô nhiễm như thêu, may ) Chất lượng môi trường tại hầu hết các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn khiến người lao động phải tiếp xúc với các nguy cơ gây hại cho sức khỏe, trong đó 95% là từ bụi; 85,9% từ nhiệt và 59,6% từ hóa chất Kết quả khảo sát 52 làng nghề cho thấy, 46% làng nghề có môi trường bị ô nhiễm nặng ở

cả 3 dạng; 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ”

Tình trạng ô nhiễm môi trường ở các làng nghề xẩy ra ở mấy loại phổ biến sau đây:

- Ô nhiễm nước: ở Việt Nam, các làng nghề chưa có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp, nước thải được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc ra sông Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, nung nấu kim loại, tẩy giấy và nhuộm… Thường thì nước thải ra bị nhiễm màu nặng và gây ra hiện tượng đổi màu đối với dòng sông nhận nước thải, có mùi rất khó chịu Hơn nữa là sự vượt quá TCCP đối với các hàm lượng BOD, COD, SS, và coliform, các kim loại nặng…

Trang 29

ở cả nước mặt và nước ngầm, làm chết các sinh vật thủy sinh và chứa các mầm bệnh nguy hại cho con người

- Ô nhiễm không khí gây bụi, ồn và nóng do sử dụng than và củi chủ yếu trong sản xuất vật liệu xây dựng và sản xuất gốm sứ

- Ô nhiễm chất thải rắn do tái chế nguyên liệu (giấy, nhựa, kim loại…) hoặc

do bã thải của các loại thực phẩm (sắn, dong), các loại rác thải thông thường: nhựa, túi nilon, giấy, hộp, vỏ lon, kim loại và các loại rác thải khác thường được đổ ra bất

kỳ dòng nước hoặc khu đất trống nào Làm cho nước ngầm và đất bị ô nhiễm các chất hóa học độc hại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người

Một trong những nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm kể trên là do các cơ sở sản xuất kinh doanh ở các làng nghề còn manh mún, nhỏ lẻ, phân tán, phát triển tự phát, không đủ vốn và không có công nghệ xử lý chất thải Bên cạnh đó, ý thức của chính người dân làm nghề cũng chưa tự giác trong việc thu gom, xử lý chất thải Nếu không có các giải pháp ngăn chặn kịp thời thì tổn thất đối với toàn xã hội sẽ ngày càng lớn, vượt xa giá trị kinh tế mà các làng nghề đem lại như hiện nay

1.1.4 Nội dung phát triển bền vững làng nghề

1.1.4.1 Đầu tư phát triển sản xuất ở các làng nghề

>> Đầu tư theo chiều rộng

Theo quan điểm tái sản xuất của Mác: đầu tư theo chiều rộng là đầu tư nhằm

mở rộng quy mô sản xuất nhưng không làm tăng năng suất lao động Đầu tư theo chiều rộng cũng chính là đầu tư mới Theo quan điểm ngày nay thì đầu tư theo chiều rộng là đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có,xây dựng mới các cơ sở vật chất với những kỹ thuật công nghệ cơ bản như cũ

Theo đó, Đầu tư theo chiều rộng là mở rộng quy mô sản xuất mà không làm tăng năng suất lao động Đó là đầu tư cho cả 4 yếu tố của đầu vào là lao động,vốn,công nghệ và tài nguyên một cách tương xứng như nhau, theo 1 tỷ lệ như cũ; mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới thay thế cho những thiết bị cũ theo 1 dây chuyền công nghệ đã có từ trước; xây dựng mới nhà cửa,cấu trúc hạ tầng theo thiết

kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất tham gia vào quá

Trang 30

trình sản xuất kinh doanh Tuy vậy tính kỹ thuật của công trình đó vẫn dựa trên những thiết kế có sẵn chưa được cải tạo và hiên đại hoá

Tuy nhiên, việc đầu tư này đòi hỏi thời gian đầu tư và thời gian huy động vốn lâu; lượng vốn lớn; có tính chất phức tạp và độ mạo hiểm cao, do đó không tránh khỏi tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yêu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị , kinh tế, đòi hỏi các nhà đầu tư cần có sự lựa chọn kỹ càng

để lực chọn được cơ hội đầu tư mang lại hiệu quả cao nhất

>> Đầu tư theo chiều sâu:

- Đầu tư theo chiều sâu là việc xây dựng thêm hoặc mua sắm thêm những tài sản mới nằm trong thành phần tài sản cố định có sẵn nhằm tăng cường khối lượng sản xuất; Đầu tư bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây chuyền sản xuất ở cơ

sở cho phù hợp với dây chuyền sản xuất mới; Duy trì năng lực đã có của các cơ sở đang hoạt động là thực hiện các biện pháp nhằm bù đắp các tài sản cố định đã bị loại bỏ do hao mòn hoặc lạc hậu bằng các thiết bị mới có năng suất hoạt động và hiệu quả cao hơn; Đầu tư theo chiều sâu là hoa ̣t đô ̣ng phát triển nguồn nhân lực, đầu

tư và nâng cấp bô ̣ máy quản lý, phương pháp quản lý của doanh nghiê ̣p Đầu tư theo chiều sâu chính là đầu tư về mă ̣t chất cho nên chất lượng nguồn nhân lực và hiê ̣u quả của bô ̣ máy nhà nước đóng vai trò hết sức quan tro ̣ng

Với đầu tư chiều sâu thì tốc độ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng lao động Mà trong điều kiện nước ta cũng như các nước phát triển và đang phát triển trên thế giới thì sức ép về lao động đang là vấn đề cấp bách; Đầu tư chiều sâu cần phải có đô ̣i ngũ tri thức cao nghiên cứu chính xác, ho ̣c hỏi các kinh nghiê ̣m của các nước trên thế giới những cũng cần phải phù hợp với điều kiê ̣n của doanh nghiê ̣p mình

1.1.4.2 Nội dung Phát triển bền vững làng nghề

>>Phát triển bền vững về kinh tế

Sự phát triển bền vững làng nghề về mặt kinh tế là đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định, lâu dài về kinh tế của làng nghề, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của địa phương

- Tăng năng suất lao động trong hoạt động sản xuất của làng nghề Năng suất lao động trong làng nghề được đo bằng số lượng sản phẩm làm ra trên một đơn vị

Trang 31

thời gian hoặc rút ngắn thời gian làm ra sản phẩm Để tăng năng suất lao động cho làng nghề cần thực hiện các nội dung như:

+ Thực hiện tốt công tác dạy nghề, nhân cấy nghề trong làng nghề kết hợp với duy trì, bảo tồn các kỹ thuật tinh xảo truyền thống của làng nghề

+ Đầu tư, nghiên cứu ứng dụng những công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất nhưng vẫn đảm bảo tính độc đáo của sản phẩm làng nghề

+ Nâng cao hiệu suất sử dụng các tư liệu sản xuất

- Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động của địa phương theo hướng phù hợp với phát triển bền vững làng nghề

- Gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa

+ Nguyên liệu: các làng nghề cần phải có vùng nguyên liệu, cung cấp nguyên liệu ổn định, với giá cả cạnh tranh, đảm bảo chất lượng, đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất của các cơ sở sản xuất kinh doanh

+ Lao động: Để đảm bảo chất lượng sản phẩm các làng nghề cần tập trung đào tào chuyên môn, kỹ thuật cho lao động; lực lượng lao động phải đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật trong sản xuất và có khả năng hoàn thành tốt công việc;

+ Để đảm bảo sản xuất, các làng nghề cần có mặt bằng đủ rộng để phát triển, phải có vốn để đầu tư phát triển, công nghệ phải được thay đổi cho phù hợp với hiện tại Tổ chức sản xuất hợp lý, có kế hoạch sản xuất rõ ràng

+ Ổn định và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Thị trường ổn định nghĩa

là một thị trường có sức mua cao, có thể tiêu thụ được phần lớn các sản phẩm của làng nghề, đồng thời có xu hướng mở rộng hơn khi sản xuất tại các làng nghề phát triển Thị trường chính bao gồm thị trường trong nước và xuất khẩu Các thị trường này có thể tiêu thụ hết sản phẩm mà làng nghề tạo ra với mức giá ổn định Không có sự cạnh tranh quá lớn trên thị trường Mang lại lợi nhuận cho các làng nghề

>> Bền vững về xã hội

- Giải quyết việc làm ổn định cho người lao động từ khâu sản xuất, chế biến, dịch vụ Phát triển bền vững không chỉ chú trọng đến hiệu quả kinh tế mà còn hiệu quả về xã hội, việc giải quyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao động từ

Trang 32

khâu sản xuất, chế biến Bền vững về xã hội đối với các làng nghề có ý nghĩa cực

kỳ quan trọng Tính bền vững về xã hội là động lực làm thúc đẩy sự phát triển của

xã hội, là cơ sở cho việc mở rộng sản xuất

- Nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao mức sống Hiện nay, đời sống của người dân nông thôn vẫn còn thấp Chênh lệch giàu nghèo so với thành thị là khá cao Phát triển bền vững làng nghề giúp nâng cao thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao dân trí Đánh giá về sự phát triển con người sẽ tốt hơn

- Phát triển bền vững làng nghề gắn kết chặt chẽ với giữ gìn bản sắc văn hóa,

xã hội của địa phương Mỗi vùng quê Việt Nam đều có bản sắc văn hóa riêng, tạo nên những đặc trưng mà không nơi nào có Vì vậy, việc phát triển làng nghề cần liên kết chặt chẽ với việc giữ gìn bản sắc văn hóa xã hội, đó cũng chính là thương hiệu cho các sản phẩm của làng nghề, Kết hợp sản phẩm và văn hóa sẽ khiến cho sản phẩm có chỗ đứng vững chắc và tên tuổi trên thị trường Cũng vì vậy mà sẽ đẩy nhanh việc quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa…

>>Bền vững về môi trường

Trong quá trình hoạt động hiện nay, có thể nói làng nghề đang có sự phát thải

ra môi trường khá mạnh do hầu hết các làng nghề chưa có hệ thông xử lý chất thải, gây ô nhiễm môi trường Đặc biệt là một số làng nghề có tính độc hại cao như, nhuộm và việc phát thải nước, phế, phụ phẩm của các làng nghề khác Phát triển bền vững làng nghề với nội dung bền vững về môi trường là giảm sự ô nhiễm từ các làng nghề bằng cách thải nước thải, chất thải đã qua xử lý bằng cách xây dựng bể chứa, bể lọc, và áp dụng các biện pháp xử lý chất ô nhiễm thân thiện với môi trường

1.1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề

1.1.5.1 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Đây là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của các làng nghề, nó là nền tảng tạo môi trường kinh doanh, tác động trực tiếp tới các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp làng nghề nói riêng Để đẩy nhanh quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp

Trang 33

nông thôn, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng phát triển các làng nghề với việc đưa

ra các chính sách khuyến khích nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp về vốn, đào tạo lao động ngắn hạn, về thông tin thị trường, và đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn; đồng thời cũng có các chính sách đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các cơ sở

sản xuất, kinh doanh ngành nghề nông thôn

Các làng nghề phát triển một cách tự phát, không có tổ chức, quản lý của Nhà nước thì gây ô nhiễm, tàn phá môi trường, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh

tế, văn hoá, xã hội và môi trường Không có sự quản lý của Nhà nước, làng nghề tự

do cạnh tranh, chẳng những không phát triển mà còn kìm hãm sự phát triển, không nâng cao được năng lực cạnh tranh của làng nghề với thị trường trong và ngoài nước Nhà nước không tổ chức, không quản lý phát triển của làng nghề sẽ không thu được thuế, không có điều kiện để phát triển cơ sở hạ tầng Cơ chế chính sách phù hợp với thực tế sẽ thúc đẩy làng nghề phát triển và ngược lại cơ chế chính sách

đi ngược lại với lợi ích nhân dân sẽ kìm hãm sự phát triển của làng nghề Cơ chế là chủ trương, định hướng của Đảng, gắn liền với ý chí chủ quan của con người Chủ trương, định hướng được xác định trên cơ sở căn cứ khoa học và thực tiễn mới tạo

ra cơ chế khách quan, phù hợp quy luật và tác động tích cực đến làng nghề và ngược lại Chính sách là cụ thể hoá của cơ chế nhằm hướng dẫn hoạt động của làng nghề đi đúng hướng, đúng quỹ đạo

1.1.5.2 Những vấn đề về vốn

Vốn là yếu tố quan trọng bảo đảm cho các LNTT hoạt động nhất là đổi mới thiết bị, công nghệ, mua nguyên liệu, đào tạo lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, … Để đảm bảo cho hoạt động các LNTT nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh ngày càng lớn

Thực tế cho thấy cơ cấu nguồn vốn của các cơ sở kinh doanh và hộ gia đình trong các làng chủ yếu là vốn tự có là chính, song mức vốn trang bị lại thấp do đó

cơ sở kinh doanh, hộ gia đình muốn đổi mới công nghệ, trang thiết bị, mở rộng quy

mô sản xuất, cải tiến mẫu mã, dự trữ nguồn nguyên liệu nhưng do thiếu vốn nên không thực hiện được Điều đó không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn gây

ô nhiễm môi trường rất lớn ảnh hưởng tới sức khỏe người lao động

Trang 34

Trong khi đó, việc tiếp cận các nguồn vốn vay, đặc biệt là tín dụng ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Nguyên nhân là các hộ gia đình, các cơ sở sản xuất trong làng nghề không có đủ tài sản để vay vốn sản xuất của ngân hàng Lãi suất của ngân hàng còn quá cao, thủ tục vay hết sức phiền hà và thời hạn vay lại ngắn

Sự trợ giúp của Nhà nước cho các cơ sở sản xuất làng nghề theo các chương trình còn quá ít

Bài toán về vốn vẫn là vấn đề khó giải quyết của các cơ sở sản xuất làng nghề hiện nay, thiếu vốn làm cho các cơ sở sản xuất rơi vào vòng luẩn quẩn: Không

có vốn để đổi mới kỹ thuật và công nghệ, cho nên tính cạnh tranh của sản phẩm thấp, do đó không chiếm lĩnh được thị trường

1.1.5.3 Trình độ kỹ thuật và áp dụng công nghệ

Trong cơ chế thị trường, sự phát triển của làng nghề đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng và giá cả Các sản phẩm truyền thống vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước, vừa phải cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại nhập khẩu Hơn nữa trong điều kiện ngày nay, khi

mà giao lưu thương mại mang tính toàn cầu thì việc ứng dụng khoa học công nghệ mới có ý nghĩa quyết định, có tác động trực tiếp tới sự đảm bảo và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm

Nhiều làng nghề đã đẩy mạnh việc áp dụng kỹ thuật và đổi mới công nghệ, cải tiến phương pháp sản xuất để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm, tạo ra một sự phát triển mạnh mẽ và ổn định cho các làng nghề Sự đổi mới kỹ thuật công nghệ ở các làng nghề bước đầu đã tạo

đà cho sự phát triển bền vững cho các làng nghề, song nhìn chung còn chậm, công nghệ còn ở mức độ thấp, máy móc thiết bị phần lớn là công cụ đơn giản được người sản xuất cải tiến chế tạo để sử dụng nên chất lượng thấp Mặt khác, các thiết bị đa

số là thiết bị tận dụng nên dây chuyền công nghệ không có sự đồng bộ, chắp vá, các

cơ sở sản xuất chỉ trang bị máy móc, thiết bị ở một số khâu quan trọng có ảnh hưởng tới toàn bộ quá trình sản xuất còn các khâu khác vẫn tận dụng lao động thủ công Điều đó hạn chế rất lớn tới khả năng cạnh tranh của sản phẩm làng nghề trên thị trường trong và ngoài nước

Trang 35

1.1.5.4 Yếu tố thị trường

Sự tồn tại và phát triển của các làng nghề phụ thuộc rất lớn vào thị trường

và sự biến động của nó Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự cho phối của quan hệ cung – cầu và quy luật cạnh tranh Những làng nghề mà sản phẩm của nó

đủ sức cạnh tranh trên thị trường và luôn đổi mới cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của xã hội thì phát triển nhanh Ngược lại, một số làng nghề không thích nghi được sẽ ngày càng mai một, thậm chí có nguy cơ mất đi

Ngày nay, thu nhập của người tiêu dùng ngày một tăng, yêu cầu của họ cũng khắt khe hơn, đặc biệt có rất nhiều sản phẩm được sản xuất bằng công nghệ hiện đại có thể thay thế cho các sản phẩm làng nghề, sự lựa chọn của người tiêu dùng ngày càng được mở rộng, vì thế sản phẩm của làng nghề phải nổi trội hơn các sản phẩm khác thì mới có thể giữ vững vị trí của mình trong lòng người tiêu dùng

và khẳng định vị thế của mình trên thị trường Muốn vậy các doanh nghiệp làng nghề phải đổi mới mẫu mã, vẫn giữ được những nét đặc trưng riêng, phát huy giá trị truyền thống kết hợp với giá trị hiện đại nhằm nâng cao giá trị của sản phẩm

Như vậy, thị trường và sự phát triển của thị trường đã tác động tới phương hướng phát triển, cách thức tổ chức sản xuất, cơ cấu sản phẩm, và là động lực thúc đẩy sản xuất của làng nghề phát triển

1.1.5.5 Cơ sở hạ tầng, mặt bằng sản xuất

Bao gồm hệ thống các đường giao thông, điện, cấp thoát nước, thông tin liêc lạc đây là yếu tố có tác dụng tạo điều kiện, tiền đề cho sự ra đời và phát triển của các cơ sở sản xuất, tạo điều kiện khai thác và phát huy tiềm năng sẵn có của làng nghề Sự phát triển của yếu tố này sẽ đảm bảo vận chuyển và cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng giao lưu hàng hóa, đưa nhanh tiến bộ khoa học

và công nghệ mới vào sản xuất, đồng thời làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Hệ thống thông tin liên lạc giúp các doanh nghiệp nắm bắt thông tin để điều chỉnh quá trình sản xuất trước những thay đổi của thị trường Để đảm bảo sự phát triển cho các làng nghề thì cũng phải chú trọng đầu tư phát triển cơ sơ hạ tầng vì cơ sở hạ tầng nông thôn tương đối thiếu thốn

Trang 36

1.1.5.6 Nguồn nguyên vật liệu

Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất của các làng nghề Trong những giai đoạn trước đây, gần nguồn nguyên liệu được coi là là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển các làng nghề Song hiện nay vấn đề này trở nên không quan trọng đối với sự phát triển của các làng nghề bởi việc hỗ trợ tích cực của các phương tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật Tuy nhiên, vấn đề khối lượng, chất lượng, chủng loại và khoảng cách nguồn nguyên liệu vẫn có những ảnh hưởng nhất định tới chất lượng và giá thành sản phẩm

1.1.5.7 Chất lượng nguồn lao động và trình độ quản lý

- Lao động là nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu trong các hoạt động kinh tế, nó có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của làng nghề Một nguồn lao động tham gia sản xuất tại các làng nghề có ổn định thì mới đảm bảo cho các hoạt động sản xuất ổn định Đặc biệt người lao động tại các làng nghề phải làm hầu hết các công đoạn của quá trình sản xuất, quan trọng là sự, khéo léo, sáng tạo của người thợ vì vậy càng tỏ rõ tầm quan trọng của người lao động đối với sự phát triển của làng nghề Hiện nay, nguồn lao động nông thôn khá dồi dào, tuy nhiên do phương thức đào tạo theo kiểu truyền nghề nên khối lượng lao động có kỹ năng, lành nghề lại rất ít vì vậy hạn chế sự phát triển của các làng nghề Ngoài ra đối với người quản lý hoạt động của cơ sở sản xuất kinh doanh phải có kiến thức về kinh doanh, quản lý Vì vậy phải đảm được nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng là điều kiện cần thiết cho phát triển bền vững các làng nghề

1.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề của một số Quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm một số Quốc gia trên thế giới

1.2.1.1 Kinh nghiệm ở Nhật Bản

Những năm 1970, công cuộc công nghiệp hóa ở Nhật Bản đã thu hút lao động về thành thị, dẫn đến tình trạng hoang tàn ở vùng nông thôn Năm 1979, GS Hiramatsu, Chủ tịch tỉnh Oita đã khởi xướng phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” (One village, One product - OVOP) đem lại thành công lớn cho sự phát triển kinh

Trang 37

tế, xã hội của tỉnh và sau đó lan ra toàn đất nước Nhật Bản Từ một tỉnh nghèo, Oita được gần như cả thế giới biết đến nhờ các nông sản tuyệt hảo như nấm hương khô, chanh kabosu, rượu shouchu, lúa mạch, ngựa seiki…

Điểm cốt lõi của OVOP là mỗi làng phải chọn cho mình một sản phẩm đặc biệt nổi trội, có tính cạnh tranh nhất mà địa phương khác không có Chính quyền sẽ

hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật, vốn và thị trường nhằm mang lại giá trị gia tăng cao nhất Đối tượng khách hàng mục tiêu là du khách

Trên thực tế mỗi địa phương đều có nét văn hóa riêng, do vậy, tạo ra những sản phẩm đặc trưng dựa trên giá trị văn hóa đó và du khách khi tới bất cứ một địa phương nào đều luôn mong chờ được thưởng thức, chiêm ngưỡng những gì độc đáo của địa phương đó

Kênh phân phối chính của OVOP Nhật Bản là các siêu thị Liên minh HTX quyết định giá bán và trong đó, siêu thị hưởng 8%; liên minh hưởng 12%; người sản xuất hưởng 80%

Một nguyên tắc căn bản của OVOP là phát triển nguồn nhân lực Ở tỉnh Oita, người ta xây dựng 6 trường học để dạy nông dân cách làm ăn Việc đào tạo này vừa quan tâm đến phổ biến kiến thức, kỹ năng; vừa nuôi dưỡng sự sáng tạo, cùng với tinh thần, đạo đức kinh doanh, trên cơ sở duy trì giá trị văn hóa truyền thống

1.2.1.2 Kinh nghiệm ở Ấn Độ

Ấn Ðộ có nhiều nghề truyền thống, có giá trị kinh tế và nghệ thuật cao như sản xuất tơ lụa, đồ trang sức, kim cương, gốm mỹ nghệ Chính phủ Ấn Ðộ xác định sản phẩm từ những nghề này là những mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu đặc biệt của nước này

Chính phủ Ấn Ðộ xác định sản phẩm từ những nghề này là những mặt hàng mũi nhọn xuất khẩu đặc biệt của nước này Ấn Ðộ có nhiều chủ trương chính sách nhằm giữ gìn và phát triển các làng nghề truyền thống và làng nghề mới, nhiều biện

Ấn Ðộ tích cực giúp đỡ và hỗ trợ về tài chính cho các làng nghề Chính phủ

đã thực hiện chương trình phát triển nông thôn tổng hợp, thúc đẩy nghề tiểu thủ công để tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư ở nông thôn Các làng nghề truyền

Trang 38

thống được vay vốn trung hạn và dài hạn từ 5-10 năm với lãi suất thấp để mua sắm máy móc thiết bị Mặt khác, chương trình cũng chú trọng đến việc hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp vật tư, nâng cao tay nghề, hỗ trợ dịch vụ và tiêu thụ sản phẩm cho làng nghề

1.2.1.3 Kinh nghiệm ở Thái Lan

Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công Để khai thác kỹ năng của các làng nghề truyền thống ở miền bắc Thái Lan, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết

lao động địa phương, từ năm 2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm) Đây là chương trình

chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong sản phẩm Chính phủ hỗ trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại

Ý tưởng ‘mỗi làng một sản phẩm’ (One Village One Product Movement) viết tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm

Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm

ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ

Trang 39

1.2.2 Bài học kinh nghiệm ở Việt Nam

1.2.2.1 Kinh nghiệm từ lịch sử hình thành làng nghề

Làng nghề truyền thống đã đóng một vai trò quan trọng và lâu dài trong lịch

sử phát triển Việt Nam Các làng nghề đã sản xuất ra các mặt hàng thủ công với chất lượng cao như đồ gốm, vải vóc; đồ thờ cúng; hàng mỹ nghệ cho đời sống … phục vụ mọi mặt của đời sống xã hội

Làng nghề vào những năm trước cách mạng tháng tám đã cực kỳ đa dạng, nó được hình thành bởi những nghề cũ tồn tại và những nghề mới được phát triển nhằm đáp ứng thị trường luôn thay đổi Bằng nhiều cách khác nhau, những nghề thủ công này đa dẫn đầu trong sự nghiệp phát triển lúc bấy giờ

Giai đoạn từ 1986 đến 1992: Đây là giai đoạn phát triển quan trọng của làng nghề Giai đoạn này được đanh dấu bằng bước ngoặt chuyển đổi từ cơ chế quản lý bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Các chính sách phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế làng nghề Trong giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát triển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ thuật được tăng cường Đặc biệt, đã hình thành nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh, sản lượng sản phẩm ngày càng lớn, giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, thu hút

số lượng lớn lao động chuyên và không chuyên tham gia vào quá trình sản xuất

Các sản phẩm của làng nghề truyền thống của Việt Nam đã có được thị trường tiêu thụ tương đối ổn định ở Đông Âu, Liên xô (cuc) tạo cơ hội cho làng nghề duy trì được sự phát triển và có được những nguồn thu đáng kể từ các sản phẩm xuất khẩu Tuy nhiên, sự phát triển không duy trì được lâu do ảnh hưởng trực tiếp từ sự biến động của thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ, nên hàng tiểu thủ công nghiệp của Việt Nam không tiêu thụ được, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ

sở phải đóng cửa ngừng hoạt động, lao động tiểu thủ công nghiệp giảm mạnh: Hà Nội (Hà Tây cũ) giảm 43,31% từ 111.693 lao động (1988) xuống còn 63.313 lao động (1991) Trong khi đó, ở Hải Phòng có 6 nghề thủ công đã giảm 11.000 lao động, ở Thái Bình nghề mây tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991 – 1992 chỉ bằng

10 – 15% so với giai đoạn 1988 – 1989

Trang 40

Giai đoạn từ 1993 đến nay: đường lối đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều kết quả tích cực Vấn đề về phát triển bền vững làng nghề xét về các khía cạnh kinh tế -

xã hội và môi trường đã và đang được Đảng và Chính phủ, cũng như các cấp các ngành quan tâm nghiên cứu, đặc biệt sau nghị quyết hội nghị lần thứ (VII) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa (X) về nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Có nhiều làng nghề truyền thống đã được khôi phục và phát triển Có nhiều làng nghề truyền thống còn duy trì được cả về nghề nghiệp và mặt hàng truyền thống Cũng trong thời gian này, trước nhu cầu đòi hỏi của thị trường và giải quyết việc làm trong nông thôn, nhiều làng nghề mới đã xuất hiện

Tuy nhiên, ở một số địa phương nghề thủ công phát triển còn chậm, cũng có nhiều làng nghề đang trong tình trạng khó khăn vì thiếu vốn, không có doanh nghiệp làm đầu tàu, sản phẩm không có đầu ra Vì vậy, Để các làng nghề phát triển cần phải có nhiều giải pháp đồng bộ từ làng nghề đến chính sách vĩ mô Bản thân các cơ sở sản xuất ở làng nghề phải biết liên kết lại với nhau để thành những cơ sở, những doanh nghiệp mạnh ở ngay trong làng Tuy vậy, lâu nay Nhà nước với các chính sách, nguồn vốn của mình luôn chú trọng đến các doanh nghiệp lớn, đặc biệt

là quốc doanh, mà lơ là các doanh nghiệp nhỏ, các cơ sở sản xuất ở làng nghề Chỉ khi nào Nhà nước quan tâm hơn đến thành phần kinh tế tư nhân nhỏ ở làng nghề bằng các giải pháp cụ thể như chính sách thông thoáng, nguồn vốn dễ tiếp cận, hỗ trợ xúc tiến thương mại, hỗ trợ đào tạo nghề, giúp đỡ giải quyết ô nhiễm môi trường thì các làng nghề mới phát triển đồng bộ được

1.2.2.2 Kinh nghiệm phát triển làng nghề ở 1 số địa phương

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bạch Thị Lan Anh (2010), Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững làng nghề truyền thống vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
Tác giả: Bạch Thị Lan Anh
Năm: 2010
2. Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/TT-BNNPTNT ngày 18 tháng 12 năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 116/TT-BNNPTNT ngày 18 tháng 12 năm 2006
Tác giả: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Năm: 2006
3. Bộ Tài nguyên & môi trường (2008), Báo cáo môi trường Quốc gia 2008 –môi trường làng nghề Việt Nam, Tổng cục môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường Quốc gia 2008 –môi trường làng nghề Việt Nam
Tác giả: Bộ Tài nguyên & môi trường
Năm: 2008
4. Bộ Tài nguyên & môi trường (2011), Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – chất thải rắn, Tổng cục môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo môi trường Quốc gia 2011 – chất thải rắn
Tác giả: Bộ Tài nguyên & môi trường
Năm: 2011
5. Đặng Kim Chi và các cộng sự (2005), Làng nghề Việt Nam và môi trường, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng nghề Việt Nam và môi trường
Tác giả: Đặng Kim Chi và các cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật
Năm: 2005
6. Chi cục thống kê huyện Quốc Oai (2011), Niên giám thống kê 2011, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Quốc Oai
Năm: 2011
7. Chi cục thống kê huyện Quốc Oai (2011), Niên giám thống kê 2011, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Quốc Oai
Năm: 2011
8. Chi cục thống kê huyện Quốc Oai (2011), Niên giám thống kê 2011, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011
Tác giả: Chi cục thống kê huyện Quốc Oai
Năm: 2011
9. Phan Trung Chính (2010), “Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững”, Tạp chí cộng sản điện tử - http://www.tapchicongsan.org.vn/,(27/1/2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững”, "Tạp chí cộng sản điện tử - http://www.tapchicongsan.org.vn/
Tác giả: Phan Trung Chính
Năm: 2010
10. Trần Cao Cương (2009), "Mở rộng thị trường cho làng nghề", Báo nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn/, (17/3/2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng thị trường cho làng nghề
Tác giả: Trần Cao Cương
Năm: 2009
11. Hoàng Duy (2010), “Khôi phục phát triển làng nghề ở Thái Bình”, Cổng thông tin điện tử Thái Bình - http://thaibinh.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục phát triển làng nghề ở Thái Bình”
Tác giả: Hoàng Duy
Năm: 2010
12. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2010), Nghị Quyết đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV, Thành Ủy Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội lần thứ XV
Tác giả: Đảng bộ Thành phố Hà Nội
Năm: 2010
13. Dương Đình Giám (2012), “Hiện trạng và các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam”, Báo điện tử Thái Bình, (8/1/2013) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng và các giải pháp phát triển làng nghề Việt Nam”, "Báo điện tử Thái Bình
Tác giả: Dương Đình Giám
Năm: 2012
14. Vũ Thị Hà (2002), Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng – thực trạng và giải pháp, Học viện Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Vũ Thị Hà
Năm: 2002
15. Quang Hiếu (2007), “Ấn Độ, sức bật từ làng nghề”, Báo nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn/, (21/11/2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ấn Độ, sức bật từ làng nghề”, "Báo nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn/
Tác giả: Quang Hiếu
Năm: 2007
16. Mai Thế Hởn (1997), Để nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Tạp chí Thương Mại (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Mai Thế Hởn
Năm: 1997
17. Mai Thế Hởn, Võ Văn Phúc (2003), “Phát triển LNTT trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa”, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển LNTT trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Mai Thế Hởn, Võ Văn Phúc
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Nguyễn Hùng (2008), Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề
Tác giả: Nguyễn Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
Năm: 2008
19. Huyện Ủy Quốc Oai (2011), Nghị quyết số 11-NQ/HU ngày 09 tháng 4 năm 2011 của Huyện ủy Quốc Oai về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đến năm 2015, Huyện ủy Quốc Oai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 11-NQ/HU ngày 09 tháng 4 năm 2011 của Huyện ủy Quốc Oai về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề đến năm 2015
Tác giả: Huyện Ủy Quốc Oai
Năm: 2011
20. Huyện ủy Quốc Oai (2011), Nghị Quyết số 14-NQ/HU ngày 28/7/2011 về lãnh đạo, chỉ đạo công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020, Huyện ủy Quốc Oai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị Quyết số 14-NQ/HU ngày 28/7/2011 về lãnh đạo, chỉ đạo công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm trên địa bàn giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Huyện ủy Quốc Oai
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.18  Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp huyện Quốc - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
3.18 Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp huyện Quốc (Trang 7)
Hình 1.1: Mối quan hệ của các mục tiêu phát triển bền vững - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Hình 1.1 Mối quan hệ của các mục tiêu phát triển bền vững (Trang 18)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Quốc Oai – Hà Nội (Trang 46)
Hình 3.1. Hiện trạng làng nghề huyện Quốc Oai - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Hình 3.1. Hiện trạng làng nghề huyện Quốc Oai (Trang 60)
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp lao động làng nghề Quốc Oai 2011-2013 - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.2 Bảng tổng hợp lao động làng nghề Quốc Oai 2011-2013 (Trang 62)
Bảng 3.3 Một số sản phẩm chính của làng nghề điều tra - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.3 Một số sản phẩm chính của làng nghề điều tra (Trang 63)
Bảng 3.4 Hiệu quả một số sản phẩm chính theo làng nghề điều tra - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.4 Hiệu quả một số sản phẩm chính theo làng nghề điều tra (Trang 64)
Bảng 3.5 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề điều tra - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.5 Kết quả tiêu thụ sản phẩm của làng nghề điều tra (Trang 65)
Bảng 3.9 Thu nhập của lao động làng nghề điều tra - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.9 Thu nhập của lao động làng nghề điều tra (Trang 69)
Bảng 3.11 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các xã có làng nghề điều tra - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.11 Kết quả phân tích mẫu nước thải tại các xã có làng nghề điều tra (Trang 70)
Bảng 3.12 Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.12 Kết quả phân tích chất lượng môi trường không khí (Trang 71)
Bảng 3.18. Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.18. Bảng tổng hợp công tác đào tạo nghề phi nông nghiệp (Trang 78)
Bảng 3.25. Phương thức bán sản phẩm của các làng nghề - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.25. Phương thức bán sản phẩm của các làng nghề (Trang 85)
Bảng 3.30 Kế hoạch đầu tư đào tạo lao động phát triển ngành nghề nông thôn - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Bảng 3.30 Kế hoạch đầu tư đào tạo lao động phát triển ngành nghề nông thôn (Trang 98)
Hình 3.2 Mô hình liên kết 5 nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề - Giải pháp phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn huyện quốc oai, thành phố hà nội
Hình 3.2 Mô hình liên kết 5 nhà trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm làng nghề (Trang 100)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w