Xây dựng Nông thôn mới bền vững Căn cứ vào bộ văn bản hỏi đáp về công tác xây dựng nông thôn mới do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành: Xây dựng nông thôn bền vững là quá
Trang 1Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Vân
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh, khoa Sau đại học đã giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học 2013-2014
Tôi cũng đã nhận được sự quan tâm chỉ bảo, nhiệt tình giúp đỡ quý báu của tập thể bộ môn Kinh tế - Quản trị kinh doanh trong suốt quá trình thực hiện luận văn đảm bảo được yêu cầu và hoàn thành đúng tiến độ đề ra
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo – TS Trần Văn Dư - người đã định hướng, trực tiếp hướng dẫn và đóng góp cụ thể trong
quá trình thực hiện luận văn của tôi
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ các phòng ban thuộc huyện Quốc Oai, cán bộ, nhân dân và các hộ gia đình tại ba xã Nghĩa Hương, Hòa Thạch
và Tân Hòa đã nhiệt tình cung cấp thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn
Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các tập thể, cá nhân, bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã động viên, khích lệ trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 14 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy Vân
Trang 3Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN – TẠO NỀN TẢNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI BỀN VỮNG 4
1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững 4
1.1.1 Xây dựng Nông thôn mới bền vững 4
1.1.2 Hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân, đặc trưng, vai trò của kinh tế hộ nông dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới 7
1.1.3 Thu nhập, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo động lực xây dựng nông thôn mới bền vững 12
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập cho người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới 16
1.2 Cơ sở thực tiễn nâng cao thu nhập cho nông dân trên thế giới và ở Việt Nam 20
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông dân trên thế giới 20
1.2.2 Một số kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân thời kỳ đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam 26
1.2.3 Những bài học kinh nghiệm rút ra từ nâng cao thu nhập cho hộ nông dân 33
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 34
Trang 4NGHIÊN CỨU 38
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 41
2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội tác động đến sản xuất, thu nhập và đời sống của hộ nông dân 57
2.2 Phương pháp nghiên cứu 58
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 58
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu 59
2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 60
2.3 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 61
2.3.1 Hệ thống chỉ tiêu về điều kiện phát triển kinh tế đem lại thu nhập cho hộ nông dân 61
2.3.2 Các chỉ tiêu biểu hiện kết quả sản xuất và thu nhập của hộ nông dân Error! Bookmark not defined.3 Chương 3 KÊT QỦA NGHIÊN CỨU 65
3.1 Kinh tế hộ nông dân huyện Quốc Oai thời kỳ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2013 65
3.1.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2013 trên địa bàn huyện Quốc Oai 65
3.1.2 Kinh tế hộ nông dân huyện Quốc Oai thời kỳ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2013 66
3.1.3 Thu nhập và đời sống người dân huyện Quốc Oai thời kỳ xây dựng nông thôn mới 74
3.2 Thực trạng sản xuất và thu nhập của hộ nông dân điều tra 79
3.2.1 Tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra 79
3.2.2 Thực trạng sản xuất và thu nhập của các hộ nông dân 85
3.2.3 Tổng thu, cách chi tiêu và tích luỹ của nhóm hộ 90
3.3 Phân tích ảnh hưởng của các nguồn lực đến thu nhập của hộ nông dân 92
3.3.1 Ảnh hưởng của chủ hộ nông dân 92
Trang 53.3.3 Ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến thu nhập của hộ 95 3.3.4 Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ 96 3.4 Mối quan hệ giữa nâng cao thu nhập của hộ nông dân với xây dựng nông thôn mới 98 3.4.1.Chuyển dịch cơ cấu thu nhập của hộ trước và thời kỳ XDNTM 98 3.4.2 Ảnh hưởng của nâng cao thu nhập tới huy động vốn XDNTM 99 3.5 Đánh giá chung và những vấn đề đặt ra nâng cao thu nhập trong phát triển kinh tế hộ nông dân của huyện Quốc Oai 100 3.5.1 Đánh giá chung 100 3.5.2 Những vấn đề đặt ra cần phải nghiên cứu và giải quyết 102 3.6 Các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 103 3.6.1 Phương hướng nâng cao thu nhập hộ nông dân ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội 103 3.6.2 Mục tiêu nâng cao thu nhập hộ nông dân ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đến năm 2020 104 3.6.3 Các giải pháp nâng cao thu nhập hộ nông dân – tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội đến năm 2020 107 KẾT LUẬN 116 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH - HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa
CN – TTCN Công nghiệp tiểu thủ công nghiệp CTr/TU Chương trình thành ủy
HĐND Hội đồng nhân dân xã
XDNTM Xây dựng nông thôn mới
XDCT Xây dựng công trình
Trang 7TT Tên Bảng Trang
2.1 Tình hình sử dụng đất đai của Huyện Quôc Oai năm 2013 41 2.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011 - 2013 43 2.3 Hiện trạng hạ tầng giao thông huyện Quốc Oai 45 2.4 Thực trạng diện tích được tưới tiêu trên địa bàn huyện 46 2.5 Cơ sở vật chất kỹ thuật điện lực huyện Quốc Oai 47 2.6 Dân số, lao động huyện Quốc Oai năm 2011 và 2013 48 2.7 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa qua các năm 53 2.8 Diện tích, năng suất, sản lượng ngô qua các năm 54 2.9 Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang qua các năm 55 2.10 Diện tích, năng suất, sản lượng đỗ tương qua các năm 55 2.11 Diện tích, năng suất, sản lượng rau các loại qua các năm 56 2.12 Mẫu điều tra hộ nông dân huyện quốc oai năm 2013 59 3.1 Tình hình phát triển các loại nông hộ huyện Quốc Oai 67
3.2 Diện tích, năng suất một số loại cây trồng chính của huyện
3.3 Chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản của huyện Quốc Oai giai
3.4 Một số sản phẩm TTCN chính của huyện năm 2011-2013 73
3.5 Một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất trong kinh tế hộ nông dân
3.6 Tỷ trọng số lượng hộ theo mức thu nhập theo vùng trên địa
3.7 Tình hình chủ hộ nông dân điều tra năm 2013 80 3.8 Thực trạng cơ cấu đất đai của nông hộ điều tra năm 2013 82 3.9 Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu điều tra năm 2013 82 3.10 Cơ cấu lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân năm 2013 83
Trang 83.11 Vốn bình quân của nông hộ năm 2013 85 3.12 Giá trị sản xuất từ Nông nghiệp ở hộ điều tra năm 2013 86 3.13 Quy mô và cơ cấu CPSX nông nghiệp của hộ nông dân năm 2013 87 3.14 Tổng thu nhập bình quân từ SX Nông nghiệp của hộ 88 3.15 Tổng thu nhập bình quân từ SXKD của hộ Phi nông nghiệp 90 3.16 Tổng thu, chi tiêu và tích lũy của các nhóm hộ năm 2013 92 3.17 Ảnh hưởng của chủ hộ nông dân tới thu nhập 93
3.18 Ảnh hưởng của quy mô các nguồn lực đến thu nhập của hộ
3.19 Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ nông dân vùng
3.20 Ảnh hưởng của điều kiện bên ngoài đến sản xuất của hộ nông
3.21 Sự thay đổi cơ cấu thu nhập của hộ trước và đang XDNTM 98 3.22 Huy động vốn XDNTM bình quân 1 hộ điều tra năm 2013 99 3.23 Dự kiến đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Với 80% dân cư làm nông nghiệp và 75% lao động trong ngành nông nghiệp nghiệp, nên sự tồn và phát triển của nó luôn là vấn đề quan trọng được Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành quan tâm vào điều kiện phát triển
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng ngàn năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng, nhưng về căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kĩ thuật lạc hậu mang nặng tính độc canh, tự cung, tự cấp là chính
Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, đạt được những thành tựu đáng khích lệ với năng suất và sản lượng ngày càng tăng Có sự chuyển biến tích cực đó là nhờ vào sự đổi mới chính sách kinh tếđúng đắn của Đảng và Nhà nước đó là quyết định tiến hành công cuộc đổi mới chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước Nhất là từ khi
có chỉ thị 100 của Ban bí thư Trung ương Đảng (1981) về “cải cách công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp” [1], đặc biệt nghị quyết 10 của Bộ chính trị Trung ương Đảng
(1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” Với Nghị quyết này hộ nông dân đã trở thành đơn vị kinh tế tự chủ góp phần quan trọng vào sự phát triển của nông nghiệp nước ta trong những năm qua
Tuy nhiên bên cạnh mặt đạt được, vẫn còn tồn tại những khó khăn Đây
là tất yếu khách quan Đó là nền kinh tế hàng hoá đã tạo ra sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc, vấn đề chênh lệch thu nhập giữa các tầng lớp dân
cư, giữa các vùng giữa thành thị và nông thôn ngày một rõ Hiện nay, hơn 70% dân số nước ta ở nông thôn đây là nguồn lao động dồi dào nhưng chưa được sử dụng hợp lý, tuy nhiên nó cũng là một thách thức về vấn đề giải quyết việc làm tạo thu nhập cho người lao động Bởi vì hiện nay ruộng đất có
Trang 11hạn mà dân số ngày càng tăng lên Do vậy việc duy trì thu nhập đã khó nâng cao, thu nhập cho hộ nông dân lại càng khó hơn bởi nông thôn thì sản suất nông nghiệp vẫn còn là chủ yếu
Xây dựng NTM là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đất nước Đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn
Quốc Oai thuộc thành phố Hà nội, là cửa ngõ thủ đô, có lợi thế trong giai lưu phát triển kinh tế Nhìn chung, so với nhiều địa phương khác, mặt bằng kinh tế hộ của huyện không phải là quá thấp Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được hiện nay mâu thuẫn tiềm ẩn bên trong kinh tế hộ qua nhiều năm cũng đã bộc lộ gay gắt thể hiện thông qua: thất nghiệp gia tăng, năng suất lao động thấp, phân hoá giàu nghèo một cách sâu sắc, những yếu kém trong sản suất kinh doanh Chính vì vậy giải quyết vấn đề thu nhập cho
hộ nông dân là yêu cầu cần thiết được các nhà quan lý, các cấp ủy Đảng và
chính quyền cơ sở quan tâm Xuất phát từ đó, em chọn vấn đề: “Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân - tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội” làm luận
2.2 Mục tiêu cụ thể:
1 Góp phần hệ thống hoá và làm rõ một số vấn đề lý luận về thu nhập của hô nông dân
Trang 122 Đánh giá đúng thực trạng thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
3 Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân trong huyện ;
4 Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho các nông hộ - tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững trên địa bàn huyện Quốc oai, thành phố Hà Nội
2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3.1.Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về thu nhập của hộ nông dân; xác định những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập của hộ nông dân; từ đó đưa
ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững ở huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội
2.3.2.Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi của luận văn là địa bàn Huyện Quốc Oai- Thành phố Hà Nội Trong đó chọn 3 xã để nghiên cứu điển hình là xã Nghĩa hương, Tân hòa, Hòa thạch
- Số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2011 đến
2013
- Số liệu sơ cấp được thu thập trong 6 tháng đầu năm 2014
2.4: Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân trong XDNTM
- Thực trạng thu nhập của Hộ nông dân trên địa bàn huyện Quốc Oai – Thành phố Hà Nội
- Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nông dân tạo nền tảng xây dnwgj nông thôn mới bền vững trên địa bàn huyện Quốc Oai
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN – TẠO NỀN TẢNG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững
1.1.1 Xây dựng Nông thôn mới bền vững
Căn cứ vào bộ văn bản hỏi đáp về công tác xây dựng nông thôn mới
do bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành:
Xây dựng nông thôn bền vững là quá trình xây dựng nhằm phát triển kinh tế - xã hội nông thôn với tốc độ cao, là quá trình làm tăng mức sống của người dân nông thôn Phát triển nông thôn phù hợp với nhu cầu của con người, đảm bảo sự tồn tại bền vững và sự tiến bộ lâu dài trong nông thôn Quá trình xây dựng đó dựa trên việc sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên
mà vẫn bảo đảm giữ gìn môi trường sinh thái nông thôn Phát triển nông thôn đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay nhưng không làm cạn kiệt tài nguyên,
không để lại hậu quả xấu cho thế hệ tương lai.[3]
1.1.1.1 Xây dựng nông thôn mới, tiêu chí quốc gia nông thôn mới giai đoạn
2010 – 2020
Những đặc trưng xây dựng nông thôn mới
Nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 bao gồm các đặc trưng sau:
- Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;
- Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
- An ninh tốt, quản lý dân chủ;
- Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao [2]
Trang 14Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới
Các nội dung, hoạt động của Chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư đại phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn ở ấp, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
- Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ các mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
- Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,
dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới [31]
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sản xuất tiên tiến;
Trang 15- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao
Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2020, 100% xã đạt chuẩn nông thôn mới [32]
1.1.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới bền vững
Quyết định 800/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới thực sự là cơ hội “vàng” cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Để biến cơ hội ấy thành hiện thực, cần có cách nhìn, cách tiếp cận đúng đắn, nhất là đối với Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân
Chỉ thị 100, khoán 10, giao đất ổn định lâu dài cho nông dân theo Nghị định 64, thực hiện 5 quyền theo Luật đất đai là những chủ trương, chính sách lớn tháo gỡ những “nút thắt” của cơ chế cũ, đã tạo ra những động lực to lớn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Mỗi thời điểm đổi mới cơ chế đều gắn liền với những thành tựu to lớn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Chương trình xây NTM là nội dung cốt lõi trong thực hiện Nghị quyết 26-NQ/T.Ư, đây là lần đầu tiên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được bàn một cách toàn diện, đi từ quy hoạch và định hướng phát triển với tầm nhìn dài hạn Vì vậy, chúng ta phải nhận thức một cách sâu sắc, đầy đủ và có cách tiếp cận đúng đắn, nhất là đối với Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân, thì rất khó tạo ra được động lực nội sinh cho sự phát triển, bảo đảm xây dựng NTM bền vững.[35]
Trang 16- Xây dựng nông thôn mới bền vững nhằm phát triển kinh tế, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
- Tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân, đời sống văn hóa lành mạnh và giữ gìn bản sắc dân tộc Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn;
- Nâng cao dân trí, đào tạo nông dân có trình độ sản xuất cao, có nhận thức chính trị đúng đắn, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
- Xây dựng nền nông nghiệp phát triển bền vững theo hướng hiện đại Nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả trong sản xuất Sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao
- Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ
và hiện đại, nhất là đường giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, khu dân cư,…; xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, văn minh, giàu đẹp, bảo
vệ môi trường sinh thái, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc; an ninh trật tự được giữ vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa [36]
1.1.2 Hộ nông dân, kinh tế hộ nông dân, đặc trưng, vai trò của kinh tế hộ nông dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới
- Khái niệm Hộ Nông dân: Trong lịch sử phát triển nông nghiệp của thế
giới, hộ nông dân là khái niệm chỉ một đơn vị cấu thành cơ bản trong sản xuất nông nghiệp, chỉ số hộ sống ở khu vực nông thôn và liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp xen lẫn với phi nông nghiệp với mức độ khác nhau Hộ nông dân có thể có nhiều thành viên tham gia hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau Tuy nhiên cuộc sống của hộ chủ yếu vẫn dựa vào các nguồn tài nguyên như: Đất đai, các hoạt động chăn nuôi và trồng trọt Dưới khía cạnh kinh tế, hoạt động nổi trội nhất của hộ nông dân là sản xuất nông nghiệp, chủ yếu dựa vào lao động gia đình với đặc trưng tham gia từng phần trong thị trường đầu vào và đầu ra với mức độ chưa hoàn hảo (Đào Thế Tuấn, 1997)
Trang 17Tác giả Frank Ellis định nghĩa “Hộ nông dân là hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất thường nằm trọng hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cụ bộ vào các htij trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao” [19]
Nhà khao học Traianốp cho rằng “ Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rât sổn định” và ông coi “ Hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp” [28, 8-12]
Từ các khái niệm trên xin khái quát hộ nông dân như sau: Hộ nông dân
là những hộ ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là sản xuất nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu là nghề nông Ngoài nông nghiệp hộ nông dân còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp như tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ ở mức độ khác nhau
- Kinh tế Hộ Nông dân:
+ Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Trong nông hộ, chủ hộ thường là người vừa điều hành quản lý sản xuất lại vừa là người trực tiếp tham gia lao động nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động trực tiếp rất cao [33 -12]
+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế hộ nông dân
Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho các
hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và sản lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ
+ Kinh tế hộ nông dân chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê
Trang 18mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn
để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác do các thành viên trong hộ cùng dựa trên một cơ sở kinh tế, ý thức trách nhiệm rất cao, việc
bố trí, sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt, hợp lý
+ Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế Hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại Mặt khác, hộ cũng sẽ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao
- Đặc trưng Kinh tế hộ nông dân:
Giáo sư Frank Ellis Trường Đại học tổng hợp Cambridge (1988) đưa ra một số định nghĩa về nông dân, nông hộ Theo ông các đặc điểm đặc trưng của đơn vị kinh tế mà chúng phân biệt gia đình nông dân với những người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là 6 đặc trưng như sau:
Thứ nhất: Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình
quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Bởi vì sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đai để tạo ra của cải đóng góp vào ngân quỹ chung của nông hộ[8]
Thứ hai: Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ
với nhau và được chi phối bởi quan hệ huyết thống Thông thường chủ hộ thường là người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất Với đặc điểm này, việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất, cơ cấu tổ chức rất đơn giản [8]
Thứ ba: Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy
động hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khẳ năng thích nghi
Trang 19và tự điều chỉnh tốt Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồn lực cho sản xuất ngay cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất giản đơn[8]
Thứ tư: Quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hoá và đặc biệt là lợi ích
kinh tế chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hết sức đa dạng và phức tạp, song chúng cùng tác động tạo nên sự đồng tâm, hiệp lực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế mà không cần đến thưởng phạt Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác [8]
Thứ năm: Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị
trường Chính vì thế, trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực của mình như: đất đai, sức lao động với thị trường đầu ra, nông hộ chỉ mua những gì mà họ không có khả năng tự túc như: quần áo, thuốc men hay các đồ gia dụng khác [9]
Thứ sáu: Kinh tế hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của
mình là chủ yếu Chỉ khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt động mua bán hay đi thuê mới diễn ra [9]
Với các đặc trưng trên, có thể khẳng định rằng kinh tế nông hộ luôn là hình thức tổ chức kinh tế rất thích hợp với sản xuất nông nghiệp Bởi vì, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là các sinh vật sống rất cần sự chăm sóc trực tiếp và thường xuyên của con người Người lao động trong nông hộ vời ý thức trách nhiệm cao, có sự gắn bó mật thiết với cây trồng vật nuôi nên hoàn toàn có thể đảm nhận công việc đó
- Vai trò kinh tế hộ nông dân thời kỳ xây dựng nông thôn mới
Kinh tế hộ gia đình là một lực lượng sản xuất quan trọng ở nông thôn Việt Nam Hộ gia đình nông thôn thường sản xuất, kinh doanh đa dạng, kết hợp trồng trọt với chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh ngành nghề phụ Sớm nhận thức rõ vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong
Trang 20quá trình đổi mới và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển Từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị khóa VI (1988),
hộ nông dân đã thực sự được trao quyền tự chủ trong sản xuất, và do đó đã khơi dậy nhiều nguồn lực và tiềm năng để kinh tế hộ gia đình phát triển; người nông dân gắn bó với ruộng đất hơn, chủ động đầu tư vốn để thâm canh tăng vụ, ruộng đất được sử dụng tốt hơn Nghị quyết Trung ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, nhất là CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã khẳng định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực có vai trò cực kỳ quan trọng cả trước mắt và lâu dài, làm cơ
sở để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn II từ năm 2010 - 2020 [9] đã xác định kinh tế hộ gia
đình là một đơn vị sản xuất cơ sở, cần thiết cho chuyển dịch cơ cấu nền kinh
tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Nghị định số 66/HĐBT ngày 2-3-1992; Luật Doanh nghiệp (2005) đã
khẳng định: Chủ hộ chịu trách nhiệm vô hạn về vốn và kết quả kinh doanh của mình [11] mặt khác Nhà nước cũng có những chính sách tạo điều kiện
thuận lợi để hộ kinh doanh có số vốn phù hợp với quy mô để hộ gia đình có thể chuyển thành doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và các hoạt động theo pháp luật Theo đó, kinh tế hộ gia đình thích ứng với cơ chế thị trường ngày càng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm
ở nông thôn Xuất hiện nhiều hộ gia đình sản xuất theo phương thức trang trại gia đình, trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
Kinh tế hộ gia đình đang có cơ hội, điều kiện phát triển mạnh mẽ khi chúng ta thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới là một nội dung quan trọng của Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Ngày 16-4-2009, Thủ tướng Chính phủ có quyết định số 491 ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Bộ tiêu chí quy định việc thực hiện nông thôn mới ở nước ta gồm 7 vùng, với 5 nội dung,
Trang 2119 tiêu chí [2] Trong đó, phát triển kinh tế hộ gia đình, đa dạng hóa ngành nghề, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn là những nội dung của Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.
1.1.3 Thu nhập, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân – tạo động lực xây dựng nông thôn mới bền vững
1.1.3.1 Thu nhập:
Thu nhập là một trong những phương tiện giúp con người định hướng giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về thu nhập hộ nông dân
- Theo quan điểm của Traianụp về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện không tồn tại thị trường sức lao động thì thu nhập của hộ nông dân không giống thu nhập của các xí nghiệp tư bản Thu nhập trong hộ không chỉ có tiền lãi kinh doanh mà bao gồm toàn bộ giá trị lao động Như vậy thu nhập của nông hộ
là phần còn lại sau khi lấy giá trị sản xuất trừ đi tổng chi phí vật chất [12]
- Quan điểm của Barnum và Squire về thu nhập của hộ nông dân trong điều kiện tồn tại thị trường sức lao động thì cho rằng trong điều kiện tồn tại thị trường sức lao động được phân chia thành: Thời gian lao động nghỉ ngơi, thời gian lao động làm việc tại nhà, thời gian sản xuất nông nghiệp và thời gian làm việc có tiền công Từ đó các ông đưa ra khái niệm thu nhập hộ nông dân như sau: Thu nhập hộ nông dân được tính bằng giá trị sản phẩm sau khi
đã trừ đi các phần như: Sản phẩm hộ tiêu dùng, giá trị công lao động thuê ngoài, chi phí đầu vào cho sản xuất và cộng thêm giá trị tiền lao động đi làm thêm song ở đây các ông lại tính tiền công giống nhau nên điều này là không đúng [21]
Để đi sâu vào nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau về hộ nông dân thì nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu hỗn hợp để đánh giá thu nhập của hộ nông dân Thu nhập hỗn hợp của hộ nông
Trang 22dân là phần thu được sau khi lấy tổng thu (Tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và chi phí khác bao gồm thuế và khấu hao tài sản cố định (Nguồn Nguyễn Sinh Cúc và Nguyễn Văn Tiêm, 1996) [82] Như vậy trong phần thu nhập của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ, tiền công lao động của các thành viên và lãi kinh doanh
Xuất phát từ các quan điểm trên và đặc trưng của hộ nông dân ở Việt Nam thì tổng quát về thu nhập của hộ nông dân như sau: Thu nhập của một
hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng
để bù đắp lại cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy, tái mở rộng sản xuất nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện Có thể phân thu nhập của hộ thành 3 loại như: Thu từ nông nghiệp, thu từ phi nông nghiệp và thu khác
- Thu nhập từ nông nghiệp: Bao gồm thu từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản
- Thu nhập từ phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các nghành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khớ Ngoài ra thu nhập phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại dịch vụ như buôn bán, thu gom
- Thu nhập khác: Đó là thu nhập từ các hoạt động làm thêm, làm thuê, làm công ăn lương, từ các trợ cấp xã hội hoặc các nguồn thu nhập bất thường khác
1.1.3.2 Nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
Nâng cao thu nhập là làm cho lượng thu nhập ngày càng tăng và ổn định trong một thời gian tương đối dài của hộ gia đình và cộng đồng dân cư
mà không làm suy giảm (ảnh hưởng) đến việc phát triển tài nguyên đa dạng sinh học của vùng và quốc gia
Vấn đề chủ yếu đối với nâng cao thu nhập:
Trang 23- Lượng thu nhập ngày càng tăng, phù hợp với mặt bằng phát triển thu nhập của dân cư ở các vùng lân cận và cả nước
- Lượng thu nhập này giữ ổn định động trong một thời gian dài từ 3 đến
5 năm trở lên
- Nâng cao thu nhập tính cho từng hộ gia đình nói riêng và cả cộng đồng dân cư nói chung nghĩa là không còn hộ đói, giảm hộ nghèo và tiến tới đạt được mức sống trung bình trở lên của tất cả các hộ dân cư
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đang phát triển theo cơ chế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa thì sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế, các phương thức sản xuất hoàn toàn khách quan phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế quốc dân Kinh tế nông hộ là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân Trong mọi thời đại thì kinh tế nông
hộ dù phát triển dưới một hình thức nào cũng đều góp phần quan trọng giúp cho nền kinh tế quốc dân phát triển Để nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân là một vấn đề chiến lược vì hộ nông dân là thành phần chủ yếu chiếm số đông trong nền kinh tế Việt Nam Nâng cao thu nhập cho hộ nông dân cũng chính là nâng cao mức sống cho người dân và tạo điều kiện phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
Ở nước ta hiện nay, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỉ trọng lớn trong nền kinh tế Mặt khác đối với nông nghiệp khả năng sản xuất hàng hóa chưa cao nên kinh tế nông hộ cũng có vai trò hết sức to lớn Nó thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển Kinh tế nông hộ hàng năm đã cung cấp cho xã hội khoảng 90% sản lượng thịt cá, sản lượng lương thực và sản lượng rau quả Trên cơ sở đó cần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả Đẩy mạnh xuất khẩu và cải tạo tốt hơn tài nguyên đất, lao động, vốn
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế hiện nay, chúng ta đang chủ trương xóa bỏ chế độ độc canh tiến đến đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành dịch vụ ở nông thôn theo điều kiện cụ thể của từng vùng Từng
Trang 24bước xóa bỏ cơ chế sản xuất tự cung tự cấp chuyển sang sản xuất hàng hóa theo hình thức tập trung để tăng khả năng đầu tư cũng như phát huy các tiềm lực khác góp phần nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi kết hợp phát triển các nghành nghề, các loại hình dịch vụ nhằm không ngừng nâng cao thu nhập cho người nông dân góp phần thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn vào năm 2020 theo tinh thần của đại hội Đảng IX đã đề ra
1.1.3.3 Thu nhập cho hộ nông dân- tạo nền tảng xây dựng nông thôn mới bền vững:
Quyết định 800/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (XDNTM) thực sự đã tạo cơ hội cho phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn Để biến cơ hội ấy thành hiện thực, cần có cách nhìn, cách tiếp cận đúng đắn, nhất là đối với Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân Vì vậy khi xây dựng Đề án phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người nông dân, cần quan tâm và làm rõ một số nội dung :
Thứ nhất, tiếp cận những định hướng mới trong phát triển sản xuất,
kinh nghiệm học tập từ bên ngoài, làm rõ hướng quy hoạch các loại ngành nghề, sản phẩm chủ lực trên địa bàn Khi xây dựng Đề án phải tổ chức điều tra, tính toán, khảo sát và dự báo thị trường, tránh tình trạng được mùa rớt giá
Thứ hai, việc xác định ngành nghề, sản phẩm chủ lực phải cùng đi với
tư duy và cách thức tổ chức sản xuất hàng hóa; phải thực sự là ngành nghề, sản phẩm có khả năng cạnh tranh, có lợi thế ở địa phương và trên thị trường
Thứ ba, phải tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, hiệu
quả Theo đó, cần tổ chức lại sản xuất, liên kết sản xuất theo hướng lấy người nông dân làm trung tâm, là chủ thể trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Thứ tư, xu thế sản xuất của các hộ nông dân nhỏ lẻ và tự chủ ngày
càng gặp rất nhiều khó khăn trong môi trường cạnh tranh Vì vậy, việc chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tăng quy mô sản xuất, phát triển tổ đội liên kết, HTX, trang trại; ưu đãi, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, hình thành các hiệp hội nghề nghiệp là yêu cầu khách quan của sự phát triển và cũng là yêu cầu cấp thiết cho cả trước mắt và lâu dài
Tạo nền tảng cho xây dựng nông thôn mới bền vững
Trang 25Chương trình XDNTM là nội dung cốt lõi trong thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Đây là lần đầu tiên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được bàn một cách toàn diện, đi từ quy hoạch và định hướng phát triển với tầm nhìn dài hạn
Thông qua 19 tiêu chí bao quát hầu hết các lĩnh vực, cả về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường, an ninh,… sẽ dần hình thành diện mạo nông thôn mới có một nền sản xuất phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ
Ngoài sự hỗ trợ đầu tư của Nhà nước, cần có sự tham gia tích cực của từng người dân, của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội Để làm tốt công tác này, thì hoạt động tuyên truyền cần phối hợp với các cấp chính quyền địa phương trong việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, làm sao để “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân thực hiện, dân được hưởng”
Để huy động tổng hợp sức mạnh của toàn xã hội tham gia đóng góp sức người, sức của cho XDNTM, cần công khai, minh bạch các công việc Người dân cần phải được thông tin đầy đủ, đa chiều Chẳng hạn, trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng, người dân cần biết được chủ trương của Đảng và Nhà nước thực hiện chương trình này là vì muốn tạo điều kiện để người dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của họ
Để làm được điều này, thì cần có sự ủng hộ, tự nguyện đóng góp thêm của nhân dân, vì nguồn ngân sách còn hạn hẹp Nhà nước chỉ hỗ trợ một phần, hỗ trợ kỹ thuật, còn giá trị còn lại của công trình thì người dân cần tự nguyện đóng góp sức lao động, góp đất để giải phóng mặt bằng, đóng góp một phần kinh phí,… Nếu người dân hiểu kỹ được vấn đề, thì sẽ xoá được tư tưởng trông chờ, ỷ lại và vui vẻ đóng góp, tạo ra được động lực nội sinh cho
sự phát triển, bảo đảm XDNTM bền vững
1.1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập cho người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới
Trang 26Trong sản xuất kinh tế hộ nông dân chịu tác động bởi các nhóm yếu tố chủ quan và khách quan Các nhân tố này tác động đến thu nhập của hộ thông qua 2 bộ phận chính của thu nhập là tổng thu và tổng chi phí Do đó các yếu
tố ảnh hưởng đến hai thành phần này sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân Có nghĩa là một yếu tố nào đó làm thay đổi một trong hai thành phần này cũng làm thay đổi thu nhập của hộ
Các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu và tổng chi phí trên cũng có quan
hệ với nhau, có nhiều yếu tố vừa ảnh hưởng đến tổng thu vừa ảnh hưởng đến tổng chi phí Vì vậy có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân như sau:
Những nhân tố ảnh hưởng đến nâng cao thu nhập của hộ nông dân
- Điều kiện tự nhiên:
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác như: thời tiết, khí hậu Do đối tượng sản xuất của nông nghiệp là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng và vật nuôi chụi ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng
và vật nuôi nên sẽ cho năng suất cao Ngược lại thiên tai dịch bệnh sẽ làm
Thu nhập của hộ
Chất lượng lao động
Chính sách của Nhà Nước
Trang 27giảm năng suất của cây trồng, vật nuôi dẫn đến làm giảm thu nhập của hộ nông dân
Khả năng các nguồn lực của hộ: Đất đai, vốn, lao động
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế được trong sản xuất nông
nghiệp Để phát triển kinh tế hộ nông dân trước hết phải dựa vào đất Nhất là những nơi có tiềm năng về đất đai để có thể lập trang trại, chuyển sang sản xuất hàng hóa Đối với tài nguyên đất cần chú ý tới hai yếu tố đó là diện tích
và độ màu mỡ để có biện pháp làm giảm chi phí sản xuất và tăng năng suất
Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản xuất
mà hộ khai thác được Nếu quy mô lớn thì tổng khối lượng sản phẩm đạt được có thể lớn hơn so với hộ có quy mô bé hơn nếu có cùng một năng suất
Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ màu mỡ của đất Độ phì, độ màu mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển Chất lượng của đất còn quy định tới lợi thế của tựng vựng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và làm giảm được quy mô lao động thể hiện mức độ đầu tư lao động vào một công việc cụ thể Nếu đầu tư sức lao động cao sẽ cho sản lượng cao hơn, thu nhập cao hơn và ngược lại Khi đánh giá về nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỉ số giữa số lượng lao động và số lượng nhân khẩu Khi tỉ số giữa số lượng lao động trên nhân khẩu thấp nghĩa là tỉ lệ phụ thuộc cao, điều nay gây bất lợi cho hộ Nó làm cho hộ nghèo ngày càng nghèo thêm
Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả
năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất Trong đó kiến thức chuyên môn là cơ sở để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất Mà kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường,
ở các lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn
Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích lũy được trong cuộc sống Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt Nó tuân theo quy luật tự nhiên nên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn
Trang 28có thể bị thất bại nếu không có kinh nghiệm Vì vậy kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân
Vốn: Vốn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành
tổ chức sản xuất kinh doanh Nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất Có vốn có thể mở rộng quy mô, chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, mua sắn trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất, đầu tư thâm canh tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
- Trình độ của chủ hộ: Trình độ học vấn của chủ hộ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới thu nhập của gia đình Những người có trình độ học vấn càng cao, thì khả năng kiếm tiền càng giỏi Cụ thể là những hộ gia đình mà chủ hộ cóổtình độ học vấn từ tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên thì có thể kiếm được khoản thu nhập cao hơn so với những hộ gia đìnhmà chủ hộ có trình độ học vấn dưới mức phổ thông trung học
- Chính sách của nhà nước: Chính sách Nhà Nước bao gồm các chính sách thuế, chính sách đất đai, tín dụng, chính khuyến nông, chính sách trợ giỏ Cỏc chính sách đều ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế hộ nông dân Mỗi chính sách ban hành đều có tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ dù lớn hay nhỏ Nếu chính sách đúng sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư mà đặc biệt là chính sách về kinh tế nông nghiệp nông thôn
- Thị trường nông thôn: Thị trường nông thôn do có những đặc điểm khác biệt so với thị trường đô thị Thách thức lớn nhất chính là ở sự rộng lớn, dân cư phân bố rải rác, điều kiện hạ tầng giao thông chưa tốt, mức thu nhập không đồng đều giữa các vùng, gây ra nhiều khó khăn để thiết lập một hệ thống phân phối
Một vấn đề nữa trong cơ chế thị trường nông thôn các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn sản xuất sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí cơ hội thấp Đối với từng hộ nông dân thì để đáp ứng nhu cầu thị trường về nông
Trang 29sản thì họ có xu hướng liên kết hợp tác sản xuất với nhau Mặt khác thị trường
là nơi mà giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trong sản xuất được hình thành nên thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân Vi thị trường sẽ ảnh hưởng đến giá cả đầu vào nên ảnh hưởng tới chi phí sản xuất, ảnh hưởng tới giá cả sản phẩm đầu ra nên ảnh hưởng tới tổng thu của hộ nông dân Nên sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của hộ nông dân Ngoài ra thị trường còn ảnh hưởng tới thu nhập của hộ nông dân thông qua việc tiêu thụ các sản phẩm
1.2 Cơ sở thực tiễn nâng cao thu nhập cho nông dân trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho nông dân trên thế giới
a Trung Quốc
Điều chỉnh chính sách tăng thu nhập cho người nông dân
Từ khi nông nghiệp bước sang giai đoạn mới, Chính sách nông nghiệp của Chính phủ Trung Quốc tập trung chủ yếu vào vấn đề tăng thu nhập cho nông dân Kể từ năm 1997, thu nhập của người nông dân tăng chậm dần Nguyên nhân chính là do cơ cấu nông nghiệp bất hợp lý cùng với quá trình điều chỉnh cơ cấu theo hướng sử dụng lao động và đô thị hoá nông thôn diễn
ra chậm chạp Do vậy, biện pháp chính để tăng thu nhập cho nông dân là phải thay đổi từ tăng sản lượng và giá nông sản sang điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và công nghiệp hoá nông thôn
Phát triển xí nghiệp hương trấn là cách làm rất hiệu quả để tăng thu nhập cho nông dân Trong bối cảnh mới của kế hoạch 5 năm lần thứ 9, Trung Quốc đã củng cố lại cơ sở nền tảng để có thể mở rộng hơn nữa loại hình doanh nghiệp này
Luật doanh nghiệp hương trấn của nước CHND Trung hoa ra đời năm
1996 đã tạo khung pháp lý cho loại hình doanh nghiệp này hoạt động Theo tinh thần của kỳ họp lần thứ 15 Quốc hội khoá 4 của Đảng cộng sản, năm
Trang 301999, Trung Quốc ban hành chính sách khuyến khích cải cách và mở rộng xí nghiệp hương trấn theo hướng hiện đại hoá, cải cách toàn diện cả về hệ thống kinh doanh và quản lý để giúp các doanh nghiệp này hoạt động năng động và hiệu quả Năm 2001, giá trị sản lượng của các xí nghiệp hương trấn đã tăng 8% so với năm 2000 (tương đương 290 triệu NDT), thu hút 128 triệu lao động nông nghiệp và đóng góp đáng kể vào quá trình tăng thu nhập cho nông dân
Chương trình thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp cũng là một giải pháp quan trọng để làm tăng thu nhập cho nông dân Việc lao động nông nghiệp đổ ra các thành phố tìm việc làm đã trở thành trào lưu từ đầu những năm 1990 Đến năm 2001, khoảng 80 triệu lao động từ nông thôn đi tìm việc làm ở nơi khác, nếu mỗi người đem về khoảng 3.841 NDT/ người/ năm thì số thu nhập tăng thêm là trên 300 tỷ NDT với mức tăng thu nhập bình quân là
376 NDT, chiếm 15,68% tổng thu nhập của nông dân Để hình thành thị trường lao động có trật tự và lành mạnh, Nhà nước đã thực hiện một số biện pháp điều chỉnh như sau:
Mở các cơ sở dạy nghề, điều hoà có tổ chức giữa nơi thừa và nơi thiếu
Xây dựng kế hoạch tổng thể về phát triển các cơ sở đào tạo nghề trên toàn quốc, lựa chọn những thành phố, thị trấn vừa và nhỏ hội tụ đủ điều kiện
để hình thành thị trường lao động thống nhất giữa thành thị và nông thôn
Mở nhiều hình thức tập huấn nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn và hình thành hệ thống chuẩn bị lao động
Sửa đổi các quy định trong hệ thống đăng ký trang trại thuộc các thị trấn nhỏ
Tháng 3/2002, Hội đồng Nhà nước đã ban hành "Gợi ý về cải cách hệ thống quy định đăng ký trang trại thuộc các thị trấn nhỏ" cho Bộ An ninh công cộng thực hiện Văn bản này công nhận tính pháp lý đối với nhà cửa và
hộ khẩu của những người có việc làm ổn định tại nơi mới đến Người dân có quyền duy trì hoạt động kinh doanh tại quê hương hay chuyển đến thị trấn
Trang 31nhỏ khác theo nguyên vọng mà vẫn được hưởng các quyền lợi, nghĩa vụ như nhau, không có sự phân biệt đối xử giữa người địa phương và người mới đến
Vấn đề xoá đói giảm nghèo lo đủ cơm ăn áo mặc cho nông dân được đặc biệt quan tâm Năm 1996 và 1999, Trung Quốc đã tổ chức 2 hội nghị Trung Ương về xoá đói giảm nghèo Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 8, đầu tư của Trung Ương cho xoá đói giảm nghèo tăng lên theo từng năm, từ 9,8 tỷ NDT năm 1995 lên 24,8 tỷ NDT năm 1998 (cao gấp 30 lần so với năm 1978)
Dự kiến năm 2002 con số này sẽ tăng lên 29,1 tỷ NDT (bao gồm cả hỗ trợ tài chính và tín dụng) Nếu tính tiêu chuẩn nghèo là bình quân thu nhập thuần tuý của nông dân dưới 300 NDT theo giá 1990, thì tỷ lệ nghèo đói đã giảm từ 250 triệu năm 1978 xuống khoảng 30 triệu người hiện nay Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 30,7% xuống còn xấp xỉ 3%, một bước cải thiện kỷ lục
Trung Quốc đã thông qua chương trình "Hỗ trợ phát triển đối với nông dân nghèo giai đoạn 2001 - 2010", đồng thời đưa ra các mục tiêu tổng thể đối với hỗ trợ phát triển trong 10 năm đầu tiên của thế kỷ 21 Các biện pháp chính là: tiếp tục duy trì sự hỗ trợ người nghèo phát triển, củng cố sự hỗ trợ tài chính đối với các vùng nghèo đói khó khăn, tăng quỹ đầu tư cho người nghèo,
sử dụng quỹ này hiệu quả, tăng cường đầu tư cho cơ sở vật chất kỹ thuật, giáo dục và y tế tại các vùng nghèo, mở rộng chương trình tạo việc làm, cải tạo đường giao thông nông thôn, nước sinh hoạt và lương thực cho người và gia súc, xây dựng hệ thống thuỷ lợi vừa và nhỏ, cải thiện điều kiện sống cho các vùng nghèo, khó khăn
Định hướng điều chỉnh chính sách làm tăng thu nhập cho nông dân trong tương lai gần là "đem đến nhiều hơn, lấy đi ít hơn và chấn hưng nông thôn"
Có nghĩa là đầu tư cho nông nghiệp thực sự sẽ tăng lên để đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng cơ sở hạ tầng, điều chỉnh cơ cấu đầu tư nông nghiệp, chuyển đổi từ hỗ trợ trực tiếp làm tăng khối lượng sản xuất nông nghiệp sang
hỗ trợ khác nhằm trực tiếp tăng thu nhập của nông dân, triển khai quá trình
Trang 32điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế trang trại đồng thời đẩy mạnh các ngành công nghiệp chế biến nông sản, điều chỉnh lao động và chuyển dịch lực lượng lao động nông nghiệp sang các ngành sản xuất khác, hình thành các quy định về quyền sử dụng đất để người nông dân có thể phân bổ công việc một cách hợp lý nâng cao thu nhập từ thửa ruộng của mình Ngoài ra còn tiến hành cải tổ trong hệ thống thuế nông trại, giảm các rào cản hiện còn và cho phép nông dân giảm đóng góp và tự tích luỹ sức lực Tóm lại, việc thực hiện các biện pháp toàn diện trên nhằm nâng cao thu nhập của người nông dân và tạo môi trường lành mạnh giúp nông dân tự tăng thêm thu nhập
b Nhật Bản
Với phương châm “ly nông bất ly hương” để phát triển nông thôn, Nhật Bản đã thực hiện thành công với hai nhóm chính sách chính: phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hoà phát triển nông thôn với phát triển công nghiệp, xoá bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn Ở Nhật Bản, năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn, năm 1990 tăng lên tới 85%
Nhật Bản chủ động đưa công nghiệp lớn từ đô thị về nông thôn để tạo việc làm và thu nhập cho cư dân nông thôn, giảm tải cho thành phố Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hoá chất đều được phân bố trên toàn quốc Từ khi bắt đầu công nghiệp hoá (năm 1883), 80% nhà máy lớn ở Nhật đã được xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm 1960 tỷ
lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao
Chính sách Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức HTX
Góp phần vào việc đưa công nghiệp về nông thôn, các HTX và tổ chức kinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng một vai trò hết sức quan trọng
Trang 33trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Các HTX và tổ chức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp đã phát huy tác dụng tích cực trên nhiều mặt: đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chế biến; tiêu thụ hết nông sản hàng hoá với giá cả ổn định theo hợp đồng, có lợi cho người sản xuất, cung cấp kịp thời các thông tin về thị trường, giá cả nông sản làm cho các chủ trang trại yên tâm đầu tư chiều sâu phát triển sản xuất theo hướng chuyên canh, thâm canh cao và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá trên thị trường trong nước và thế giới Nhờ chính sách đưa công nghiệp về nông thôn, ngày nay hầu như không còn vùng nông thôn thuần tuý,
kể cả vùng núi, vùng xa Ranh giới giữa nông thôn và thành thị thật khó phân biệt cả về kinh tế, xã hội và đời sống Quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn đã cơ bản hoàn thành
HTX nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật Bản Trong mỗi làng xã, những mối quan hệ nhiều chiều đa dạng đã tồn tại từ rất lâu giữa các gia đình, giữa những người nông dân Lợi dụng ưu điểm này, HTX nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở cộng đồng nông thôn để tạo quan
hệ cộng đồng mới vững chắc được bắt nguồn từ bên trong cộng đồng làng xã
Do vậy, HTX cũng rất chú trọng đến các hoạt động mang tính cộng đồng để làm cho cuộc sống ở nông thôn tốt đẹp hơn
Chính sách đối với nông dân
- Tạo điều kiện để nông dân sản xuất giỏi có thể tích luỹ phát triển quy
mô sản xuất, trở thành nông dân chuyên nghiệp sản xuất hàng hoá lớn Thông qua tổ chức hợp tác, trang bị cho họ kỹ năng sản xuất, quản lý nông hộ, năng lực tiếp thu khoa học – công nghệ và nắm bắt thị trường thành thạo
- Các HTX và các HTX dịch vụ nông nghiệp là trợ thủ đắc lực, là công
cụ bảo vệ quyền lợi, đào tạo nghề, giúp người nông dân có vị thế trong đời sống chính trị - xã hội Các tổ chức HTX và nông hội của Nhật Bản hoạt động thành công do chúng được tổ chức trên cơ sở thực sự là của dân, vì dân và do
Trang 34dân Với tinh thần tổ chức như vậy nên chúng tạo cho nông dân tinh thần tự chủ, tự giác của mình trong quá trình xây dựng và quản lý tổ chức
c Thái Lan
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp rất phát triển và ổn định Đồng thời cũng là nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo Kinh tế nông hộ của Thái Lan phát triển mạnh và hầu hết đã trở thành nông trại sản xuất hàng hóa, thu nhập của nông hộ Thái lan tương đối ổn định Để thúc đẩy kinh tế nông
hộ phát triển Chính phủ Thái Lan đã có những chính sách như sau:
Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản Ở Thái Lan đang thực hiện
trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây, v v… Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp v v… Ngoài ra, Thái Lan cũng có hỗ trợ về giá cho nông dân trồng 05 loại cây chủ lực là sầu riêng, nhãn, vải, măng cụt và chôm chôm Thực hiện tốt chính sách hổ trợ này chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới
Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn Thái Lan vốn là nước
nông nghiệp truyền thống với số dân nông thôn chiếm khoảng 80% Do vậy, công nghiệp nông thôn được coi là nhân tố quan trọng giúp cho Thái Lan nâng cao chất lượng cuộc sống của nông dân
Để thực hiện nhiệm vụ này, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị,… Cụ thể là Thái
Trang 35Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
Thứ ba là: Mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của
nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Ở
đây chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở Thái Lan xúc tiến tiến công việc này là trách nhiệm của Cục xúc tiến Công nghiệp, Cục xúc tiến Nông nghiệp, Cục Hợp tác
xã, Cục thủy sản, cơ quan tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp trực thuộc Bộ Công nghiệp và Bộ nông nghiệp
d Hàn Quốc
Năm 1950, Nhà nước mua lại ruộng đất của những chủ ruộng có trên 3
ha để bán cho nông dân Chính sách trên đã khuyến khích nông hộ phấn khởi
và yên tâm đầu tư cho sản xuất, các nguồn lực trong nước được sử dụng có hiệu quả Là nước có trên 300.000 người là dân tộc thiểu số sống ở vùng cao nhưng Nhà nước đã quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng như đường giao thông, điện và nhà ở Bên cạnh đó Chính phủ cũng khuyến khích đầu tư, nghiên cứu
để áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất, tạo điều kiện để việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện dễ dàng Nhờ các chính sách trên mà ngày nay đời sống của nông dân ở đây thuộc loại cao trong khu vực và trên thế giới, phần lớn các hộ gia đình đều có ô tô để phục vụ sản xuất và sinh hoạt
1.2.2 Một số kinh nghiệm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân thời kỳ đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
1.2.2.1 Chủ trương CS của Đảng và Nhà nước về nâng cao thu nhập cho người nông dân trong thời kỳ xây dựng nông thôn mới
Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) đã có Nghị quyết số 26 - NQ/T.Ư ngày 5-8-2008 về nông nghiệp, nông dân và nông thôn, trong đó có mục tiêu:
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu
Trang 36kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng
được tăng cường ”[12] Về mục tiêu cụ thể đến 2015, cả nước có 20% số xã
đạt chuẩn nông thôn mới và đến 2020 có 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (theo 19 tiêu chí mà Thủ tướng Chính phủ đã ban hành trên tổng số 9.111 xã hiện nay của nước ta
Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn lạc
hậu, nông dân có đời sống văn hóa và vật chất thấp, vì vậy Chủ trương CS của Đảng và Nhà nước về nâng cao thu nhập cho người nông dân trong thời
kỳ xây dựng nông thôn mới tập trung chủ yếu vào các nội dung sau
Một là, xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện
đại mà vẫn giữ được bản sắc văn hóa nông thôn Việt Nam
Hai là, tập trung chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn Hiện
nay, cả nước ta có 15.570.642 hộ sống ở nông thôn, chiếm 69,4% số hộ với 37.960.031 lao động, chiếm 69% số lao động cả nước, trong đó lao động làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 51,9% số lao động cả nước Mục tiêu của chúng ta là đến năm 2020 giảm xuống còn 30% số lao động làm nông nghiệp, còn lại phải chuyển sang ngành nghề khác phi nông nghiệp
Suốt 25 năm đổi mới của đất nước, tỷ trọng lao động nông nghiệp cũng chỉ giảm được 21% (từ 72,9% - năm 1985 còn 51,9% - hiện nay) Nhưng do yêu cầu hiện đại hóa nông nghiệp và công nghiệp hóa đất nước vì sự ấm no, giàu có của cư dân nông thôn, nhất định chúng ta phải tiến hành đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn và đào tạo nâng cao trình độ cho nông dân còn tiếp tục làm nông nghiệp
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt quyết định về Chương trình đào tạo cho lao động nông thôn Theo đó, hằng năm, chúng ta phải tập trung đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn từ 700.000 đến 800.000 người và
Trang 37300.000 nông dân tiếp tục làm nông nghiệp Trường lớp đào tạo hiện còn chưa đáp ứng, cái khó hơn là đào tạo lao động phi nông nghiệp có được việc làm và thu nhập ổn định, cao hơn làm nông nghiệp Lao động sau đào tạo chủ yếu làm việc tại các doanh nghiệp, có thể ở thành phố, đô thị nhỏ Làm việc trong doanh nghiệp ở nông thôn và đầu tư vào nông nghiệp đang là thách thức lớn Thực tế hiện nay ở nước ta mới có 39.414 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn, trong số đó chỉ có 1.454 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản chiếm 3,7% số doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn
Vốn đầu tư có 32 nghìn tỷ đồng chiếm 6% vốn của các doanh nghiệp đầu tư ở nông thôn và chỉ có 0,9% vốn của các doanh nghiệp trong nước Vì vậy, Chính phủ đã có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Cần phải coi đây là công việc thường xuyên, lâu dài về việc đào tạo chuyển nghề cho lao động nông thôn và gắn đào tạo chuyển nghề với doanh nghiệp
Ba là, tăng thu nhập gấp 2 - 3 lần hiện nay Nâng cao đời sống tinh thần
cho cư dân nông thôn là việc làm lâu dài Thực tế hiện nay, thu nhập của cư dân nông thôn bình quân năm bằng 76,6% bình quân chung cả nước và chỉ bằng 47,5% đô thị; có tới 84,5% hộ nghèo (trong tổng số hộ nghèo cả nước) sống ở nông thôn (nếu tính theo chuẩn mới chắc còn cao hơn nữa) Mặt khác,
do sản xuất nông nghiệp mang tính rủi ro cao, nên nguy cơ các hộ từ cận nghèo trở thành hộ nghèo rất cao, hoặc hộ đã thoát nghèo nhưng nếu chỉ gặp rủi ro như trong năm có người ốm, lợn gà bị dịch bệnh, lại trở về hộ nghèo
Bình quân mỗi hộ nông dân Việt Nam chỉ có 1,61 ha đất canh tác/hộ; trong đó đồng bằng sông Hồng 0,35 ha/hộ; trung du, miền núi phía bắc 2,98 ha/hộ; Bắc Trung bộ 1,76 ha/hộ, duyên hải miền Trung 2,13 ha/hộ; Tây Nguyên 5,63 ha/hộ; Ðông Nam bộ 1,2 ha/hộ; đồng bằng sông Cửu Long 1,03 ha/hộ Nếu không chuyển dịch được cơ cấu lao động, không đưa nhanh được ngành nghề vào nông thôn thì dù có tăng năng suất, tổ chức lại sản xuất, dồn
Trang 38điền đổi thửa kiểu gì cũng khó giàu, mà tất cả các công việc làm trên đều không thể một sớm một chiều hoặc là theo kiểu “phong trào” được.
Bốn là, tổ chức lại sản xuất gắn với tổ chức lại và tạo lập mới những tổ
chức chính trị - xã hội phù hợp với trình độ phát triển của cư dân nông thôn còn gặp nhiều khó khăn Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta chủ yếu và nặng về hình thức hợp tác xã trong nông nghiệp - nông thôn, hơn 25 năm đổi mới đang chuyển dần sang hợp tác xã kiểu mới, khẳng định vai trò kinh tế hộ, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, doanh nghiệp nhỏ
và vừa Song đi theo đó là các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội vẫn chưa chuyển đổi kịp, và đang bị hành chính hóa, các tổ chức có tính hội nghề nghiệp chưa phát triển kịp, chưa có vai trò trong xã hội Vì vậy chưa tạo động lực cho các loại hình sản xuất phát triển nhanh, mạnh trong kinh tế thị trường
và đang bị chi phối quá nhiều vào các cấp hành chính
Năm là, tập trung giải quyết những mâu thuẫn lớn ở nông thôn vừa giải
quyết những vấn đề trước mắt, vừa là vấn đề chiến lược, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta Những mâu thuẫn hiện nay thường gặp và nhiều người đã
đề cập, như: vấn đề thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng, đất đai, nhà ở
Ðể giải quyết mâu thuẫn này, một mặt phải điều chỉnh bổ sung chính sách sát thực hơn với yêu cầu thực tiễn, đã hứa với dân thì phải làm, phải có đội ngũ cán bộ tâm huyết với dân, vì dân Vì vậy, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ ở các xã thật sự do dân, vì dân là công việc vừa là cấp bách, vừa là lâu dài của Ðảng và nhân dân ta
Cần xác định người nông dân chính là chủ thể của nông thôn, là hạt nhân để xây dựng nông thôn mới Nông dân là số đông trong cơ cấu cư dân sống
ở nông thôn, nhưng họ cũng là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất Ðảng và Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ, tạo ra các giá đỡ cho họ, và nâng dần vị thế kinh tế - chính trị của họ để họ thực sự là chủ thể của nông thôn mới
1.2.2.2 Kết quả nâng cao thu nhập cho hộ nông dân của các địa phương
Trang 39- Tỉnh Hà Nam: Nâng cao thu nhập tạo việc làm cho các hộ nông dân bị
thu hồi đất
Đại bộ phận các hộ nông dân bị thu hồi quyền sử dụng đất là hộ thuần nông cuộc sống chủ yếu dựa vào thu hoạch từ canh tác đất nông nghiệp và chăn nuôi quy mô nhỏ Việc thu hồi đất sản xuất nông nghiệp đã làm người nông dân bị mất một phần hoặc toàn bộ tư liệu sản xuất dẫn đến mất việc làm, gặp khó khăn trong tìm và tạo việc làm mới hoặc tìm được việc làm nhưng không đảm bảo được đời sống hoặc việc làm không phù hợp với trình độ tay nghề Theo số liệu điều tra số lao động bị thu hồi đất có nhu cầu tìm việc làm
và học nghề đã tăng lên con số: 12.360 người có nhu cầu tìm việc làm và 12.000 người có nhu cầu học nghề để tìm việc làm mới
Trước thực trạng trên, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam đã hướng dẫn, chỉ đạo toàn ngành thực hiện các giải pháp hỗ trợ trực tiếp, trọng điểm về giải quyết việc làm cho các hộ nông dân bị thu hồi đất Cụ thể về đào tạo nghề, xây dựng và hướng dẫn các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề triển khai thực hiện dự án đào tạo nghề cho các hộ nông dân và bước đầu đào tạo nghề cho 385 người; hướng dẫn những nơi có nhiều lao động không còn đất sản xuất mở các lớp dạy nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề
Sở đã chỉ đạo các huyện, thị xã ưu tiên đầu tư vốn hỗ trợ việc làm cho người lao động thuộc vùng chuyển đổi Nhờ vậy đến nay đã có 42 dự án được vay vốn với tổng số tiền gần 1,9 tỷ đồng giúp giải quyết việc làm mới cho 576 lao động Với những giải pháp trên, công tác giải quyết việc làm bước đầu có hiệu quả
- Tỉnh Sóc Trăng: Nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân
Để đạt được mục tiêu năng cao thu nhập cho các hộ nông dân, chương trình “giải quyết tốt vấn đề thu nhập ở địa bàn nông thôn của tỉnh" phải thực hiện nhiều giải pháp trợ giúp cụ thể cho các hộ nghèo và hộ giàu: Vừa trực tiếp hỗ trợ, tạo điều kiện để từng hộ nghèo vươn lên thoát khỏi đói nghèo
Trang 40bằng sức lực và trí tuệ của mình, vừa giúp cho các hộ giàu mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao thêm thu nhập; Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế, tạo những điều kiện thuận lợi mới và cơ hội mới về việc làm, thu hút lao động
Với tư tưởng và phương châm chỉ đạo nêu trên, tỉnh cần tập trung thực hiện những giải pháp chủ yếu như sau đây:
- Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ gia đình ở nông thôn
- Hỗ trợ vốn cho các hộ nông dân ở nông thôn tỉnh Sóc Trăng và hướng dẫn sử dụng vốn có hiệu quả
Vốn luôn là yếu tố quan trọng của sản xuất và đời sống Người lao động, hộ sản xuất - kinh doanh có đủ vốn là điều kiện ổn định cuộc sống, có thể mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và giải quyết được nhiều chỗ làm việc mới cho người lao động nghèo Nhưng giải quyết đủ vốn cho các hộ nông dân qủa thực còn là bài toán nan giải của các cấp, các ngành của tỉnh Sóc Trăng
- Hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ gắn với đào tạo nghề và nâng cao dân trí cho các hộ gia đình ở nông thôn; đồng thời “nhân rộng” các điển hình tiên tiến trong sản xuất kinh doanh ở vùng nông thôn tỉnh Sóc Trăng
Đại bộ phận nông dân nghèo thường ít có nghề ổn định, không có kinh nghiệm, thậm chí không biết cách làm ăn, trình độ dân trí thấp và không dược đào tạo, hướng dẫn
Mặt khác, họ có rất ít tư liệu sản xuất, kể cả các công cụ thô sơ rẻ tiền, còn các hộ giàu thì thiếu thông tin về thị trường, thiếu trình độ quản lý sản xuất kinh doanh Do vậy, cần phải hướng dẫn, giúp đỡ nâng cao nhận thức, trình độ, kỹ năng sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin kinh tế cho các hộ nông dân ở nông thôn Có như vậy mới đảm bảo cho họ có thể tự tin, chủ động chen chân và đứng vững trong cơ chế thị trường để làm ăn sinh lợi, vừa