1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và giải pháp tiêu thụ cây cảnh tại xã phụng công, huyện văn giang, tỉnh hưng yên

85 563 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó nghề trồng cây cảnh là một trong những nghề truyền thống từ xa xưa, mang đậm những nét văn hóa của nước ta, đến nay nghề đó vẫn được duy trì và không ngừng phát triển rộng k

Trang 1

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Một số khái niệm cơ bản về cây cảnh 5

1.1.1 Khái niệm cây cảnh 5

1.1.2 Vai trò của cây cảnh 5

1.2 Những vấn đề cơ bản về thi ̣ trường tiêu thu ̣ 7

1.2.1 Khái niệm 7

1.2.2.Vai trò của tiêu thụ 9

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ cây cảnh 10

1.2.4 Ý nghĩa va ̀ nội dung hoạt động tiêu thụ cây cảnh 14

1.3 Kinh nghiệm tiêu thụ cây cảnh của một số địa phương 15

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh trên thế giới 15

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở ở một số địa phương 16

CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 19

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 19

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 24

2.2 Phương pha ́ p nghiên cứu 29

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 29

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu, xử lý số liệu 31

2.3 Các chỉ tiêu phân tích 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thực trạng sản xuất cây cảnh của xã Phụng Công 33

3.1.1 Tình hình phát triển sản xuất cây cảnh của xã Phụng Công 33

3.1.1.1 Qui mô và cơ cấu diện tích năm 2011 – 2013 34

3.1.1.2 Cơ cấu hộ trồng cây cảnh ở xã Phụng Công 36

3.1.2 Tình hình sản xuất cây cảnh của các hộ điều tra ở xã Phụng Công 36

Trang 2

3.1.2.1 Tình hình chung của các hộ điều tra 36

3.1.2.2 Giá trị sản xuất cây cảnh của các nhóm hộ điều tra 38

3.1.3 Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất và hiệu quả kinh tế trồng cây cảnh của các hộ điều tra năm 2013 40

3.2 Thực trạng tiêu thụ cây cảnh của xã Phụng Công 49

3.2.1 Tình hình tiêu thụ sản phẩm cây cảnh của xã 49

3.2.2 Hệ thống kênh tiêu thụ sản phẩm trong xã 53

3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở xã Phụng Công - huyện Văn Giang- tỉnh Hưng Yên 56

3.3.1 Đánh giá chung về quá trình phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh của xã Phụng Công 56

3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất cây cảnh 58

3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ cây cảnh 61

3.4 Định hướng, giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh 62

3.4.1 Cơ sở khoa học của định hướng và các giải pháp 62

3.4.2 Những định hướng, giải pháp trong phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh 64

3.4.2.1 Định hướng phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh địa bàn xã 64

3.4.2.2 Các giải pháp chủ yếu để phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn 66

3.5 Kiến Nghị 70

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC

Trang 3

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích trồng cây cảnh tại một số địa phương ở

Việt Nam (2011) 17

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Phụng Công qua các năm (2011 – 2013) 23

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của xã Phụng Công qua các năm (2011 - 2013) 25

Bảng 2.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Phụng Công năm 2013 27

Bảng 2.4: Số lượng hộ điều tra tại các thôn trong xã 30

Bảng 3.1 : Cơ cấu diện tích một số loại cây cảnh ở xã Phụng Công 2011 – 2013 35

Bảng 3.2 : Số lượng hộ trồng cây cảnh ở xã Phụng Công 2011 – 2013 36

Bảng 3.3 Thông tin chung về các hộ điều điều tra 37

Bảng 3.4: Giá trị sản xuất cây cảnh của các nhóm hộ năm 2013 39

Bảng 3.5 Tình hình đầu tư chi phí và kết quả sản xuất ở các nhóm hộ trồng Đào cảnh năm 2013 (Tính bình quân cho 1 sào/năm) 41

Bảng 3.6: Tình hình đầu tư chi phí và kết quả sản xuất ở các nhóm hộ trồng quất cảnh năm 2013 ( Tính bình quân cho 1 sào canh tác/năm ) 43

Bảng 3.7: Tình hình đầu tư chi phí và kết quả sản xuất ở các nhóm hộ trồng cây Cam cảnh năm 2013 (Tính bình quân cho 1 sào/năm ) 46

Bảng 3.8: So sánh sản xuất cây cảnh với cây trồng khác của các hộ năm 2013 ( Tính cho 1 sào canh tác/năm ) 48

Bảng 3.9: Sản lượng, cơ cấu thị phần tiêu thụ cây cảnh của xã Phụng Công 52

Sơ đồ 3.1: Kênh tiêu thụ cây cảnh tại xã Phụng Công 53

Bảng 3.10 Phân phối sản phẩm theo các kênh tiêu thụ cây cảnh ở xã Phụng Công năm 2013 55

Trang 4

Bảng 3.11 Dự kiến diện tích cây cảnh ở xã Phụng Công đến năm 2015 67 Bảng 3.12 Dự kiến phát triển số lượng hộ trồng cây cảnh ở xã Phụng Công đến năm 2015 68

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Ti ́nh cấp thiết của đề tài

Ngày nay nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thu nhập của mỗi người dân được nâng cao Vì vậy ngoài những nhu cầu về vật chất thì nhu cầu về đời sống tinh thần, thẩm mỹ cũng được nâng lên Một trong những nhu cầu đó là: ''chơi và thưởng thức cây cảnh'' Hiện nay cây

cảnh có ở hầu hết trong mỗi gia đình, công sở, cơ quan, doanh nghiệp và các khu công nghiệp sinh thái, cây cảnh có mặt trong các cuộc họp, hội nghị quan trọng, v.v Chính vì nhu cầu như vậy mà nghề trồng cây cảnh ở nước ta đã

có sự phát triển rất nhanh, ngoài những giống cây cảnh truyền thống ở trong nước như cây xanh, cây lô ̣c vừng, cây đa, cây đào, cây quất Hiện nay những vùng sản xuất cây cảnh lớn ở Miền Bắc phải kể đến các vùng cây cảnh như: Quảng An Tây Hồ - TP Hà Nội, Tam Đảo - Vĩnh Phúc, Văn Giang - Hưng Yên, Đà Lạt - Lâm Đồng

Bên cạnh đó nghề trồng cây cảnh là một trong những nghề truyền thống

từ xa xưa, mang đậm những nét văn hóa của nước ta, đến nay nghề đó vẫn được duy trì và không ngừng phát triển rộng khắp tại các địa phương trong cả nước.Trải qua hai cuộc chiến tranh kéo dài ít nhiều đã làm ảnh hưởng đến việc duy trì và phát triển nghề trồng cây cảnh dẫn đến tình trạng một số địa phương đã bỏ và chuyển sang sản xuất và thâm canh những cây nông nghiệp khác Mặt khác trong 3 năm trở lại đây nền kinh tế của nước ta suy thoái, yếu

tố khách quan từ thị trường bất động sản, nên các cơ quan Nhà nước, các khu chung cư biệt thự, các doanh nghiệp, khu du lịch sinh thái và các hộ gia đình nhu cầu về sử dụng, bố trí cây cảnh trong khuôn viên đã giảm rõ rệt từ nguyên nhân đó dẫn đến việc sản xuất và tiêu thụ cây cảnh của các địa phương gặp không ít những khó khăn Một số doanh nghiệp thu mua và kinh doanh cây

Trang 6

cảnh đã rơi vào tình trạng thu mua qua nhiều nhưng không bán ra được dẫn đến phá sản và vỡ nợ Mặc dù vậy, một số địa phương vẫn giữ được truyền thống nghề trồng cây cảnh như: làng trồng Đào (Nhật Tân), làng trồng Quất (Quảng Bá), xã Phu ̣ng Công (Hưng Yên), làng cây cảnh Đà Lạt, Sài Gòn

Xã Phu ̣ng Công huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên nằm ven sông Hồ ng với đất phù sa mầu mỡ, nơi đây có khí hậu mát mẻ rất phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây cảnh Với điều kiện tự nhiên ưu đãi như vậy nên các giống cây cảnh ở đây có thể trồng được quanh năm mà những nơi khác không có được, sản phẩm cây cảnh có lợi thế so sánh cao với các vùng khác Đây là một điểm mạnh để có thể khai thác mang lại lợi ích kinh

tế cao cho nghề trồng cây cảnh tại xã Phu ̣ng Công, huyê ̣n Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Qua khảo sát các hộ dân tại xã Phu ̣ng Công, hiện nay việc tiêu thụ sản phẩm rất khó khăn, kênh tiêu thụ chưa ổn định các hộ dân chủ yếu tự mang đi tiêu thụ nhỏ, lẻ, hoặc bị thương lái ép giá nên hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao

Vì vậy, tôi thực hiện đề tài: “Thực Trạng và Giải pháp tiêu thụ cây

ca ̉ nh tại xã Phụng Công, huyê ̣n Văn Giang, tỉnh Hưng Yên” với mục đích

đánh giá thực trạng tiêu thụ tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn và các vùng lân cận từ đó tìm ra những vấn đề thuận lợi, khó khăn để có giải pháp nhằm nâng cao tiêu thụ cây cảnh giúp hộ dân sản xuất và kinh doanh cây cảnh đúng hướng và đem lại lợi ích cao làm giàu cho gia đình và địa phương góp phần duy trì truyền thống làng nghề trồng cây cảnh tại xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Mục tiêu tổng qua ́ t

Trang 7

Đề tài phân tích và đánh giá tình hình tiêu thụ và đưa ra một số giải pháp nâng cao khả năng tiêu thụ cây cảnh ta ̣i xã Phu ̣ng Công, huyê ̣n Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng tiêu thụ cây cảnh tại xã Phu ̣ng Công, huyê ̣n Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm tăng tiêu thụ cây cảnh trong thời gian tới

* Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Luận văn thống kê tình hình tiêu thụ và đi sâu

vào nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến tiêu thụ của một số loại cây cảnh

có tính đại diện với thời gian trồng là một năm trở lại, được các hộ dân tại địa phương trồng phổ biến là: cây đào, cây quất, cây cam cảnh

- Phạm vi về không gian: Được tiến hành trên địa bàn xã Phu ̣ng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên và các khu vực khác có liên quan

- Phạm vi về thời gian: Tiến hành từ năm 2011 đến 2013

Trang 8

4 Nô ̣i dung nghiên cứu

Đánh giá thực trạng tiêu thụ hiện nay và nghiên cứu giải pháp tiêu thụ một số cây cảnh chính hàng năm của xã Phụng Công

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm cơ bản về cây cảnh

1.1.1 Khái niệm cây cảnh

Cây cây cảnh còn gọi là cây trang trí Đó là những cây có hoa đẹp hoặc thân, lá, cây , củ quả, hấp dẫn hoặc có một dáng vẻ mang ý nghĩa tinh thân, tình cảm, thẩm mỹ nào đó được trồng lấy hoa cắt hoặc trang trí cả cây

để làm đẹp hoặc cải thiện mỹ quan cảnh trí một không gian giới hạn nào đó như một khu nhà ở, vườn sân, nội thất

Cây cảnh là một số loại thực vật được chăm sóc, gieo trồng và tạo dáng công phu, thường dùng làm vật trang trí hay một chi tiết trong thuật phong thủy Cây cảnh được bài trí có khi nhằm thể hiện một ý tưởng của người trồng qua cách xếp đặt mà vẫn giữ được vẻ tự nhiên Thân cây được uốn theo một hình dáng nào đó, còn gọi là thế, kết hợp với chậu, đất hay nước là môi trường dinh dưỡng cho thực vật ấy

“Cây cảnh là những loại thực vật được trồng ở vườn, ruộng, khay chậu, trong bồn… Cũng như thực vật khác, chúng có thể sinh trưởng và phát triển nhờ vào các yếu tố tự nhiên (như: Đất, nước, không khí, ánh sáng…) và

sự chăm sóc của con người"

Các loại thảo mộc được con người tuyển chọn, nuôi trồng trên đất vườn hay trong vật chứa đất trồng (ang, chậu…) dù có hay không có tác động thu nhỏ hoặc tạo hình nghệ thuật nhằm mục đích trang trí và thưởng ngoạn đều được coi là cây cảnh”

1.1.2 Vai trò của cây cảnh

Trải qua hàng ngàn năm nhân dân ta có truyền thống yêu quý thiên nhiên, đã biết thưởng ngoạn sinh vật cảnh, một nét văn hoá có từ lâu đời Khí

Trang 10

hậu nhiệt đới và địa hình đa dạng đã ban tặng cho đất nước ta suốt bốn mùa cỏ, cây, hoa, lá xanh tươi và hoa trái hết sức đa dạng và phong phú Ngay trước công nguyên người Việt Nam đã biết chiêm ngưỡng vẻ đẹp của của hoa lá và biết trồng cây trong chậu Đó là giai đoạn manh nha của thú thưởng ngoạn sinh vật cảnh Từ thế kỷ XI dưới các triều đại phong kiến tự chủ, sinh vật cảnh phát triển dần và tính văn hoá nghệ thuật ngày càng cao Theo tiến trình của lịch sử, việc ngắm cảnh thưởng hoa có phong cách thẩm mỹ của quý tộc, nho sỹ và dần dần có cả phong cách thẩm mỹ bình dân Chính phong cách bình dân về thưởng ngoạn hoa và cảnh của người Việt đã tạo nên một diện mạo mới rất Việt nam Như vậy từ sự hoà đồng, gắn bó và yêu mến thiên nhiên, người Việt cổ xưa đã khai sinh ra đặc trưng văn hoá của riêng mình Văn hoá thưởng ngoạn hoa và cây cảnh là một trong các đặc trưng văn hoá đó

Cây cảnh ngày nay vừa là sản phẩm văn hóa thẩm mỹ vừa là hàng hóa

có giá trị kinh tế cao Cây cảnh là ngành kinh tế sinh thái đang phát triển đã

và đang có những đóng góp to lớn vào đời sống xã hội, làm thay đổi cuộc sống của hàng trăm nghìn hộ gia đình, thay đổi bộ mặt của nhiều vùng, địa phương trong cả nước Cây cảnh là những sản phẩm có giá trị sáng tạo cao, hàm lượng trí tuệ đậm đặc, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức Giá trị của nó phụ thuộc vào tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người Mà tiềm năng sáng tạo này lại nằm trong văn hoá, điều đó có nghĩa là phải tạo ra mọi phương thức để kết hơp hài hoà giữa sản xuất và sáng tạo, để kinh tế có thể bắt rễ trong văn hoá, nhằm mục tiêu lâu dài là nâng cao chất lượng cuộc sống con người

Ngành cây cảnh tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, tham gia xoá đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội, đồng thời với việc bảo vệ môi trường và cây cảnh có chức năng chung của nền văn hoá Việt Nam, cũng đóng góp một phần nhất định vào chức năng xã hội hóa trong việc tổ chức

Trang 11

cộng đồng, giao lưu, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội giữa con người như:

Tổ chức xã hội, giao tiếp bằng các phong tục tập quán, tín ngưỡng Giáo dục nhân cách con người như điều chỉnh xã hội, định hướng các chuẩn mực, cách ứng xử của con người, đảm bảo tính kế thừa của lịch sử giúp cho xã hội duy trì được trạng thái cân bằng động, không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến động của môi trường xã hội, nhằm tự bảo vệ để tồn tại (đạo đức cây cảnh…); Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, truyền thống, đạo lý, lòng yêu nước thương dân và chủ nghĩa nhân văn cao cả Giáo dục nhận thức, giáo dục thẩm mỹ và giải trí thư giãn làm phong phú thêm nghệ thuật cây cảnh bằng kết hợp với thi ca, truyện ngắn, tùy bút, câu đối, thư pháp, hoa pháp, gốm sứ, hội họa, điêu khắc, ca múa, âm nhạc, truyền hình, nhiếp ảnh, du lịch sinh thái

Văn hoá thưởng ngoạn hoa và cây cảnh giúp cho con người thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng, nó giúp cho con người kết hợp giữa hoạt động hưởng thụ và hoạt động sáng tạo Và chính hoạt động sáng tạo làm cho

nó tồn tại từ thế hệ này sang thế hệ khác liên tục và lâu dài Văn hoá thưởng ngoạn hoa và cây cảnh giúp chúng ta nhận thức và trân trọng cái đẹp của một cảnh quan, một cây hoa, một thế cây và những gì mà con người gửi gắm tâm hồn mình vào tác phẩm Đặc biệt còn giữ lại trong nó một kho tàng kiến thức, kinh nghiệm, triết lý, những bí quyết riêng có của các vùng miền và của Việt Nam

1.2 Những vấn đề cơ bản về thi ̣ trường tiêu thu ̣

1.2.1 Khái niệm

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ là một trong những chức năng chủ yếu của doanh nghiệp Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại phát triển của doanh

Trang 12

nghiệp.Tuy nhiên thực tiễn cho thấy, trong mỗi cơ chế quản lý khác nhau quan điểm về tiêu thụ sản phẩm cũng khác nhau, nên việc thực hiện cũng khác nhau

Nếu hiểu một cách đơn thuần, tiêu thụ sản phẩm là một hoạt động liên quan đến việc bán các sản phẩm sản xuất ra thị trường

“Tiêu thụ sản phẩm là việc chuyển đổi quyền sở hữu sản phẩm hàng hóa

từ người cung cấp tới người tiêu dùng, đồng thời người cung cấp thu tiền hàng hoặc có quyền thu tiền bán hàng”

Theo những cách hiểu này, hoạt động tiêu thụ tiêu thụ sản phẩm đơn thuần chỉ là hoạt động bán hàng

Theo nghĩa rộng, tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách hàng, đặt hàng, tổ chức sản xuất, tổ chức thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, xúc tiến bán hàng nhằm mục tiêu lãi cao với chi phí thấp

Trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung tại Việt Nam, nhà nước có sự can thiệp sâu sắc tới nền kinh tế nói chung Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chủ yếu tuân theo các chỉ tiêu do nhà nước đặt ra Doanh nghiệp hoạt động theo sự chỉ đạo từ trung tâm đó, sản phẩm làm ra đã có sẵn nơi tiêu thụ Do vậy, mục tiêu duy nhất của doanh nghiệp trong thời kỳ này là hoàn thành kế hoạch được giao nên hoạt động tiêu thụ sản phẩm vì thế chưa được quan tâm

Bước sang thời kỳ đổi mới, khi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chuyển sang nền kinh tế thi trường, sự canh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự tìm ra cho mình hướng đi riêng nhằm thực hiện mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh.Vì thế câu hỏi đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là thị trường đang cần sản phẩm gì,khách hàng tiềm năng là

Trang 13

ai,sản xuất ra bằng cách nào và tiêu thụ nó ra sao Để tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải tự tìm kiếm thị trường, khi đó hoạt động tiêu thụ sản phẩm được đặc biệt quan tâm

Chính bởi vậy, tiêu thụ sản phẩm không thể hiểu một cách đơn thuần là hoạt động bán hàng Mà tiêu thụ sản phẩm là một quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu: từ nghiên cứu thị trường, đến tổ chức sản xuất, tổ chức tiêu thụ nhằm mục đích cao nhất của doanh nghiệp là thu lãi tối đa với chi phí thấp nhất

1.2.2 Vai trò của tiêu thụ

Hàng hoá của doanh nghiệp được mua về không những tiêu thụ ở trong nước mà còn tiêu thụ ra thị trường nước ngoài Điều này đảm bảo cho quá trình hội nhập và phát triển kinh tế quốc dân của doanh nghiệp Vì vậy tiêu thụ hàng hoá có vai trò đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp nói riêng và quốc gia nói chung Qua khâu tiêu thụ tính hữu ích của sản phẩm mới được xác định một cách hoàn toàn Qua khâu này một chu kỳ kinh doanh đã kết thúc, một vòng chu kỳ vốn được thực hiện và doanh nghiệp chuyển sang chu

kỳ kinh doanh mới Như vậy việc thu hồi vốn nhanh hay chậm, lợi nhuận đạt được cao hay thấp, vòng luân chuyển của vốn dài hay ngắn đều được quyết định trong khâu tiêu thụ

Tiêu thụ hàng hoá có ý nghĩa góp phần đảm bảo quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục Quá trình này bao gồm các khâu sản xuất phân phối, trao đổi, tiêu dùng Tiêu thụ sản phẩm nằm trong khâu phân phối và trao đổi Quá trình tái sản xuất xã hội chỉ diễn ra liên tục khi các khâu của nó diễn ra trôi chảy, nhịp nhàng và ngược lại Tiêu thụ hàng hoá góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nó được thể hiện ở các mặt sau :

Trang 14

Tiêu thụ sản phẩm bảo đảm tăng doanh thu vì càng bán được nhiều hàng thì càng tăng được nhiều doanh thu

Làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm sẽ làm giảm chi phí khâu tiêu thụ sản phẩm tức là làm giảm chi phí của toàn bộ sản phẩm

Tiêu thụ sản phẩm có tác động tích cực đến quá trình kinh doanh, quá trình tổ chức quản lý sản xuất, thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm Trong thời bao cấp, quá trình tái sản xuất của các cơ sở đều được nhà nước bảo trợ, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường Nhà nước cho phép các doanh nghiệp tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, hoạt động làm sao có hiệu quả Thu được lợi nhuận trên cơ sở điều tiết vĩ mô của nhà nước Công tác tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế, trong cơ chế thị trường không đơn thuần

là việc đem sản phẩm ra thị trường để bán mà trước khi được người tiêu dùng chấp nhận cần có sự nỗ lực về mặt chí tuệ lẫn sức lao động của cán bộ công nhân viên

Tiêu thụ sản phẩm là nhân tố quan trọng để giữ vững vầ nâng cao uy tín của doanh nghiệp, góp phần củng cố thị trường mở rộng thị trường mới cả trong và ngoài nước

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất và tiêu thụ cây cảnh

a Nhân tố con người

Con người là trung tâm của quá trình sản xuất, là yếu tố quyết định đối với mọi hoạt động sản xuất Trong quá trình trồng cây cảnh yếu tố con người đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu lực lượng lao động có đầy đủ những phẩm chất, trình độ, đặc biệt là kinh nghiệm thì hoạt động sản xuất chắc chắn đem lại hiệu quả cao Trình độ tổ chức và quản lý giúp con người sử dụng đầy

đủ và hợp lý nguồn lực tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao nhất với chi

Trang 15

phí bỏ ra là thấp nhất Sự năng động, nhạy bén sẽ giúp người sản xuất nhanh chóng tiêu thụ sản phẩm của mình làm ra và ở bên kia của quá trình sản xuất trên phương diện là người tiêu dùng thì việc tiêu thụ sản phẩm cây cảnh được sản xuất ra cũng được thực hiện bởi chính con người

b Nhân tố tự nhiên

Cây cảnh cũng là một loại cây trồng do đó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên Mọi sự thay đổi của tự nhiên như khí hậu, thởi tiết độ ẩm… đều ảnh hường trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây, ảnh hưởng đến quá trình trồng cây cảnh Khi điều kiện tự nhiên bất thuận lợi

sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất cây cảnh Vì vậy, việc lựa chọn loại cây phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu của vùng cũng hết sức quan trọng, góp phần không nhỏ vào hiệu quả sản xuất cây cảnh

c Nhân tố kỹ thuật

Sản xuất cây cảnh đòi hỏi đầu tư nhiều lao động sống với trình độ tay nghề và óc thẩm mỹ cao Một mặt họ phải nắm vững đặc tính sinh trưởng của cây, sử dụng bàn tay tác động vào chúng để tạo thành những dáng thế nhất định Mặt khác việc lựa chọn tạo giống cũng rất quan trọng, bên cạnh đó cũng không thể thiếu được các công đoạn tỉa cây , khoanh gốc, tạo dáng cho cây…Vì vậy, yếu tố kỹ thuật có vai trò quyết định đến sự thành bại của hộ nông dân Khoa học ngày càng phát triển, các kỹ thuật lai ghép, nhân giống phục vụ rất đắc lực cho quá trình sản xuất của hộ nông dân, việc nắm bắt học tập các tiến bộ này kết hợp với kinh nghiệm là yêu cầu khách quan đối với người sản xuất, việc nắm bắt và học tập các tiến bộ kỹ thuật này kết hợp với kinh nghiệm là rất quan trọng

d Nhân tố kinh tế

- Nhân tố vốn

Trang 16

Vốn luôn là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất cây cảnh vì cây cảnh cho thu hồi vốn chậm do chu kỳ sản xuất nhiều khi khó xác định Hơn nữa việc chăm sóc cây cảnh cũng đòi hỏi đầu tư khá lớn về giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thuốc kích thích sinh trưởng …vả lại yêu cầu của cây cảnh đòi hỏi cần đáp ứng đúng thời kỳ, nếu không đáp ứng quá trình đó thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản xuất Vốn còn quyết định tới việc tái sản xuất giản đơn hay tái sản xuất mở rộng do đó

để sản xuất cây cảnh đòi hỏi các hộ nông dân cần có nguồn vốn để chủ động đối phó với các rủi ro: thời tiết, thị hiếu thay đổi , giá trị đầu vào tăng cao,…

- Nhân tố thị trường giá cả

Sản xuất muốn phát triển ổn định đòi hỏi cần có thị trường và luôn tìm cách đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Bất kỳ ngành sản xuất nào cũng liên quan tới thị trường đầu vào và đầu ra Sự biến động giá cả ở cả hai thị trường đều tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của nông hộ Việc định giá cả đầu ra cũng như nguồn cung ứng các vật tư đầu vào, tạo lập và mở rộng thị trường tiêu thụ sẽ mang lại tâm lý yên tâm sản xuất cho nông hộ

Sản xuất cây cảnh cũng là ngành sản xuất hàng hoá trong điều kiện phát triển của nền kinh tế hiện nay Vì vậy, sự phát triển của ngành này cũng gắn liền với những biến động của thị trường

Trong những năm gần đây giá cả đầu tư vào của sản phẩm biến động nhiều, do đó cũng gây ra những biến động lớn đối với sản xuất và tiêu thụ cây cảnh Giá đầu ra cũng là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất cây cảnh Trên thực tế cho thấy nếu giá của một loại cây năm nay cao và bán chạy thì cung về loại cây hay năm sau đó sẽ tăng cao Điều đó làm cho giá các loại cây năm đó sẽ giảm do cung vượt cầu

Trang 17

Như vậy, qua cách phân tích ở trên cho thấy thị trường là yếu tố hết sức quan trọng quyết định tới lượng cung ứng cây cảnh của người sản xuất cũng như thu nhập của họ

e Nhân tố cơ sở hạ tầng

Để phát triển sản xuất thì đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cũng cần được nâng cấp, đó là công trình thuỷ lợi nhằm đảm bảo tưới tiêu đáp ứng đầy đủ nhu cầu tưới tiêu đối với quá trính sinh trưởng và phát triển của cây Còn hệ thống giao thông nó liên quan đến quá trình vận chuyển cây trồng, cây thương phẩm và các loại vật tư

Trên thực tế cho thấy ở những đia phương có sự đầu tư hợp lý cho hệ thống cơ sở hạ tầng thì tại đó nghề trồng cây cảnh có nhiều điều kiện thuận lợi

để phát triển sản xuất và tiêu thụ Như vậy phát triển sản xuất hoa cây cảnh và nâng cấp cơ sở hạ tầng có quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau trong đó quy hoạch về cơ sở hạ tầng cần thực hiện trước một bước

f Nhân tố chính sách pháp luật của đảng và nhà nước

Chủ trương chính sách của đảng và nhà nước là nhân tố góp phần định hướng cho các hoạt động sản xuất cây cảnh trong thời gian dài do đó nó có vai trò rất quan trọng Hơn nữa hiện nay với các chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn, chính sách dồn điền đổi thửa, chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và xuất khẩu cây cảnh cùng hàng loạt chính sách hỗ trợ sản xuất khác, do đó người nông dân sẽ yên tâm hơn khi gắn bó với nghề của mình Từ đó đã làm cho ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành trồng, cây cảnh nói riêng phát triển mạnh mẽ

Mặt khác các chính sách đầu tư, quy hoạch vùng sản xuất tạo thành các vành đai xung quanh các đô thị lớn sẽ tạo điều kiện cho ngành sản xuất cây

Trang 18

cảnh phát triển một cách mạnh mẽ, tăng lượng cung cấp hàng hoá, thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng

Như vậy, các chính sách pháp luật của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn

và tạo hành lang pháp lý đến sản xuất cây cảnh của cả nước nói chung và của

xã Phụng Công, huyện Văn Giang nói riêng có điều kiện phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu

1.2.4 Ý nghĩa và nội dung của hoạt động tiêu thụ cây cảnh

Tiêu thụ cây cảnh là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất Nó là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của quá trình sản xuất Thông qua tiêu thụ thì giá trị sử dụng của sản phẩm cây cảnh được thực hiện

Việc tiêu thụ sản phẩm là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Qua tiêu thụ hàng hoá được chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn của người sản xuất được hoàn thành

Từ đó tạo cơ sở thu hồi chi phí và tích luỹ để thực hiện tái sản xuất mở rộng Các đơn vị sản xuất kinh doanh phải thực hiện chức năng cơ bản là đảm bảo sản xuất, cung cấp khối lượng sản phẩm nhất định với những yêu cầu về chất lượng, chủng loại …cho nhu cầu tiêu dùng xã hội Chức năng này được biểu hiện cụ thể qua quá trình tiêu thụ sản phẩm

Đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh thì tiêu thụ là khâu hết sức quan trọng Qua tiêu thụ thì sản phẩm hàng hoá mới xác định được giá trị và giá trị sử dụng của nó Tiêu thụ sản phẩm nhanh hay chậm trực tiếp tác động đến chu kỳ sản xuất sau, đến thời gian lưu chuyển vốn, hiệu suất sử dụng đồng vốn

Tiêu thụ phản ánh kết quả kinh doanh cuối cùng, khẳng định được sự

có mặt của hàng hoá cũng như sự chấp nhận của thị trường Việc tiêu thụ sản phẩm tác động đến việc thu hẹp hay mở rộng thị trường của một hàng hoá nào

Trang 19

đó thông qua các mối quan hệ của người sản xuất và khách hàng, sự chiếm

lĩnh thị phần của hàng hoá trên thị trường

1.3 Kinh nghiệm tiêu thụ cây cảnh của một số địa phương

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh trên thế giới

Ngày nay sản xuất cây cảnh trên thế giới đang phát triển một cách mạnh

mẽ và trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất cây cảnh mang lại lợi

ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng cây cảnh, trong đó có các nước châu

Á Sản xuất cây cảnh ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyết liệt để chiếm lĩnh thị trường cây cảnh trên thế giới

Diện tích trồng cây cảnh trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừng tăng lên Ba nước sản xuất cây cảnh lớn nhất chiếm 50% sản lượng cây cảnh thế giới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ Theo Roger và Alan (1998) năm 1995 giá trịsản lượng cây cảnh trên thế giới đạt 20 tỷ USD đến năm 1997 đạt 27 tỷUSD và dự kiến đầu thế kỷ21 đạt 40 tỷ USD, trong đó Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD; Hà Lan khoảng 3,558 tỷ USD; Mỹ khoảng 3,270 tỷ USD Giá trị xuất nhập khẩu cây cảnh và cây cảnh của thế giới tăng hàng năm Năm

1996 là 7,5 tỷ đô la, trong đó từ thị trường cây cảnh của Hà Lan chiếm gần 50% Sau đó đến các nước Côlômbia, Italia, Đan Mạch, Mỹ, Bỉ, Israen, Úc, Đức, Canada, Pháp, Tây Ban Nha, Kênia, Ecuado… mỗi nước trên 100 triệu đôla, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm 10%

Đức và Mỹ là 2 quốc gia chiếm trên 50% thị trường nhập khẩu cây cảnh với các loài cây cảnh phổ biến như Sung, Đa, Bonsai, tùng, bách…

Hà Lan là nước xuất khẩu cây cảnh lớn nhất thế giới, chiếm tới 64,8% thị trường, trong đó các loài cây cảnh nổi tiếng được xuất khẩu từ Cây sung, cây sanh, cây bonsai, cây tùng…

Trang 20

Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Á, châu Phi, châu Mỹ Hướng sản xuất cây cảnh trên thế giới là tăng năng suất cây cảnh, giảm chi phí lao động, giảm giá thành cây cảnh Mục tiêu sản xuất cây cảnh cần hướng tới là giống cây cảnh chất lượng cao và giá thành thấp Không những mang lại giá trị về mặt thẩm mỹ, bonsai còn đem đến cho người chơi giá trị về mặt tinh thần Với vẻ đẹp mê hồn của mình, giống như tình yêu, bonsai luôn là đề tài muôn thuở bởi óc sáng tạo của các nghệ nhân

Có nguồn gốc từ núi cao Trung Quốc, sau đó Bonsai đã an tỏa khắp nơi trên thế gới Mỗi nơi với sự sáng tạo riêng đã cho ra đời những chậu bonsai tuyệt đẹp, mê hoặc lòng người Trên thế giới có những trường phái tạo được ấn tượng riêng có sức ảnh hưởng phong trào chơi bonsai hiện nay như:

Bonsai siêu nhỏ: Lindsey Bebb người Australia nổi tiếng trong giới cây

cảnh bởi ông là tác giả của nhiều mẫu bonsai siêu nhỏ Không những đẹp về cây bonsai mini còn đẹp cả về mặt kỹ thuật Bonsai siêu nhỏ là bức tranh sinh động về thế giới thực vật thu nhỏ

Bonsai Penjing: Penjing là trường phái cây cảnh rất đặc biệt của nghệ nhân Quingquan Zhou người Trung Quốc Đặc thù của Penjing này là sự kết hợp các loại cây cảnh siêu nhỏ với đất, cách bài trí hoa lá cây và đá tạo ra phong cảnh hữu tình giống như nội dung các bức vẽ tranh của người Trung Quốc

Bonsai Avant guarde :.kết hợp giữa phong cách bonsai của người Nhật

và phong cách Penjing của người Trung Quốc, Robert Steve đã tạo được những chậu bonsai tuyệt hảo từ hai sự kết hợp này

1.3.2 Kinh nghiệm phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở ở một số địa phương

Trang 21

Việt Nam có diện tích tự nhiên trên 33 triệu ha, diện tích trồng cây cảnh

ở Việt Nam còn nhỏ chiếm 0.02% diện tích đất đai Diện tích trồng cây cảnh tập trung ở các vùng vên đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, khu nghỉ mát như Ngọc Hà, Quảng Nam, Nhật Tân, Tây Tựu (Hà Nội); Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng); Hoành Bồ, Hạ Long (Quảng Ninh); Triệu Sơn, TP Thanh Hoá (Thanh Hoá); Gò Vấp, Hóc Môn (TP HCM); TP Đà Lạt (Lâm Đồng)…Với tổng diện tích trồng cây cảnh khoảng 3500 ha

Theo điều tra ở một số địa phương trồng trong cả nước, Việt Nam có các loại cây cảnh được trồng phổ biến là: Quất cảnh, cam cảnh, hoa đào, cây sanh, cây lộc vừng, cây đa, cây tùng…

Bảng 1.1: Diện tích trồng cây cảnh tại một số địa phương ở

TP HCM

Đà Lạt Vĩnh Phúc Quảng Ninh Hải Dương Các tỉnh khác

Trang 22

Dựa vào bảng thống kê trên có thể thấy diện tích cây cảnh tập trung lớn nhất ở khu vực các thành phố lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Điều đó chứng tỏ rằng nhu cầu về cây cảnh ở các khu vực thành phố, thị xã là rất lớn

Những năm gần đây cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, ngành sản xuất cây cảnh cũng phát triển mạnh mẽ, đem lại cho người trồng cây cảnh những nguồn lợi to lớn

Cụ thể như: ở TP HCM, đến tháng 9/2013, diện tích trồng cây cảnh đã

đạt 1.322 ha, tăng gấp hơn 2 lần so với 5 năm trước (591 ha) Theo Trung tâm Khuyến nông TP HCM, đến hết năm nay, diện tích trồng cây cảnh ở TP này

sẽ đạt khoảng 1.400 ha, vượt 10% so với mục tiêu của thành phố là 1.200 ha

vào năm 2012 Diện tích trồng cây cảnh ở Lâm Đồng đến cuối năm 2012 đã đạt khoảng 1.250 ha, sản lượng 950 triệu cây Diện tích cây cảnh ở Đồng

Tháp đến 2013 là 260 ha, tăng hơn 20 ha so với 2012…Doanh số kinh doanh

cây cảnh hàng năm của các địa phương này trung bình đạt 600-700 tỉ đồng

và có xu hướng ngày càng tăng lên

Tuy nhiên, quy mô của nghề sản xuất cây cảnh ở Việt Nam còn manh mún và nhỏ bé, nếu so với những cường quốc về cây cảnh trên thế giới Ngay

cả với những nước ở gần ta như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan…, nghề trồng cây cảnh của nước ta cũng chưa thể so sánh được

Trang 23

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM ĐI ̣A BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý

Phụng Công là một xã có diện tích thuộc loại trung bình nằm về phía Tây Bắc của huyện Văn Giang – Hưng Yên, cách trung tâm huyện khoảng 2km về phía Đông Xã có vị trí giáp ranh như sau:

 Phía Bắc giáp các xã Xuân Quan và Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

 Phía Đông giáp xã Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

 Phía Nam giáp thị trấn Văn Giang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

và xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

 Phía Tây giáp xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên

Với vị trí địa lý trên, Xã Phụng Công có một lợi thế rất lớn trong giao lưu buôn bán, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với các xã, tỉnh và thành phố

- Khí hậu thời tiết

Phụng Công nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết được chia thành hai mùa: mùa mưa nóng ẩm, mưa nhiều từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 230C – 320C; mùa khô thời tiết lạnh, khô hanh kéo dài

từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình từ 100C – 190C Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1400 mm, độ ẩm tủng bình hàng năm là 85%

Trang 24

Với kiểu khí hậu như trên đã tạo cho Phụng Công những điều kiện thuận lợi nhất định để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với các loại cây trồng cho các mùa khác nhau Đồng thời cũng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm với nhiều loại khác nhau Tuy nhiên cũng có những năm do bão lụt, mưa lớn gây úng lụt trong mùa mưa, nhiệt độ xuống thấp làm ảnh hưởng rất lớn đến năng suất, chất lượng của cây trồng Đặc biệt là vào mùa khô, khi sương muối xuất hiện làm cho cây trồng gần như ngừng phát triển, thậm chí còn bị chết Mặc dù Ủy ban nhân dân và người dân trong xã đã tìm rất nhiều giải pháp để hạn chế rủi ro mang lại của thời tiết song thiệt hại mang lại vẫn không nhỏ

Ngoài các yếu tố thời tiết khí hậu, nguồn nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng Nguồn nước chính cung cấp cho cây trồng của xã được lấy từ sông Hồng thông qua hệ thống công trình thủy lợi Bắc Hưng Hải và hệ thống các trạm bơm, cùng với hệ thống kênh mương nội đồng, các ao hồ chứa nước hiện có của xã

từ phù sa bồi đắp nên đất đai của xã rất giầu chất dinh dưỡng, là loại đất trung tính, ít chua, tơi xốp, phù hợp với nhiều loại cây trồng Đây là điều kiện thuận lợi cho địa phương phát triển một nền nông nghiệp đa dang

Trang 25

Địa hình đồng ruộng của xã tương đối bằng phẳng: Vùng trong đồng đa

số là chân vàn và vàn thấp, thích hợp với việc trồng lúa Cây cảnh.cũng được trồng nhiều trong đồng, nó ưa với chất đất trong đồng hơn và đặc biệt là gần khu dân cư để tiện cho việc trông nom, chăm sóc Vùng ngoài bãi trước kia chủ yếu để trồng màu nhưng ngày nay, thấy được thu nhập đem lại của cây cảnh, đặc biệt những cây công trình vừa không tốn công chăm sóc nhiều mà lại rất phù hợp với đặc điểm đất đai ngoài bãi, nên dần dần diện tích đất trồng màu càng thu hẹp, thay vào đó là cây cảnh, cây công trình Tình hình sử dụng đất đai của xã được thể hiện qua bảng 3.2:

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 488,8 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,71% tương đương với 365,18 ha (năm 2013), bình quân mỗi năm giảm 0,02% do đất nông nghiệp và đất chưa sử dụng được chuyển sang đất ở Trong đất nông nghiệp thì:

Đất dành cho trồng trọt chiếm phần lớn 87,49% tương đương với 319,51ha (năm 2013) Đất trồng lúa chiếm 2,01% tương đương với 6,2 ha, do hiệu quả trồng lúa không cao nên diện tích trồng lúa liên tục giảm Trong khoảng 2012-2013 diện tích lúa giảm là 1,3 ha, diện tích này được chuyển sang trồng cây cảnh và nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao hơn

Diện tích đất trồng cây cảnh thì không ngừng tăng qua các năm Năm

2011 là 264,88 ha Năm 2012 là 267,56 ha, tăng 1,01% so với năm 2011 (tương đương với 2,68 ha) Năm 2013 là 280,46 ha, tăng 4,82% so với năm

2012 (tương đương với 12,9 ha) Bình quân mỗi năm tăng 2,9% Điều này phản ánh đúng việc sử dụng đất đai dựa theo hiệu quả kinh tế đem lại Hiệu quả sử dụng đất đem lại từ trồng cây cảnh cao hơn hẳn so với trồng lúa và một số cây hàng năm khác tại địa phương, do đó diện tích cây cảnh liên tục tăng lên, đồng thời diện tích các cây trồng khác lại có xu hướng giảm đi

Trang 26

Đất dùng để nuôi trồng thủy sản cũng liên tục tăng qua các năm Năm

2011 là 44,29 ha Năm 2012 là 45,05 ha, tăng 1,72% so với năm 2011 (tương đương với 0,76 ha) Năm 2013 là 45,67 ha, tăng 1,38% so với năm

2012 Bình quân mỗi năm tăng 1,55% Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do hiệu quả kinh tế đem lại cao Nhiều hộ gia đình đã áp dụng thành công mô hình VAC: vườn cây cảnh, ao cá, chuồng trại nuôi lợn công nghiệp Hình thức này được áp dụng chủ yếu trên đất bãi, xa khu dân cư để tránh ô nhiễm và tiếng ồn

Đất chuyên dùng thì vẫn duy trì ổn định qua các năm (81,5 ha) Đất thổ

cư tăng mạnh qua các năm, bình quân mỗi năm tăng 1,78% Do đời sống của người dân ngày càng sung túc, khá giả nên một diện tích lớn đất nông nghiệp

và đất chưa sử dụng đã được dùng để xây nhà ở rộng lớn, nhiều tầng Nó thể hiện sự khang trang, giàu đẹp của Phụng Công bây giờ

Trang 27

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng đất đai của xã Phụng Công qua các năm

(2011 – 2013)

SL(ha) CC(%) SL(ha) CC(%) SL(ha) CC(%) 11/10 12/11 BQ Tổng diện tích đất tự nhiên 488,8 100 488,8 100 488,8 100 100,00 100,00 100,00

Trang 28

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

- Dân số

Tính đến cuối năm 2013 toàn xã có 1600 với 6200 khẩu và 3554 lao động, bình quân mỗi hộ có 4,31 khẩu và 2,23 lao động Dân cư phân bố giữa các thôn không đều nhau, trong mỗi thôn dân cư lại phân bố gọn, tập trung nên rất tiện cho sản xuất cũng như sinh hoạt

Qua 3 năm từ 2011 đến 2013 tốc độ tăng dân số bình quân của xã là 1,86%, đây là tỷ lệ tăng không cao Nguyên nhân là do hội phụ nữ xã đã phối hợp với các đoàn thể vận động chị em trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình, ngoài ra ban dân số còn tham mưu tổ chức thống kê và bổ sung kịp thời trẻ em dưới 72 tháng tuổi được nhận thẻ khám và chữa bệnh miễn phí Mặt khác theo thống kê năm 2013 của Ủy ban nhân dân xã, tổng số người trong độ tuổi lao động từ nơi khác chuyển đến là 52 người, tổng số người chuyển đi là 43 người vậy lượng lao động chuyển đến cũng ảnh hưởng không lớn, khiến sự gia tăng không cao Qua bảng 2.2 ta thấy:

Trang 29

Bảng 2.2: Tình hình dân số và lao động của xã Phụng Công qua các năm (2011 - 2013)

SL CC(%) SL CC(%) SL CC(%) 08/07 09/08 BQ 1.Tổng số nhân khẩu Người 6434 100 6549 100 6676 100 101,79 101,94 101,86

Trang 30

Số hộ thuần nông của xã còn chiếm tỷ lệ khá cao 71,14% với 1134 hộ (năm 2013), số hộ thuần nông qua các năm có xu hướng tăng khá cao, đặc biệt từ năm 2012 đến 2013 tăng nhiều 1,7% do sự phát triển mạnh của làng nghề cây cảnh đã thu hút nhiều hộ tham gia vào sản xuất, bình quân mỗi năm (từ 2011 đến 2013) tăng 1,16% Số khẩu nông nghiệp cũng chiếm tỷ lệ rất cao 84,26% với 5625 khẩu (năm 2013), số khẩu nông nghiệp qua các năm cũng tăng liên tục với tỷ lệ tăng bình quân 2,01% một năm (từ 2011 đến 2013) Tỷ

lệ lao động của địa phương hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp cũng chiếm

tỷ lệ cao 78,36% với 2785 lao động Tỷ lệ này tính bình quân qua các năm (từ

2011 đến 2013) có tăng nhưng không đáng kể 0,21%

Với đặc điểm là một xã nằm tiếp giáp với thị trấn Văn Giang và gần với thành phố Hà Nội, nên việc kinh doanh buôn bán các loại hàng hóa tại đây cũng phát triển phá mạnh Số lao động hoạt động trong lĩnh vực này cũng không ngừng gia tăng qua các năm với tỷ lệ khá cao, bình quân mỗi năm (từ năm 2011 đến 2013) tăng 10,28%, riêng năm 2013 số lao động hoạt động TM-DV là 225 người chiếm 6,33% trong tổng lao động của xã Tuy số lao động hoạt động trong lĩnh vực này còn ít song mỗi năm giá trị thu được của ngành này lại tương đối lớn Theo thống kê của xã thì giá trị thu được của ngành TM-DV năm 2011 là 13,87 tỷ đồng; năm 2012 là 19,682 tỷ đồng; năm

2013 là 31,35 tỷ đồng tỷ lệ lao động TM-DV tuy còn thấp nhưng với đóng góp của ngành và với xu hướng tăng dần như trên đã cho thấy bước chuyển dịch sang hoạt động trong lĩnh vực TM-DV tại địa phương, nó cũng phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế của địa phương

Như vậy, Phụng Công vẫn là một xã thuần nông, người dân chủ yếu lao động và sống dựa vào nông nghiệp là chính Hơn nữa, do vị trí địa lý thuận lợi cho giao lưu buôn bán nên hoạt động TM-DV tại địa phương cũng rất phát

Trang 31

triển, tuy vậy trong những năm tới thì nông nghiệp vẫn là ngành chiếm vị trí chủ đạo trong phát triển kinh tế địa phương

- Cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội địa phương

Cơ sở vật chất là một trong các yếu tố rất quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, giao lưu văn hóa, giao lưu buôn bán của mỗi vùng, đồng thời

nó còn phục vụ đời sống của nhân dân

Bảng 2.3: Tình hình cơ sở hạ tầng của xã Phụng Công năm 2013

Trang 32

5 Trạm xá Trạm 1

6 Hệ thống thông tin liên lạc

(Nguồn: Ban thống kê Xã Phụng Công)

Nhìn chung cơ sở hạ tầng của xã khá đầy đủ và khang trang, cụ thể được thể hiện qua bảng 2.3: Hệ thống giao thông khá đầy đủ và kiên cố với 5,5 km đường liên xã dải nhựa, 12 km đường liên thôn đổ bê tông và lát gạch nghiêng, 6 km đường nội đồng được đổ bê tông Với hệ thống giao thông như vậy đã đáp ứng tốt nhu cầu đi lại và phục vụ cho sản xuất của người dân Thúc đẩy giao lưu giữa các thôn trong địa phương, giữa địa phương với các vùng trong huyện,

Hệ thống thủy lợi với 5 trạm bơm và hơn 25 km kênh mương đã đáp ứng khá tốt nhu cầu tưới tiêu phục vụ cho sản xuất của địa phương Việc duy trì, tu bổ, kiểm tra và nạo vét kênh mương được địa phương rất quan tâm và thực hiện thường xuyên

Công trình điện, xã có 4 trạm biến thế, khoảng 27,5 km đường dây điện

đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân trong xã

Xã có ba trường học, một trường tiểu học, một trường mầm non, một trường trung học cơ sở đều được xây dựng khang trang và đầu tư trang thiết bị cho giảng dạy, học tập Cả ba trường đều đạt trường chuẩn quốc gia Đội học sinh giỏi dự thi ở huyện, tỉnh đều giành thứ hạng cao Năm 2013 cả xã có 63

em thi đỗ Đại học, Cao đẳng Trong đó Đại học có 39 em, Cao đẳng có 24 em

Xã có một trạm y tế được đầu tư xây dựng khang trang, sạch đẹp, cơ sở vật chất cũng khá tốt đảm bảo phục vụ những nhu cầu thiết yếu của người

Trang 33

dân Trạm y tế đã làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân, hướng dẫn nhân dân phòng trừ dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, tham mưu về công tác vệ sinh môi trường Trạm y tế xã đã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn quốc gia y tế xã giai đoạn 2001-2011

Hệ thống thông tin liên lạc với 2 bưu điện, 547 máy điện thoại cố định

ở các hộ đã giải quyết phần nào nhu cầu liên lạc của người dân Cả xã có 6 thôn và mỗi thôn đều có nhà văn hóa riêng để sinh hoạt các hoạt động tập thể, sinh hoạt hè,

Tóm lại, có thể nói cơ sở vật chất của xã Phụng Công là khá đầy đủ, tạo điều kiện tốt cho sự phát triển kinh tế của địa phương và sinh hoạt của người dân

2.2 Phương pha ́ p nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Thu thập số liệu sơ cấp: là các số liệu chưa có, phải tiến hành điều tra

từ các hộ sản xuất cây cảnh trên địa bàn

- Chọn mẫu điều tra

Để đảm bảo tính khách quan trong chọn mẫu, bằng phương pháp chọn mẫu điển hình phân loại, tức là căn cứ vào thực tế tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn, chọn số hộ trồng cây cảnh của thôn so với hộ trồng cây cảnh trong toàn

xã Trong các xã, hộ được chọn điều tra theo tỷ lệ giữa các mức đầu tư, theo loại cây và theo thời gian trồng

Kết hợp tiêu chí phân loại hộ của các thôn, cùng với sự tìm hiểu tình hình thực tế tại xã Phụng Công mà tôi tổng hợp các mẫu điều tra đại diện các

hộ trồng cây cảnh của xã được thể hiện qua bảng (bảng 2.4)

Trang 34

Thông tin điều tra hộ dân tại các thôn của xã Phụng Công như sau:

+ Tổng số hộ điều tra: 50 hộ + Phân thành 3 nhóm: Phân loại theo diện tích trồng cây cảnh + Quy mô lớn: Lớn hơn 5 sào ( 15 hộ)

+ Quy mô trung bình: Từ 3 đến 5 sào ( 25 hộ) + Quy mô nhỏ: Nhỏ hơn 3 sào (10 hộ)

Bảng 2.4: Số lượng các hộ điều tra tại các thôn trong xã

- Nội dung điều tra:

Tôi tiến hành xây dựng những phiếu điều tra để khảo sát tình hình tiêu thụ cây cảnh trên địa bàn xã bao gồm các thông tin về:

+ Số lượng cây cảnh (theo từng chủng loại) đã được tiêu thụ, qui mô,

xu hướng vận động của thị trường

Trang 35

+ Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường, điều tra về thói quen, tập quán tiêu dùng của khách hàng (Người cung cấp, người tiêu dùng)

+ Điều tra nghiên cứu lượng cung, cầu và cơ cấu cung cầu trên thị trường, giá cả, số lượng khách hàng

+ Thực tế và tiềm năng cơ cấu khách hàng và tình hình cạnh tranh trên thị trường

- Thu thập số liệu thứ cấp: trên sách, báo, tạp chí kinh tế, tivi và Internet, số liệu báo cáo tổng kết hàng năm của xã Phụng Công về tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu, xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả: phân tích hiện tượng, các vấn đề liên

quan đến sản xuất và tiêu thụ cây cảnh thông qua phân tích dựa trên các con

số tương đối và tuyệt đối, số bình quân…

- Số liệu được tổng hợp và xử lý chủ yếu trên phần mềm Excel

2.3 Các chỉ tiêu phân tích

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tình hình sản xuất cây cảnh

+ Tổng diện tích trồng cây cảnh, diện tích bình quân trên hộ trồng cây cảnh

+ Tỷ lệ hộ trồng cây cảnh trên tổng hộ dân

+ Cơ cấu các loại cây cảnh trên địa bản

+ Giá trị kinh tế của sản xuất cây cảnh

+ Thu nhập bình quân của hộ trồng cây cảnh

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tình hình tiêu thụ cây cảnh

+ Thị trường tiêu thụ cây cảnh

+ Số lượng cây cảnh tiêu thụ

Trang 36

+ Giá trị tiêu thụ

+ Cơ cấu các loại cây tiêu thụ

+ Tỷ lệ gia tăng số lượng và giá trị cây cảnh tiêu thụ

- Các chỉ tiêu phân tích khác

Trang 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng sản xuất cây cảnh của xã Phụng Công

3.1.1 Tình hình phát triển sản xuất cây cảnh của xã Phụng Công

Trồng cây cảnh ngoài những yếu tố chủ quan thuận lợi như điều kiện đất đai, nhiệt độ, độ ẩm,…phù hợp còn phải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố khác như vốn đầu tư, kỹ thuật chăm sóc và cách lựa chọn loại cây cảnh phù hợp với điều kiện kinh tế của từng vùng, từng hộ dân

Việc đánh giá được HQKT của nghề trồng cây cảnh mang lại là rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã hội Khi đánh giá HQKT của nghề sản xuất cây cảnh phải tập trung vào HQKT do sản xuất cây cảnh mang lại, HQKT với từng loại cây cảnh, KQKT sản xuất cây cảnh do mức đầu tư vốn khác nhau, HQKT sản xuất cây cảnh do kinh nghiệm sản xuất ở các nhóm hộ khác nhau, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường do sản xuất cây cảnh mang lại Muốn phát triển sản xuất cây cảnh đem lại hiệu quả kinh tế cao phải chú ý đến yếu tố kỹ thuật và thị trường tiêu thụ sản phẩm

Đánh giá đúng để đưa ra quyết định đối với việc lựa chọn và ra quyết định của một quá trình sản xuất Nếu không có sự đánh giá đúng thì quá trình đó không được xem là phù hợp hay chưa phù hợp và điều kiện này rất quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp và những lĩnh vực sản xuất phục vụ nhu cầu tất yếu của con người Trong sản xuất nông nghiệp có những nguồn lực không thể thay thế và có thể cạn kiệt như đất đai, nguồn nước,…do đó việc lựa chọn mục tiêu sản xuất, mục đích sản xuất để đem lại HQKT cao nhất là rất cần thiết Muốn phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh tốt cần

Trang 38

lựa chọn cơ cấu hợp lý đặc biệt chú ý tới sản phẩm cây cảnh có lợi thế so sánh

Cùng với chủ trương phát triển sản xuất cây cảnh trong cả nước Những năm gần đây, nông dân huyện Văn Giang đặc biệt nông dân xã Phụng Công

mở rộng diện tích trồng cây cảnh với diện tích năm 2013 là 5,78 ha Cây cảnh

ở xã Phụng Công chủ yếu là các loại cây như: Cam cảnh, quất cảnh, đào cảnh,

si, lộc vừng và một số loại cây khác Tuy nhiên với phạm vi hạn hẹp của đề tài, tôi chỉ xin đi vào tìm hiểu tình hình sản xuất và tiêu thụ của một số loại cây cảnh chủ yếu của xã : Quất cảnh, cam cảnh, đào cảnh,

3.1.1.1 Qui mô và cơ cấu diện tích năm 2011 – 2013

Tính đến năm 2013 tổng diện tích đất canh tác của xã là 374,78ha Trong đó diện tích đất trồng cây cảnh là 5,78 ha chiếm 2,12% Diện tích này không ngừng tăng lên qua 3 năm : Năm 2011 có 5,54 ha, năm 2012 là 5,78ha, năm 2013 là 5,78ha Như vậy diện tích cây cảnh bình quân tăng hàng năm là 2,15% Điều đó cho thấy cây cảnh ngày càng chiếm ưu thế trong hệ thống cây trồng của xã

Trang 39

Bảng 3.1: Cơ cấu diện tích một số loại cây cảnh ở xã Phụng Công

2011 – 2013

Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013

Tốc dộ phát triển

(%) DT(ha) Cc(%) DT(ha) Cc(%) DT(ha) Cc(%) 08/07 09/08 BQ Tổng diện tích 5,54 100 5.78 100 5.78 100 104,3 100 102.15

( Nguồn : Ban thống kê xã Phụng Công )

Bảng 3.1 cho thấy diện tích trồng đào cảnh, cam cảnh có xu hướng ngày một tăng, cùng với diện tích trồng cây cảnh tăng hàng năm của xã, riêng chỉ có diện tích cây quất cảnh là bị giảm bình quân qua các năm là 2,4% và cây cảnh khác là 4,4% Có lẽ đây cũng là điều đáng mừng vì người dân đã biết lựa chọn loại cây cảnh phù hợp với chất đất của địa phương để trồng Hàng năm người dân nơi đây cung cấp cho thị trường rất nhiều cây quất, cam, đào đẹp góp phần làm đẹp thêm cho cuộc sống, tôn thêm vẻ đẹp, sự ấm cúng cho mỗi gia đình trong những dịp tết Nguyên đán Cũng có thể thấy diện tích cây đào, cam chiếm vị trí khá nhiều so với các loại cây cảnh của xã Đây là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế khá cao so với các loại cây trồng như ngô, lạc, lúa,…vì vậy diện tích của nó tăng khá nhanh qua các năm, điều đó chứng tỏ cây đào là một loại cây có triển vọng trong tương lai mà địa phương cầm chú ý trong chiến lược phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hoá của mình

Trang 40

3.1.1.2 Cơ cấu hộ trồng cây cảnh ở xã Phụng Công

Xã Phụng Công có 8 thôn nhưng diện tích trồng cây cảnh chỉ phát triển

ở 5 thôn còn các thôn khác thì rải rác có các hộ trồng cây cảnh trên diện tích vườn nhà không đáng kể

Bảng 3.2 : Số lượng hộ trồng cây cảnh ở xã Phụng Công 2011 – 2013

Tên thôn

2011 2012 2013 Tốc độ phát triển( %)

SL (hộ)

CC (%)

SL (hộ)

CC (%)

SL (hộ)

CC (%)

( Nguồn: Ban thống kê xã Phụng Công và điều tra các thôn )

Nhìn vào bảng 3.2 ta thấy số hộ trồng cây cảnh là một chỉ tiêu cho biết tình hình phát triển nghề trồng cây cảnh tại Xã Phụng Công những năm qua

Số hộ trồng cây cảnh trên toàn xã có tăng Số hộ trồng cây cảnh tăng qua 3 năm (2011 – 2013) do, giá của các loại cây cảnh có xu hướng tăng, nên các hộ này càng gắn bó với nghề hơn và nó còn có tác động đến các hộ trong xã làm cho số hộ trồng cây cảnh tăng dần

3.1.2 Tình hình sản xuất cây cảnh của các hộ điều tra ở xã Phụng Công

3.1.2.1 Tình hình chung của các hộ điều tra

Qua thực tế điều tra cho thấy, các nông hộ của xã có xu hướng phát triển diện tích cây cảnh khá nhanh trong những năm qua để thay thế cho những loại cây truyền thống có hiệu quả kinh tế thấp như ngô, khoai, lúa,…

Ngày đăng: 29/08/2017, 15:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương (2001), Tài liệu học tập và văn kiện Đại hội IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập và văn kiện Đại hội IX của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hóa Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
2. Bùi Ngọc Quyết (2000), Giáo trình kinh tế môi trường, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế môi trường
Tác giả: Bùi Ngọc Quyết
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2000
3. Lê Đình Thắng (2005). ‘Đánh giá hiệu quả sản xuất cây cảnh ở xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên’, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả sản xuất cây cảnh ở xã Phụng Công, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Tác giả: Lê Đình Thắng
Năm: 2005
4. Lê Hữu Tầng (1997), Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội
Tác giả: Lê Hữu Tầng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1997
5. Nguyễn Xuân Linh (2002) “ Kỹ thuật trồng hoa, cây cảnh” NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Kỹ thuật trồng hoa, cây cảnh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
6. Lê Văn Khoa (2004). ‘Khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang’, Khóa luận tốt nghiệp đại học , Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sản xuất và tiêu thụ vải thiều ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Tác giả: Lê Văn Khoa
Năm: 2004
7. Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh (2001), Quản lý môi trường cho phát triển bền vững, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý môi trường cho phát triển bền vững
Tác giả: Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2001
8. Ngô Doãn Vịnh (2003), Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam – học hỏi và sáng tạo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Việt Nam – học hỏi và sáng tạo
Tác giả: Ngô Doãn Vịnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2003
9. Ngô Đình Giao (1966), Kinh tế học vĩ mô, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học vĩ mô
Tác giả: Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1966
10. Nguyễn Khắc Trung, Phạm minh Thu (1996), Kỹ thuật về cây cảnh, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật về cây cảnh
Tác giả: Nguyễn Khắc Trung, Phạm minh Thu
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
11. Phạm Xuân Phương (2003), Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông bắc bắc bộ, Luận án TS kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và những giải pháp chủ yếu phát triển vùng nguyên liệu gỗ trụ mỏ Đông bắc bắc bộ
Tác giả: Phạm Xuân Phương
Năm: 2003
12. Tổng cục thống kê (1996), Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm đổi mới (1986-1995), NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Động thái và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm đổi mới (1986-1995)
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 1996
13. Trịnh Thị Thanh Thúy (2012).,‘Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở huyện Văn Lâm, Hưng Yên’, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Giải pháp phát triển sản xuất và tiêu thụ cây cảnh ở huyện Văn Lâm, Hưng Yên’
Tác giả: Trịnh Thị Thanh Thúy
Năm: 2012
14. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn (2000), Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy mới về phát triển cho thế kỷ XXI
Tác giả: Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
15. Viện chiến lược phát triển (2001), Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến 2011 và tầm nhìn 2020, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam đến 2011 và tầm nhìn 2020
Tác giả: Viện chiến lược phát triển
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đỗ Kim Chung (2003), “Dự án phát triển nông thôn”, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Dự án phát triển nông thôn”
Tác giả: Đỗ Kim Chung
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2003
17. Đặng Thị Thu Hằng (2005), “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh ở huyện Văn Giang - Tỉnh Hưng Yên”, Luận văn thạc sỹ kinh tế Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa, cây cảnh ở huyện Văn Giang - Tỉnh Hưng Yên”
Tác giả: Đặng Thị Thu Hằng
Năm: 2005
18. Đặng Văn Tiến (1996), “Nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ rau sạch ở Hà Nội”. Luận án thạc sỹ kinh tế, Trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ rau sạch ở Hà Nội”
Tác giả: Đặng Văn Tiến
Năm: 1996
19. Bùi Thị Thu Hương (2004) “Phát triển sản xuất và tiêu thụ nấm ăn trên địa bàn huyện Yên khánh tỉnh Ninh Bình”, Luận văn thạc sỹ khoa học kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển sản xuất và tiêu thụ nấm ăn trên địa bàn huyện Yên khánh tỉnh Ninh Bình”
20. Viện kinh tế Nông nghiệp (2002), “Kỷ yếu khoa học nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, nông dân” NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Kỷ yếu khoa học nghiên cứu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn, nông dân”
Tác giả: Viện kinh tế Nông nghiệp
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm