1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình

111 332 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG 1.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2010 18 1.2 Tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch qua từng năm 20 2.1 Chỉ tiêu khí hậu thời tiết từng tháng trên

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Đề tài: “ Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình” đã được hoàn thành trong chương trình đào tạo cao học

kinh tế nông nghiệp khóa 18 tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Trong quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy,

Cô, các bạn đồng nghiệp và của gia đình Được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của khoa sau đại học, của lãnh đạo nhà trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đển TS Lê Khắc Côi, người thầy

đã trực tiếp tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành bài luận văn này

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và cán bộ SNN&PTNT tỉnh Hoà Bình, Sở tài nguyên và môi trường Hoà Bình, Sở KH&ĐT Hoà Bình, Cục thống kê hoà bình, Trung tâm nước sạch và VSMTNT Hoà Bình, UBND huyện Lạc Thuỷ, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Lạc Thuỷ, phòng Giáo dục và đào tạo huyện Lạc Thuỷ, phòng Y tế huyện Lạc Thuỷ, phòng thống kê huyện Lạc Thuỷ,… đã tạo điều kiện cung cấp những thông tin cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù cố gắng và nỗ lực nhiều nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến quý báu của các quý thầy, cô, các nhà khoa học cùng các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu thu thập, kết quả tính toán là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất cứ hội đồng khoa học nào trước đây Tài liệu tham khảo của một số tác giả tôi trích dẫn rõ ràng Nếu có gì sai xót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, tháng 10 năm 2012

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu Phương

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cảm ơn ……….………

Mục lục ……….…

Danh mục các từ viết tắt ………

Danh mục các bảng………

Danh mục các hình……….…

i ii iv v vi ĐẶT VẤN ĐỀ i

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số khái niệm 5

1.1.2 Quan điểm và vai trò quản lý nước sinh hoạt nông thôn 6

1.1.3 Một số vấn đề liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn 8

1.1.4 Chiến lược quản lý nước sinh hoạt nông thôn của Việt Nam đến năm 2020 11

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

1.2.1 Kinh nghiệm, bài học về quản lý nước sạch sinh hoạt nông thôn của một số nước 13

1.2.2 Kinh nghiệm và bài học về quản lý nước sinh hoạt nông thôn ở nước ta 18

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH QUẢN LÝ, NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 28

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 33

2.2 Phương pháp nghiên cứu 43

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 43

2.2.2 Thu thập thông tin, số liệu 44

Trang 3

2.2.3 Xử lý và phân tích thông tin, số liệu 45

2.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 46

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ, QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 48

3.1 Thực trạng các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Thủy 48

3.1.1 Thực trạng nguồn nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Thủy 48

3.1.2 Tình hình chung về khai thác và sử dụng nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Thủy 48

3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện Lạc Thủy 60

3.2.1 Các yếu tố về kinh tế xã hội 60

3.2.2 Các yếu tố về cơ chế, chính sách, chủ trương của Nhà nước 70

3.2.3 Các yếu tố khác 72

3.3 Đánh giá các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện 72

3.3.1 Mô hình UBND xã quản lý 72

3.3.2 Mô hình HTX quản lý 75

3.3.3 Mô hình cộng đồng quản lý 77

3.4 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn của huyện 80

3.4.1 Định hướng 80

3.4.2 Một số giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý nước SHNT huyện Lạc Thủy 82

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98

1 Kết luận 98

2 Kiến nghị 99 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ADB Ngân hàng phát triển châu Á

5 CT135 Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt

khó khăn vùng đồng bào dân tộc và miền núi

6 DA472 Dự án ổn định dân cư vùng hồ thủy điện hòa bình

8 NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

9 NS&VSMTNT Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

10 NSH&VSMTNT Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn

11 SHNT Sinh hoạt nông thôn

12 PTNT Phát triển nông thôn

15 Unicef Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc

17 VSMTNT Vệ sinh môi trường nông thôn

18 VSMT Vệ sinh môi trường

19 WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2010 18 1.2 Tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch qua từng năm 20 2.1 Chỉ tiêu khí hậu thời tiết từng tháng trên địa bàn huyện 30

3.3 Hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung tại 3

xã điểm nghiên cứu

59

3.4 Số lượng các công trình cấp nước SHNT có sự đóng góp xây dựng

của người dân

3.9 Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng

nước sạch, nước hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày

65

3.10 Ảnh hưởng của nguồn gốc dân tộc chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng

nước sạch, nước hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày

65

3.11 Ảnh hưởng của giới tính đến sự quan tâm sử dụng nước sạch, nước

hợp vệ sinh vào sinh hoạt hàng ngày

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

3.1 Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình UBND xã quản lý 52 3.2 Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình HTX quản lý 53 3.3 Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình cộng đồng quản lý 54

3.9 Sơ đồ mô hình Cộng đồng quản lý nước SHNT 97

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú quanh ta, từ những dòng chảy, sông hồ, nước ngầm đến đại dương mênh mông là nơi muôn loài thuỷ sinh sinh sống, nước được sử dụng trong mọi mặt đời sống của con người và mọi loài động thực vật trên trái đất Có thể khẳng định rằng nước là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được của sự sống, nó liên quan đến mọi vấn đề của đời sống xã hội Tuy nhiên nguồn nước sạch quý báu đang bị khai thác dần cạn kiệt, thiếu nước sạch không những ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn ảnh hưởng đến các loài sinh vật trên trái đất cũng như mọi hoạt động sản xuất, sinh hoạt Chính vì thế nước sạch đang là một trong những vấn đề được quan tâm không chỉ ở phạm vi mỗi Quốc gia, khu vực mà đang là vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu Theo báo cáo của Liên Hiệp Quốc, “hơn 1 tỉ người trên thế giới không có nước sạch, khoảng 2,5

tỉ không có nhà vệ sinh và mỗi năm hơn 2 triệu người chết vì thiếu nước sạch và điều kiện vệ sinh” [1, tr24]

Do tác động của quá trình phát triển với nhu cầu ngày càng tăng của con người về nước sinh hoạt và sản xuất, nguồn tài nguyên nước đang bị khai thác tới mức dần cạn kiệt Chính vì vậy vấn đề quản lý trong khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này đang là vấn đề hết sức nóng bỏng, cấp bách Nếu việc quản lý khai thác

và sử dụng nguồn tài nguyên nước không hợp lý sẽ dẫn đến cạn kiệt nguồn nước, gây những tác động xấu không chỉ cho hiện tại mà cả tương lai sau này

Ở nước ta, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi trọng Nhận thức rõ vị trí, vai trò, ý nghĩa của công tác nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, trong những năm qua Đảng và nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản về chủ trương, định hướng, đề ra các mục tiêu cần đạt được đối với công tác này như: Nghị quyết Trung ương VIII, IX; Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đến năm 2020; Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo…

Trang 8

Theo thông báo của Trung tâm Quốc gia NS&VSMTNT, mặc dù đã có nhiều

cố gắng nhưng tính đến cuối năm 1998, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh vẫn còn thấp (chỉ khoảng 32%) [5, tr19] , “mức tăng trưởng trung bình hàng năm chỉ đạt chưa đến 1% trong suốt thời kỳ từ 1980 – 1997” [5, tr20] Nhiều vùng nông thôn còn rất khó khăn về nước uống và nước sinh hoạt, tình trạng vệ sinh

ở các làng xã trên địa bàn nông thôn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt là tập quán của người dân và các hành vi vệ sinh cá nhân chậm thay đổi đã ảnh hưởng xấu đến môi trường và sự phát triển bền vững ở nông thôn Tình trạng này là nguyên nhân chính làm cho tỉ lệ dân cư nông thôn mắc các bệnh, dịch là rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến không chỉ sức khoẻ của nhân dân mà còn có tác động tiêu cực đến sự phát triển bền vững của kinh tế - xã hội, của công cuộc xoá đói giảm nghèo và sự phát triển chung của toàn xã hội

Nhìn chung vấn đề nước sinh hoạt ẩn chứa nhiều tồn tại dù rằng những năm trở lại đây Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã và đang được Chính phủ, các tổ chức tài trợ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cá nhân trong nước

và ngoài nước đầu tư mạnh mẽ Thông qua đó đã có hàng loạt các dự án, chương trình nhằm nâng cao năng lực cho chương trình nước sinh hoạt nhất là cơ sợ hạ tầng

và dịch vụ Thế nhưng cơ chế và công tác quản lý còn thiếu đồng bộ ẩn chứa nhiều bất cập, hạn chế, làm giảm tác dụng của các chương trình, dự án Thực tế cho thấy công tác quản lý nước sinh hoạt ở nước ta hiện nay còn nhiều thách thức cho dù đã

có nhiều tiến bộ Mặc dù trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Quốc gia đã ban hành tài liệu “Hướng dẫn quản lý, vận hành, bảo dưỡng hệ thống cấp nước tự chảy”, tuy nhiên nó chưa đáp ứng được những yêu cầu vô cùng phong phú của thực tiễn về công tác quản lý; nhiều vùng, miền, địa phương đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn mô hình quản lý phù hợp với điều kiện đặc thù của mình

Không nằm ngoài tình hình chung nêu trên, tỉnh Hoà Bình nói chung, huyện Lạc Thuỷ nói riêng cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nước sinh hoạt nông thôn Nhiều công trình nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn được đầu tư

Trang 9

xây dựng với nguồn vốn hàng tỷ đồng nhưng hiều quả sử dụng lại rất thấp Có những công trình sau khi xây dựng, bàn giao đưa vào sử dụng lại thiếu nước hoặc không có nước; có công trình giai đoạn đầu hoạt động rất hiệu quả song trong quá trình quản lý còn nhiều bất cập, cộng với sự thiếu ý thức trong sử dụng và bảo vệ công trình dẫn đến xuống cấp, không thể sử dụng được

Trên cơ sơ tồn tại những vấn đề đã nêu trên ở trên, nhằm hệ thống hoá cơ sở

lý luận về quản lý nước sinh hoạt nông thôn, xây dựng một góc nhìn tổng quan về công tác quản lý nước sinh hoạt nông thôn và đề xuất một số mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, Tỉnh Hoà Bình, tôi đã nghiên cứu

đề tài “Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng về mô hình quản lý nước sạch sinh hoạt nông thôn, từ

đó đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn trên địa bàn huyện Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn, các nguyên tắc, nội dung, phương thức hoạt động của các mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện Lạc Thuỷ

Trang 11

Chương1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÝ

NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, mô hình được hiểu:

- Nghĩa hẹp “là mẫu, khuôn, tiêu chuẩn theo đó mà chế tạo ra sản phẩm hàng loạt” [11, tr.248]

- Nghĩa rộng “là hình ảnh (hiện tượng, sơ đồ, sự mô tả…) ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc hiện tượng) Khái niệm mô hình được sử dụng rộng rãi trong triết học, ngôn ngữ học, kinh tế học”…[11, tr.249]

Trong kinh tế học, “mô hình được hiểu là hình ảnh mang tính chất quy ước của đối tượng nghiên cứu, diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực tế trong thiên nhiên, xã hội” …[11, tr.249]

Như vậy, mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn có thể hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả…) mang tính chất quy ước của một hệ thống quản lý nước sinh hoạt nông thôn cụ thể trong thực tiễn

1.1.1.2 Quản lý nước sinh hoạt nông thôn

“Quản lý nước sinh hoạt nông thôn là việc thực thi các chính sách do hội đồng quyết định và phân phối các hoạt động hàng ngày để đạt được mục đích và mục tiêu của cơ quan hay tổ chức nhằm nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn thông qua cải thiện các dịch vụ cấp nước sinh hoạt, nâng cao nhận thức

và thay đổi hành vi của cộng đồng về sử dụng nước Giảm thiểu các tác động xấu do điều kiện cấp nước sinh hoạt kém gây ra đối với sức khoẻ của người dân nông thôn, góp phần giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường” [14, tr.59]

Trang 12

1.1.1.3 Nước sinh hoạt nông thôn

“Nước sinh hoạt là nước dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người” [14, tr.19]

Như vậy có thể hiểu nước sinh hoạt nông thôn như sau:

- Nước sinh hoạt được cấp ở vùng nông thôn

- “Nước được cung cấp tại khu vực nông thôn đã qua sử lý, sau hệ thống phân phối, dùng trong sinh hoạt gọi là nước sinh hoạt nông thôn” [14, tr.23]

- “Nước cung cấp cho sinh hoạt tại vùng nông thôn nêu trên bao gồm cả nước cấp cho những vùng nông thôn thuần tuý và các đô thị loại nhỏ (loại V) với dân số không quá 30.000 người” [14, tr.65]

1.1.2 Quan điểm và vai trò quản lý nước sinh hoạt nông thôn

1.1.2.1 Quan điểm quản lý nước sinh hoạt nông thôn

Quản lý nước sinh hoạt nông thôn phải mang tính hệ thống, xuất phát từ nhu cầu của người sử dụng nước, theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá trong công tác đầu tư xây dựng và quản lý các công trình nước sinh hoạt nông thôn nhằm phát huy tối đa nội lực của dân cư nông thôn Đồng thời tăng cường hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về lĩnh vực nước sinh hoạt nông thôn, trong đó chú trọng nâng cao chất lượng các dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt Người sử dụng nước phải được tham gia, quyết định mô hình cấp nước sinh hoạt và tổ chức thực hiện quản lý mô hình phù hợp với khả năng về tài chính, trình độ quản lý của họ Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn, giám sát, hỗ trợ các cộng đồng sử dụng nước; có chính sách riêng nhằm giúp đỡ các gia đình thuộc diện chính sách, hộ nghèo, đồng bào dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn … trước mắt được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tiến tới sử dụng nước sạch [6, tr.78]

1.1.2.2 Vai trò của quản lý nước sinh hoạt nông thôn

Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn là một vấn đề được Đảng, Nhà nước quan tâm đặc biệt và xác định là một bộ phận trong chính sách phát triển nông thôn; xem việc đảm bảo cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường là tiêu chí

để phát triển nông thôn văn minh, hiện đại, là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và nhà

Trang 13

nước, của các ngành các cấp và chính quyền địa phương Công trình cấp nước còn được xác định là một trong tám loại công trình cần xây dựng ở các vùng nông thôn

và là một trong sáu loại hạ tầng cơ bản nhất để đánh giá điều kiện thoát nghèo ở các

xã khó khăn (điện, đường, trường học, trạm xá, nước sạch và chợ) Bên cạnh đó Việt Nam cũng đã tham gia từ rất sớm và ký hàng loạt cam kết và tuyên bố Quốc tế

về xoá đói giảm nghèo và cải thiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường như: Chương trình nước uống và vệ sinh môi trường thế giới, Tuyên bố Dudlin, Mục tiêu thiên niên kỷ,… Chính vì lẽ đó, việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn được xác định có những vai trò, vị trí quan trọng sau:

- Đối với kinh tế: Phát triển và quản lý có hiệu quả các hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn sẽ góp phần nâng cao điều kiện sống, đảm bảo sức khoẻ, nâng cao thể chất cho người dân nông thôn Từ đó đảm bảo nguồn lao động dồi dào cho phát triển kinh tế, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Đối với xã hội: Quản lý có hiệu quả các công trình nước sạch sinh hoạt nông thôn sẽ giúp người dân nông thôn được sử dụng nước sạch, nước hợp vệ sinh trong sinh hoạt, góp phần tăng cường sức khoẻ cho người dân nông thôn thông qua việc giảm thiểu các loại bệnh do sử dụng nước nhiễm bẩn gây ra (như bệnh tiêu chảy, đường ruột, sỏi thận, ung thư …) Qua đó góp phần nâng cao ý thức, cải thiện hành vi của người dân nông thôn theo hướng thực hiện vệ sinh trong mọi sinh hoạt của cá nhân và cộng đồng

- Đối với môi trường: Chống nguy cơ suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo vệ chất lượng nguồn nước, chống ô nhiễm môi trường

* Một số đặc điểm của việc quản lý nước sinh hoạt nông thôn

Một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu để thực hiện tốt chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 đã được Chính phủ xác định, đó là: “Xã hội hoá lĩnh vực cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn là vận động và tổ chức, tạo cơ sở pháp lý để khuyến khích sự tham gia của nhân dân, của các thành phần kinh tế và toàn xã hội vào sự phát triển cấp nước sạch và vệ sinh

Trang 14

nông thôn nhằm nâng cao điều kiện sống và tăng cường sức khoẻ cho dân cư nông thôn”

Để triển khai thực hiện giải pháp trên cần áp dụng phương thức quản lý cộng đồng trong việc quản lýcác công trình nước sinh hoạt nông thôn với nguyên tắc là: cộng đồng phải tự vận hành và bảo dưỡng công trình cấp nước

Theo phương thức quản lý này, công tác quản lý nước sinh hoạt nông thôn sẽ bao gồm các đặc điểm sau:

- Do tập thể cộng đồng kiểm soát công trình

- Tập thể cộng đồng vận hành và bảo dưỡng công trình

- Tập thể cộng đồng làm chủ công trình

- Tập thể cộng đồng đóng góp chi phí

1.1.3 Một số vấn đề liên quan đến quản lý nước sinh hoạt nông thôn

1.1.3.1 Các yêu cầu của quản lý nước sinh hoạt nông thôn

- Nâng cao nhận thức của người dân: Nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về việc sử dụng nước sinh hoạt nông thôn Đây là cơ sở hết sức quan trọng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá Hiện nay, phần lớn dân cư nông thôn còn thiếu hiểu biết về nước sinh hoạt, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu người dân nông thôn nhận thức rõ được vấn đề thì với sự trợ giúp của Chính phủ, họ có thể vượt lên khắc phục khó khăn, cải thiện được môi trường sống của mình tốt hơn Vì vậy, các hoạt động thông tin giáo dục và truyền thống có tầm quan trọng lớn đối với thành công của chiến lược phát triển

- Cải tiến tổ chức, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và phát triển nguồn nhân lực: Tổ chức phải thực hiện theo một số nguyên tắc chung, phân công trách nhiệm của từng cấp quản lý từ trung ương tới cấp thấp nhất thích hợp gắn liền với các tổ chức cộng đồng Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước Phát triển nguồn nhân lực nhằm: Cung cấp đủ và sắp xếp cho hợp lý cán bộ nhân viên trong lĩnh vực

Trang 15

cho phù hợp với nghề nghiệp và nhiệm vụ; bồi dưỡng cho cán bộ trung ương và địa phương về chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, các kiến thức và kỹ năng về lập chương trình, kế hoạch, điều phối, quản lý theo cách tiếp cận dựa trên nhu cầu đối với cấp nước sinh hoạt nông thôn, huấn luyện nhân viên chịu trách nhiệm thực thi ở các cấp huyện, xã để thực hiện tốt vai trò mới của mình

- Đổi mới cơ chế tài chính, huy động nhiều nguồn vốn để phát triển cấp nước sinh hoạt nông thôn Cơ chế tài chính phát huy nội lực dựa trên nguyên tắc người sử dụng phải đóng góp phần lớn chi phí xây dựng công trình và toàn bộ chi phí vận hành, duy tu bảo dưỡng và quản lý Cấp nước sinh hoạt nông thôn phục vụ cho việc nâng cao sức khoẻ, giảm thiểu các bệnh tật do thiếu nước sạch và kém vệ sinh gây

ra, cải thiện điều kiện sinh hoạt cho mọi gia đình Đó là sự nghiệp của toàn dân, vì vậy cần xã hội hoá công tác này, huy động mọi nguồn vốn trong nước, phát huy nội lực, đồng thời thu hút vốn nước ngoài cho cấp nước sinh hoạt nông thôn

- Nghiên cứu phát triển và áp dụng công nghệ thích hợp Đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển trong lĩnh vực cấp nước sinh hoạt nông thôn Giới thiệu các công nghệ khác nhau cho người sử dụng giúp cho họ có kiến thức cần thiết để quyết định lựa chọn loại công nghệ phù hợp

1.1.3.2 Đối tượng của quản lý nước sinh hoạt nông thôn

Đối tượng của quản lý nước sinh hoạt nông thôn là nguồn nước và các công trình cấp nước sinh hoạt ở vùng nông thôn Như vậy quản lý nước sinh hoạt nông thôn sẽ bao hàm các nội dung sau:

- Điều tra nguồn nước

- Lập quy hoạch khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước

- Quản lý và bảo vệ nguồn nước

- Quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn (từ các khâu: xây dựng, vận hành, bảo dưỡng, bảo trì, nâng cấp, …)

1.1.3.3 Một số vấn đề khác

* Vấn đề ô nhiễm nguồn nước và các giải pháp khắc phục

Trang 16

Cùng với xu thế công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước cần đề ra một số giải pháp chủ yếu để khắc phục vấn đề ô nhiễm môi trường và thực hiện chương trình nước sạch và vệ sinh nông thôn bao gồm:

* Đẩy mạnh xã hội hoá, phát triển mạnh thị trường nước sinh hoạt nông thôn, huy động sự tham gia rộng rãi của toàn xã hội, các thành phần kinh tế nhằm huy động các nguồn lực để đẩy nhanh tỷ lệ người dân nông thôn được hưởng nước nhằm cải thiện điều kiện sống góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược tăng trưởng

và xoá đói giảm nghèo Để đẩy mạnh xã hội hoá, một số nhiệm vụ cần triển khai bao gồm:

- Ban hành các cơ chế chính sách thuận lợi để khuyến khích sự tham gia của các thành phần kinh tế đầu tư phát triển nước sinh hoạt theo định hướng của nhà nước

+ Chính sách về đất đai: giao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân xây dựng cấp nước sinh hoạt phục vụ cộng đồng

+ Chính sách khuyến khích đầu tư: bình đẳng về cơ chế hỗ trợ, nguồn vốn vay tín dụng để đầu tư cho công trình cấp nước sinh hoạt Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp đối với cộng đồng, tổ chức, cá nhân khi đầu tư

+ Chính sách về thuế, phí, lệ phí: bảo đảm các tổ chức dịch vụ cấp nước sinh hoạt có khả năng chủ động và tự cân đối tài chính

- Tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng và quản lý khai thác công trình

- Tăng cường tính pháp lý và chế tài sử phạt đối với các vi phạm trong hoạt động cấp nước sinh hoạt

* Giải pháp về thông tin – giáo dục – truyền thống và tham gia của cộng đồng Nâng cao hiểu biết của người dân về mối liên quan giữa nước sạch với sức khoẻ; vận động, khuyến khích người dân nông thôn sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; Cung cấp thông tin để người dân có thể tự lựa chọn loại hình cấp nước sinh hoạt phù hợp; khuyến khích người dân tự nguyện đóng góp tài chính hoặc công sức

để xây dựng cộng trình cấp nước sinh hoạt

Trang 17

* Giải pháp về quy hoạch, kế hoạch

Xây dựng, rà soát, đánh giá, bổ sung quy hoạch cấp nước sinh hoạt là nhiệm

vụ thường xuyên trong công tác quản lý nhà nước

Đổi mới công tác xây dựng kế hoạch theo phương pháp kế hoạch hoá Tăng cường việc phân cấp quản lý để đảm bảo các tính chủ động trong việc lập kế hoạch, triển khai và quản lý các công trình cấp nước sinh hoạt Việc xây dựng kế hoạch của chương trình được tiến hành theo lịch trình 5 năm và hàng năm phải xuất phát từ cơ sở

* Giải pháp về tài chính

Cơ cấu huy động và phân bổ vón hợp lý đối với từng mục tiêu, từng vùng khác nhau

* Giải pháp về khoa học công nghệ

Phù hợp với điều kiện tự nhiên – kinh tế – xã hội của từng vùng, đảm bảo nguyên tắc, bền vững, ưu tiên tìm kiếm và tận dựng các nguồn nước ổn định đối với các vùng đặc biệt khó khăn (như vùng thường xuyên hạn hán, lũ lụt, vùng mnúi cao, hải đảo, …)

* Quản lý đầu tư – xây dựng, khai thác và quản lý công trình cấp nước

* Đào tạo phát triển nguồn nhân lực: đào tạo phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng được các cách tiếp cận dựa theo nhu cầu và phân cấp quản lý, thực thi cho các cấp

* Mở rộng hợp tác Quốc tế: tăng cường hợp tác thông qua nhiều hình thức khác nhau như đa phương, song phương …

1.1.4 Chiến lược quản lý nước sinh hoạt nông thôn của Việt Nam đến năm 2020

Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được soạn thảo trong bối cảnh có một số chương trình và dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn được thực hiện trong nhiều năm nay và Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch

và vệ sinh môi trường đã được Chính phủ phê duyệt ngày 03/12/1998 được thực hiện từ 1999 đến 2005 Đến ngày 25/08/2000, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020

Trang 18

Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đã hướng dần những nguyên tắc cơ bản: phát triển bền vững, cách tiếp cận dựa trên nhu cầu và xã hội hoá công tác cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn để chỉ đạo toàn bộ lĩnh vực cũng như các chương trình và dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn

Trong giai đoạn 2006 – 2011 đã hình thành một chương trình hành động nhằm hỗ trợ xây dựng năng lực, cải cách tổ chức và các thể chế, trợ giúp kỹ thuật để tạo các tiền đề quan trong cho việc thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường và các chương trình dự án khác, đồng thời xây dựng nền móng vững chắc cho việc thực hiện chiến lược quốc gia cấp nước sạch và

vệ sinh nông thôn Cụ thể là:

- Mục tiêu:

+ Mục tiêu đến năm 2020: tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng ít nhất 60 lít/ngày/người, sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân, giữ sạch vệ sinh môi trường làng, xã [6, tr.23]

+ Mục tiêu đến năm 2010: 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh

số lượng 60 lít/ngày/người, 70% gia đình và dân cư nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân [6, tr.21]

- Phương châm, nguyên tắc và phạm vi thực hiện:

+ Phương châm: phát huy nội lực của dân cư nông thôn, dựa vào nhu cầu, trên cơ sở đẩy mạnh xã hội hoá trong đầu tư, xây dựng và quản lý, đồng tời tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong các dịch vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn Người sử dụng góp phần quyết định mô hình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn phù hợp với khả năng tài chính, tổ chức thực hiện và quản lý công trình Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và trợ cấp cho các gia đình thuộc diện chính sách, cho hộ nghèo, vùng dân tộc ít người và một số vùng đặc biệt khó khăn khác Hình thành thị trường nước sạch và dịch vụ vệ sinh nông thôn theo định hướng của Nhà nước [6, tr.45]

Trang 19

+ Nguyên tắc: nguyên tắc cơ bản là phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội từng vùng đảm bảo hoạt động lâu dài của hệ thống cung cấp nước sạch, vệ sinh nông thôn [6, tr.48]

+ Phạm vi thực hiện chiến lược: bao gồm toàn bộ các vùng nông thôn trong

cả nước [6, tr.50]

Trong đó chú trọng thực hiện một số vấn đề trọng tâm sau:

- Cần điều chỉnh các chương trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn hiện

có như chương trình WATSAN, chương trình phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn

do ADB tài trợ và các dự án cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn khác sao cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản và cách tiếp cận chung của chiến lược quốc gia Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường cũng cần được thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản của Chiến lược quốc gia [6, tr.52]

- Thực hiện tốt các chương trình hiện có và các chương trình thí điểm về cấp nước sinh hoạt và mở rộng việc thực hiện chương trình cấp nước sinh hoạt nhằm nâng cao tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch như mục tiêu đã đề ra Cần kết hợp các Chương trình thí điểm để giải quyết yêu cầu bức bách nhất về cấp nước cho nhân dân ở những vùng bị hạn hán và các vùng khác đang bị thiếu nước nghiêm trọng Đồng thời rút ra các bài học về công tác thông tin – giáo dục – truyền thông, phát triển nguồn nhân lực, cải cách hệ thống tổ chức, xây dựng các cơ chế tài chính để bổ sung và hoàn thiện Chiến lược quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn [6, tr.53]

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm, bài học về quản lý nước sạch sinh hoạt nông thôn của một số nước

1.2.1.1 Kinh nghiệm quản lý nước sạch sinh hoạt của Trung Quốc

Chìa khoá thành công của Trung Quốc là quá trình lập kế hoạch, xác định trách nhiệm tham gia của các cấp chính quyền, các ngành của TW và địa phương Theo kinh nghiệm của Trung Quốc sau khi lập kế hoạch việc đảm bảo nguồn tài chính là rất quan trọng Chiến lược huy động vốn từ ba nguồn: Từ vốn của chính

Trang 20

phủ TW và địa phương, huy động quyên góp vốn từ các tổ chức, giới kinh doanh, đống góp của người hưởng lợi từ chương trình

Về lĩnh vực cấp nước: Trung Quốc chủ chương khuyến khích hình thức cấp nước bằng đường ống và tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà lắp đặt các hệ thống cho phù hợp Hỗ trợ kỹ thuật của chính phủ qua các thiết kế mẫu, hướng dẫn kỹ thuật cho từng loại hình cấp nước khác nhau, ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống Trong khoảng thời gian 20 năm Trung Quốc đã có bốn giai đoạn vay vốn của WB cho lĩnh vực phát triển hệ thống cấp nước cho 17 tỉnh điểm Trung bình 4 – 5 tỷ nhân dân tệ/năm Giai đoạn đầu tập trung vốn cho các tỉnh có điều kiện kinh tế giầu có Sau

đó người dân trả lại vốn thông qua trả tiền nước; giai đoạn hai tập trung cho các tỉnh nghèo Trong số người thụ hưởng có khoảng 30% người nghèo sẽ hỗ trợ 100% vốn góp, 70% số còn lại trả vốn qua tiền nước sử dụng [12, tr.25]

Quản lý chất lượng nước: năm 1985 ban hành tiêu chuẩn nước ăn uống áp dụng cho toàn Trung Quốc Tiêu chuẩn quốc gia là tiêu chuẩn nước uống duy nhất cho toàn Trung Quốc Năm 1991 do nhiều vùng nông thôn khó đạt được tiêu chuẩn này quốc gia do vậy Trung Quốc đã ban hành hướng dẫn giám sát chất lượng nước cho vùng nông thôn Kinh nghiệm thực tế nếu chỉ ban hành các tiêu chuẩn hay hướng dẫn thì chưa đủ mà cần có các cơ quan quản lý, giám sát và các giải pháp phù hợp, xây dựng tổ chuyên trách và đề ra chế tài xử lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng nước [12, tr.28]

Điều phối và phối hợp liên ngành trong lĩnh vực cấp nước nông thôn: Trung Quốc đã lập Uỷ ban phát triển chiến dịch y tế với mục tiêu đẩy truyền thông đi trước một bước Uỷ ban này có nhiệm vụ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và 2 tổ chức lớn nhất Trung Quốc là thanh niên và phụ nữ Trong đó thanh niên là lực lượng trẻ, thích tiếp cận các vấn đề mới và thường cập nhật thông tin mới Phụ nữ thường hay quan tâm đến các vấn đề của phụ nữ và gia đình đặc biệt là vấn đề vệ sinh nông thôn và nước sạch Các địa phương cũng có mô hình tổ chức và hợp tác tương tự như Trung ương, hợp tác theo cấp với 2 tổ chức quần chúng ở cấp mình quản lý (Y tế - Nông nghiệp – Thanh niên - Phụ nữ) [12, tr.32]

Trang 21

Nước sạch - Vệ sinh trong nhà trường: Trung Quốc không có một chương trình hay dự án riêng về dự án này Nhưng các can thiệp đầu tiên ở địa phương thuộc lĩnh vực NS – VSMT là ở trường học Các hoạt động trong trường học rất có lợi do học sinh vừa là đối tượng được truyền thông vừa là các truyền thông viên về NS- VSMT cho cộng đồng [12, tr.34]

Bài học kinh nghiệm quản lý nước sạch và vệ sinh môi trường ở Trung Quốc cho thấy, việc thành công chỉ có thể có được khi chiến lược, quy hoạch phải phù hợp với điều kiện và tập quán của nhân dân, công tác truyền thông thông qua các chiến dịch phải được duy trì thường xuyên và rộng rãi kết hợp giữa các bộ, các cấp chính quyền và các tổ chức xã hội, đặc biệt là thanh niên và phụ nữ [12, tr.52]

1.2.1.2 Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Israel

Hiện nay, tổng trữ lượng khai thác các nguồn nước tự nhiên ở đất nước Israel khoảng 2 tỷ m3/năm, trong đó 63% là nguồn nước ngầm chủ yếu khai thác từ Địa Trung Hải; còn 33% trữ lượng nước là nguồn nước mặt lấy từ hồ kinnerret (nằm ở phía Bắc của cao nguyên Goland) Ngoài ra, khoảng 4% nước được khai thác theo cách thu nước chảy bề mặt [1, tr.4]

Để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt, công nông nghiệp … ngoài việc

sử dụng nguồn nước mặt ra, nhà nước Israel luôn chú trọng đến việc tăng cường tìm kiếm các nguồn nước mới, sử dụng triệt để các giải pháp bảo vệ nguồn nước ngọt

Đó là lý do mà nước này cho xây dựng hệ thống chuyển quốc gia như một “động mạch chính”, được dẫn từ hồ Kinnerret tới hàng ngàn trang trại, khu dân cư, thành phố, các nhà máy công nghiệp suốt từ miền trung, đến miền nam đất nước [1, tr.5.]

Bí quyết của sự thành công:

Đối với từng người dân Israel, một giọt nước cũng rất quý và tuyệt đối không được lãng phí Nhận thấy sự khan hiếm nguồn nước, nhằm thực hiện việc kiểm soát,

mở rộng khai thác nguồn nước ngầm, Israel đã xây dựng hẳn một bộ luật về đo lường mức nước tiêu thụ, Luật về kiểm soát khai thác nước ngầm và thành lập Uỷ ban nhà nước, nhằm ngăn cấm khai thác nước ngầm “lậu” làm suy thoái và ô nhiễm các mạch nước ngầm, ảnh hưởng tới việc cung cấp nước cho hệ thống [1, tr.3]

Trang 22

Để nâng cao chất lượng nguồn nước cung cấp, hiện nay Israel chủ yếu sử dụng phương pháp sinh học để sử lý và bảo vệ, mục đích tránh ô nhiễm do tảo, các loài sinh vật độc hại gây nên Ngoài ra, nước này còn áp dụng phương pháp nuôi các loài cá làm sạch nước như các loài cá chép bạc, chép đầu to, kết hợp sử dụng các loài cá tầng đáy như cá Talapia (rô phi), cá đồi… ăn các loài thực vật và tảo tầng đáy, một số loài cá ăn cá con, điều chỉnh lượng cá trong hồ Đối với đất nước này, luật đã quy định rõ, nước thải cũng là nguồn tài sản quốc gia, mọi đối tượng phải hoàn trả lại sau khi sử dụng nước tại các trạm xử lý tập trung Hiện cả nước có trên 600 trạm sử lý nước thải, đảm bảo sử lý 100% tổng lượng nước thải sinh hoạt của toàn quốc, vào khoảng trên 380 triệu m3, trong tổng số 685 triệu m3 nước cung cấp Trong đó, lượng nước thải sử dụng lại trong nông nghiệp chiếm 24,4% tổng lượng nước cấp cho nông nghiệp Hiện nay, nhà nước Israel vẫn đang kêu gọi toàn dân phải lưu ý đến lượng nước thải và tận dụng để sử dụng rộng rãi hơn, tức là cần phải sử dụng nước quay vòng trong các xí nghiệp Tưới đúng mục địch nhu cầu của cây; dung nước quay vòng trong các xi nghiệp, các khu công nghiệp cũng đang được đề cao Như vậy, sẽ ngăn chặn được việc sử dụng nước lãng phí và tăng hiệu quả sử dụng nước cao hơn [1, tr.10]

1.2.1.3 Kinh nghiệm quản lý nước sinh hoạt của Indonesia

Đến năm 1990, Indonesia đã phát hiện phương pháp kế hoạch hoá từ trên xuống dưới không hiệu quả và nhiều hệ thống cấp nước không được sử dụng hoặc bảo dưỡng kém Chính phủ đã quyết định chuyển giao trách nhiệm dần cho cấp tỉnh

và địa phương thực hiện, vận hành và bảo dưỡng gắn với sử dụng trong đó sự tham gia của người dân đóng vai trò quan trọng [19, tr.21]

Ví dụ về thực hiện các dự án cấp nước và vệ sinh nông thôn của Ban cấp nước CARE tại 4 tỉnh ở Indonesia đã thay đổi rõ rệt kể từ khi bắt đầu công việc tại nước này Ban đầu, CARE kiểm soát và quản lý tất cả các giai đoạn của các dự án Tuy nhiên, sau một thời gian người ta nhận thấy rằng nếu không có sự tham gia của cộng đồng vào việc kiểm soát và chịu trách nhiệm về tài chính và quản lýcác hệ thống cấp nước thì không có thể có được sự bền vững Các dự án sau đó, bao gồm

Trang 23

cả dự án hiện nay về cấp nước và vệ sinh dựa trên sự tài trợ của cộng đồng, tập trung vào nhu cầu của cộng đồng và coi đó là tiêu chuẩn lựa chọn chủ yếu với sự kiểm soát được chuyển cho cộng đồng [19, tr.25]

Một chỉ thị quan trọng của sự thành công của phương pháp tiếp cận mới là dịch chuyển trong nguồn đóng góp tiền mặt trong thời kỳ hơn 11 năm, 1979 – 1990 Năm 1979, những đóng góp kết hợp của CARE và chính phủ Indonesia tạo được 80% chi phí dự án Cho đến năm 1990, đóng góp của CARE và chính phủ Indonesia

hạ xuống còn khoảng 30%, những đóng góp của cộng đồng nâng lên đến 70% chi phí của dự án Các cộng đồng đã cung cấp tất cả những đóng góp tiền mặt cho xây dựng các công trình đối với hơn 3

4 của các dự án Thêm vào đó là nhiều cộng đồng được CARE hỗ trợ đã giúp các cộng đồng lân cận xây dựng các hệ thống cấp nước của họ [19, tr.26]

Chiến lược thực thi dự án gồm 6 giai đoạn được tóm tắt dưới đây, tập trung vào nhu cầu và xây dựng nguồn năng lực về tài chính và nhân lực

- Lựa chọn cộng đồng: chính phủ và CARE phối hợp chọn các huyện có tiềm năng, tuyên truyền về dự án, và tiếp xúc với các lãnh đạo địa phương Các cộng đồng xin các dự án đã được thông qua các cuộc khảo sát, CARE đánh giá về sự chuẩn bị và khả năng trả tiền của các cộng đồng Người ta tổ chức các cuộc hợp với các cộng đồng được lựa chọn để giải thích và thảo luận chi tiết về các điều kiện của

kế hoạch này cho cộng đồng, chính phủ và CARE sẽ ký kết một hợp đồng chính thức [19, tr.29]

Trang 24

- Thực hiện: CARE đào tạo nhân lực cho ban công tác về nước về kế toán và các hệ thống kiểm soát, xây dựng các điều kiện thuận lợi cho công việc Khi đã có

hệ thống kiểm soát, ban này bắt đầu huy động các nguồn tiền mặt, nhân lực, vật liệu Các chi phí được tính toán kỹ lưỡng từ các nguồn đóng góp về tiền mặt của các thành viên được sắp xếp theo khả năng chi trả Phương pháp phổ biến để huy động tiền mặt từ bên ngoài là tín dụng từ những nhà cung cấp đường ống và các ngân hàng địa phương [19, tr.31]

- Vận hành và bảo dưỡng: cộng đồng chọn ra một ban vận hành và bảo dưỡng, ban này sẽ thảo ra các quy định và các luật lệ của mình và trình các qui định, luật lệ này trước cộng đồng Ban vận hành và bảo dưỡng công trình này sẽ xây dựng ngân sách, hệ thống kế toán và kế hoạch đào tạo CARE cung cấp việc đào tạo tiếp theo [19, tr.32]

- Đánh giá và quan trắc: CARE tiếp tục hỗ trợ Ban vận hành và bảo dưỡng công trình trong 1 năm sau khi xây dựng [19, tr.32]

1.2.2 Kinh nghiệm và bài học về quản lý nước sinh hoạt nông thôn ở nước ta

Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT: Số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh tính đến cuối năm 2010 ước đạt gần 40 triệu người, tương đương 62% số dân nông thôn, vượt 2% với mục tiêu đề ra [5, tr.5]

Bảng 1.1 Kết quả cấp nước sinh hoạt theo vùng tính đến năm 2010

Trang 25

Trong kết quả trên, có 4 vùng kinh tế - sinh thái đã đạt tỷ lệ trên 60%, đó là: Đồng bằng song Hồng (66%), Đông Nam Bộ (68%), Đồng bằng sông Cửu Long (66%) và Bắc Trung Bộ (61%) Trong khi đó các vùng đạt tỷ lệ thấp hơn 60% gồm

có Tây Nguyên (52%), Miền núi phía Bắc (56%); Duyên hải Nam Trung Bộ (57%) Điều đáng lưu ý là mặc dù khu vực Miền núi phía Bắc có tỷ lệ cấp nước thấp thứ hai so với các vùng khác nhưng lại có tốc độ tăng trưởng cao nhất với tỷ lệ trung bình là 5%/năm (đạt 34% trong 7 năm) [5, tr.15]

Giữa các tỉnh cũng có sự chênh lệch, có 4 tỉnh đã đạt tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt rất cao (trên 80%) như: Bà Rịa Vũng Tầu (95%), Bình Dương (85%), Trà Vinh (80%), TP Hồ Chí Minh (83%); 13/64 tỉnh đã đạt tỷ lệ ở mức cao (từ 65% đến 79%); 9 tỉnh đạt tỷ lệ trung bình (60% đến 69%); 33 tỉnh đạt

tỷ lệ bao phủ thấp (50% đến 59%) và vẫn còn 5/64 tỉnh đạt tỷ lệ bao phủ cấp nước sinh hoạt rất thấp (dưới 50%) là: Yên Bái (47%), Lạng Sơn (49%), Quảng Bình (46%), Tây Ninh (45%), Đồng Tháp (43%) [5, tr.16]

Như vậy, có thể thấy, tuy tỉ lệ dân cư được cấp nước đã vượt mục tiêu đề ra, nhưng lại có sự chênh lệch đáng kể giữa các vùng, các tỉnh với nhau Nếu như có 3 vùng kinh tế tỷ lệ dân cư được cấp nước đạt trên 62% thì còn tới 4 khu vực khác không đạt tỷ lệ này Khoảng cách chênh lệch giữa các vùng có tỷ lệ dân cư đựoc cấp nước cao nhất là Đông nam bộ (68%) đã vượt khu vực Tây nguyên (52%) tới 16%

Tỷ lệ chênh lệch này còn rõ hơn nếu so sánh giữa các tỉnh Trong khi tỉnh đạt tỷ lệ cao nhất là 95% (Vũng Tầu) thì tỉnh thấp nhất chỉ có 43% (Đồng Tháp) tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt - tức là cao hơn gấp 2 lần Điều đáng nói là những vùng có tỷ lệ dân cư được cấp nước thấp lại là những vùng khó khăn cả về điều kiện

tự nhiên lẫn kinh tế xã hội [5, tr.19]

Về nguồn vốn đầu tư, đến cuối 2010, tổng mức đầu tư toàn xã hội cho Chương trình ước đạt khoảng 6.492 tỷ đồng, trong đó đáng lưu ý là nguồn vốn đống góp và tự đầu tư của dân chiếm 38%, nếu tính cả vốn tín dụng thì chiếm 43% Đây

là một biểu hiện tích cực chứng tỏ sự nhận thức về nước sạch và vệ sinh môi trường của người dân ngày càng nâng lên và là một biểu hiện sinh động chứng tỏ người sử

Trang 26

dụng ngày càng có sự tham gia nhiều hơn đối với việc cải thiện điều kiện cấp nước

và vệ sinh Nguồn vốn này chủ yếu là được đầu tư trực tiếp cho xây dựng, nâng cấp công trình và một phần chủ yếu là được đầu tư trực tiếp cho xây dựng, nâng cấp công trình và một phần được tính là khoản đóng góp bằng công lao động [5, tr21]

Bảng 1.2 Tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch qua từng năm

(Nguồn: Trung tâm Quốc gia NS &VSMTNT)

Đã có các mô hình để huy động vốn đầu tư cho công trình đạt hiệu quả bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước, lồng ghép từ các Chương trình khác (Chương trình 135, Chương trình xóa đói giảm nghèo …), các thành phần kinh tế,

sự hỗ trợ của tổ chức quốc tế và sự đóng góp của nhân dân; nhiều tỉnh đã ban hành

cơ chế thực hiện Chương trình phù hợp nên đã mang lại hiệu quả tốt như:

+ Tỉnh Tiền Giang đã thực hiện tốt công tác xã hội hóa và đã ban hành 10 văn bản (chỉ đạo, quyết định, hướng dẫn, …) tạo được cơ sơ pháp lý cho việc quản

lý, đầu tư Tính đến năm 2009 tỉnh đã đầu tư 109,61 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chiếm 10,3%, vốn doanh nghiệp Nhà nước chiếm 29,2%, vốn của tư nhân kinh doanh nước chiếm 14,9%, vốn đầu tư của nhân dân chiếm 45,6%; đã xây dựng được

458 công trình cấp nước tập trung trong đó do tư nhân quản lý 81 công trình, tổ hợp tác và Hợp tác xã quản lý 372 công trình, Doanh nghiệp nhà nước chỉ quản lý 58 công trình [18, tr.4]

Trang 27

+ Tỉnh Hà giang đã xây dựng Chương trình hành động về nước sinh hoạt cho nhân dân với việc huy động và lồng ghép nhiều nguồn lực từ các Chương trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, kết quả là ngoài sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ương 50%, tỉnh đã huy động từ các Chương trình khác và đóng góp của nhân dân là 47,24%, còn lại là hỗ trợ bằng vật tư của Unicef [18, tr.9]

+ Tỉnh Ninh Bình, Đắc Lắc đã làm tốt việc huy động vốn đầu tư, tổ chức quản lý khai thác các công trình sau xây dựng, đặc biệt là kiểm soát chất lượng nước; tỉnh Ninh Thuận đã tạm ứng ngân sách cho nhân dân vay tiền để lắp đạt đường ống cung cấp nước vào các hộ gia đình, không tính lãi và trả chậm trong vòng 2 năm Ngoài ra, một số tỉnh có chính sách lồng ghép vốn các dự án hợp tác quốc tế và dự án trong nước ở tỉnh Trà Vinh, Thanh Hóa; lập Quỹ đoàn kết phát triển ngành nước ở tỉnh Nam Định…[18, tr.10]

+ Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tầu, UBND tỉnh đã thực hiện chính sách đầu tư theo quy hoạch thống nhất, với các yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng nước cấp cũng như việc quản lý công trình, đặc biệt xây dựng được phương án nối mạng các nhà máy cấp nước để tăng hiệu quả phục vụ, đồng thời tiết kiệm chi phí sản xuất [18, tr.11]

+ Tại Sơn La đã xây dựng Chương trình hành động về nước sinh hoạt cho nhân dân (Chương trình 925) với việc huy động và lồng ghép nhiều nguồn lực từ Chương trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh, kết quả là ngoài sự hỗ trợ của chương trình 7 tỷ đồng đã huy động từ các Chương trình khác, viện trợ nước ngoài thêm 6,6 tỷ đồng [18, tr.12]

Tổng mức đầu tư toàn xã hội cho Chương trình trong 5 năm (2005  2009) là 4.795 tỷ đồng Hàng năm, tổng mức đầu tư đều tăng lên, năm sau cao hơn năm trước, riêng năm 2003 đã đạt 1.600 tỷ đồng Cơ cấu tổng mức đầu tư đã thực hiện như sau:

- Ngân sách Trung ương hỗ trợ: 854 tỷ đồng (18%) [5, tr.16]

- Ngân sách địa phương hỗ trợ: 500 tỷ đồng (10%) [5, tr.16]

- Vốn lồng ghép với các Chương trình khác: 565 tỷ đồng (12%) [5, tr.16]

Trang 28

- Vốn tài trợ từ các dự án Quốc tế: 787 tỷ đồng (16%) [5, tr.16]

- Vốn đóng góp và tự đầu tư của dân: 2.089 tỷ đồng (44%) [5, tr.16]

Cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn toàn quốc, chi tiết cụ thể cho từng vùng, từng tỉnh (5/7 vùng sinh thái và 59/64 tỉnh)

Một số địa phương đã và đang triển khai quy hoạch đến cấp huyện Các quy hoạch này làm căn cứ để làm kế hoạch hàng năm, 5 năm phù hợp với từng vùng trong tỉnh về số lượng và quy mô các công trình, xác định nguồn vốn đầu tư, danh mục dự án và khu vực ưu tiên, công trình cần ưu tiên xây dựng trong thời gian tới

Long An, Bình Thuận, Tp Hồ Chí Minh … trên cơ sở quy hoạch, tỉnh đã đầu

tư và giao cho Trung tâm NS&VSMTNT tỉnh quản lýđầu tư, khai thác các công trình (dưới dạng xí nghiệp công ích) như Trung tâm NS&VSMTNT thành phố Hồ Chí Minh đang quản lý 75 công trình cấp nước tập trung, thu đã đủ chi và đã có lợi nhuận

Qua việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2005  2010 đã cho thấy:

* Những mặt đạt được:

- Góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt cho một bộ phận dân cư, giúp họ thêm cơ hội thoát nghèo, đồng thời cũng góp phần chống tái nghèo ở các vùng khó khăn thông qua việc tiết kiệm thời gian lấy nước, cải thiện điều kiện vệ sinh để nâng cao sức khoẻ [4, tr.25]

- Đã xây dựng được cơ sở hạ tầng, khung thể chế và các chính sách cần thiết cho việc thành công mục tiêu cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn đến 2010 Hầu hết các tỉnh đã quy hoạch tổng thể về cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Bộ máy cơ cấu tổ chức thực hiện cũng đã được thiết lập từ trung ương đến cơ sở; hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý các cấp tham gia các hoạt động của Chương trình Xây dựng được các văn bản về cơ chế chính sách, các tài liệu về quy hoạch, công nghệ, truyền thông vận động cộng đồng …[4, tr.25]

Trang 29

- Nâng cao được một bước nhận thức của chính quyền các cấp và nhân dân sống ở nông thôn về sử dụng nước sạch và vệ sinh môi trường [4, tr.25]

- Đã có các mô hình huy động vốn đầu tư hiệu quả, bao gồm: các nguồn vốn

từ ngân sách nhà nước, lồng ghép với các chương trình khác, các thành phần kinh

tế, sự hỗ trợ của quốc tế, vốn tín dụng và sự đóng góp của nhân dân [4, tr.25-26]

* Những hạn chế, tồn tại

- Tính bền vững của các thành quả đã đạt được về cấp nước chưa cao Số lượng và chất lượng nước cung cấp từ nhiều công trình cấp nước hiện đang bị giảm sút nên hàng năm sẽ có một số người đã được hưởng nước sạch sẽ trở thành người chưa được hưởng nước sạch Thêm vào đó là việc giám sát và kiểm tra chất lượng nước chưa đúng quy định, đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ Quản

lý bền vững công trình CN&VSNT sau khi xây dựng còn yếu, các mô hình quản lý công trình cấp nước tập trung mới là thử nghiệm, chưa có tổng kết, đánh giá tính phù hợp [4, tr.26]

- Công tác chỉ đạo thực hiện chương trình; sự phối hợp, lồng ghép còn nhiều hạn chế Giữa các Bộ, Ngành, Đoàn thể quần chúng chưa có sự phối hợp tổ chức thực hiện chặt chẽ Ở một số tỉnh chưa phân định cụ thể nhiệm vụ của NN&PTNT,

Sở kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường trong quá trình theo dõi thực hiện Chương trình Việc phối hợp, lồng ghép dự án hợp tác quốc tế với nhau và với các dự án trong nước trên cùng một địa bàn còn lúng túng [4, tr.27]

- Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn hình thành rõ ràng, các chính sách khuyến khích đầu từ và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vực tư nhân [4, tr.27]

* Những thách thức trong thời gian tới

- Mặc dù đã có 62% dân số nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh, tuy nhiên chỉ có khoảng 20  30% được tiếp cận với nguồn nước sạch (nếu tính theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế), trong khi mục tiêu của Việt Nam đến

2020 là đảm bảo 100% dân cư nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sạch với số

Trang 30

lượng tối thiểu là 60 lít/người/ngày Như vậy, kết quả đạt được về cấp nước sạch mới chỉ là sự khởi đầu và chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn, thách thức trong giai đoạn tới [5, tr.34]

Đến nay vẫn còn 38% dân số nông thôn chưa được tiếp cận với nước sinh hoạt hợp vệ sinh nhưng phần lớn trong số này lại tập trung ở những khu vực, những địa bàn khó khăn nhất về nguồn nước và kinh tế, đó là chưa kể đến điều kiện địa hình và phong tục tập quán còn nhiều hạn chế Do đó, nếu chỉ duy trì mức độ đầu tư thấp như hiện nay thì mục tiêu 85% dân cư nông thôn được tiếp cận với nguồn nước sinh hoạt hợp vệ sinh vào năm 2020 sẽ rất khó có thể đạt được [5, tr.35]

- Xu hướng tất yếu trong những năm tới là phát triển mạnh các công trình cấp nước tập trung để thay thế dần các công trình cấp nước tập trung như thế nào là phù hợp Tuy thế việc quản lý các công trình cấp nước tập trung như thế nào là vấn

đề đến nay vẫn chưa có phương án trả lời thích hợp, tính nhân văn nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo nguyên tắc “nước là một loại hàng hoá kinh tế xã hội” [5, tr.35]

- Một thách thức nữa không thể không nới đến đó là tình hình thời tiết theo

dự báo sẽ có diễn biến phức tạp trong những năm tới, do đó cần phải có những biện pháp dự phòng [5, tr.36]

* Các mô hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn

Qua thực tế triển khai Chương trình cho thấy, hiện nay nước ta đang tồn tại các loại hình quản lý công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn sau:

- Hộ gia đình trực tiếp quản lý(công trình cấp nước riêng lẻ cấp hộ)

- Tổ hợp tác quản lý

- Loại hình do doanh nghiệp Nhà nước quản lý

- Loại hình do DN tư nhân bỏ vốn xây dựng, quản lý, vận hành

- Loại hình do hợp tác xã vận hành, quản lý

Mặc dù công tác tuyên truyền đã được các cấp chính quyền quan tâm thực hiện, nhưng đến nay phần lớn cư dân nông thôn còn thiếu hiểu biết về vệ sinh, nước sạch, bệnh tật và sức khoẻ; về môi trường sống xung quanh mình cần phải được cải thiện và có thể cải thiện được Kinh nghiệm trong nhiều lĩnh vực cho thấy nếu

Trang 31

người nông dân nhận thức rõ được vấn đề thì với sự giúp đỡ của Chính phủ, họ có thể vươn lên, khắc phục khó khăn, cải thiện môi trường sống cho mình tốt hơn

Sự tham gia của cộng đồng vào Chương trình đã có nhiều tiến bộ, vai trò của người sử dụng và của phụ nữ tham gia vào quá trình quyết định về đầu tư và quản lý được tăng cường hơn nhiều, từ việc đề xuất nhu cầu, lựa chọn quy mô, loại hình công trình, hình thức tham gia vốn đầu tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản lý đầu

tư, giới thiệu người thay mặt cộng đồng để quản lý đầu tư và vận hành công trình …

* Đánh giá chung tình hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn tại Việt Nam

- Tình hình nguồn nước: Nhìn chung nguồn nước của Việt Nam còn khá dồi dào Lượng mưa tương đối cao với một hệ thống sông, ngòi, kênh mương dày đặc; nguồn nước ngầm phong phú đã tạo điều kiện thuận lợi cho con người tiếp cận, khai thác để sử dụng vào các mục đích sinh hoạt, sản xuất… Tuy nhiên do nguồn nước phân bố không đồng đều cả về không gian và thời gian nên hiện có một số vùng rất khan hiếm về nguồn nước Bên cạnh đó, việc sử dụng ngày càng nhiều nguồn nước mặt vào phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp; nạn phá rừng diễn ra hết sức phức tạp làm suy giảm nghiêm trọng rừng phòng hộ đầu nguồn… đã làm xuất hiện nguy cơ cạn kiệt nguồn nước Các vùng đồng bằng, trung du và ven biển, sự ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng do sự yếu kém trong kiểm soát, sử lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt [6, tr.10]

- Tình hình cấp nước sinh hoạt: Phần lớn các hộ nông dân sử dụng hai nguồn nước, một nguồn dùng để ăn uống thường là nước mưa và nguồn để tắm giặt Các

hệ thống cấp nước công cộng bằng đường ống dùng chung cho nhiều hộ chưa phổ biến Các hộ thường có chương trình cấp nước riêng như giếng đào, lu hay bể chứa nước mưa Hơn 50% số hộ nông thôn sử dụng giếng đào, 25% sử dụng nước sông suối, ao hồ và hơn 10% sử dụng nước mưa Bộ phận còn lại sử dụng nước giếng khoan và rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thống đường ống [6, tr.11]

Chất lượng nước nói chung không đạt tiêu chuẩn hợp vệ sinh Một số vùng còn thiếu cả nước dùng cho sinh hoạt với số lượng tối thiểu chứ chưa nói đến chất lượng nước như: Vùng bị nhiễm mặn ở ven biển, hải đảo, vùng núi cao, các vùng

Trang 32

sâu cùng xa, vùng biên giới, vùng đã vôi casto và trong thời gian gần đây là vùng bị hạn hán như Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Quảng trị, Hoà Bình, Cao Bằng,

Hà Giang [6, tr.11]

- Tình hình xây dựng các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn: Chương trình Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn của Chính phủ được Unicef tài trợ đã hoạt động từ hơn 10 năm nay ở hầu hết các tỉnh là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực CNS & VSNT Hàng trăm ngàn giếng bơm tay Unicef và các nhà

vệ sinh đã được xây dựng, đồng thời người dân đã tự đầu tư xây dựng số lượng công trình CNS và vệ sinh lớn hơn 2  3 lần số lượng công trình do chương trình Unicef tài trợ, đã cải thiện một cách đáng kể điều kiện CNS và vệ sinh cho các vùng nông thôn Tuy nhiên, tổng đầu tư của cả nhà nước và nhân dân cho CNS & VSNT còn rất nhỏ

bé so với yêu cầu cải thiện điều kiện cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

ở nước ta [6, tr.12]

* Những bài học kinh nghiệm

- Khi xây dựng kế hoạch, mục tiêu, về CNS & VSMTNT phải xuất phát từ nhu cầu của người dân nông thôn, gắn liền với các mục tiêu Chiến lượng phát triển Nông nghiệp và Nông thôn Bên cạch đó chú trọng liên kết, lồng ghép các Chương trình, dự

án phát triển nông thôn với các dự án cụ thể để thực hiện mục tiêu CNS & VSMTNT Không nên xem mục tiêu của Chương trình chỉ là vấn đề cấp nước cho nông thôn, thậm chí chỉ là vấn đề cung cấp nguồn lực để xây dựng mới các công trình cấp nước tập trung [5, tr.22]

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp về công nghệ, tài chính và thông tin giáo dục truyền thông mang lại chất lượng, hiệu quả và bền vững của Chương trình Vì vậy, cần chú trọng phát triển công nghệ, hoàn thiện cơ chế tài chính song song với tăng cường công tác thông tin, giáo dục, truyền thống để đưa các thông tin cần thiết đến cộng đồng những người hưởng lợi [5, tr.22]

- Sự quan tâm lãnh đạo của cấp ủy, sự chỉ đạo chặt chẽ của chính quyền các cấp

và sự tham gia, giám sát của người dân là ba nhân tố cơ bản để đảm bảo thắng lợi Chương trình Thực tiễn đã chứng minh, địa phương nào làm tốt các mục tiêu và và nội

Trang 33

dung của Chương trình và tạo nhiều tiền đề cần thiết để thực hiện Chiến lược trong thời

kỳ tới [5, tr.23]

- Quy hoạch là công cụ quan trọng để thực hiện Chương trình Vì vậy, phải luôn luôn coi trọng công tác lập kế hoạch, rà soát lại các quy hoạch CNS & VSMTNT không chỉ ở cấp tỉnh, mà cần triển khai quy hoạch đến cấp huyện, xã Sự tham gia đầy đủ của cộng đồng gắn với thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong việc lập kế hoạch, triển khai thực hiện, quản lý và giám sát xây dựng … là nền tảng vững chắc để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả của các công trình cấp nước và vệ sinh nông thôn [5, tr.23]

- Việc phân cấp thực hiện Chương trình cho cấp tỉnh và các cấp thấp hơn là một chủ trương đúng đắn, tuy thế để thực hiện tốt hơn phải gắn liền với công tác đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ cấp cơ sở Đây là một bài học rất quan trọng,

vì kết quả quả những năm qua đã cho thấy, những địa phương làm tốt công tác này

đã đều vượt qua mục tiêu về cấp nước và vệ sinh [5, tr.24]

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG THỨC NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH

QUẢN LÝ, QUẢN LÝ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN

HUYỆN LẠC THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

* Vị trí địa lý

Lạc Thủy là huyện miền núi thấp nằm phía Đông nam tỉnh Hoà Bình, trung tâm huyện lỵ cách Hà Nội 80 km, cách thành phố Hòa Bình 75 Km, cách thành phố Phủ lý - tỉnh Hà Nam 30 km, cách trung tâm huyện Nho Quan - tỉnh Ninh Bình 20

km

- Tọa độ địa lý:

+ Vĩ độ bắc: Từ 20o 22' - 20o 36'

+ Kinh độ đông: Từ 105o41' - 105o53'

- Phía Bắc giáp huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình

- Phía Tây giáp huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình

- Phía Đông giáp huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội

- Phía Nam giáp huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam; huyện Gia Viễn, Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

* Địa hình:

Huyện Lạc Thủy có địa hình đặc trưng của vùng núi với các dải núi lớn hiểm trở đi lại khó khăn, độ dốc bình quân khoảng 34  350, độ cao trung bình 460m so với mực nước biển [13, tr.25]

Địa hình chủ yếu là núi đá vôi đa số là địa hình núi đá tai mèo, hiểm trở độ dốc Lạc Thủy là một phần của kiểu địa hình vùng Tây Bắc Việt Nam với đặc trưng

Trang 35

địa hình vùng núi cao trung bình, chủ yếu là núi đá vôi Địa hình của huyện dốc thoai thoải từ phía Tây Bắc xuống Đông Nam và có thể chia thành các dạng:

Loại 1: Là địa hình bậc thang có độ dốc vừa phải [13, tr.25]

Loại 2: Là địa hình đồi núi, dạng địa hình có tính chất đặc trưng cho các địa hình miền núi với đỉnh dốc xắp xếp xen kẽ trong các miền núi hoặc các quả đồi cao hoặc trong những khe núi, thung lũng, khe suối [13, tr.26]

Do địa hình có phân bố không đồng nhất do canh tác theo phong tục tập quán của địa phương nên các sản phẩm nông nghiệp có tính chất đa dạng và phong phú Ngoài diện tích đất lâm nghiệp có rừng còn hầu hết là đồi núi trọc và núi đá không

có cây

2.1.1.2 Khí hậu thủy văn

* Khí hậu thời tiết

Huyện Lạc Thủy nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: Mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa nóng ẩm từ tháng 5 đến thánh 10 Nhìn chung thời tiết và khí hậu ở đây rất thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi nhưng có những năm mưa to kéo dài gây ra lũ lụt, sạt lở đất (thường vào khoảng tháng 7  10) và thời tiết khô hanh giá rét đã làm ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của người dân Theo số liệu của Phòng Thống kê huyện qua nhiều năm cho thấy, huyện Lạc Thủy có đặc trưng khí hậu như sau

- Nhiệt độ không khí: Chế độ nhiệt ở huyện Lạc Thủy tương đối ổn định và

có đặc trưng riêng tương đối thấp Nhiệt độ trung bình nhiều năm 21,9oC Biên độ nhiệt dao động giữa ngày và đêm các tháng trong năm thay đổi rất lớn

+ Mùa khô: Mùa khô, lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, khí hậu khô hanh, độ ẩm thấp có sương muối, sương mù và mưa phùn giá rét Lượng mưa vào mùa khô rất ít chỉ chiếm khoảng 15  20% lượng mưa cả năm, vì vậy tình trạng hạn hán vào mùa khô thường xuyên xảy ra

+ Mùa mưa: Mùa mưa nóng và ẩm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình tháng là 26,5oC Lượng mưa chiếm 80  85% lượng mưa cà năm Cường

Trang 36

độ mưa lớn, đặc biệt từ tháng 6 đến tháng 9 có mưa lớn kèm theo lốc xoáy, lũ quét, gây ngập úng và sạt lở đất, làm hư hại nhiều công trình thủy lợi, nước sinh hoạt, gây nhiều thiệt hại cho nông nghiệp

Nhìn chung, nhiệt độ vùng dao động theo mùa và không có sự biến động lớn Tuy nhiên vào mùa hè đôi khi nhiệt độ lên quá cao còn về mùa Đông lại có những đơn rét đậm kèm theo sương muối gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Độ ẩm (%)

Lượng mưa (mm)

Giờ nắng (giờ)

(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Lạc Thuỷ)

* Điều kiện thủy văn

Huyện Lạc Thủy có dòng Sông Bôi là con sông lớn nhất huyện chảy qua 9/15

xã, thị trấn; Sông Đập chảy qua 01 xã; sông Thanh Hà chảy qua 01 xã, thị trấn trong huyện Đây là điều kiện thuận lợi cho việc vận tải đường thủy và nguồn nước tưới

Trang 37

tiêu cho hoa màu Tuy nhiên hàng năm mùa mưa lượng mưa lớn thường lũ lụt gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống cho nhân dân, đặc biệt là dân cư sống dọc hai bên bờ Sông Bôi

2.1.1.3 Đất đai, thổ nhưỡng

- Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên 31.495,35 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 26.324,68 ha (chiếm 83,6% diện tích của huyện):

- Đất sản xuất nông nghiệp:5.161,73 ha, chiếm 16,4% tổng diện tích tự nhiên

- Đất lâm nghiệp có rừng là 21.009,37 ha,chiếm 66,7% diện tích tự nhiên

Do diện tích đất tự nhiên ít trong khi kinh tế hộ gia đình nơi đây chủ yếu dựa vào nguồn thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản là chính cho nên đời sống của đồng bào còn gặp rất nhiều khó khăn

- Về mặt thổ nhưỡng đất đai trên địa bàn huyện chia làm 04 nhóm chính: + Nhóm đất đỏ vàng gồm: Thuộc đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, đất đỏ vàng trên núi đá vôi, đất vàng nhạt trên đá cát, đất nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa

+ Nhóm đất thung lũng và dốc tụ: thuộc đất đốc tụ, đất trên sản phẩm đá vôi, đất thung lũng do ảnh hưởng của cacbornat

+ Nhóm đất xám bạc màu

+ Nhóm đất phù sa: Thuộc đất phù sa được bồi của Sông Bôi, đất phù sa ngòi suối

Trang 38

Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất huyện Lạc Thuỷ

Đơn vị tính: ha

I Đất nông, lâm nghiệp – thủy sản 307.807,27 25.152,36

5 Đất sông, suối mặt nước chuyên dùng 18.805,85 1.104,72

(Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi Trường tỉnh Hòa Bình)

Trang 39

2.1.1.4 Tài nguyên khoáng sản

Lạc Thủy là huyện có trữ lượng khoáng sản nhỏ, hoạt động khai thác chủ yếu

là khai thác nguyên vật liệu xây dựng Hiện tại tài nguyên khoáng sản của huyện gồm có:

- Than đá: Mỏ than Lạc Long, Đồng Môn, Chi Nê, khối lượng khai thác nhỏ

- Quạng Angtimoan và thủy ngân: Được khai thác ở xã An Bình, nhưng trữ lượng không nhiều

- Nguyên vật liệu xây dựng: Lạc Thủy là huyện có trữ lượng đá vối lớn, đây là tiềm năng cho khai thác đá xây dựng, đá cảnh, bên cạnh đó có dòng sông Bôi là điều kiện thuận lợi cho kha thác cát, sỏi xây dựng Điển hình khai thác đá xây dựng tại địa bàn xã Phú Thành, Đồng Tâm, Khoan Dụ, Lạc Long, An Bình; cát, sỏi xây dựng ở các xã Hưng Thi, Phú Thành, Phú Lão, Cố Nghĩa, Lạc Long, Yên Bồng, Khoan Dụ, thị trấn Chi Nê

2.1.1.5 Tiềm năng du lịch

Là mảnh đất vốn có lịch sử lâu đời, Lạc Thủy từ xưa đã có sự tồn tại của con người Địa bàn Lạc Thủy là nơi sớm có cư dân của người Lạc Việt đến sinh sống , nhiều hang động trong các dãy núi đá vôi ở gần thung lũng và ven sông Bôi thuộc các xã Phú Lão, Lạc Long, Khoan Dụ và hang Đồng Nội – xã Đồng Tâm , là những di tích khảo cổ chứng minh mảnh đất Lạc Thủy là cái nôi trong cộng đồng nền văn hóa Hòa Bình Huyện Lạc Thủy có di tích nhà máy in tiền, có khu du lịch

Trang 40

diễn ra còn chậm Hiện nay tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp chiếm 37,3%, còn công nghiệp xây dựng chiếm 22,9%, thương mại dịch vụ chiếm 39,8% giá trị tổng sản phẩm toàn huyện [13, tr.45]

 Giao thông:

Hệ thống giao thông đường trục xã, liên xã, đường liên thôn, đường xóm nhiều năm gần đây được sự quan tâm của nhà nước bằng các Chương trình, Dự án đầu tư vốn và huy động sức dân, các thành phần kinh tế khác đầu tư vốn, do đó hệ thống giao thông từng bước đã được kiên cố hóa đã giải quyết đi lại cho việc giao lưu hàng hóa được thuận lợi

Song nhu cầu đầu tư cho hệ thống giao thông là rất lớn, mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ đi lại cho nhân dân, hiện nay một số công trình đã xuống cấp nghiêm trọng như Quố lộ 21 A, tuyến đường Liên Hòa – Hưng Thi, Cầu Sung – Đống Mối

đi Vân Long (Ninh Bình), đường 438A Khoan Dụ - Yên Bồng đi Nho Quan (Ninh Bình); nhiều tuyến đường đi vào vùng sâu, vùng xa chưa được đầu tư do đó ddi lại rất khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa gây lầy lội

Hệ thống giao thông chính đã xuống cấp nghiêm trọng, nhiều tuyến đường đi các xã chưa được dầu tư, hoặc đầu tư nhưng nay đã xuống cấp gây khó khăn rất lớn cho việc giao lưu kinh tế - văn hóa – xã hội, từ đó kìm chế phát triển kinh tế của huyện nhà.[13]

 Điện lực:

Hiện nay 123/124 thôn thuộc 13/13 xã đã có điện thắp sáng, hệ thống điện nhiều năm gần đây đã được đầu tư xây dựng nên cơ bản đáp ứng được điện thắp sáng cho nhân dân Nhưng các trạm biến áp thiếu, công suất thấp, hệ thống đường dây thiếu và quá tải nên chưa đảm bảo cung cấp cho nhân dân, các cơ sở sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp trên địa bàn, chất lượng phục vụ chưa đáp ứng [13, tr.54]

 Bưu điện:

Toàn huyện có 13/13 xã có điểm bưu chính viễn thông, diện tích bình quân 100 m2/điểm, hiện trạng đang sử dụng tốt Trong giai đoạn tới

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Chỉ tiêu khí hậu thời tiết từng tháng trên địa bàn huyện - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 2.1. Chỉ tiêu khí hậu thời tiết từng tháng trên địa bàn huyện (Trang 36)
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất huyện Lạc Thuỷ - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất huyện Lạc Thuỷ (Trang 38)
Bảng 2.3: Hiện trạng giáo dục các xã trên địa bàn huyện - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 2.3 Hiện trạng giáo dục các xã trên địa bàn huyện (Trang 43)
Hình 3.1. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình UBND xã quản lý - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Hình 3.1. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình UBND xã quản lý (Trang 58)
Hình 3.2. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình HTX quản lý - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Hình 3.2. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình HTX quản lý (Trang 59)
Hình 3.3. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình cộng đồng quản lý - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Hình 3.3. Sơ đồ cơ chế quản lý nước SHNT của mô hình cộng đồng quản lý (Trang 60)
Bảng 3.3. Hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.3. Hiện trạng quản lý, sử dụng các công trình cấp nước tập trung (Trang 65)
Bảng 3.4. Số lượng các công trình cấp nước SHNT có sự đóng góp xây dựng - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.4. Số lượng các công trình cấp nước SHNT có sự đóng góp xây dựng (Trang 67)
Bảng 3.7. Đơn giá sử dụng nước phân theo mô hình quản lý NSHNT - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.7. Đơn giá sử dụng nước phân theo mô hình quản lý NSHNT (Trang 69)
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự hiểu biết về nước - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.8. Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự hiểu biết về nước (Trang 70)
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nguồn gốc dân tộc chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nguồn gốc dân tộc chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng (Trang 71)
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của trình độ văn hóa chủ hộ đến sự quan tâm sử dụng (Trang 71)
Bảng 3.12. Tỷ lệ số hộ tham gia các lớp tập huấn về NSH & VSMTNT - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Bảng 3.12. Tỷ lệ số hộ tham gia các lớp tập huấn về NSH & VSMTNT (Trang 72)
Hình 3.8. Sơ đồ mô hình HTX quản lý nước SHNT - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Hình 3.8. Sơ đồ mô hình HTX quản lý nước SHNT (Trang 100)
Hình 3.9. Sơ đồ mô hình Cộng đồng quản lý nước SHNT - Nghiên cứu mô hình quản lý nước sinh hoạt nông thôn huyện lạc thuỷ,tỉnh hoà bình
Hình 3.9. Sơ đồ mô hình Cộng đồng quản lý nước SHNT (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w