1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tiểu luận chính sách xoá đói giảm nghèo ở việt nam

23 882 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 122,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướngvào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vàoquá trình phát triển kinh tế- xã hội của

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nghèo đói là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Những năm gần đây,nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã cónhững bước chuyển mình rất quan trọng Đặc biệt là vào năm 2006 nước ta đãchính thức là thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO.Những nhân tố đó đã làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộphận đời sống nhân dân đã được nâng lên một cách rõ rệt Song, một bộ phậnkhông nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa đang chịucảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sốngnhư ăn, ở, mặc, đi lại Chính vì vậy, sự phân hoá giàu nghèo ở nước ta ngàycàng diễn ra mạnh mẽ Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước

có nền kinh tế phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh tế đang

có sự chuyển mình thì vấn đề phân hoá giàu nghèo càng được chú trọng hàngđầu Để có thể hoàn thành mục tiêu quốc gia là Xoá đói giảm nghèo thì trướctiên phải rút ngắn sự phân hoá giàu nghèo

Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội cơ bản hướngvào phát triển con người, nhất là người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vàoquá trình phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, để cho người nghèo có cơ hội

và điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoátkhỏi nghèo đói Vĩnh Lộc Thanh Hóa là một trong những huyện sớm triển khaithực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo Uỷ ban nhân dân huyện đã quyếtđịnh thành lập Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo từ các huyện đến các xã, dànhnhiều ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng xã nghèo, lập quỹ cho vay Xoá đói giảmnghèo , xây dựng các mô hình xoá đói giảm nghèo

Một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển đất nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa như lời dạy của Hồ Chủ Tịch là xóa đói giảmnghèo toàn diện

Trang 2

Vậy làm thế nào để “tấn công” vào nghèo đói? Câu hỏi này đã được rất

nhiều nhà hoạch định chính sách đưa ra lời giải đáp và cũng đã tìm ra đượcnhiều hướng đi hiệu quả Do tôi xin đưa ra tiểu luận nghiên cứu "Chính sách

xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam" để thấy được những kết quả đã đạt được và

những yếu kém cần được khắc phục trong quá trình thực hiện chính sách xoáđói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta, để từ đó có kiến nghị và đề xuất giảipháp tốt hơn, có hiệu quả hơn trong công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta

Trang 3

Phần I:

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I KHÁI NIỆM VỀ ĐÓI NGHÈO

Tiếp cận theo khía cạnh đa chiều: Nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiềuphương diện như: thu nhập hạn chế, thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản đểbảo đảm tiêu dùng lúc khó khăn và dễ bị tổn thương trước những đột biến, ítđược tham gia vào quá trình ra quyết định…

Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP(The United Nations Economic and Social Commission for Asia and the Pacific)

tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan ( 9/1993 ) đã đưa ra định nghĩa chung về đói

nghèo như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.”

1 Nghèo khổ về thu nhập

Phạm vi nghèo khổ ngày càng mở rộng Trước đây thì nghèo khổ thường gắnvới sự thiểu thốn trong tiêu dùng Nhưng từ những năm 1970 – 1980, nghèo khổđược tiếp cận theo nhu cầu cơ bản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực

Từ giữa những năm 1980 đến nay, tuy nghèo khổ được tiếp cận theo nhu cầu cơbản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội, nguồn lực và tính dễ bị tổn thương Đối vớicác nước đang phát triển thì việc đánh giá, phân tích nghèo khổ chủ yếu là dựavào tiêu chí thu nhập

Chúng ta muốn biểu thị “nghèo khổ” bằng một con số có ý nghĩa để so

sánh xem đâu là nước giàu, đâu là nước nghèo, vùng nào giàu hơn và vùng nàonghèo hơn….Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm

+ Nghèo khổ tuyệt đối

+ Nghèo khổ tương đối

Trang 4

a Nghèo tuyệt đối về thu nhập: là tình trạng không đảm bảo mức thu nhập

hay chi tiêu tối thiểu cần thiết để đáp ứng những nhu cầu vật chất tối thiểu cầnthiết để đáp ứng những nhu cầu vật chất tối thiểu để con người có thể tồn tại nhưlương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở…

b Nghèo tương đối về thu nhập: là tình trạng không đảm bảo mức tiêu

chuẩn để có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định.Đây là những người cảm thấy bị tước đoạt của cải mà đại bộ phận những ngườikhác trong xã hội được hưởng, đó là một biểu hiện bất bình đẳng trong phânphối thu nhập

Dù đã có những khái niệm về nghèo đói, song việc xác định nhóm ngườinghèo cũng không phải là đơn giản, những khó khăn gặp phải:

Việc xác định mức nghèo là một vấn đề chủ quan gây khó khăn cho việc

WB đã đưa ra “ngưỡng nghèo”: Ngưỡng nghèo là chỉ tiêu có thể đảm bảomức cung cấp năng lượng tối thiểu cho con người 2100 calo/người/ngày đêmtương ứng 1USD/1 người/1ngày.Đây là ngưỡng nghèo lương thực thực phẩm vìvới mức chi tiêu đó, ngoài cung cấp mức năng lượng tối thiểu để tồn tại thìkhông còn có thể chi tiêu cho bất cứ một nhu cầu nào khác

Ở Việt Nam, theo phương pháp của Bộ LĐ – TB và XH (dựa trên thunhập của hộ gia đình) giai đoạn 2001-2005 (dựa vào điều kiện của đất nướctrong từng giai đoạn):

Thành thị: 150.000 đ/người/tháng tức 1.800.000 đ /người/năm

Trang 5

Nông thôn đồng bằng: 120.000 đ/người/ tháng tức 1.440.000đ/người/năm

Nông thôn miền núi hải đảo: 80.000 đ/người/ tháng tức 960.000đ/người/năm

Giai đoạn 2006 -2010:

Thành thị: 260.000/1người/1tháng

Nông thôn: 200.000/1người/1tháng

Vậy so với ngưỡng nghèo chung của các nước đang phát triển do WB quyđịnh thì ngưỡng nghèo của Việt Nam thấp hơn nhiều  nước ta có thu nhập thấpchậm phát triển

2 Nghèo tổng hợp( được đo bằng chỉ số HPI)

Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm trong “Báo cáo về phát triển con người”năm 1997 Nghèo khổ của con người là khái niệm biểu thị sự nghèo khổ đachiều của con người, là sự thiệt thòi theo ba khía cạnh cơ bản nhất về cuộc sống

+ Thiệt thòi trên khía cạnh chính sách lâu dài và khỏe mạnh (xác địnhbằng tỉ lệ người dự kiến không thọ quá 40 tuổi)

+ Thiệt thòi về trí thức (Tỉ lệ mù chữ )

+ Thiệt thòi về đảm bảo kinh tế (tỉ lệ người không tiếp cận được với cácdịch vụ y tế, nước sạch và tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng)

II ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI NGHÈO

Chúng ta đã có những tiêu chuẩn để xác định được nhóm người nghèo:Những người có mức thu nhập hay mức chi tiêu dưới mức tối thiểu là nhữngngười nghèo trong xã hội Từ phân tích trên, ta thấy đặc điểm chung của nhómngười nghèo:

- Thiếu phương tiện sản xuất đặc biệt là đất đai Đại bộ phận nhóm ngườinghèo sống ở nông thôn và chủ yếu là tham gia vào hoạt động nông nghiệp

Không có vốn hay rất it vốn, thu nhập mà họ nhận được chủ yếu là laođộng tự tạo việc làm Họ chủ yếu là những người ở thành thị tập trung ở khu vựcphi chính thức

Trang 6

Thu nhập bình quân đầu người thấp, sức mua thực tế trên đầu người thấp.VD: Ở Việt Nam: Thu nhập bình quân đầu người trong năm của nhómngười nghèo(giai đoạn 2001-2005)

Ở thành thị: <=1.800.000 đ

Nông thôn đồng bằng: <=1.440.000đ

Nông thôn miền núi hải đảo: <=960.000 đ

Theo WB, đối với các nước đang phát triển thì chi tiêu bình quân đầungười trong ngày là: <=1 USD

- Trình độ giáo dục thấp, tuổi thọ thấp, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao

- Số phụ nữ có thu nhập nhiều hơn nam ở hầu hết các nước đang phát triển

- Do đó, những gia đình có phụ nữ làm chủ hộ thường nằm trong số nhómngười nghèo nhất trong xã hội

-Thiếu viếc làm hoặc việc làm không ổn định, bấp bênh do trình độ họcvấn thấp

III NGUYÊN NHÂN ĐÓI NGHÈO Ở VIỆT NAM

1 Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn: Người nghèo thường thiếu nhiều

nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của nghèo đói và thiếu nguồn lực.Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không thể đầu tư vào nguồn vốnnhân lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại cản trở họ thoát khỏinghèo đói

Các hộ nghèo có rất ít đất đai và tình trạng không có đất đang có xuhướng tăng lên Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương thựccủa người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuấtcác loại cây trồng với giá trị cao hơn Đa số người nghèo lựa chọn phương ánsản xuất tự cung, tự cấp, họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống vớigiá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận caohơn Và vì vậy đã đưa họ vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó

Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với cácdịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; nhiều

Trang 7

yếu tố đầu vào sản xuất như: điện, nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón

đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm

Người nghèo cũng thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng Sự hạn chếcủa nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghệ, giống mới

Bên cạnh đó, việc thiếu các thông tin, đặc biệt là các thông tin về pháp luật,chính sách và thị trường, đã làm cho người nghèo ngày càng trở nên nghèo hơn

2 Trình độ học vấn thấp, việc làm thiếu và không ổn định

Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hộikiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhucầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ củamình trong tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó Bên cạnh đó, trình độ học vấnthấp ảnh hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôidưỡng con cái đến không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai

Số liệu thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy khoảng90% người nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn Kết quả điềutra mức sống cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi họcchiếm 12%, tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; trung học cơ sở chiếm 37% Chi phícho giáo dục đối với người nghèo còn lớn, chất lượng giáo dục mà người nghèotiếp cận được còn hạn chế, gây khó khăn cho họ trong việc vươn lên thoátnghèo.Trình độ học vấn thấp hạn chế khả năng kiếm việc làm trong khu vựckhác, trong các ngành phi nông nghiệp, những công việc mang lại thu nhập caohơn và ổn định hơn

3 Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp

Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnhđặc biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyếtcác vấn đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật Nhiều văn bản pháp luật có

cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó nắm bắt; mạng lưới các dịch vụ

Trang 8

pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tậptrung ở các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao

4 Các nguyên nhân về nhân khẩu học

Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thunhập bình quân của các thành viên trong hộ Đông con vừa là nguyên nhân vừa

là hệ quả của nghèo đói Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao.Đông con là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo Năm 1998,

số con bình quân trên 1 phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức2,1 con của nhóm 20% giàu nhất Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người

ăn theo cao (Tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 của nhóm giàu nhất)

5 Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác

Các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàngngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộngđồng Do nguồn thu nhập của họ rất thấp, bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên

họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mấtmùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khỏe ) Với khảnăng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn,những đột biến này sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ

Các rủi ro trong sản xuất kinh doanh đối với người nghèo cũng rất cao, do

họ không có trình độ tay nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn Khả năng đối phó

và khắc phục các rủi ro của người nghèo cũng rất kém do nguồn thu nhập hạnhẹp làm cho hộ gia đình mất khả năng khắc phục rủi ro và có thể còn gặp rủi rohơn nữa

6 Bất bình đẳng giới ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của phụ nữ và trẻ em

Bất bình đẳng giới làm sâu sắc hơn tình trạng nghèo đói trên tất cả cácmặt Ngoài những bất công mà cá nhân phụ nữ và trẻ em gái phải chịu đựng dobất bình đẳng thì còn có những tác động bất lợi đối với gia đình

Trang 9

Phụ nữ chiếm gần 50% trong tổng số lao động nông nghiệp và chiếm tỷ lệcao trong số lao động tăng thêm hàng năm trong ngành nông nghiệp Mặc dùvậy, nhưng phụ nữ chỉ chiếm 25% thành viên các khoá khuyến nông về chănnuôi, và 10% các khoá khuyến nông về trồng trọt

Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thườnggặp nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết địnhtrong hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùngmột loại việc Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹcao hơn, sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn

7 Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói trầm trọng

Vấn đề bệnh tật và sức khỏe kém ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và chitiêu của người nghèo, làm họ rơi vào vòng tròn luẩn quẩn của đói nghèo Họphải gánh chịu hai gánh nặng: một là mất đi thu nhập từ lao động, hai là gánhchịu chi phí cao cho việc khám, chữa bệnh, kể cả các chi phí trực tiếp và giántiếp Do vậy, chi phí chữa bệnh là gánh nặng đối với người nghèo và đẩy họ đếnchỗ vay mượn, cầm cố tài sản để có tiền trang trải chi phí, dẫn đến tình trạngcàng có ít cơ hội cho người nghèo thoát khỏi vòng đói nghèo Trong khi đó khảnăng tiếp cận đến các dịch vụ phòng bệnh (nước sạch, các chương trình y tế )của người nghèo còn hạn chế càng làm tăng khả năng bị mắc bệnh của họ

8 Những tác động của chính sách vĩ mô và chính sách cải cách (tự do hóa thương mại, cải cách doanh nghiệp nhà nước ) đến nghèo đói

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một trongnhững nhân tố ảnh hưởng lớn tới mức giảm nghèo Việt Nam đã đạt được nhữngthành tích giảm nghèo đói rất đa dạng và trên diện rộng Tuy nhiên, quá trình pháttriển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến người nghèo

IV NHỮNG CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA.

1 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng chính sách xoá đói giảm nghèo

Trang 10

Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư

tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủthể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đóigiảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp

Mục tiêu của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc

diện nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội, nhằmmục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội côngbằng dân chủ văn minh

Đối tượng là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu

vùng xa nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đờisống kinh tế xã hội của cả nước

2 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay 2.1 Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

a Chương trình về thuỷ lợi, giao thông

Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫnđược tiếp tục Đa số người người nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâuvùng xa mà chính những nơi này giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhànước ta đã có chủ trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước

và nhân dân cùng làm Việc phát triển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sựhoà nhập giữa miền ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển,tăng năng suất lao động góp phần bình ổn lương thực trong vùng

b Chương trình định canh định cư

Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đảng và Nhà nước ta

đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực kỳ quan trọng nhằm làmthay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực tế đây là cách sống

ổn định văn minh, tiến bộ Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm của nhân dâncác dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bất lợicho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung Chương trình này bắt đầu

từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việc giảm nghèo

Trang 11

đói Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư, tức là giúpnhững người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành những ngườisống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với ngườinghè ở miền núi.

c Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ

Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tếmiền núi theo hướng chuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hànghoá tập trung Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự

án triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông,khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tư sản xuất, tín dụng nông thôn

2.2 Chương trình giải quyết việc làm

Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11-4-1992 một chương trình cótầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiếnviệc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong qúatrình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới, cungcấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biên chế nhà nước để tự tạoviệc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường

2.3 Chương trình tín dụng

Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tín dụng cho vay mởrộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-1995 của thủtướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo để giúpngười nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phần thựchiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo Ngân hàng phục vụ người nghèo có chứcnăng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước,tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốnkhác nhà nước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chươngtrình của chính phủ đối với người nghèo

Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo,không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w