1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn hoá học ở trường trung học cơ sở

28 1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 5,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, theo tôi còn một nguyên nhân chủ quannữa đó là: Phải chăng giáo viên chưa thực sự trăn trở, tâm huyết với từng tiếtdạy, chưa phân loại cụ thể các đối tượng học sinh, chưa thực

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lí do chọn đề tài:

Hoá học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các chất, sự biến đổi củacác chất và ứng dụng của chúng Ở chương trình THCS, Hoá học cung cấp chohọc sinh một hệ thống kiến thức phổ thông cơ bản và thiết thực Là một môn họcrất thiết thực với thực tế đời sống và lao động sản xuất, chuyên nghiên cứu vềcác chất và sự chuyển hoá của các chất, giúp ta từ các chất ban đầu tạo ra nhiềuchất mới Nhiều sản phẩm mới và quý không thể thiếu được trong cuộc sống đểtừng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của con người và đáp ứng toàn bộ yêucầu của xã hội Nhưng, thực tế cho thấy kết quả học tập môn Hoá học của phầnlớn học sinh còn thấp, tỉ lệ học sinh yếu kém còn cao Vì sao?

Qua 5 năm trực tiếp giảng dạy bộ môn tôi nhận thấy có một số nguyênnhân cơ bản sau: Là môn học được tiếp cận sau nhất trong chương trình giáo dụcphổ thông Ban đầu mới làm quen với hàng loạt các khái niệm, định luật, họcthuyết và các chất nên học sinh không khỏi bỡ ngỡ Không ít học sinh quanniệm rằng là môn học trừu tượng, khó hiểu nên đã có thái độ mang tính tiêu cựcđối với bộ môn, nản lòng trước những bài tập yêu cầu có tính suy luận cao Cóthể nói Hoá học là một môn học khó đối với học sinh THCS vì nó là một mônkhoa học tổng hợp kiến thức của các môn khoa học tự nhiên và xã hội khác Chonên sau khi học xong chương trình lớp 7 các em mới có đủ điều kiện để lĩnh hộikiến thức của môn học này Bên cạnh đó một số em học sinh còn cho rằng đây

là một môn phụ, nhiều học sinh còn có tính ỷ lại, lười học nên các em chưa có ýthức để học tập tốt bộ môn Ngoài ra, theo tôi còn một nguyên nhân chủ quannữa đó là: Phải chăng giáo viên chưa thực sự trăn trở, tâm huyết với từng tiếtdạy, chưa phân loại cụ thể các đối tượng học sinh, chưa thực sự quan tâm đếnđối tượng học sinh yếu kém trong lớp, chưa làm cho học sinh nhận thấy đượctầm quan trọng của bộ môn, và chưa tạo ra được những tiết học thực sự lôi cuốnhọc sinh?

Tôi đã trăn trở rất nhiều bởi câu hỏi đó và trách nhiệm nghề nghiệp thôithúc tôi phải làm thế nào để nâng cao chất lượng học tập của đối tượng học sinh

Trang 2

yếu kém Vì vậy tôi quyết định tìm hiểu và nghiên cứu đề tài “Một số biện phápnâng cao chất lượng học sinh yếu kém môn Hoá học ở trường Trung học cơsở”.

II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

1 Mục đích: Việc thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu và đề xuất một số

biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, giảm tỷ lệ học sinh yếu kémmôn Hoá học ở trường THCS nói chung và trường THCS Dân tộc Nội trú LangChánh nói riêng

2 Nhiệm vụ: Nghiên cứu lý luận và tình hình thực tiễn về các biện pháp

phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy và khả năng vận dụng kiến thứccủa học sinh yếu kém môn Hoá học Đề xuất một số biện pháp để nâng cao chấtlượng học sinh yếu kém môn Hoá học Thử nghiệm, kiểm tra, khảo sát tính hiệuquả và tính khả thi của những biện pháp được đề xuất

III Phạm vi và thời gian nghiên cứu:

1 Phạm vi nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Hoá học ở trường

THCS Dân tộc Nội trú Lang Chánh, Huyện Lang Chánh, Tỉnh Thanh Hoá

2 Thời gian nghiên cứu:

IV Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tiễn, thống kê số liệu

- Phân tích thực trạng, tham khảo các tài liệu và ý kiến đồng nghiệp

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Trang 3

B NỘI DUNG

I Cơ sở lý luận:

Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Mác - Lênin thì quá trình nhậnthức thế giới khách quan của con người là “từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Vận dụng vào môn Hoá học cóthể thấy là học sinh sẽ xây dựng được các định nghĩa, khái niệm, các tính chấtcủa một chất tốt nhất khi các em rút ra chúng từ các hiện tượng thực tế, các thínghiệm mà chính các em được làm, được quan sát từ đó áp dụng cho các trườnghợp khác tương tự và vận dụng để làm các bài tập định tính, định lượng, giảithích các hiện tượng trong thực tiễn Hoá học là khoa học tự nhiên nghiên cứucác chất có trong tự nhiên và sự chuyển hoá của chúng Tính ứng dụng của Hoáhọc gần với thực tế Đối với mỗi một vấn đề trong hoá học ta đều có thể cho họcsinh liên hệ với cuộc sống, sản xuất và công nghiệp

Các lý thuyết về sự hiểu biết của học sinh như: Lý thuyết hành vi, lýthuyết nhận thức (lý thuyết của Bruner, lý thuyết phát triển của Piaget, lý thuyếttạo dựng), lý thuyết xã hội Sau khi so sánh thì lý thuyết nào người thầy cũngphải đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn và đánh giá Đặc điểm tâm sinh lí của họcsinh trung học cơ sở: Lứa tuổi học sinh lớp 8, 9 trường trung học cơ sở trongkhoảng từ 13 đến 16 tuổi Là khoảng thời gian trong độ tuổi dậy thì, giai đoạnnày các em có những biến đổi quan trọng và phức tạp về tâm sinh lí Tuy nhiên

sự biến đổi là không hoàn toàn như nhau ở mỗi học sinh Điều đó làm cho thái

độ của các em đối với mỗi môn học cũng được phân hoá (có môn “hay”, môn

“không hay, có môn “cần”, môn “không cần thiết” ) Ở lứa tuổi này tư duytrừu tượng phát triển mạnh, nhưng thành phần của tư duy hình tượng – cụ thểvẫn tiếp tục phát triển và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Do vậycác em vẫn rất cần đến sự hỗ trợ của những biểu tượng trực quan về đối tượng

để tìm hiểu những dấu hiệu bản chất, trừu tượng của đối tượng đó Trong họctập, các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có quan điểm và lập luận riêng.Các em thường thích những gì mới lạ, thích các hoạt động phải liên hệ đến thựctiễn và có thể tạo môi trường cho các em khẳng định mình

Trang 4

Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ sung được

những “lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trongsách giáo khoa) để giải quyết, để giành lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hội hếttrong tiết dạy chính trên lớp Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo kịp với cácbạn trong tiết học đang diễn ra trên lớp Theo tôi học sinh muốn làm tốt hoạtđộng này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác và đánh giá đượcmức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trong mỗi tiết dạy để chuẩn bị lên kếhoạch phụ đạo, thết kế nội dung phụ đạo sao cho có hiệu qủa nhất, muốn vậy thìcần phải biết rõ căn cứ, hiểu và kết hợp giải quyết được các vấn đề sau:

- Tìm hiểu tại sao học sinh sợ ,chán ,học yếu kém học môn hóa học và tìmcách giải tỏa tâm lí này ở các em

- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rènluyện ý thức học tập

- Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thểcho đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung ,hình thức vàphương phápdạy thích hợp nhất

Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và

hành động, tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ ,cân nhắc kĩ lưỡngnhững thông tin nhận được để “vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiếnthức một cách chính xác ,khoa học nhất Muốn vậy giáo viên là người rất quantrọng cần phải có các hướng dẫn cụ thể để giúp học sinh Dựa trên những cơ sở

đó tôi đã sáng tạo và sử dụng được một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượnghọc tập của học sinh yếu kém trong môn Hoá học

II Thực trạng:

1 Thuận lợi:

Nhà trường có đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạyhọc cần thiết Học sinh được xét tuyển từ khắp các trường tiểu học trong địa bànhuyện, ý thức học tập tốt Cùng nhau ăn, ở, học tập và sinh hoạt tập trung trongkhu ký túc xá của trường nên đây là điều kiện thuận lợi để các em có thể hìnhthành các nhóm học tập và giáo viên có thể nắm bắt tình hình học sinh Học sinh

Trang 5

có các giờ tự học buổi chiều, buổi tối trên lớp Đây là thời gian mà giáo viên cóthể củng cố lại kiến thức, phụ đạo học sinh Hoá học là môn học gắn liền với thínghiệm, thực hành, có thể sử dụng triệt để các phương tiện, đồ dùng dạy học màNhà trường có, là bộ môn gắn liền với thực tế đời sống, giải thích được nhiềuhiện tượng trong thực tế cuộc sống hằng ngày Đây là cơ sở quan trọng để họcsinh tìm thấy hứng thú và sự lôi cuốn trong môn học.

2 Khó khăn:

Do đặc trưng của bộ môn nên một số khái niệm, định nghĩa, định luật đốivới học sinh là khá mới mẻ, trừu tượng yêu cầu phải có sự tư duy, suy luận, sángtạo và óc tưởng tượng cao Là một môn khoa học tổng hợp kiến thức của cácmôn khoa học tự nhiên và xã hội khác nên bắt buộc học sinh phải có kiến thứccủa các môn liên quan, đặc biệt là Toán, Vật lí, Sinh học Sĩ số học sinh trongmột lớp khá đông, mặt khác năng lực không đồng đều, do đặc thù là học sinhdân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa nên một số học sinh khả năng lĩnh hội, tiếpthu kiến thức còn yếu, chậm, chưa sáng tạo, linh hoạt, khả năng tư duy thấp Vìvậy khi soạn giáo án và tổ chức dạy học giáo viên thường bị động về thời gian,rất khó khăn để quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh

Mặt khác, học sinh do vẫn còn chịu ảnh hưởng của cách truyền thụ trước đâycho nên một số học sinh ỷ lại, lười suy nghĩ, trong giờ học lơ là không tập trung,không học bài và làm bài trước khi đến lớp… làm kiến thức bị thiếu hụt lâu dần

tỏ ra sợ học, chán học từ đó bị hổng về kiến thức Bên cạnh đó thêm một tồn tại

là khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học sinh cắm cúi vào sách giáo khoa,không có sự linh động, sáng tạo trong tư duy, có khi còn sợ bị gọi trả lời, làmtiết học trở nên trầm, rời rạc Kết quả là giáo viên thường xuyên bị “cháy” giáo

án, học sinh nắm bài hời hợt trở thành yếu kém làm hiệu quả tiết dạy chưa cao

Kết quả học tập môn Hoá học khối 8, 9 năm học 2008 – 2009

Trang 6

1 Soạn giáo án chi tiết, chuẩn bị kỹ cho tiết dạy.

1.1 Xác định vị trí bài học trong cấu trúc chương trình, xác định loại bài

dạy: Trước hết bản thân tôi phải nắm vững cấu trúc chương trình sách giáo khoacủa từng lớp học, từng cấp học và cả chương trình của bộ môn, trong khi soạn,giảng bài, tôi sẽ có các phương pháp phù hợp giúp học sinh vận dụng kiến thức

đã học, xây dựng kiến thức mới hoặc khi giảng xong kiến thức mới, tôi có thểxác định cho các em hướng để các em học lên các lớp trên Xác định đúng dạngbài để dạy đúng phương pháp đặc trưng của bộ môn và đúng với phương phápcủa từng loại bài dạy Đọc kĩ bài dạy để hiểu đúng ý của người viết sách giáokhoa, về kiến thức cơ bản và cách trình bày kiến thức của tác giả, nắm được mốiquan hệ giữa các kiến thức từ đó khắc sâu được kiến thức trọng tâm cho họcsinh và làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đến kiến thức rồi hướng dẫn chocác em phát hiện ra kiến thức

Ví dụ: Bài 3: “Tính chất hoá học của axit” lớp 9 Trước khi vào bài tôi cho học

sinh nhắc lại định nghĩa axit ở lớp 8, lấy ví dụ Sau đó tìm hiểu tính chất hoá họccủa axit qua các thí nghiệm, sau khi tìm hiểu xong tính chất hoá học của axit choxây dựng định nghĩa về axit dựa vào tính chất hoá học, tôi cho học sinh nhắc lạiđịnh nghĩa axit ở lớp 8, từ đó hướng dẫn cho học sinh xây dựng định nghĩa axit

ở lớp 9 Đến đây tôi xác định cho học sinh định nghĩa về axit không dừng lại ởđây mà lên lớp trên định nghĩa về axit còn được mở rộng hơn nữa (dung dịch

định nghĩa về phản ứng oxi hoá - khử, định nghĩa về bazơ cũng tương tự

1.2 Tiến hành soạn giáo án: Trước tiên tôi xác định hướng trọng tâm của

bài dạy, mục tiêu, phương pháp và sắp xếp các kiến thức của bài thành một hệthống kiến thức lôgíc, chặt chẽ Chuyển tiếp giữa các mục trong bài dạy phải có

sự dẫn dắt theo kiểu dạy học nêu vấn đề và bằng phương pháp thầy thiết kế, tròthi công Hệ thống câu hỏi phải lôgic theo hệ thống kiến thức của bài và ngắngọn, rõ ràng, phù hợp với 4 đối tượng học sinh để huy động nhiều học sinh làmviệc trên lớp (để các em thấy chương trình mà sách giáo khoa đưa ra không có gì

là quá tải, rất phù hợp) Luôn luôn xác định tạo không khí học tập thoải mái,hứng thú là một trong những mục tiêu của tiết học Giáo viên cần chú ý chuẩn bị

Trang 7

xảy ra các tình huống ngoài dự kiến, vừa không đạt mục đích lại có thể gây hiệuứng ngược.

Ví dụ: Bài 24: “Tính chất của oxi” lớp 8, kiến thức trọng tâm của bài là

phần tính chất hoá học của oxi, tôi đã làm cho học sinh thấy rõ con đường đi đếnkiến thức là bằng thí nghiệm thực tế, để các em nắm được các tính chất hoá họccủa ôxi và để hướng dẫn cho các em phát hiện ra kiến thức qua từng thí nghiệm,tôi cho học sinh thấy rõ các chất đem tác dụng cùng với việc các em quan sát thínghiệm và vận dụng vốn kiến thức có sẵn để có thể dự đoán sản phẩm tạo thànhsau phản ứng và dẫn đến kết luận, cụ thể: Tính chất ôxi tác dụng với sắt, tôi chohọc sinh quan sát thí nghiệm biểu diễn, học sinh sẽ xác định được các chất đemtác dụng là ôxi và sắt, học sinh quan sát thí nghiệm thấy có hạt nóng đỏ bắn ra,

Ngoài việc hiểu đúng ý nghĩa của người viết sách còn giúp tôi vận dụngthêm kiến thức của tài liệu tham khảo để mở rộng và nâng cao kiến thức cho họcsinh (ở những lúc cần thiết) Đồng thời tránh được tình trạng dạy sai kiến thứccho học sinh Đối với tôi soạn bài là một hình thức giảng thử để phân bố thờigian cho phù hợp với từng phần kiến thức của bài và để bỏ bớt các ngôn ngữthừa, các câu hỏi vụng, giúp học sinh hiểu bài một cách chắt lọc, nhẹ nhàng.Trong bài soạn, đối với các câu hỏi, tùy từng đặc điểm trình độ nhận thức củahọc sinh, phương pháp lựa chọn mà quyết định số lượng, chất lượng các câu hỏithích hợp Tránh khuynh hướng hình thức, tránh đặt câu hỏi mà không chuẩn bịtrước Mỗi bài học có một vài câu hỏi then chốt và cần quan tâm đến tính lôgíccủa câu hỏi, câu hỏi phải vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh, đồng thời tạođiều kiện cho học sinh hoạt động độc lập, theo cặp hoặc theo nhóm tạo điều kiệncho học sinh tự đánh giá, và đánh giá lẫn nhau, kết hợp đánh giá của giáo viên

và đánh giá của học sinh Đặc biệt với đối tượng học sinh yếu kém cần tạo điềukiện cho các em tham gia hoạt động bằng cách có câu hỏi gợi mở, gợi ý dẫn dắtcho học sinh trả lời giúp các em thêm tự tin và hoà nhập với lớp Tuy nhiên để

Trang 8

tiết học có chiều sâu về mặt kiến thức thì trong mỗi bài dạy giáo viên phải tìmđược điểm nhấn của mỗi bài Từ đó các em khắc sâu được kiến thức và hiểu sâuhơn.

1.3 Chuẩn bị đồ dùng: Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, từ các

thí nghiệm thực hành để giúp học sinh hiểu bài, vì vậy cần thiết tôi chuẩn bị đầy

đủ các dụng cụ, hoá chất để làm thí nghiệm, bố trí thí nghiệm không cồng kềnh,mang tính chất thẩm mỹ khoa học thao tác thí nghiệm của giáo viên phải thànhthạo, nhẹ nhàng, khéo léo, giáo viên phải làm thử trước để tránh các trường hợp

do hoá chất bảo quản không tốt hoặc do bố trí thí nghiệm mà dẫn đến thí nghiệmkhông thành công, giáo viên phải chuẩn bị để giải thích cho học sinh các tìnhhuống bất trắc xẩy ra khi làm thí nghiệm Các thí nghiệm hoá chất và dụng cụ dễkiếm tôi giao cho học sinh chuẩn bị trước ở nhà và yêu cầu các em phải đọc kỹnội dung các thí nghiệm có trong tiết học, chú ý phương pháp tiến hành, dự đoántrước hiện tượng và giải thích, học sinh phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ màgiáo viên yêu cầu Tuy là những những thứ dễ kiếm, rất gần gũi với đời sốngnhưng từ đó hình thành trách nhiệm của các em đối với tiết học, các em sẽ thêmchú ý và ghi nhớ kiến thức dễ dàng hơn

Ví dụ: Trong bài 19: “Sắt”, lớp 9: Học sinh có thể chuẩn bị một số đinh sắt

mới để làm thí nghiệm thay thế cho những mẫu sắt có trong phòng thí nghiệm.Trong bài 55: “Thực hành: tính chất của gluxit”, thí nghiệm phân biệt glucozơ,sacarozơ và tinh bột học sinh có thể chuẩn bị hồ tinh bột, đường ăn Trong bài34: “Khái niệm về hợp chất hữu cơ và hoá học hữu cơ” học sinh có thể chuẩn bịbông Trong bài 41: “Độ tan của một chất trong nước”, lớp 8: Học sinh có thểchuẩn bị đường, muối Ngoài ra, những thí nghiệm khó thành công, chiếmnhiều thời gian, có các chất độc hại tôi đã thay thế bằng các thí nghiệm quay sẵnhay thí nghiệm ảo để học sinh quan sát trên màn hình máy chiếu Thực tế chothấy khi tiết dạy có sự chuẩn bị kỹ về phương tiện, đồ dùng, học sinh rất hứngthú học tập, không khí sôi nổi, xây dựng kiến thức từ thực nghiệm, là cái các emđược làm, được quan sát nên sẽ nắm chắc, hiểu sâu kiến thức

Trang 9

1.4 Lên lớp giảng bài: Phong thái, tác phong của người thầy khi lên lớp

rất quan trọng, ảnh hưởng lớn đến thái độ, không khí học tập của học sinh Vàolớp tôi luôn giữ tinh thần thoải mái và gần gũi với học sinh, nắm sĩ số học sinh,quan sát tổng thể lớp học để chuẩn bị cho học sinh có tư thế, tinh thần tốt nhất

để bước vào tiết học Nhất thiết phải kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh ở nhà,đặc biệt là học sinh yếu kém Kiểm tra bài cũ và vở ghi, vở bài tập, vở nháp.Kiểm tra bài cũ yêu cầu cần phải kiểm tra được kiến thức trọng tâm của bài,giúp cho học sinh nhớ lại, khắc sâu một lần nữa để vận dụng khi giải quyết bàimới, câu hỏi hoặc bài tập kiểm tra phải rõ ràng phù hợp với 4 đối tượng học sinh(Giỏi, khá, trung bình, yếu) để chống học sinh lười học, hay học vẹt, khôngkiểm tra nhiều kiến thức với một học sinh Thực hiện tôi cho học sinh gấp sách

vở lại rồi đặt câu hỏi hoặc nêu bài tập cho cả lớp, gọi một học sinh lên bảng, cảlớp làm nháp hoặc theo dõi bạn trả lời, tôi cho 1 học sinh khác nhận xét bổ sung,cuối cùng giáo viên nhận xét, bổ sung và cho điểm học sinh Ngoài ra giáo viên

có thể đưa ra những câu hỏi để phục vụ cho bài học mới mà không liên quan đếnkiến thức của bài học ngay trước đó

Ví dụ: Khi dạy bài “Tính chất chung của phi kim” (Tiết 30 - lớp 9)

Ta có thể đưa ra các câu hỏi kiểm tra bài cũ như sau:

Câu 1: Nêu tính chất hoá học của kim loại

Câu 2: Nêu tính chất hoá học của ôxi mà em đã được học ở lớp 8 Viết cácphương trình phản ứng minh hoạ

Như vậy có thể thông qua 2 câu hỏi trên mà các em đã hình thành nên tínhchất hoá học của phi kim là: Tác dụng với kim loại tạo thành muối hoặc axit vànhiều phi kim tác dụng với oxi tạo thành oxit axit

2 Xác định động cơ học tập cho học sinh

Khi thực hiện bất kể công việc gì đó nếu có động cơ, mục tiêu rõ ràngchúng ta sẽ thấy được ỹ nghĩa của công việc mình đang và sẽ làm Nếu không cóđộng cơ và mục tiêu rõ ràng sẽ không thể nỗ lực hết mình và vượt qua mọi khókhăn Bởi vây, việc xác định động cơ, mục tiêu học tập cho học sinh là một biệnpháp hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với những học sinh dân tộc thiểu số vùngsâu, vùng xa, học sinh yếu kém Khi đó các em sẽ hình thành được ý thức học

Trang 10

tập đúng đắn, có thái độ đúng mực với việc học, các em sẽ tập trung, chú ý hơn,dành nhiều thời gian hơn với việc học và kết quả học tập sẽ cao hơn Bằng sựhiểu biết của bản thân, thông qua các câu chuyện so sánh về kết quả học tập, vềcuộc sống của những người có động cơ học tập, đạt kết quả cao và những ngườikhông được đi học, lười học, bỏ học Các em dần dần hình thành được câu trảlời: “Học để làm gì?”, “Học cho ai?”, “Học như thế nào?” Từ đó các em sẽ nỗlực hơn trong việc học.

3 Gây hứng thú học tập, hình thành sự yêu thích bộ môn

3.1 Hình thành niềm tin cho học sinh

Tôi cho rằng để làm một việc gì đó đạt kết quả tốt thì không thể thiếu yếu

tố niềm tin Cụ thể ở đây là niềm tin vào chính bản thân các em, vào người thầy

và niềm tin vào khoa học Đặc biệt là với học sinh yếu kém, các em có suy nghĩ

tự ti, sợ gọi lên bảng, sợ gọi trả lời câu hỏi Vậy sự tự tin là một trong nhữngđiều kiện để các em mạnh dạn hơn, tìm thấy hứng thú trong học tập Trước tiên,cần phải tiến hành phân loại học lực của học sinh, nắm chắc những học sinh yếu,phát hiện học sinh giỏi Từ đó tìm hiểu hoàn cảnh gia đình, gần gũi, quan tâmsâu sắc đến đời sống sinh hoạt của các em, vì các em là những học sinh dân tộcvùng cao ở tập trung tại khu kí túc xá, xa gia đình Người thầy không chỉ đơnthuần là người truyền đạt kiến thức mà còn có vai trò như là người cha, người

mẹ Làm cho các em cảm nhận được sự gần gũi, tình thương của người thầy.Động viên, khích lệ kịp thời khi các em có những câu trả lời, ý kiến hay bài giảihay Làm cho các em mạnh dạn phát biểu ý kiến, trao đổi với thầy, từ đó hìnhthành niềm tin và cố gắng học tập, tiến tới hứng thú trong học tập Biến kiếnthức của SGK, tài liệu tham khảo thành kiến thức của mình khi truyền thụ chohọc sinh, từ đó tôi đã gây cho học sinh một niềm tin vững chắc về kiến thức ởngười thầy, các em thấy người thầy là thiêng liêng cao cả và giữa giáo viên vàhọc sinh phải có một khoảng cách nhất định về kiến thức nhưng rồi lại được quy

tụ tại một điểm

Ngoài ra còn phải tìm hiểu nguyện vọng, ước mơ của học sinh xem saunày các em muốn làm nghề gì, ước mơ như thế nào Từ đó qua các câu chuyện,

sự hiểu biết thực tế người thầy sẽ có định hướng nghề nghiệp cho học sinh Đây

là một việc làm rất quan trọng, nó sẽ đáp ứng mục tiêu giáo dục của nhà trường

Trang 11

THCS đó là định hướng nghề cho các em Như vậy ngay từ khi học THCS các

em đã có ước mơ cho tương lai sau này

3.2 Dùng câu hỏi tạo tình huống gây hứng thú, kích thích sự tò mò cho

học sinh: Trong một số bài giáo viên sử dụng những câu hỏi nhằm kích thích sự

tò mò của học sinh và tạo điểm nhấn của bài, gây sự chú ý để học sinh tập trungchủ động tư duy sẽ làm khả năng ghi nhớ kiến thức của học sinh dễ dàng hơn

Ví dụ : Khi dạy bài: Tính chất hoá học của axit ( Tiết 5 - Lớp 9)

Trong khi làm thí nghiệm giữa axit HCl và bazơ NaOH của các nhóm Cho quỳ tím vào sản phẩm thu được ta thấy có những trường hợp sau :

* Quỳ tím vẫn màu tím

* Quỳ tím chuyển sang màu xanh

* Quỳ tím chuyển sang màu đỏ

Vì sao?

Giải thích kết quả của các nhóm như thế nào? GV cho các em thảo luậnnhóm Điều đó được giải thích là nếu axit và bazơ tham gia hết (Trường hợp 1),axit phản ứng hết, bazơ dư (Trường hợp 2), bazơ phản ứng hết, axit dư (Trườnghợp 3) Trước đó các em đã biết bazơ làm quỳ tím chuyển sang màu xanh vàaxit làm quỳ tím chuyển sang màu đỏ Như vậy các em đã giải thích được nhữnghiện tượng quan sát được của thí nghiệm Nên khi làm phần bài tập có liên quanđến thiếu thừa, bài tập về lượng chất dư các em nhập cuộc rất dễ dàng

phẩm thu được? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào Giải thích?

quỳ tím vào sản phẩm thu được, giấy quỳ sẽ chuyển sang màu đỏ (nhưvậy ví dụ này rơi vào trường hợp 3)

Bài 2 : Cho 500ml KOH 1M tác dụng với 200ml HCl 2M Cho quỳ tím vào sảnphẩm thu được? Theo em màu của giấy quỳ thay đổi như thế nào Giải thích?

Trang 12

Chính vì thế một lần nữa tôi muốn khẳng định việc tạo ra những điểmnhấn trong mỗi bài dạy là rất quan trọng, tạo ra ấn tượng với các em trong quátrình học và khắc sâu kiến thức cơ bản.

3.3 Sử dụng các “bài thơ”, câu văn vần giúp học sinh ghi nhớ kiến thức:

Đối với học sinh yếu kém, khả năng tư duy, ghi nhớ kiến thức chậm hơn, khókhăn hơn Vì vậy tôi đã sử dụng các bài thơ dạng văn vần như bài ca hoá trị, bài

ca nguyên tử khối để học sinh học thuộc

Ví dụ 1: Bài 5: Nguyên tố hoá học – Lớp 8 Phần nguyên tử khối

Để học sinh thêm hứng thú và ghi nhớ nguyên tử khối dễ dàng giáo viên

có thể cho học sinh học thuộc bài ca nguyên tử khối như sau:

BÀI CA NGUYÊN TỬ KHỐI

Hidro (H) là 1

12 cột Các bon (C)Nitơ (N) 14 trònOxi (O) trăng 16

Natri (Na) hay láu táu

Nhảy tót lên 23Khiến Magie (Mg) gần nhà

Ngậm ngùi nhận 24

27 Nhôm (Al) la lớnLưu huỳnh (S) giành 32

Khác người thật là tàiClo (Cl) ba nhăm rưỡi (35,5)

Kali (K) thích 39Canxi (Ca) tiếp 40 (55) Mangan (Mn) cườiSắt (Fe) đây rùi: 56

64 Đồng (Cu) nổi cáuBởi kém kẽm (Zn) 65

80 Brom (Br) nằm

Xa Bạc (Ag) 108

Bari (Ba) buồn chán ngán(137) Một ba bẩy ích chikém người ta còn gì!

Thủy ngân (Hg) hai linh mốt(201)Còn tôi , đi sau rốt !

Trang 13

Nhớ ghi cho kỹ kẻo rồi phân vân

Magiê (Mg), chì (Pb), kẽm (Zn) thuỷ ngân (Hg)Oxi (O), đồng (Cu), thiếc (Sn) cũng gần Bari (Ba)

Cuối cùng thêm chú Canxi (Ca)Hoá trị II đó có gì khó khăn!

Bác nhôm hoá trị III lần

In sâu trí nhớ khi cần có ngay

Cacbon (C) , silic (Si) này đây

Có hoá trị IV không ngày nào quên

Sắt (Fe) kia rồi cũng quen tên

II , III lên xuống cũng phiền lắm thôi

Nitơ (N) rắc rối nhất đời!

I , II , III , IV khi thời lên V

Lưu huỳnh (S) lắm lúc chơi khămXuống II lên VI khi nằm thứ IV

Phot pho (P) nói đến không dư

Có ai hỏi đến thì ừ rằng V

Em ơi , cố gắng học chămBài ca hoá trị suốt năm cần dùng!

Ví dụ 3: Bài 37: Axit – Bazơ – Muối

Phần giới thiệu bảng tính tan trong nước của các axit – bazơ – muối, sau khi giớithiệu bảng tính tan, cho học sinh tìm hiểu cách sử dụng bảng tính tan, tìm hiểutính tan của các hợp chất, giáo viên có thể cho học sinh tham khảo bài thơ sau:

Trang 14

TÍNH TAN CỦA MUỐI

Loại muối tan tất cả

Và muối acetat (-COOH)Bất kể kim loại nàoNhững muối hầu hết tan

Trừ bạc chì cloruaBari, chì sulfatNhững muối không hòa tan

Trừ kiềm, amoniSau đó cho học sinh đối chiếu với bản tính tan, tìm các loại hợp chất:

tính tan …

Ví dụ 4: Bài 17 Hoá học 9 “Dãy hoạt động hoá học của kim loại”

Giáo viên cho học sinh học thuộc các câu văn sau:

DÃY ĐIỆN HÓA (I)

Khi Nào Bạn Cần May Áo Giáp Sắt Nên Sang Pháp Hỏi Cửa Hàng Á Phi Âu

Hàng ngày yêu cầu các học sinh khá giỏi trong lớp kiểm tra và hướng dẫncách ghi nhớ Có tuyên dương với các bạn đã hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình cácbạn học yếu

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ phản ứng, tìm hệ - Một số biện pháp nâng cao chất lượng học sinh yếu kém  môn hoá học ở trường trung học cơ sở
Sơ đồ ph ản ứng, tìm hệ (Trang 20)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w