1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã khu vực phía bắc huyện trấn yên, tỉnh yên bái

131 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

--- TRẦN HỮU LÂN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM , NÂNG CAO THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG NỮ 4 XÃ KHU VỰC PHÍA BẮC HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI Chuyên ngành: Ki

Trang 1

-

TRẦN HỮU LÂN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM , NÂNG CAO THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG NỮ 4 XÃ KHU VỰC PHÍA BẮC

HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngànhnghệ gỗ, giấy

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2012

Trang 2

-

TRẦN HỮU LÂN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM , NÂNG CAO THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG NỮ 4 XÃ KHU VỰC PHÍA BẮC

HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Nhân đây tôi xin bày

tỏ lòng cảm ơn của mình:

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS Nguyễn

Võ Định đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn tới Ban giám hiệu nhà trường cùng các thầy,

cô giáo trong Khoa Sau đại học đã giúp đỡ, dạy bảo tôi trong quá trình học tập vừa qua

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh, chị ở UBND huyện Trấn Yên, Trung tâm dạy nghề huyện Trấn Yên, Trường CĐ NN & PTNT Bắc

Bộ và các cơ quan có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này tại địa phương

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của tổ chức chính quyền, đoàn thể và lao động nữ tại các xã Tân Đồng, Báo Đáp, Đào Thịnh, Việt Thành

đã nhiệt tình hỗ trợ, cung cấp các tài liệu để tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã nhiệt tình

cổ vũ, động viên và tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt đề tài này

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng bảo vệ một học vị nào

Tôi xin trân trọng cảm ơn !

Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2012 Tác giả luận văn

Trần Hữu Lân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các từ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

2.1 Mục tiêu tổng quát 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Nội dung nghiên cứu 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, THU NHẬP VÀ ĐỜI SỐNG LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN 5

1.1 Cơ sở lý luận về việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ nông thôn 5

1.1.1 Một số vấn đề về lao động, việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nông thôn 5

1.1.1.1 Một số vấn đề về lao động, nguồn nhân lực, lao động nông thôn 5

1.1.1.2 Một số vấn đề về việc làm, giải quyết việc làm, thất nghiệp 8

1.1.1.3 Thu nhập lao động nông thôn 14

Trang 5

1.1.1.4 Lý luận về đời sống 16

1.1.2 Sự cần thiết giải quyết việc làm cho lao động nữ 17

1.1.3 Đặc điểm của lao động nữ nông thôn 19

1.1.3.1 Giới và giới tính 19

1.1.3.2 Đặc điểm của lao động nữ và thị trường lao động nữ 20

1.1.4 Chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển nguồn lao động nữ 24

1.2 Cơ sở thực tiễn về việc làm, thu nhập, đời sống của lao động nữ nông thôn các nước trên thế giới và ở Việt Nam 26

1.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm, thu nhập và nâng cao đời sống cho lao động nữ ở một số nước 26

1.2.1.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc 27

1.2.1.2 Kinh nghiệm từ Nhật Bản 30

1.2.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho lao động nữ nông thôn ở nước ta 33

1.2.2.1 Thái Bình 33

1.2.2.2 Ninh Bình 35

1.3 Một số nghiên cứu liên quan đến việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ 37

1.4 Bài học kinh nghiệm rút ra 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40

2.1.1.1 Đặc điểm địa hình 40

2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn 41

2.1.1.3 Điều kiện đất đai 42

Trang 6

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội 45

2.1.2.1 Tình hình kinh tế 45

2.1.2.2 Dân số, lao động và mức sống dân cư 47

2.1.2.3 Y tế, giáo dục 49

2.1.3 Tình hình cơ sở vật chất, kỹ thuật 50

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn của địa bàn huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tác động đến việc làm cho lao động nông thôn 52

2.1.4.1 Tiềm năng và thuận lợi 52

2.1.4.2 Những khó khăn tồn tại 53

2.2 Phương pháp nghiên cứu 54

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 55

2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin 59

2.2.3 Phương pháp xử lý và phân tích thông tin 60

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu dùng để nghiên cứu 61

2.3.1 Chỉ tiêu nghiên cứu về lao động 61

2.3.2 Chỉ tiêu đánh giá tình hình việc làm và thu nhập 61

2.3.3 Chỉ tiêu về đời sống và sinh hoạt 62

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 63

3.1 Thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 63

3.1.1 Phân tích đặc điểm lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 63

3.1.1.1 Số lượng, cơ cấu nhóm tuổi, cơ cấu theo ngành kinh kế của lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 63

3.1.1.2 Chất lượng lao động LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn Yên 69

3.1.2 Thực trạng việc làm của lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 74

Trang 7

3.1.3 Thực trạng thu nhập và đời sống của LĐN khu vực Bắc

Trấn Yên 84

3.1.3.1 Thực trạng về thu nhập của LĐN khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 84

3.1.3.2 Thực trạng đời sống của LĐN khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 91

3.1.4 Một số nhận xét tổng quát về kết quả và hạn chế trong giải quyết việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã phía Bắc huyện Trấn Yên 100

3.1.4.1 Một số kết quả đạt được 100

3.1.4.2 Những tồn tại 101

3.1.4.3 Nguyên nhân 101

3.2 Một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 102

3.2.1 Định hướng của huyện Trấn Yên về tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của LĐN 102

3.2.1.1 Định hướng về giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho lao động nữ 103

3.2.1.2 Các mục tiêu và nhiệm vụ chủ yếu 103

3.2.2 Một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống cho lao động nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 106

3.2.2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, phát triển các ngành kinh tế 106

Trang 8

3.2.2.2 Khai thác triệt để nguồn lực, lợi thế để phát triển kinh tế địa phương, tạo việc làm cho nhiều lao động nữ, tăng thu nhập và nâng cao

đời sống cho họ 108

3.2.2.3 Đào tạo, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn để tạo điều kiện phát triển cho lao động nữ 109

3.2.2.4 Có chính sách hỗ trợ hợp lý cho lao động nữ 112

3.2.2.5 Thay đổi nhận thức giới của phụ nữ, thực hiện thay đổi nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện bình đẳng giới 114

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 116

1 Kết luận 116

2 Kiến nghị 119

2.1 Đối với chính quyền cơ sở 119

2.2 Đối với các DN, cơ sở kinh tế trên địa bàn 120

2.3 Đối với người LĐN 120

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

4 CN - TTCN Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Cơ cấu diện tích đất đai của khu vực phía bắc huyện Trấn Yên 44 2.2 Tình hình phát triển kinh tế của huyện năm 2009 - 2011 45 2.3 Tình hình dân số của huyện Trấn Yên năm 2011 48

2.5 Số lượng mẫu điều tra ở điểm nghiên cứu năm 2011 57

3.1 Tình hình về lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 63 3.2 Phân bố nguồn lao động nữ khu vực phía bắc huyện Trấn Yên theo tộc người 64 3.3 Phân bố nguồn lao động nữ khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên 65 3.4 Tổng hợp LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn Yên theo nhóm tuổi 67 3.5 Tổng hợp LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn Yên theo ngành kinh tế 68 3.6 Trình độ văn hoá của LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn yên 70 3.7 Trình độ chuyên môn của LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn Yên 72 3.8 Tổng hợp việc làm LĐN điều tra theo nghề nghiệp 75

3.10 Số LĐN khu vực phía bắc huyện Trấn Yên được đào tạo nghề

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Trấn Yên 47

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nguồn lao động giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, do đó cần phải có cơ cấu về lao động và số lượng, chất lượng lao động phù hợp và đòi hỏi có sự phân công và sử dụng lao động hợp lý

Điều này càng có ý nghĩa đối với một đất nước nông nghiệp như Việt Nam Hiện nay, lao động nông thôn ở Việt Nam chiếm tỷ trọng cao trong tổng

số lao động (trên 70%) Khu vực nông thôn hiện có khoảng 31,8 triệu lao động và họ mới chỉ sử dụng 80% thời gian làm việc, 20% còn lại tương đương với 6,36 triệu lao động nông thôn thiếu việc làm Theo điều tra của Bộ Lao động Thương binh và xã hội năm 2010, khu vực nông thôn có tới 50,3%

là lao động nữ, tương đương với khoảng 16 triệu người Hàng năm nước ta có khoảng 1,1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, trong những năm tới, số lao động tăng thêm là 5,5 triệu người và trên 2,5 triệu lao động mất việc làm

do đất bị thu hồi, cần có biện pháp giải quyết việc làm cho 14,37 triệu lao động trong những năm tới Vì vậy, sức ép về giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt cho lao động nữ luôn ở mức cao Nhưng giải quyết bài toán khó về việc làm cho lực lượng lao động này không hề đơn giản bởi vẫn còn đang tồn tại nhiều bất cập và hướng đi chưa đúng

Ở Việt Nam ta hiện nay, mặc dù có những định kiến giới vẫn còn tồn tại, nhưng vị thế, vai trò của người phụ nữ nói chung trong gia đình và trong

xã hội được nâng lên so với trước Nhờ có sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, phụ nữ Việt Nam đã có nhiều cơ hội và điều kiện phát triển, làm tốt vai trò đảm việc nhà, giỏi việc nước Mặc dù, vị thế và vai trò của người phụ nữ

đã được cải thiện rất nhiều nhưng nói chung, phụ nữ vẫn bị ảnh hưởng bởi một số định kiến, thường có học vấn thấp và rất khó khăn để tìm việc làm phù hợp, đặc biệt trong điều kiện đất nước ta đang từng bước công nghiệp hóa – hiện

Trang 13

đại hóa như hiện nay Tình trạng lao động nữ ở nông thôn không có việc làm

ổn định đang tạo ra xu hướng di cư ngày càng tăng, tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp cũng kéo theo vấn đề thu nhập thấp và đời sống lao động nữ gặp càng nhiều khó khăn

Trấn Yên một huyện thuộc tỉnh miền núi Yên Bái, là địa bàn sinh sống của 6 dân tộc, nơi có phong tục tập quán của người dân còn ảnh hưởng nhiều đến việc cho con gái đi học, độ tuổi kết hôn sớm, lao động nữ thiếu kỹ năng

về chuyên môn để làm việc trong các khu công nghiệp tập trung, khu vực hành chính công,… Việc tìm kiếm một công việc cho thu nhập ổn định ngày càng trở nên khó khăn hơn Có một số nghề phụ phù hợp với lao động nữ nhưng phát triển chưa hợp lý, chủ yếu theo hướng tự phát

Khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái gồm 4 xã: Việt Thành, Đào Thịnh, Báo Đáp, Tân Đồng, cuộc sống của người dân còn nhiều thiếu thốn, vất vả, đặc biệt với lao động nữ, nông dân thiếu vốn để sản xuất và nhiều hộ có vốn nhưng sử dụng vốn chưa hiệu quả nên không tự tạo được việc làm cho bản thân và cho gia đình, một phần lớn thời gian lao động dành cho gia đình là thời gian lao động không tạo ra thu nhập, đời sống của lao động nữ còn gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn

Vấn đề đặt ra là thực trạng về việc làm của lao động nữ ra sao? Thu nhập và đời sống của lao động nữ như thế nào? Và làm thế nào để giải quyết việc làm để nâng cao thu nhập và đời sống cho lao động nữ nông thôn? Đây là vấn đề bức bách cần được tháo gỡ để góp phần nâng cao đời sống của khu vực dân cư nói chung và phụ nữ nông thôn miền núi huyện Trấn Yên nói

riêng Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, em xin chọn đề tài “Một số giải

pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” làm

luận văn tốt nghiệp

Trang 14

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ tại 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về giải quyết việc làm, thu nhập

và đời sống của lao động nữ

- Đánh giá thực trạng việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ 4

xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là việc làm, thu nhập và đời sống của lao động

nữ tại 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Đề tài được tiến hành tại 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái Gồm các xã: Việt Thành, Đào Thịnh, Báo Đáp, Tân Đồng

- Thời gian: Các số liệu nghiên cứu được thu thập trong thời gian từ năm 2009- 2011 và số liệu điều tra năm 2011

4 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động nữ

Trang 15

- Nghiên cứu về lao động việc làm, thu nhập và đời sống của lao động

nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

- Những thuận lợi và khó khăn của việc làm, thu nhập và đời sống và

đề xuất những giải pháp nhằm góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của lao động nữ 4 xã khu vực phía Bắc huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM, THU NHẬP

VÀ ĐỜI SỐNG LAO ĐỘNG NỮ NÔNG THÔN 1.1 Cơ sở lý luận về việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nữ nông thôn

1.1.1 Một số vấn đề về lao động, việc làm, thu nhập và đời sống của lao động nông thôn

1.1.1.1 Một số vấn đề về lao động, nguồn nhân lực, lao động nông thôn

* Về lao động

Theo nhà kinh tế học người Anh William Petty thì “lao động là cha, còn đất đai là mẹ của của cải” [17]

Theo C Mác: “Lao động là hoạt động có mục đích để sáng tạo ra giá trị

sử dụng và lao động là sự kết hợp giữa sức lao động của con người và tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động” C Mác đã nói “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người với tự nhiên, một quá trình trong

đó bằng sức lao động của chính mình, con người làm trung gian để điều tiết

và kiểm tra sự trao đổi giữa họ với thiên nhiên” [17]

Theo giáo trình của tổ chức lao động khoa học quốc tế: “Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của mình, là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển của xã hội loại người”

Theo bộ luật lao động: “Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần của xã hội” [15]

Với những khái niệm như trên, theo chúng tôi lao động được hiểu là hoạt động có mục đích và quan trọng nhất của con người để tạo ra của cải vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống của bản thân, gia đình

và xã hội

* Nguồn lao động:

Trang 17

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn lao động là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực

tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng [16]

Theo giáo trình Kinh tế Lao động của Trường đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội: “Nguồn lao động là toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động trừ đi những người trong độ tuổi này hoàn toàn mất khả năng lao động” [17]

Nguồn lao động được đánh giá qua khái niệm lực lượng lao động Theo quan niệm của tổ chức lao động thế giới ILO: lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp [9]

Nguồn lao động có thể hiểu là: toàn bộ những người có khả năng lao động tích cực và tiềm tàng, gồm lực lượng lao động và những người trong độ tuổi lao động nhưng: đang đi học, đang làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc

và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước

tuổi theo quy định của bộ luật lao động) [8]

Nguồn lao động có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển kinh tế quốc dân cũng như đối với sự phát triển sản xuất nông nghiệp Bởi vì lao động tạo ra của cải Học thuyết giá trị của Adam Smith cho rằng lao động là nguồn gốc giá trị của hàng hóa Tức là giá trị của hàng hóa do lao động trừu tượng kết tinh lại trong hàng hóa, do đó trong quá trình trao đổi, cái quyết định giá trị,

và theo đó, là giá cả của một loại hàng hóa nào đó là lao động của người sản xuất bỏ trực tiếp vào hàng hóa [9]

* Lao động nông thôn

Là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn [4]

Trang 18

Nguồn lao động nông thôn: Là một bộ phận cấu thành của nguồn lao

động xã hội, bao gồm những người trong độ tuổi có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn tham gia làm việc trong khu vực nông thôn Nguồn lao động nông thôn với quan điểm được coi là một tiềm

lực kinh tế thể hiện ở hai mặt: số lượng và chất lượng

Số lượng nguồn lao động: Bộ Luật lao động năm 1994 có ghi: Số lượng lao động là toàn bộ những người nằm trong độ tuổi quy định, có khả năng lao động Số lượng nguồn lao động phải có số ngày công lao động gần số giờ lao động thực tế, số giờ làm việc hữu ích của người lao động Số lượng này phụ thuộc vào hai yếu tố: Sự tăng giảm tự nhiên của dân số và thay đổi cơ cấu lao động trong các ngành (tăng giảm cơ học do di cư từ nông thôn ra thành thị hoặc ngược lại từ thành thị về nông thôn)

Xu hướng chung của sự thay đổi về số lượng nguồn lao động trong nông nghiệp là giảm liên tục cả về số tuyệt đối cũng như số tương đối, đồng thời không ngừng tăng năng suất lao động với tốc độ cao và ổn định và tăng cường

cơ sở vật chất kỹ thuật cho lao động nông nghiệp

Chất lượng nguồn lao động là khả năng về sức sản xuất của thể lực trí

lực, trình độ chuyên môn tay nghề của người lao động Khả năng này được phản ánh và biểu hiện ở trình độ văn hóa, trình độ khoa học kỹ thuật, năng suất lao động, kinh nghiệm sản xuất, tình trạng sức khoẻ, cũng như hành vi và giá trị của người lao động

Chất lượng của nguồn lao động nông thôn biến đổi theo xu hướng không ngừng tăng lên do sự phát triển của KHKT nên năng suất lao động ngày một nâng cao, mặt khác nền kinh tế phát triển tạo điều kiện chăm sóc tốt hơn sức khoẻ con người, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động

Chất lượng của nguồn lao động sẽ được nâng cao thông qua sự đầu tư và các chính sách phát triển của nhà nước vào các lĩnh vực y tế - văn hoá - giáo

Trang 19

dục [4]

* Lao động nữ nông thôn

Lao động nữ nông thôn là những lao động nữ có khả năng tham gia lao động ở khu vực nông thôn Nguồn lao động nữ theo nghĩa hẹp và có thể lượng hoá được trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta được quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động Việt Nam 1994, đủ 15 đến hết

55 tuổi Tuy nhiên, thực tế ở nông thôn, cận dưới của tuổi lao động thường tính

ở mức thấp hơn, từ 13 tuổi Và nguồn LĐN nông thôn còn bao gồm cả những người LĐN ngoài tuổi lao động nhưng vẫn tham gia lao động [16]

1.1.1.2 Một số vấn đề về việc làm, giải quyết việc làm, thất nghiệp

(1) Việc làm

Việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và nhân khẩu, tuỳ cách tiếp cận mà người ta có những khái niệm khác nhau về việc làm

Khái niệm việc làm trong “Từ điển Kinh tế khoa học xã hội” xuất bản tại Paris năm 1996 như sau: “Việc làm là công việc mà người lao động tiến hành nhằm có thu nhập bằng tiền hoặc bằng hiện vật”

Ở Việt Nam, theo điều 13, chương 2 của bộ Luật lao động đã khẳng định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”

Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:

- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật

- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhập cho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật) cho công việc đó Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở, các công việc nội trợ, chăm sóc con cái đều được coi là việc làm

Trang 20

Từ những khái niệm trên có thể hiểu việc làm là tác động qua lại giữa hoạt động của con người với điều kiện vật chất kỹ thuật và môi trường tự nhiên tạo ra giá trị vật chất, tinh thần cho bản thân và xã hội, đồng thời những hoạt động lao động phải trong khuôn khổ pháp luật cho phép

Phân loại việc làm ở nông thôn: Căn cứ vào thời gian thực hiện công

việc, việc làm được phân chia thành:

- Việc làm thường xuyên (VLTX) và việc làm không thường xuyên Theo điều tra của các nhà xã hội học, ở nông thôn nước ta, người có việc làm thường xuyên là người có số ngày lao động tổng cộng trong năm là trên 6 tháng/năm hoặc có ngày lao động trên 183 ngày/năm Người không có việc làm thường xuyên là người có số ngày lao động tổng cộng trong năm là dưới 6 tháng/năm hoặc có ngày lao động dưới 183 ngày/năm

- Việc làm đủ thời gian và việc làm không đủ thời gian: Căn cứ vào số giờ thực hiện làm việc trong một tuần Việc làm đủ thời gian là có việc từ 40h/ tuần, hoặc thời gian làm việc dưới 40h nhưng không có nhu cầu làm thêm

- Việc làm chính và việc làm phụ: Việc làm chính là việc làm có thu nhập chủ yếu hoặc thời gian làm việc cho nó là chủ yếu Việc làm phụ là việc làm thời gian lao động hoặc thu nhập cho nó ít, phụ thêm

* Yếu tố ảnh hưởng đến việc làm

- Áp lực của việc tăng cầu việc làm

Việc tăng cầu việc làm gây ra một áp lực đối với khả năng giải quyết việc làm ở mỗi nước Cầu việc làm tăng nhanh mà cung việc làm không tăng hoặc tăng chậm, gây tình trạng thất nghiệp trầm trọng

- Chất lượng lao động và khả năng giải quyết việc làm

Chất lượng lao động gồm các yếu tố: Sức khoẻ, trình độ, phẩm chất nhưng vấn đề được nhắc đến nhiều nhất khi đề cập đến chất lượng lao động là trình độ của người lao động

Trang 21

Khoa học công nghệ phát triển đòi hỏi đội ngũ lao động phải có trình độ nhất định để có thể đáp ứng được những đòi hỏi cơ bản trong việc sử dụng hay ứng dụng thành tựu của nó Nếu như trước kia trình độ người lao động rất hạn chế, lao động giản đơn nhiều thì nay trình độ người lao động được nâng lên rõ rệt, số lượng lao động giản đơn không ngừng giảm đi Người lao động trong thời đại ngày nay hầu hết đều phải có trình độ qua đào tạo thì mới có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc

Qua các cuộc điều tra cho thấy người lao động có trình độ càng cao thì càng có cơ hội tìm được việc làm với mức lương tương xứng Còn những người thất nghiệp, thiếu việc làm chủ yếu là những người có trình độ thấp không đáp ứng được yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn

kỹ thuật cao Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm chắc chắn giảm nếu đội ngũ lao động có trình độ tương đối, có thể đáp ứng được yêu cầu các công việc hiện đại

Chất lượng lao động và khả năng giải quyết việc làm có mối quan hệ tỷ

lệ thuận Chất lượng lao động Việt Nam tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng so với khu vực và thế giới thì còn nhiều yếu kém Đây là yếu tố không thuận lợi cho công tác giải quyết việc làm, đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ nâng cao chất lượng lao động phù hợp với điều kiện hiện nay [16]

(2) Giải quyết việc làm

Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội làm việc Bao gồm tổng thể các biện pháp kinh tế, tổ chức của Nhà nước, các tổ chức kinh tế

và của chính người lao động, tác động đến các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm cải biến môi trường pháp lý, tạo ra các điều kiện vật chất, nâng cao trình độ người lao động và liên kết các yếu tố đó để tạo ra việc làm mới, thu hút người lao động vào các hoạt động đó

Trang 22

Giải quyết việc làm có thể được hiểu theo 2 nghĩa: Nghĩa rộng là những vấn đề phát triển nguồn nhân lực mang ý nghĩa kinh tế (từ giáo dục đào tạo, phổ cập nghề đến tự do lao động, hưởng thụ thành quả, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân và xã hội) và nghĩa hẹp là tạo việc làm cho những người lao động thất nghiệp, thiếu việc làm hoặc chưa có việc làm nhằm nâng cao thu nhập, giảm thất nghiệp, xoá đói, giảm nghèo, nó mang ý nghĩa xã hội cao [20]

* Các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn

- Nguồn lực và lợi thế trong phát triển kinh tế địa phương Những lợi thế của địa phương là điều kiện cho địa phương trong phát triển kinh tế nông thôn,

mở ra những hướng phát triển sản xuất, tạo việc làm, giải quyết nhu cầu việc làm cho lao động nông thôn Trên cơ sở lợi thế đó, địa phương đề ra những chính sách thu hút đầu tư, tạo việc làm cho nhiều lao động

- Quy mô phát triển, cơ cấu sản xuất và khả năng phát triển kinh tế

Sự phát triển kinh tế của địa phương sẽ thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng, qua

đó thúc đẩy sản xuất phát triển, thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhờ

đó tạo nhiều việc làm cho xã hội Quy mô phát triển càng lớn thì càng tạo ra nhiều việc làm cho xã hội

Cơ cấu sản xuất phản ánh mức độ khai thác nguồn lực, khả năng phát triển kinh tế dựa trên tiềm năng về nguồn lực tự nhiên Do đó, cơ cấu sản xuất

Trang 23

và khả năng phát triển kinh tế của địa phương có vị thế đặc biệt quan trọng đối với vấn đề phát triển sản xuất, thu hút lao động trong các ngành kinh tế

Chính sách việc làm Có thể phân loại như sau:

Chính sách chung ở tầm vĩ mô: Chính sách tín dụng, chính sách đất đai, chính sách thuế

Chính sách khuyến khích phát triển các lĩnh vực ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động như: chính sách phát triển doanh nghiệp (DN), chính sách di dân, chính sách phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn, chính sách khôi phục và phát triển các nghề truyền thống

Chính sách việc làm cho các đối tượng đặc biệt: người tàn tật, đối tượng

tệ nạn xã hội

Chính sách việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sách xã hội và các chính sách kinh tế Thực hiện tốt chính sách việc làm sẽ giảm được hiện tượng thất nghiệp, đảm bảo được an ninh xã hội

Quan hệ kinh tế hợp tác

Trong công tác tạo việc làm cho lao động dư thừa thì quan hệ kinh tế hợp tác được đánh giá là một yếu tố quan trọng hàng đầu Quan hệ kinh tế hợp tác diễn ra giữa chính quyền địa phương với các công ty trong và ngoài nước Thông qua các công ty này, lao động nữ có thể tìm được việc làm từ các hoạt động phi nông nghiệp như: công nhân trong các cụm công nghiệp, hay giúp

Trang 24

việc gia đình Thời gian gần đây, xuất khẩu lao động đang là hướng giải quyết

có hiệu quả cho lao động dư thừa của hầu hết các vùng nông thôn [14]

(3) Thất nghiệp

Theo quan niệm của Tổ Chức Lao Động Quốc Tế (ILO), thất nghiệp là người không có việc làm, có khả năng làm việc và có nhu cầu tìm kiếm việc làm Những người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có sức lao động chưa có việc làm, đang có nhu cầu làm việc nhưng chưa tìm được việc làm.[21]

Có việc Lực lượng

Trong độ tuổi

lao động Không có khả năng lao

động (ốm đau, bệnh tật, …) Dân số

Ngoài độ tuổi

lao động

Hình 1.1 Các thành phần của lực lượng lao động

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng quy định: “Người thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có nhu cầu tìm kiếm việc làm nhưng không có việc làm”.[10]

Nghiên cứu khái niệm thất nghiệp có thể tìm hiểu thêm một số khái niệm liên quan như bán thất nghiệp (hay còn gọi là thất nghiệp bán phần), có bản chất giống như thiếu việc làm, theo định nghĩa của ILO, thất nghiệp bán phần

là thành phần lao động có việc làm khoảng 30-35h/ tuần và đang có nhu cầu làm thêm giờ

Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người thất nghiệp

so với tổng số người trong lực lượng lao động Tỷ lệ thất nghiệp là một chỉ tiêu phản ánh khái quát tình trạng thất nghiệp của một quốc gia

Trang 25

Phân loại thất nghiệp ở nông thôn

Căn cứ vào thời gian mà thất nghiệp được phân chia thành:

- Thất nghiệp dài hạn là thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc tính từ thời điểm điều tra trở về trước

- Thất nghiệp ngắn hạn là thất nghiệp dưới từ 12 tháng trở xuống tính từ ngày đăng ký thất nghiệp hoặc tính từ thời điểm điều tra trở về trước

Nguyên nhân của thất nghiệp Nghiên cứu quan hệ cung cầu trong thị

trường lao động chúng ta nhận thấy rằng: cung lao động liên tục tăng do dân số

ở các nước tăng không ngừng

Trong khi đó nền kinh tế thường phát triển không liên tục, có tính chu

kỳ, do đó lúc thì thu hút, lúc thì giãn thải người lao động Sự thu hút và giãn thải đó dẫn đến cầu lao động lúc tăng lúc giảm Chừng nào cầu lao động còn nằm dưới mức cung thì chừng đó còn dư thừa lao động Đây chính là nguyên nhân cơ bản nhất và phổ biến nhất dẫn đến tình trạng thất nghiệp

Thực tế cho thấy còn có rất nhiều yếu tố khác cũng dẫn đến tình trạng thất nghiệp, trong đó phải kể đến trình độ người lao động, nhu cầu thị trường, mâu thuẫn trong vấn đề tiền lương [9]

1.1.1.3 Thu nhập lao động nông thôn

* Thu nhập

Quan điểm về thu nhập của một số nhà nghiên cứu của Việt Nam rất đa dạng và phong phú Có người lấy giá trị sản phẩm hàng hóa để đánh giá thu nhập Đứng trên góc độ khác có người lấy chỉ tiêu tổng giá trị trên một đơn vị diện tích để phân tích đánh giá thu nhập

“Thu nhập của hộ là tổng thu ròng từ các hoạt động khác nhau (trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, chế biến nông sản, phi nông nghiệp, tiền lương, trợ cấp và thu nhập khác) mà hộ thu được trong một thời kỳ (thường tính là một năm)” [17]

Trang 26

* Cách tính thu nhập và chỉ tiêu thể hiện

Thu nhập = Tổng thu - Chi phí

Tổng doanh thu của trong một năm là toàn bộ giá trị bằng tiền nhận được từ các nguồn thu (chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, làm thêm, ngành nghề thủ công, dịch vụ, tiền lương, trợ cấp và các nguồn thu khác)

Tổng chi là toàn bộ chi phí bằng tiền bỏ ra trong một năm bao gồm chi cho sản xuất và chi cho tiêu dùng

+ Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất ra sản phẩm ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp, ngành nghề phi nông nghiệp và các khoản chi sản xuất khác

+ Chi tiêu dùng là các khoản chi phục vụ cho đời sống hàng ngày của hộ như chi ăn uống, đi lại, quần áo, học tập, thuốc men, hiếu hỷ và các khoản chi tiêu dùng khác

Tổng thu - Chi phí cho sản xuất = Thu nhập ròng

Tổng thu - toàn bộ chi phí (chi cho sản xuất và tiêu dùng) = Tiết kiệm Thu nhập của các hộ nông dân nói chung và của LĐN nói riêng có thể tính từ nhiều nguồn Nói chung: thu nhập bình quân đầu người được cấu thành bởi các thành tố sau:

(1).Thu nhập sản xuất nông lâm nghiệp

- Thu nhập từ hoạt động trồng trọt: giá trị sản lượng cây trồng - chi phí sản xuất

- Thu nhập từ ngành chăn nuôi: Trong thu nhập từ chăn nuôi cần chú ý đến những sản phẩm dở dang trong năm đó

- Thu nhập chế biến sản phẩm tích trữ

Thực tế, chúng ta quen đề cập đến thu nhập như là tổng nguồn thu từ hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp (giá trị sản xuất) Phần chênh lệch (thu nhập - chi tiêu) là phần tích luỹ

(2).Thu nhập từ các nghề sản xuất kinh doanh tự làm phi nông nghiệp: Thu

Trang 27

nhập = (Doanh thu từ bán sản phẩm + Giá trị sản phẩm tự sản xuất, tự tiêu dùng) – Chi phí

(3) Thu nhập từ lao động làm công: Thu nhập bằng tiền lương, tiền công bằng tiền mặt, hiện vật, tiền thưởng, tiền và giá trị hiện vật của bữa ăn trưa, tiền chia thêm nhân ngày lễ, tết, tiền bồi dưỡng độc hại, tiền làm ca ba, tiền làm thêm giờ…

(4) Thu từ hưu trí, trợ cấp…

(5) Thu nhập khác: như cho thuê nhà, thiết bị máy móc (nếu không tính vào sản xuất nông lâm nghiệp), thu từ cho thuê đồ dùng lâu bền, đồ dùng sinh hoạt, lãi tiền gửi tiết kiệm, cổ phần cho vay…

Cách tính này rất dễ bỏ sót các khoản thu nhập khác như sản phẩm sản xuất tự tiêu dùng quy mô nhỏ, không nhằm mục đích kinh doanh [16]

Vấn đề môi trường như diện tích đất bị ô nhiễm, ô nhiễm nguồn nước, rác thải…[16]

Yếu tố tác động Không gian cư trú, nghề nghiệp, học vấn, tuổi tác, giới tính là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống Các yếu tố như vốn, nhà cửa tiện nghi, thu nhập có mối quan hệ hai chiều với đời sống Sơ đồ dưới đây

Trang 28

tóm tắt một số yếu tố ảnh hưởng đến đời sống

Hình 1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến đời sống 1.1.2 Sự cần thiết giải quyết việc làm cho lao động nữ

Hiện nay, Việt Nam ta đang bước vào quá trình hội nhập với nền kinh

tế thế giới, đồng thời đất nước đang bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn nên đã đặt ra cho lao động nữ trước thách thức về việc làm, muốn có việc làm với chất lượng cao nhằm ổn định cuộc sống của bản thân và gia đình cần phải đáp ứng được đòi hỏi của thời đại ngày nay Do đó, có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, có thu nhập mới tạo ra cuộc sống ổn định, tạo điều kiện cho lao động nữ vươn lên bình đẳng với nam giới trong gia đình

và ngoài xã hội Lao động nữ sẽ phát huy vai trò của mình trong giáo dục và

nuôi dạy con cái, hạn chế các tiêu cực xã hội, góp phần bình ổn xã hội

Giải quyết việc làm cho lao động nữ cũng có nghĩa là tạo cho lao động

nữ được tiếp cận với các cơ hội đào tạo và phát triển, nâng cao trình độ nhận thức, giảm mức sinh, khắc phục dần đi đến xóa bỏ định kiến về giới Điều này không chỉ có lợi cho bản thân người lao động nữ mà còn có lợi cho gia đình,

Không

gian cư

trú

Nghề nghiệp

Học vấn

Tuổi tác

Giới tính

Nhà cửa tiện nghi

Phương tiện văn hoá

Thu nhập

Trang 29

cộng đồng và toàn xã hội Vì vậy, để tạo điều kiện tiền đề giúp lao động nữ có việc làm phù hợp, Nhà nước cần có chính sách khuyến khích các chủ doanh nghiệp tuyển chọn lao động nữ Tuyên truyền, thuyết phục cho người lao động và người sử dụng lao động khắc phục dần đi đến xóa bỏ định kiến về giới, lồng ghép quan điểm bình đẳng giới vào các quá trình tạo việc làm Điều

đó có nghĩa là tạo cơ hội bình đẳng cho nam và nữ cùng được tiếp cận với các

cơ hội đào tạo, trả công lao động, các cơ hội việc làm Mặt khác trợ giúp cho người lao động vay vốn tự tạo việc làm trong các thành phần kinh tế, đặc biệt

là khu vực ngoài quốc doanh

Mối quan hệ giữa việc làm và chất lượng cuộc sống của con người: Phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của mọi quá trình phát triển Mà phát triển của một quốc gia hay địa phương phải quan tâm đến hai nhân tố: sự phát triển tiềm lực chung như công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, cơ sở hạ tầng, và sự phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực có liên quan trực tiếp với chương trình nâng cao chất lượng cuộc sống Chất lượng cuộc sống có thể hiểu là mức độ phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn một số nhu cầu của con người Chất lượng cuộc sống càng cao, mức

độ phúc lợi xã hội và sự thỏa mãn nhu cầu của con người càng cao và càng thích ứng Với tư cách là con người, lao động nữ cần có công việc để tự khẳng định mình có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cân bằng cuộc sống

Có việc làm sẽ có thu nhập chính đáng để trang trải cuộc sống trước hết cho bản thân mình, cho con, cho các thành viên trong gia đình, từ đó giúp lao động nữ có lòng tin đối với xã hội và cũng chính là điều kiện thực hiện được quyền cơ bản nhất trong Hiến pháp, đó là quyền được làm việc Do đó, để khắc phục và xóa bỏ dần những khoảng cách giới trong các lĩnh vực cần nâng cao chất lượng cuộc sống cho lao động nữ, muốn vậy cần tạo cho lao động nữ

có việc làm phù hợp với năng lực, trình độ để có thu nhập chính đáng, làm

Trang 30

cho lao động nữ yên tâm về tư tưởng và tránh khỏi thất nghiệp vì thất nghiệp

là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội

Giải quyết việc làm cho lao động nữ là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia, nó cho phép không chỉ giải quyết các vấn đề kinh tế mà cả các vấn

đề xã hội Có việc làm sẽ xóa đói giảm nghèo, giảm các tệ nạn xã hội Tạo việc làm cho lao động nữ ở Việt Nam - một đất nước đang phát triển, đất chật người đông, đa số lao động nữ chưa qua đào tạo và chủ yếu là lao động nông nghiệp trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước là một việc rất khó khăn nhưng thật sự rất cần thiết và cấp bách, nhất là lao động nữ thường

bị coi là đối tượng “yếu thế” vì chức năng kép vừa sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần vừa phải tái sản xuất dân số Do đó, tạo cho lao động nữ có việc làm và việc làm phù hợp với trình độ, có thu nhập cao không chỉ là phương tiện sống cho họ mà còn là yếu tố quyết định để lao động nữ khẳng định chính mình với gia đình và xã hội Chính vì vậy, chương trình hành động quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ đều đặt “tạo việc làm cho lao động nữ” là mục tiêu số một Hơn nữa, khoảng cách giới vẫn còn lớn, chỉ có thể thu hẹp khoảng cách này bằng cách giải quyết việc làm cho lao động nữ

1.1.3 Đặc điểm của lao động nữ nông thôn

1.1.3.1 Giới và giới tính

Nam giới và nữ giới là hai nửa hoàn chỉnh của loài người đảm bảo cho việc tái sản xuất con người và tái sản xuất xã hội Sự phân biệt về giới quy định thiên chức của họ trong gia đình và trong cộng đồng Do đó đảm nhận những khả năng xã hội khác nhau Vai trò của giới khác với vai trò sinh học của nữ giới và nam giới

Vai trò của giới được hình thành mang tính xã hội Kết quả là nữ giới và nam giới không có cùng nguồn lực, không có cùng một nhu cầu và mối quan tâm giống nhau Do đó họ cũng khác nhau trong quyền đưa ra quyết định

Trang 31

Nam giới được coi là phái mạnh, được coi là trụ cột của sức lực, khả năng bảo vệ và che chở Họ có cuộc sống tình cảm cứng rắn hơn, mạnh bạo hơn và năng động hơn trong công việc Chức năng của họ là người sản xuất đồng thời là người quản lí, ít nhất là người quản lí gia đình, đặc trưng về giới cho phép họ có khả năng dồn tâm lực, trí lực cho mọi công việc và mọi thời gian như nhau

Nữ giới được coi là phái yếu, phái đẹp Họ không mạnh mẽ bằng nam giới cả về tình cảm và sức khoẻ cũng như sự mạnh bạo trong công việc nhưng

họ lại là thành viên quan trọng nhất tạo nên sự êm ấm hoà thuận trong gia đình

Họ là người thiên sống về tình cảm, nhạy cảm và nhẹ dạ cả tin Do vậy, phụ nữ chiếm tỉ lệ cao trong trong số người ra khỏi biên chế vì sức khoẻ, thiếu năng lực Tất cả gánh nặng sinh con, nuôi con, công việc gia đình đã không được trả lương lại không được đánh giá đúng mức, họ thường chịu nhiều thiệt thòi

Do sự khác biệt về giới tính nên trong thực tiễn hoạt động sản xuất và trong xã hội, vai trò của nam và nữ được biểu hiện và đánh giá khác nhau

1.1.3.2 Đặc điểm của lao động nữ và thị trường lao động nữ

* Những đặc điểm của lao động nữ

Trước hết, về đặc điểm thiên chức làm mẹ: Do bẩm sinh, phụ nữ có

thiên chức mang thai và sinh con, nuôi con bằng dòng sữa của mình Thoáng nghĩ tưởng chừng đơn giản, vì từ xưa tới nay phụ nữ nào mà chẳng mang thai

và sinh con, nuôi con, song trên thực tế lại nảy sinh một loạt vấn đề phức tạp làm cho việc sử dụng lao động phải cân nhắc, lựa chọn và nếu không quán triệt quan điểm bình đẳng giới thì hầu hết các chủ sử dụng lao động chỉ muốn tuyển chọn lao động nam Bởi lẽ, trong suốt thời kỳ mang thai và nuôi con nhỏ lao động nữ được phép nghỉ để đi khám thai và nghỉ sinh con từ 4 đến 6 tháng tùy thuộc vào điều kiện lao động, tính chất công việc nặng nhọc, độc hại và nơi xa xôi hẻo lánh Ngoài ra, trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng

Trang 32

tuổi được nghỉ sớm mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc mà vẫn hưởng

đủ lương nhưng các chủ sử dụng lao động vẫn phải trả bảo hiểm xã hội đầy

đủ cho lao động nữ khi họ không làm việc vì thai sản… Do đó, xét về hiệu quả kinh tế trước mắt giữa chi phí bỏ ra với kết quả mang lại đã khiến các chủ

đang tìm kiếm lao động, kể cả nữ chủ cũng không thích thuê lao động nữ

Hai là, về đặc điểm sức khỏe sinh lý: phụ nữ thường thấp bé, nhẹ cân,

chân yếu tay mềm lại phải đảm nhận thiên chức làm mẹ nên không thích hợp với công việc nặng nhọc, độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe như những công việc trên cao; những nghề làm việc dưới nước; những công việc tiếp xúc với hóa chất có ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ và của thai nhi Bên cạnh

đó phụ nữ thường dịu dàng, nhẹ nhàng, rất khéo tay, cần cù chịu khó nên rất thích hợp với các nghề giáo dục, dịch vụ, phục vụ, thêu ren, thủ công truyền thống làm bằng tay

Ba là, về những đặc điểm xã hội: So với nam giới, điều kiện sinh hoạt

ăn, ở của lao động nữ thường phức tạp hơn trong khi có chỗ ở ổn định lại là một điều kiện để phụ nữ được tiếp nhận vào làm việc Cũng do những định kiến về giới còn tồn tại mà lao động nữ thường có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, làng nghề thấp hơn lao động nam, thêm vào đó là tính dụt dè, kém tự tin vào chính bản thân mình cũng là những trở ngại khó tìm kiếm việc làm trên thị trường lao động

* Thị trường LĐN

Thị trường LĐN tập trung chủ yếu ở lĩnh vực có CMKT thấp, có thu nhập thấp và việc làm không ổn định Trình độ CMKT của LĐN so với nam còn cách biệt lớn dẫn đến tính cạnh tranh của LĐN trên thị trường lao động không cao

Học vấn thấp, chênh lệch về trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở bậc học ngày càng cao Nữ giới tại các vùng quê hiện có trình độ học

Trang 33

vấn còn thấp, thậm chí nhiều người hiện vẫn còn mù chữ

Nguyên nhân là bởi tâm lý của nhiều ông bố bà mẹ tại các miền quê vẫn chưa thay đổi Con gái chỉ cần biết đọc, biết viết, học nhiều cũng chẳng làm được gì Chính cái tâm lý bảo thủ và thiếu hiểu biết này của một bộ phận những người dân ở nông thôn đang đẩy các em nữ vào một tương lai u tối, không có việc làm ổn định Số liệu thống kê của cả nước năm 2009 cho thấy: LĐN nông thôn có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ 42%, trình độ PTTH chiếm 32,5%, trình độ tiểu học 22,2% và còn 3,3% LĐN nông thôn không biết chữ [16]

Trình độ tay nghề của lao động nông thôn hiện ở mức thấp cũng chính

do trình độ văn hoá thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động Sự chênh lệch về cơ hội học tập của trẻ em gái và phụ nữ khu vực nông thôn và dân tộc thiểu số là một thách thức lớn Tỷ lệ bỏ học của trẻ em gái ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số là vấn đề đáng quan tâm Công tác xóa mù chữ cho phụ nữ ở lứa tuổi từ 15 đến dưới 40 hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn Trình độ học vấn của phụ nữ so với nam giới ở bậc học ngày càng cao, càng chênh lệch

Làn sóng di cư ngày một tăng Tại một số vùng nông thôn, không có nghề phụ nên sau mùa vụ làm nông nghiệp, nhiều người trong tình trạng nông nhàn, không có việc làm ổn định, nhiều LĐN ở nông thôn đang tìm cách thoát khỏi cái nghèo bằng cách di cư lên các thành phố lớn hay đi xuất khẩu lao động Điều này đang tạo ra thực trạng khan hiếm lao động tại các vùng quê

Sự di cư tự do của các LĐN này không chỉ gây mất cân bằng tỉ lệ người lao động tại các địa phương mà còn tiềm ẩn nguy cơ lây lan các dịch bệnh cũng như tệ nạn xã hội [1]

LĐN còn tập trung chủ yếu ở lĩnh vực có chuyên môn kỹ thuật thấp, ít ngành nghề, ít chỉ tiêu đào tạo nghề phù hợp với LĐN Hiện nay, trong các

Trang 34

ngành nghề đã có sự chuyển dịch lớn về cơ cấu lao động, nhưng sự chuyển dịch này vẫn còn bất bình đẳng Mặc dù, số lao động trong khu vực nông - lâm - ngư nghiệp có chiều hướng giảm nhưng xét về cơ cấu giới thì số LĐN được giải quyết việc làm mới chỉ chiếm tỷ lệ cao trong khu vực nông - lâm -ngư nghiệp, thủy sản, còn trong khu vực công nghiệp - xây dựng là 36% và khu vực thương mại- dịch vụ chiếm 56,4% Trong khi việc làm cho LĐN đã hiếm thì hầu hết các trường cao đẳng, trung cấp nghề lại chỉ tập trung đào tạo các ngành: Cắt gọt kim loại, hàn, điện công nghiệp, điện lạnh, cơ khí, xây dựng, công nghệ ôtô lại là những nghề không phù hợp với LĐN Một số trường có khoa thiết kế thời trang hay may mặc nữ chiếm đa số nhưng chỉ tiêu tuyển sinh lại ít hơn so với các ngành khác Nhiều bạn nữ cho rằng nghề may, cắt tóc, trang điểm cô dâu, nấu ăn,… là những nghề có thể tự học, không cần đào tạo bài bản vẫn làm được

Hiện LĐN chưa qua đào tạo chuyên môn còn chiếm tỷ lệ cao, số được đào tạo rất thấp, khoảng 10,8%, trong đó có 3,5% trình độ sơ cấp, 5,1% trình

độ trung cấp, 2,3% trình độ cao đẳng, đại học Các nghề được đào tạo nhiều là thêu, đan, dệt, may (36.9%), thủ công (8,7%) Ngành nghề LĐN nông thôn được đào tạo chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân địa phương, ít mang tính quy hoạch lâu dài phục vụ cho kinh tế địa phương, vùng, miền Điều này dẫn đến những thách thức đối với LĐN nông thôn khi phải cạnh tranh trong thị trường lao động trong nước cũng như quốc tế [16]

Năng lực cạnh tranh thấp nên khó khăn trong tìm việc làm, có khoảng cách về giới trong tiền lương Theo điều tra năm 2009 của Tổng cục Thống

kê, thu nhập của phụ nữ chỉ bằng 74,5% so với nam giới trong các làng nghề, lĩnh vực, bằng 81,5 thu nhập của lao động nam ở cùng trình độ chuyên môn

kỹ thuật bậc trung; bằng 90,1% ở cùng trình độ cao đẳng và chỉ bằng 86% ở cùng trình độ từ đại học trở lên Mức lương thấp thường đồng nghĩa với điều

Trang 35

kiện làm việc không tốt, người lao động không được tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH), cũng như có những lợi ích khác như nghỉ ốm và nghỉ lễ được trả lương [1]

Bên cạnh đó, do chức năng thiên bẩm của người phụ nữ: Họ phải lo cho gia đình, chăm sóc chồng con Vì vậy, ngoài việc lao động để mang lại thu nhập, người phụ nữ còn gánh vác việc nội trợ, chăm sóc gia đình nên thời gian lao động không chính thức rất nhiều

Trong điều kiện toàn cầu hoá, nhân tố quan trọng nhất là việc sẵn có lực lượng lao động với những kỹ năng phù hợp bao gồm những kỹ năng về kỹ thuật và ngôn ngữ Điều này cho thấy đầu tư vào giáo dục và đào tạo, cũng như tri thức sẽ là những yếu tố quyết định trong sản xuất Thêm vào đó, cần tăng cường chất lượng lao động, đặc biệt trong những ngành có kỹ năng thấp Ngược lại, điều này yêu cầu mức lương cao hơn, điều kiện làm việc an toàn

hơn và nhiều quyền lợi hơn

1.1.4 Chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển nguồn lao động nữ

Chăm lo quyền lợi của phụ nữ và đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ

là quan điểm xuyên suốt hoạt động của Đảng và Nhà nước ta Luận cương chính trị năm 1930 của Đảng đã khẳng định: “Vấn đề giải phóng phụ nữ và sự nghiệp giải phóng phụ nữ là một trong 10 nhiệm vụ quan trọng của Đảng” Năm 1946, Bản hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà nêu rõ: “ Phụ nữ bình đẳng với nam giới trên mọi phương diện và được hưởng mọi quyền tự do của công dân ” Các hiến pháp ra đời sau này cũng đều khẳng định quyền bình đẳng nam nữ trong mọi lĩnh vực hoạt động ở nước ta

Để phát huy tiềm năng LĐN thông qua đẩy mạnh sự nghiệp giải phóng phụ nữ, góp phần phát triển kinh tế, trong Nghị quyết 04/NQ-TW ra ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ

Trang 36

nữ trong tình hình mới” thể hiện rõ quan điểm và đường lối của Đảng ta :“Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của Cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp lâu dài đến sự phát triển của đất nước Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ phát huy sức mạnh và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, rất quan trọng của Đảng ta trong mọi thời kỳ cách mạng” Nghị quyết chỉ rõ: “Một trong những công tác lớn quan trọng của Đảng ta hiện nay là: “Giải quyết việc làm, chăm lo đời sống, bảo hộ lao động, BHXH, bảo vệ sức khoẻ và quyền lợi phụ nữ”

Chỉ thị 28/CT-TW năm 1993 ghi rõ là phải làm cho toàn Đảng, toàn dân thấy rõ vị trí vai trò của phụ nữ Việt Nam, sự cần thiết đổi mới và tăng cường công tác vận đông phụ nữ, quyết tâm thực hiện tốt Nghị quyết của Bộ Chính trị

Đặc biệt trong chiến lược quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2010-2020 với các mục tiêu được nêu rõ, đó là:

+ Thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực lao động và nghề nghiệp để nâng cao vị thế kinh tế và mức sống của phụ nữ

+ Đảm bảo quyền bình đẳng cho phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục và tạo điều kiện cho phụ nữ tăng cường trình độ chuyên môn trên tất cả các mặt cho phụ nữ

+ Nâng cao vai trò và vị trí, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các

Đảng và Nhà nước ta đã thúc đẩy và theo sát những bước tiến của phụ

nữ Đảng cũng đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ nông thôn, thúc đẩy hơn nữa sự tiến bộ của họ để theo kịp phụ nữ thành thị để họ trở thành nòng cốt thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội trong khu vực nông thôn Việt Nam

Trang 37

Bộ luật Lao động cũng dành hẳn chương X gồm 10 Điều (Điều 109 đến Điều 118) quy định riêng cho LĐN nhằm đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ được bình đẳng về mọi mặt với nam giới Người sử dụng lao động không được phân biệt đối xử trong việc tuyển chọn, nâng bậc lương, xử lý kỷ luật…và đảm bảo những ưu đãi nhất định cho LĐN để họ thực hiện tốt chức năng của mình

Ngoài ra, cũng có các chính sách như Chính sách ưu đãi đối với DN sử dụng nhiều LĐN: Trường hợp gặp khó khăn đặc biệt có quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì được vay vốn với lãi suất thấp từ quỹ quốc gia về việc làm DN được ưu tiên sử dụng một phần trong tổng số vốn đầu tư hàng năm của DN để chi cho việc cải thiện điều kiện làm việc cho LĐN

Một số quy định về ưu đãi đối với LĐN được thể hiện trong luật Lao động Nhà nước đảm bảo quyền làm việc của phụ nữ, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để LĐN có việc làm thường xuyên,

áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày trọn tuần hoặc giao việc tại nhà Được từng bước cải thiện điều kiện lao động, nâng cao trình độ chuyên nghiệp, chăm sóc sức khoẻ, tăng cường phúc lợi về vật chất và tinh thần cho LĐN

Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm mở rộng nhiều loại hình đào tạo thuận lợi cho LĐN để ngoài nghề đang làm, LĐN còn có thêm nghề dự phòng Các quy định cũng quan tâm đến tâm sinh lý phụ nữ, ưu đãi dành cho phụ nữ có

thai, người LĐN trong thời kỳ có kinh và thời kỳ sinh đẻ

1.2 Cơ sở thực tiễn về việc làm, thu nhập, đời sống của lao động nữ nông thôn các nước trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm, thu nhập và nâng cao đời sống cho lao động nữ ở một số nước

Để giải quyết vấn đề LĐN dư thừa trong nông nghiệp ở một số nước trên thế giới, các quốc gia đã có nhiều giải pháp khác nhau tuỳ thuộc vào điều

Trang 38

kiện thực tế Kết quả đạt được của mỗi quốc gia là bài học quý báu đối với vấn đề tạo việc làm cho LĐN ở Việt Nam Việc làm được giải quyết gắn liền với thu nhập ổn định, đời sống có những chuyển biến tích cực hơn

1.2.1.1 Kinh nghiệm từ Trung Quốc

Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, gần 70% dân số vẫn còn ở khu vực nông thôn, hàng năm có trên 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động nên yêu cầu giải quyết việc làm trở nên rất gay gắt

Trước đòi hỏi bức bách của thực tế, ngay từ năm 1978, sau cải cách

mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc thực hiện phương châm "Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành" thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp hương trấn nhằm đẩy mạnh chuyển dịch CCKT và phân công lại lao động ở nông thôn, coi phát triển công nghiệp nông thôn chính là con đường để giải quyết vấn đề việc làm

Hong Tianhui - phó chủ tịch của ACWF - The All-China Women's Federation

- Hiệp hội phụ nữ Trung Hoa Đại lục nói rằng tại Bắc Kinh, phụ nữ chiếm trên 40% lực lượng lao động nông thôn ra thành phố làm việc Hầu hết họ không có trình độ học vấn và thiếu kiến thức cơ bản Phụ nữ còn phải chịu nhiều thiệt thòi, riêng tai nạn lao động do hoả hoạn gây ra năm 2005 là 235.941 trường hợp, làm 2.496 người chết

và gây thiệt hại trực tiếp về kinh tế là 1.36 tỷ NDT, tương đương USD 171 triệu Một

số lượng lớn tai nạn xảy ra tại nhà hoặc tại các xí nghiệp nhỏ, nơi sử dụng chủ yếu là

lao động dịch cư

Trong vòng 12 năm từ 1978-1990, số lượng DN hương trấn của Trung Quốc đã tăng 12 lần lên 18,5 triệu DN, giá trị sản lượng tăng từ 49.307 triệu nhân dân tệ lên 958.110 triệu nhân dân tệ, nhờ đó số lao động nông thôn được giải quyết việc làm đã tăng từ 28,3 triệu lên 92,6 triệu người Đến năm 1991, Trung Quốc có tới 19 triệu xí nghiệp hương trấn, thu hút 96 triệu lao động bằng 13,8% lực lượng lao động ở nông thôn, tạo ra 60% giá trị sản phẩm khu vực nông thôn

Trang 39

Bình quân trong 10 năm 1980-1990, mỗi năm các xí nghiệp hương trấn của Trung Quốc thu hút khoảng 12 triệu lao động dư thừa từ nông nghiệp

Cũng giống như tình hình chung của các quốc gia, phụ nữ Trung Quốc

có thu nhập thấp hơn nam giới 15,6% (năm 1998) và 17,5% (năm 1995) Các nghiên cứu cho thấy cứ giảm 1% LĐN được tuyển dụng thì sẽ tăng 0,851% khoảng cách chênh lệch thu nhập về giới, nếu giữ được mức tuyển dụng ổn định như năm 1998 thì khoảng cách thu nhập về giới giai đoạn 1998-2002 sẽ giảm 4,7% thay vì tăng 8,7%

Phụ nữ Trung Quốc có học vấn sẽ làm việc lâu dài hơn khi họ làm hành chính hay công chức, điều này khuyến khích LĐN mạnh dạn hơn trong việc đầu tư cho GD, phụ nữ Trung Quốc thích đến trường hơn nam giới, trường học là nơi họ được hạnh phúc

Tuy nhiên, với bằng cấp ngang nhau, LĐN ít có cơ hội thăng tiến hơn, khó tìm được việc làm hơn và dễ bị sa thải hơn Năm 2002, 12% nam giới và 22% LĐN bị sa thải Từ tháng 2/1996 đến 11/2001, lực lượng LĐN đã giảm

từ 74,4% xuống 63,1%, lao động nam giảm 93% xuống 86,3% Điều tra tháng 11/2001 cho thấy phụ nữ độ tuổi 40-50 không tìm được việc làm là 17,1%, con số này ở nam giới là 10,3% Sự chênh lệch về khả năng tìm được việc làm mới trong vòng 1 năm của nam và nữ cũng được thể hiện qua các con số 44,3% và 22,1%

Phụ nữ Trung Quốc có thể có quyền quyết định trong chi tiêu của gia đình dù họ có kiếm được nhiều tiền hơn chồng hay không Đó là kết quả của cuộc khảo sát được thực hiện trên 547 phụ nữ ở chín thành phố lớn của Trung Quốc về vai trò của họ trong chi tiêu gia đình do trang web Horizonkey.com thực hiện

Khảo sát này cũng cho thấy ở những gia đình thành thị, nơi phụ nữ có thu nhập cao hơn các vùng khác, 86% các gia đình cho biết phụ nữ nắm

Trang 40

quyền chi tiêu trong nhà, như các bà vợ quyết định mức chi hằng tháng của gia đình, quyết định sẽ tiêu gì và khi nào tiêu Thậm chí, tỉ lệ này lên tới gần 90% ở những gia đình mà các ông chồng có thu nhập cao hơn nhiều so với

vợ Trong khi đó, khoảng 69% các gia đình Trung Quốc có tình trạng các ông chồng kiếm được nhiều tiền hơn vợ

Theo Dương Vũ, nhà phân tích của trang Horizonkey.com, truyền thống của Trung Quốc là phụ nữ có quyền quyết định việc chi tiêu hằng ngày

và mua sắm những món nhỏ Nhưng khảo sát nói trên cũng nhận thấy phụ nữ Trung Quốc bắt đầu thay đổi truyền thống bằng việc tham gia nhiều hơn vào việc mua sắm những khoản lớn

Những kết quả ngoạn mục về phát triển kinh tế và giải quyết việc làm ở Trung Quốc đạt được trong những năm qua đều gắn với bước đi của công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn Thực tiễn này rút ra bài học sau:

- Thứ nhất: Trung Quốc thực hiện chính sách đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh, chuyển dịch CCKT trong nông thôn, phi tập thể hóa trong sản xuất nông nghiệp thông qua hình thức khoán sản phẩm, nhờ đó người nông dân

an tâm trong sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển nông nghiệp và mở mang các hoạt động phi nông nghiệp trong nông thôn

- Thứ hai: nhà nước tăng giá thu mua nông sản một cách hợp lý, giảm giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp, khuyến khích phát triển đa dạng hóa theo hướng sản xuất sản phẩm có giá trị kinh tế hơn, phù hợp với yêu cầu thị trường Nhờ đó, tăng thu nhập và sức mua của nông dân ở nông thôn đã tạo ra cầu sản xuất cho các doanh nghiệp công nghiệp ở nông thôn phát triển thu hút thêm lao động

- Thứ ba: Tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp hóa nông thôn, nhà nước thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất hàng trong nước, hạn chế ưu đãi đối với DN nhà nước, qua đó tạo ra sân chơi bình đẳng hơn cho DN nông thôn

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w