Song để tồn tại trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp như hiện nay đòi hỏi trước hết phải làm tốt công tác sản xuất kinh doanh của mình nhằm trước hết đ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành luận văn tác giả đã nhận được sự quan tâm
và giúp đỡ tận tình về nhiều mặt của các cá nhân, tổ chức và tập thể Cho phép tác giả được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến:
Quý thầy, cô giáo đã giảng dạy và Khoa sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi người đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Ban Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hòa Bình đã tạo điều kiện để luận văn được hoàn thành
Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến các bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã giúp đỡ, khích lệ tác giả trong suốt quá trình thực tập và nghiên cứu
Tác giả xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tác giả Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hà Văn Khánh
Trang 2MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các sơ đồ viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Những lý luận về hiệu quả SXKD trong doanh nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh 3
1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh 5
1.1.3 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp 7
1.1.4 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh 8
1.2 Những chính sách, kinh nghiệm phát triển nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp 10
1.2.1 Trên thế giới 10
1.2.2 Tại Việt nam 17
1.3 Những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu 21
1.3.1 Hiệu quả kinh tế 21
1.3.2 Hiệu quả xã hội 22
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 25
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 25
2.1.2 Mục tiêu cụ thể sau 25
Trang 32.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 25
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 26
2.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Nghiên cứu và phân tích các tài liệu thứ cấp 26
2.4.2 Lựa chọn điểm nghiên cứu 27
2.5 Phương pháp đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 35
2.5.1 Quy định về phương pháp đánh giá 35
2.5.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả SXKD 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
3.1 Đặc điểm chung về Công ty TNHH Một thành viên Lâm nghiệp Hòa Bình 41
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH một thành viên Lâm Nghiệp Hòa Bình 41
3.1.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội trong khu vực 42
3.1.3 Những ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của công ty 44
3.1.4 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty 44
3.2 Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm vừa qua 62
3.2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty trong nhưng năm qua 62
3.2.2 Hiệu quả SXKD của công ty trong 03 năm 2008 - 2010 76
3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty 96
3.3.1 Ảnh hưởng của nhóm nhân tố về chính sách lâm nghiệp 96
3.3.2 Ảnh hưởng các nhân tố của chính sách đầu tư tới hiệu quả SXKD của công ty 98
3.3.3 Ảnh hưởng của chính sách thuế sử dụng đất nông nghiệp 103
Trang 43.3.4 Ảnh hưởng nhóm nhân tố về phong tục, tập quán và ý thức của lao động và người dân địa phương 104
3.4 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty 105
3.4.1Các giải pháp về đất trồng rừng 106 3.4.2 Các giải pháp về tổ chức bộ máy và lực lượng lao động 111 3.4.3 Các giải pháp để vận dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất kinh doanh 115 3.4.4 Nâng cao hiệu quả công tác trồng, chăm sóc và quản lý bảo vệ rừng.119
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
VP, LT, XN Văn phòng, Lâm trường, Xí nghiệp
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Bảng tổng hợp diện tích trồng rừng và sản xuất cây giống 29 2.2 Kết quả lựa chọn điểm nghiên cứu tại công ty 30 3.1 Hiện trạng đất đai, tài nguyên rừng của công ty 45
3.4 Tổng số lao động của công ty tại thời điểm 31/12/2010 50 3.5 Tình hình vốn sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm từ
2008 đến 2010
53 3.6 Các bộ phận sản xuất và chức năng chính 56
3.8 Kết quả SXKD bằng chỉ tiêu giá trị trong 3 năm ( 2008 – 2010) 66 3.9 Tình hình khai thác lâm sản của công ty 70 3.10 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty 71 3.11 Tình hình sản xuất cây giống của công ty 73 3.12 Số hộ gia đình tham gia trồng rừng hàng năm 74 3.13 Hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty 77 3.14 Hiệu quả kinh tế mô hình trồng rừng tập trung trên đất của
3.17 Tổng hợp hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rừng tập trung
trên đất của công ty
Trang 73.22 Tình hình huy động vốn của công ty 97 3.23 Hiện trạng sử dụng đất hiện nay của công ty 104 3.24 Phương án phân bổ quỹ đất cho mục đích sử dụng sau khi rà soát 107
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay nước ta đang trên đường tiến lên xã hội chủ nghĩa, mục tiêu chính của Đảng và nhà nước là đưa nước ta trở thành một nước có nền kinh tế phát triển, ổn định, xã hội công bằng và văn minh Muốn làm được điều đó thì yếu tố trước hết và cần thiết đó là phải có một nền kinh tế phát triển Với chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, trong những năm qua chúng ta đã tạo được những bước phát triển lớn trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đã tạo được những bước phát triển lớn trong quá trình xây dựng kinh tế đất nước Điều đó chứng tỏ các thành phần kinh tế hoạt động rất có hiệu quả Một trong những thành phần kinh tế
đó là loại hình công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH), loại hình công ty này
đã và đang phát triển rất mạnh mẽ cả về số lượng cũng như lĩnh vực sản xuất kinh doanh Hàng năm đóng góp vào ngân sách Nhà nước một lượng tiền rất lớn Song để tồn tại trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các doanh nghiệp như hiện nay đòi hỏi trước hết phải làm tốt công tác sản xuất kinh doanh của mình nhằm trước hết đạt được mục đích kinh doanh là sản xuất kinh doanh phải có lãi và sau đó thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Như chúng ta đã biết kết quả sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp
bị chi phối bởi rất nhiều các yếu tố như: Công tác quản lý lãnh đạo; giá cả hàng hoá mua vào, bán ra; môi trường sản xuất kinh doanh; nhu cầu của thị trường ; công tác hạch toán kế toán v.v
Hiệu quả kinh doanh là vấn đề đặt ra cho mọi doanh nghiệp, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trường Các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp trước khi ra quyết định bỏ vốn đầu tư vào một nghành, một sản phẩm dịch vụ nào
đó ngoài việc trả lời các câu hỏi sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? còn phải biết chi phí bỏ ra và lợi ích thu được Dĩ nhiên rằng, lợi ích thu được phải lớn hơn chi phí bỏ ra mới mong thu được lợi nhuận Hay
Trang 10nói cách khác, các nhà đầu tư, các chủ doanh nghiệp bao giờ cũng mong muốn được lợi nhuận tối đa với một chi phí thấp nhất có thể Sở dĩ nói như vậy thì lợi ích (lợi nhuận) mà nói rộng ra là hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa
là động lực, vừa là tiền đề để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được trong điều kiện cạnh tranh vô cùng khắc nghiệt, mọi rủi ro, bất trắc luôn có thể xảy ra, nguy cơ phá sản luôn rình rập
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp được quan tâm hàng đầu Đối với các doanh nghiệp đây là vấn đề khó khăn chưa được giải quyết triệt để Để giải quyết nó không những phải có kiến thức mà cần có năng lực thực tế, đó là kinh nghiệm sự nhạy bén với thị trường
Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình cũng vừa được thành lập và phát triển dựa trên những tiền đề đã nêu trên nhưng khi đi vào sản xuất thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty còn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu mục tiêu đề ra Vì vậy, lý do để nghiên cứu đề tài này đang
là đang hết sức cần thiết và cấp bách để công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình có những chính sách và hướng đi đúng đắn để tồn tại và phát triển trong cơ chế thị trường
Trước yêu cầu thực tế đó, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa sau đại học trường Đại học lâm nghiệp Việt nam và Ban lãnh đạo Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình Tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài
"Một số giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công
ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình”
Trang 11Chương 1 TỔNG LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những lý luận về hiệu quả SXKD trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đối với tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế, với các cơ chế quản lý khác nhau thì có các nhiệm vụ mục tiêu hoạt động khác nhau Ngay trong mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp cũng có các mục tiêu khác nhau Nhưng có thể nói rằng trong cơ chế thị trường ở nước ta hiện nay, mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, Công ty cổ phần, Công
ty trách nhiệm hữu hạn ) đều có mục tiêu bao trùm lâu dài là tối đa hoá lợi nhuận Để đạt được mục tiêu này mọi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp thích ứng với các biến động của thị trường, phải thực hiện việc xây dựng các kế hoạch kinh doanh, các phương án kinh doanh, phải kế hoạch hoá các hoạt động của doanh nghiệp và đồng thời phải tổ chức thực hiện chúng một cách có hiệu quả Trong quá trình tổ chức xây dựng và thực hiện các hoạt động quản trị trên, các doanh nghiệp phải luôn kiểm tra, đánh giá tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Muốn kiểm tra đánh giá các hoạt động sản xuất kinh doanh chung của toàn doanh nghiệp cũng như từng lĩnh vực, từng bộ phận bên trong doanh nghiệp thì doanh nghiệp không thể không thực hiện việc tính hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh đó Vậy thì hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) là gì ? Để hiểu được phạm trù hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh thì trước tiên chúng ta tìm hiểu xem hiệu quả kinh tế nói chung là gì Từ trước đến nay có rất nhiều tác giả đưa ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế :
Trang 12Theo P Samerelson và W Nordhaus thì : "hiệu quả sản xuất diễn ra khi
xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hoá mà không cắt giảm một loạt sản lượng hàng hoá khác Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó" [19] Thực chất của quan điểm này đã đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội Việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực sản xuất trên đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ làm cho nền kinh tế có hiệu quả cao Có thể nói mức hiệu quả ở đây
mà tác giả đưa ra là cao nhất, là lý tưởng và không thể có mức hiệu quả nào cao hơn nữa
Có một số tác giả lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan
hệ tỷ lệ giữa sự tăng lên của hai đại lượng kết quả và chi phí Các quan điểm này mới chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm chứ không phải của toàn
bộ phần tham gia vào quy trình kinh tế
Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : "Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh" [10] Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh
áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các quá trình kinh tế
Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh
tế Đó là hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị giá trị Theo hai ông thì hai khái niệm này hoàn toàn khác nhau
"Mối quan hệ tỷ lệ giữa sản lượng tính theo đơn vị hiện vật (chiếc, kg ) và lượng các nhân tố đầu vào (giờ lao động, đơn vị thiết bị,nguyên vật liệu ) được gọi là tính hiệu quả có tính chất kỹ thuật hay hiện vật’’, "Mối quan hệ tỷ
lệ giữa chi phí kinh doanh phải chỉ ra trong điều kiện thuận lợi nhất và chi phí kinh doanh thực tế phải chi ra được gọi là tính hiệu quả xét về mặt giá trị’’ và
Trang 13"Để xác định tính hiệu quả về mặt giá trị người ta còn hình thành tỷ lệ giữa sản lượng tính bằng tiền và các nhân tố đầu vào tính bằng tiền" Khái niệm hiệu quả kinh tế tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.[ 10]
Một khái niệm được nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm chú
ý và sử dụng phổ biến đó là : hiệu quả kinh tế của một số hiện tượng (hoặc một quá trình) kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định Đây là khái niệm tương đối đầy
đủ phản ánh được tính hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh
Từ các quan điểm về hiệu quả kinh tế thì có thể đưa ra khái niệm về hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hiệu quả sản xuất kinh doanh) của các doanh nghiệp như sau : hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, tiền vốn và các yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra
1.1.2 Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng được phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, các công thức cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chúng ta cần :
Thứ nhất: Phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực
chất là mối quan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầu vào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan
Trang 14hệ so sánh ở đây có thể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối
Về mặt so sánh tuyệt đối thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là :
H = K - C H : Là hiệu quả sản xuất kinh doanh
Thứ hai
- Phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp : Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu về xã hội nhất định Các mục tiêu xã hội thường là : Giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong phạm vi toàn xã hội hay phạm vi từng khu vực, nâng cao trình độ văn hoá, nâng cao mức sống, đảm bảo vệ sinh môi trường Còn hiệu quả kinh tế xã hội phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu cả
về kinh tế xã hội trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân cũng như trên phạm vi từng vùng, từng khu vực của nền kinh tế
- Hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài : Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào các mục tiêu của doanh nghiệp do đó mà tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở các giai
Trang 15đoạn khác nhau là khác nhau Xét về tính lâu dài thì các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh trong suốt qúa trình hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận và các chỉ tiêu về doanh lợi Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại) thì nó phụ thuộc vào các mục tiêu hiện tại
mà doanh nghiệp đang theo đuổi Trên thực tế để thực hiện mục tiêu bao trùm lâu dài của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận có rất nhiều doanh nghiệp hiện tại lại không đạt mục tiêu là lợi nhuận mà lại thực hiện các mục tiêu nâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều sâu lẫn chiều rộng do do mà các chỉ tiêu hiệu quả ở đây về lợi nhuận là không cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan đến các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp là cao thì chúng ta không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động không có hiệu quả, mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả Như vậy các chỉ tiêu hiệu quả và tính hiệu quả trước mắt có thể là rái với các chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quả lâu dài.[20]
1.1.3 Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh : Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì các doanh nghiệp đều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng có thể tạo ra kết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Ở mỗi giai đoạn phát triển của doanh nghiệp thì doanh nghiệp đều có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùm toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác, các nhà doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công
cụ khác nhau Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong các công cụ hữu
Trang 16hiệu nhất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phép các nhà quản trị kiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (các hoạt động có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn cho phép các nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
để từ đó đưa ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm chi phí tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Với tư cách là một công cụ quản trị kinh doanh hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng để kiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình
độ sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Do vậy xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thì phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được trong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu nhất, lựa chọn được các phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp đã đề ra
Ngoài ra, trong nhiều trường hợp các nhà quản trị còn coi hiệu quả kinh
tế như là các nhiệm vụ, các mục tiêu để thực hiện Vì đối với các nhà quản trị khi nói đến các hoạt động sản xuất kinh doanh thì họ đều quan tâm đến tính hiệu quả của nó Do vậy mà hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò là công
cụ để thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh đồng thời vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh.[20]
1.1.4 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh
Tùy theo phạm vi, kết quả đạt được và chi phí bỏ ra mà có các phạm trù hiệu quả khác nhau như : hiệu quả kinh tế xã hội, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất trong qúa trình kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, hiệu quả trực tiếp của các doanh nghiệp là hiệu quả kinh tế, còn hiệu
Trang 17quả của ngành hoặc hiệu quả của nền kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế xã hội Từ đó ta có thể phân ra 2 loại : hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế - xã hội
1.1.4.1 Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
Khi nói tới doanh nghiệp người ta thường quan tâm nhất, đó là hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp vì các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều với động cơ kinh tế để kiếm lợi nhuận
a Hiệu quả kinh tế tổng hợp
Hiệu qủa kinh tế tổng hợp là phạm trù kinh tế biểu hiện tập của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó trong qúa trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh tế tổng hợp là thước đo hết sức quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cho việc đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ
b Hiệu quả kinh tế của từng yếu tố
Hiệu quả kinh tế từng là yếu tố, là sự thể hiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong qúa trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó
là thước đo quan trọng của sự tăng trưởng từng yếu tố và cùng với hiệu quả kinh tế tổng hợp làm cơ sở để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp.[10]
1.1.4.2 Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp
Hiệu quả xã hội là hiệu quả mà doanh nghiệp đem lại cho xã hội và nền kinh tế quốc dân Nó thể hiện qua việc tăng thu ngân sách cho Nhà nước, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống của người lao động và tái phân phối lợi tức xã hội
Tóm lại trong quản lý, qúa trình kinh doanh, phạm trù hiệu quả kinh tế được biểu hiện ở các loại khác nhau Việ phân loại hiệu quả kinh tế là cơ sở
Trang 18để xác định các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế, phân tích hiệu quả kinh tế và xác định những biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế
Để tìm hiểu rõ hơn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, tập đoàn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trên thế giới, qua đó mỗi quốc gia
sẽ có những chính sách phát triển kinh tế dựa trên các yếu tố sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp của nước mình.[20]
1.2 Những chính sách, kinh nghiệm phát triển nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Tại Trung quốc
Vào đầu thập niên 1980, mức phát triển của Trung Quốc không hơn Việt Nam nhiều Vào năm 1984 GDP đầu người theo giá năm 2000 của Việt Nam
là gần 200 USD trong khi Trung Quốc cũng chỉ gần 260 USD (năm 1981 dưới 200 USD) Nhưng Trung Quốc vừa hơn Việt Nam ở điều kiện ban đầu vừa có cơ chế sáng tạo, hiệu quả hơn Việt Nam nên đạt được thành quả phát triển mạnh mẽ hơn Đến giữa thập niên 1990, GDP đầu người của Trung Quốc đã gấp đôi Việt Nam và sau đó khoảng cách càng lớn hơn nữa Về điều kiện ban đầu, Trung Quốc cải cách trước Việt Nam gần 10 năm và có cơ sở
về hạ tầng ban đầu tốt hơn nước ta Thêm vào đó, vai trò của tư bản Hoa Kiều trong thời kỳ đầu của cải cách, mở cửa rất quan trọng
Sự phát triển kinh tế của Trung Quốc đã được các công ty đa quốc gia đặc biệt quan tâm Đối với các công ty trên toàn thế giới, Trung Quốc ngày càng được xem là một thành tố quan yếu trong chiến lược toàn cầu của họ Trung Quốc hiện nay đã chiễm chệ ở vị trí thứ nhất trong danh sách những điểm đến có lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất của thế giới, thu hút gần 50 tỷ đôla Mỹ trong năm 2002 và lần đầu tiên trong lịch sử đã qua mặt cả
Trang 19Hoa Kỳ Đến năm 2007, đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng năm vào Trung Quốc ước đạt gần 65 tỷ đôla Mỹ Lượng đầu tư đổ từ ngoài vào đã làm tăng tốc những bước tiến đến cơ chế thị trường, chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ doanh nghiệp sở hữu nhà nước thành công ty tư nhân và khuyến khích nước ngoài vào tham gia qua hình thức liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
Trong ba thập niên kể từ khi Đặng Tiểu Bình mở cửa biên giới Trung Quốc cho giao thương quốc tế, các công ty đa quốc gia ngày càng xem đất nước này trở thành tâm điểm trong chiến lược sản xuất kinh doanh toàn cầu của họ Những đấu thủ quốc tế ngày càng ráo riết tích cực tham gia hoặc mở rộng hoạt động ở Trung Quốc kể từ khi quốc gia này gia nhập WTO vào năm
2001
Trung Quốc cũng thành công trong việc đón nhận dòng chảy đầu tư nước ngoài (FDI) trong thập niên 1990, thời đại mà các công ty đa quốc gia của Nhật, Mỹ, Tây Âu triển khai hoạt động trên qui mô toàn cầu
Tuy FDI đóng vai trò lớn, doanh nghiệp bản xứ của Trung Quốc cũng lớn mạnh, trong đó nhiều công ty ngày càng hoạt động trên qui mô toàn cầu với các hình thức kinh doanh đa dạng và tối đa hóa được hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.2.1.2 Tại Hàn Quốc
Hàn Quốc (Nam Triều Tiên) thoát thai từ một nước Triều Tiên Hàn Quốc là một nước thuộc phía đông châu á Bắc giáp Liên Xô và Trung Quốc.Phía nam sát với Nhật Bản qua 2 eo biển Hàn Quốc có diện tích 94 nghìn km2, số dân hiện này là 40 triệu người Khoáng sản thiên nhiên chủ yếu tập trung ở Bắc Triều Tiên, còn Nam Triều Tiên chủ yếu là nông nghiệp Vì vậy, Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp đã nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp Hiện nay, Hàn Quốc đã trở thành một nước công nghiệp hàng
Trang 20đầu ở châu á, có lẽ chỉ đứng sau Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ ở châu á và đứng thứ 10 về kinh tế thế giới Tốc độ phát triển công nghiệp, công nghệ của Hàn Quốc đã làm cho cả thế giới kinh ngạc
Chính sách phát triển sản xuất kinh doanh và chuyển giao kỹ thuật công nghệ ở Hàn Quốc có hai nội dung cơ bản, một là cố gắng đưa kỹ thuật và công nghệ vào Hàn Quốc bằng các hợp đồng nhập khẩu công nghệ, bằng sáng chế kỹ thuật, tránh đầu tư trực tiếp Hai là, hạn chế tỷ lệ góp vốn của đối tác nước ngoài dưới 49% nếu phải du nhập công nghệ trực tiếp Do còn rất nhiều những hạn chế để phát triển công nghệ sản xuất và trong kinh doanh của các công ty, tập đoàn ở Hàn quốc nên điều quan trọng nhất lúc này để phát triển kinh tế thì chính phủ Hàn Quốc phải có những qui chế, chính sách cụ thể để thúc đẩy sự phát triển của các tập đoàn, công ty
Do đó, Chính phủ đã ban hành qui chế giám sát cần thiết để lựa chọn công nghệ tiên tiến với giá cả của thị trường thế giới Để hoàn chỉnh chính sách du nhập công nghệ nước ngoài, Chính phủ Hàn Quốc đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để tiếp thu, học hỏi và phát triển công nghệ Ngoài ra, đầu tư của Chính phủ vào nghiên cứu và phát triển với mục tiêu là phát triển
và hoàn thiện các công nghệ được du nhập từ nước ngoài và thành lập các cơ quan quản lý, các viện nghiên cứu để phổ biến, khai thác và hướng dẫn chuyển giao công nghệ
1.2.1.3 Tại Nhật Bản
Hội nhập quốc tế và chính sách phát triển của Nhật bản là gia nhập các định chế phát triển quốc tế luôn đặt ra hai thái cực đối với nền kinh tế Nhật Bản Lo âu, trì hoãn và tích cực để phát triển thị trường thế giới Trước các nghĩa vụ khi tham gia vào các định chế quốc tế và khả năng yếu kém cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ đầu của CNH, chính phủ Nhật Bản đã lên kế hoạch một cách tỉ mĩ để giảm bớt thách thức, đồng thời nỗ lực
Trang 21nắm bắt thời cơ trong quá trình mở cửa và hội nhập Chính sách phát triển công nghiệp của Nhật Bản là tập trung phát triển các ngành công nghiệp có tiềm năng cạnh tranh tương lai trên thị trường thế giới để điều chỉnh cơ cấu ngành công nghiệp Các ngành có lợi thế cạnh tranh tương lai là những ngành
có khả năng tăng nhanh năng suất lao động qua việc dễ tiếp thu công nghệ và nhu cầu tăng khi thu nhập tăng Với cơ cấu công nghiệp mới, các chính sách
hỗ trợ của Chính phủ qua thuế và tín dụng cũng được soạn thảo nhằm trợ giúp phát triển và hoàn thiện cơ cấu ngành công nghiệp theo mục tiêu mong muốn Ngoài ra, sự thỏa hiệp của Chính phủ và cộng đồng kinh doanh qua các hình thức thảo luận và định hướng phát triển luôn được duy trì Để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa công nghiệp Nhật Bản, Chính phủ có những chính sách và biện pháp sát nhập các công ty để có qui mô lớn hơn với khả năng cạnh tranh mạnh hơn
Đẩy mạnh xuất khẩu của Nhật Bản thành công do hai đặc trưng Một là khả năng tổ chức và nỗ lực của các công ty, hai là chính sách hỗ trợ của Chính phủ Hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản do các công ty thương mại hàng đầu đảm nhận Các công ty thương mại kinh doanh tổng hợp, đa dạng hóa hình thức kinh doanh và cơ cấu tổ chức hợp lý Sự đa dạng và tổng hợp của các công ty thương mại nhằm tránh rủi ro trong môi trường kinh doanh quốc tế và cơ cấu hợp lý tạo ra sự năng động trong môi trường kinh doanh toàn cầu Chính sách hỗ trợ xuất khẩu của Chính phủ dưới hai hình thức chủ yếu là miễn giảm thuế cho các công ty xuất khẩu và thành lập các cơ quan xúc tiến xuất khẩu nhằm cung cấp thông tin và những hướng dẫn kịp thời cho doanh nghiệp
Tuyển chọn nguồn nhân lực quản lý: Theo quan niệm Nhật Bản, quan chức nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng đối với thành công của chiến lược phát triển quốc gia Hàng năm, Nhật Bản đều tổ chức các kỳ thi công
Trang 22chức hết sức nghiêm túc để lựa chọn nhà quản lý và cán bộ chuyên môn Tiêu chuẩn lựa chọn cán bộ dựa trên nền tảng duy nhất là năng lực chuyên môn thông qua kết quả học tập trong các trường đại học uy tín nhất đất nước Tính chất nghiêm túc của kỳ thi và tiêu chuẩn trúng tuyển đã tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cho phép Nhật Bản có được các chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế một các hiệu quả Chương trình đào tạo công chức nhà nước của Nhật Bản cũng rất thực tế, tùy thuộc từng đối tượng, các giai đoạn đào tạo đều gắn liền với mục tiêu duy nhất - chuyên nghiệp về kỹ năng quản lý và vững vàng về lý luận kinh tế phát triển
1.2.1.4 Tại Mỹ
Nước Mỹ bước vào thế kỷ XXI với một nền kinh tế lớn hơn bao giờ hết
và cùng với nhiều số liệu đánh giá là thành công chưa từng có Nó không những phải kinh qua hai cuộc chiến tranh thế giới và sự suy thoái toàn cầu trong nửa đầu thế kỷ XX, mà còn phải vượt qua những thách thức từ cuộc Chiến tranh Lạnh trong 40 năm với Liên Xô cho đến những đợt lạm phát sâu sắc, thất nghiệp cao, và thâm hụt ngân sách nặng nề của chính phủ trong nửa cuối thế kỷ XX Nước Mỹ cuối cùng đã có được một giai đoạn ổn định kinh tế vào những năm 1990: giá cả ổn định, thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng gần 30 năm qua, chính phủ công bố thặng dư ngân sách, và thị trường chứng khoán tăng vọt chưa từng thấy
Năm 1998, tổng sản phẩm quốc nội của Mỹ - gồm toàn bộ sản lượng hàng hóa và dịch vụ trong nước - đạt trên 8,5 nghìn tỷ USD Mặc dù chiếm chưa đến 5% dân số thế giới, nhưng nước Mỹ lại chiếm tới hơn 25% sản lượng kinh tế toàn thế giới Nhật Bản, nước có nền kinh tế đứng thứ hai thế giới, cũng chỉ tạo ra gần một nửa sản lượng trên Trong khi nền kinh tế Nhật Bản và nhiều nền kinh tế khác vật lộn với tăng trưởng chậm và các vấn đề
Trang 23khác vào những năm 1990 thì nền kinh tế Mỹ lại có được thời kỳ phát triển liên tục và kéo dài nhất trong lịch sử của mình
Người Mỹ luôn luôn tin rằng họ đang sống trên một xứ sở của cơ hội, nơi mà bất kỳ người nào nếu có ý tưởng tốt, lòng quyết tâm và sẵn sàng làm việc chăm chỉ, đều có thể bắt đầu một hoạt động kinh doanh và thành đạt Trên thực tế, lòng tin đó trong kinh doanh được thể hiện rất đa dạng, từ một
cá nhân tự chủ kinh doanh cho đến tập đoàn kinh doanh quốc tế khổng lồ Ngày nay, nền kinh tế Mỹ lấy làm kiêu hãnh về một mạng lưới các doanh nghiệp rộng khắp, từ các doanh nghiệp chỉ do một người làm chủ cho đến những tập đoàn lớn nhất thế giới Năm 1995, nước Mỹ có 16,4 triệu doanh nghiệp không phải trang trại do một người làm chủ, 1,6 triệu doanh nghiệp hợp danh và 4,5 triệu tập đoàn - tổng cộng có 22,5 triệu doanh nghiệp độc lập
Nhiều khách tham quan nước ngoài lấy làm ngạc nhiên khi biết rằng thậm chí đến bây giờ, nền kinh tế Mỹ hoàn toàn không bị khống chế bởi các tập đoàn khổng lồ 99% tất cả các doanh nghiệp độc lập trong nước tuyển dụng ít hơn 500 người Theo Cục quản lý doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ (SBA), các doanh nghiệp nhỏ này chiếm 52% tổng số lao động Mỹ Khoảng 19,6 triệu người Mỹ làm việc cho các công ty có ít hơn 20 người, 18,4 triệu người làm việc cho các hãng có từ khoảng 20 đến 99 công nhân, và 14,6 triệu người làm cho các hãng có từ 100 đến 499 công nhân Ngược lại, 47,7 triệu người
Mỹ làm việc cho các hãng có từ 500 nhân viên trở lên
Các doanh nghiệp nhỏ là một nguồn động lực liên tục cho nền kinh tế
Mỹ Trong thời gian từ năm 1990 đến 1995, chúng tạo ra ba phần tư số việc làm mới của nền kinh tế, một sự đóng góp vào tỷ lệ tăng trưởng việc làm thậm chí còn lớn hơn so với những gì chúng tạo ra trong thập kỷ 1980 Chúng cũng tiêu biểu cho nơi gia nhập nền kinh tế của những nhóm mới Ví dụ, phụ
Trang 24nữ tham gia rất nhiều vào các hoạt động kinh doanh nhỏ Từ năm 1987 đến năm 1997, số doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ lên đến 89%, ước tính khoảng 8,1 triệu, và số doanh nghiệp chỉ do một phụ nữ làm chủ dự tính đạt tới 35% tổng số các doanh nghiệp loại này vào năm 2000 Các hãng nhỏ cũng có xu hướng thuê nhiều hơn các công nhân lớn tuổi và những người thích làm việc theo giờ
Tất nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp nhỏ thất bại Nhưng ở Mỹ, thất bại trong kinh doanh không phải là một vết nhơ mang tính xã hội như ở một
số nước Thông thường, thất bại được xem như một bài học kinh nghiệm giá trị cho các nhà kinh doanh, những người có thể sẽ thành công trong lần thử sức sau Các nhà kinh tế nói rằng thất bại cho thấy các lực lượng thị trường vận hành như thế nào để khuyến khích tính hiệu quả lớn hơn
Mặc dù có rất nhiều công ty với quy mô vừa và nhỏ, nhưng các đơn vị kinh doanh lớn vẫn đóng vai trò chi phối trong nền kinh tế Mỹ Có một số lý
do giải thích cho tình trạng này Các công ty lớn có thể cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho nhiều người, và chúng thường hoạt động hiệu quả hơn các công
ty nhỏ Thêm nữa, chúng thường có thể bán các sản phẩm của mình với giá thấp hơn bởi vì hàng hóa được bán ra với số lượng lớn và giá thành thấp Chúng có ưu thế trên thị trường vì nhiều khách hàng bị hấp dẫn bởi những nhãn hiệu nổi tiếng, điều mà họ tin là sẽ bảo đảm một mức độ chất lượng nhất định
Tuy nhiên, người Mỹ có những quan điểm mâu thuẫn đối với các công ty lớn, một mặt họ thừa nhận sự đóng góp quan trọng của chúng đối với sự thịnh vượng của nền kinh tế, nhưng mặt khác lại lo lắng rằng chúng có thể trở nên quá mạnh đến mức bóp nghẹt các doanh nghiệp mới và tước bỏ quyền lựa chọn của người tiêu dùng Hơn nữa, thỉnh thoảng các tập đoàn lớn tỏ ra không linh hoạt trong việc thích nghi với các điều kiện kinh tế thay đổi Ví dụ, vào
Trang 25những năm 1970, các nhà sản xuất ô tô Mỹ rất chậm nhận thấy rằng giá xăng dầu đang lên sẽ tạo ra cầu về loại ô tô nhỏ, ngốn ít xăng Kết quả là họ mất đi một thị phần đáng kể trong nước cho các nhà sản xuất nước ngoài, mà chủ yếu là từ Nhật Bản
1.2.2 Tại Việt nam
Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, giai đoạn 2001-2010, chúng ta đã tạo được những xung lực mới cho quá trình phát triển Mở rộng dân chủ trong kinh tế với việc ban hành và thực hiện luật doanh nghiệp, phát triển mạnh kinh tế dân doanh, đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; cải cách hành chính mà khâu trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; tham gia sâu rộng vào tiến trình hội nhập quốc tế
và khu vực, gia nhập tổ chức thương mại thế giới; nhờ đó, đã phát huy được tiềm năng và nội lực của đất nước, tranh thủ được nguồn lực từ bên ngoài, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.[21]
Quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở nước ta được tiến hành từ đổi mới cơ chế, chính sách để DNNN tự chủ, tự chịu trách nhiệm, kinh doanh có hiệu quả trong cơ chế thị trường, tiến đến sắp xếp lại, đổi mới quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần cho kinh tế nhà nước đủ sức là lực lượng nòng cốt, bảo bảm cân đối vĩ
mô, an sinh xã hội Nhìn lại 10 năm sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN giai đoạn 2001-2010 và định ra phương hướng nhiệm vụ, giải pháp tái cơ cấu DNNN giai đoạn 10 năm tiếp theo là việc làm cần thiết và cấp bách của Chính phủ trong thời điểm này
Giai đoạn 2001-2010, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành đồng bộ các cơ chế, chính sách tạo khung pháp lý cho đổi mới tổ chức hoạt động; sắp xếp, chuyển đổi sở hữu; đổi mới quản lý của chủ sở hữu nhà nước
và quản lý nhà nước đối với DNNN
Trang 26Mười năm qua, cả nước sắp xếp được 4.757 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 3.388 doanh nghiệp; nếu tính cả thời gian trước đó là 5.374 doanh nghiệp, trong đó cổ phần hóa 3.976 doanh nghiệp Trong số này, có 14 tổng công ty được sắp xếp theo các hình thức: giải thể cơ quan văn phòng 05 tổng công ty; sáp nhập, hợp nhất 08 tổng công ty; chia tách 01 tổng công ty; đã tổ chức lại 08 tổng công ty 91 và 12 tổng công ty 90 để hình thành 11 tập đoàn kinh tế Các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; đã thành lập mới 128 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, chủ yếu là chuyển từ đơn vị sự nghiệp có thu, đơn vị hạch toán phụ thuộc thành doanh nghiệp và trên cơ sở ban quản lý các dự án đã đầu tư Trong đó, 72 doanh nghiệp thuộc bộ, địa phương chủ yếu là hoạt động công ích và 56 doanh nghiệp là công ty con của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con Các nông, lâm trường quốc doanh đã cơ bản hoàn thành rà soát, làm rõ phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh và thực hiện chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên đối với đơn vị sản xuất; thành ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng đối với các đơn vị quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; thành công ty cổ phần đối với nông, lâm trường quốc doanh thí điểm cổ phần hóa Những đơn vị yếu kém đã giải được giải thể
Đến cuối năm 2010, tổng vốn chủ sở hữu của các DNNN là trên 700 nghìn tỷ đồng, trong đó của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 653 nghìn
tỷ đồng Đa số các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn, nhưng vẫn còn 102 doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷ đồng, 08 doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng Đây là những doanh nghiệp chủ yếu làm công ích, nông, lâm trường, ở vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có cơ cấu đa sở hữu, chủ yếu hoạt động trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế
Trang 27Hiện nay, cả nước có 101 tập đoàn, tổng công ty và 02 ngân hàng thương mại do Nhà nước giữ 100% vốn Các tổng công ty nhà nước được tổ chức lại, hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công ty con là bước đổi mới mối quan hệ giữa công ty mẹ - tổng công ty với các doanh nghiệp trong tổng công ty Các tập đoàn, tổng công ty 91 nắm giữ 100% vốn điều lệ ở 232 doanh nghiệp; giữ trên 50% vốn điều lệ ở 460 doanh nghiệp; ở tổng công ty 90, tương ứng là
140 và 368 doanh nghiệp Có 23 tổng công ty, ngân hàng thương mại nhà nước hoàn thành cổ phần hóa, Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã nâng cao năng lực sản xuất, nhiều sản phẩm, thương hiệu có uy tín trên thị trường quốc tế; đi đầu trong nghiên cứu, triển khai, đổi mới công nghệ, góp phần đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH đất nước
Nhiều tập đoàn, tổng công ty thực hiện tốt nhiệm vụ của Chính phủ giao bảo đảm sản xuất, cung ứng các sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ thiết yếu của nền kinh tế trong một số lĩnh vực Đặc biệt, trong bối cảnh lạm phát, suy giảm kinh tế những năm gần đây, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã góp phần quan trọng trong bình ổn giá cả, vật tư hàng hóa, góp phần để Nhà nước thực hiện các chính sách vĩ mô, ổn định xã hội, duy trì việc làm, thu nhập cho người lao động, không để xảy ra đình công
Hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của DNNN được nâng lên, là một công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết vĩ mô
Về cơ bản, vốn nhà nước đầu tư vào DNNN được bảo toàn và phát triển;
tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của đa số tập đoàn, tổng công ty nhà nước trong giới hạn cho phép
Phần lớn các DNNN hoạt động có lãi, số doanh nghiệp thua lỗ giảm nhiều, có doanh nghiệp trước đây thua lõ nhưng gần đây đã có lãi Năm 2001,
số doanh nghiệp thua lỗ và hòa vốn chiếm khoảng 60% tổng số doanh nghiệp,
Trang 28năm 2010 còn trên 20% Một số tập đoàn, tổng công ty có số lỗ lớn chủ yếu
do cơ chế giá và làm chính sách
Hiện nay, cồ phần hóa được gần 4.000 doanh nghiệp, cơ bản đạt mục tiêu đề ra, góp phần đổi mới tư duy, nhận thức về sở hữu, về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về vai trò nòng cốt của DNNN trong phát triển kinh tế quốc dân…
Năng lực, trình độ của nhiều cán bộ quản lý doanh nghiệp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật được nâng lên, chuyên nghiệp hơn
Mô hình tổ chức và phương thức lãnh đạo của tổ chức Đảng trong DNNN được đổi mới phù hợp hơn với điều kiện doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường
Quan điểm của việc tái cấu trúc DNNN là để có cơ cấu hợp lý hơn, nâng cao hiệu quả, phải là lực lượng nòng cốt để kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô
Tái cơ cấu DNNN mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước phải gắn với quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô Thực hiện tái cơ cấu DNNN theo ngành, lĩnh vực kinh doanh không phân biết cấp, cơ quan quản lý
DNNN phải có quy mô lớn, hoạt động có hiệu quả, sức cạnh tranh, hầu hết đa sở hữu, tập trung vào những ngành, lĩnh vực có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế liên quan đến an ninh, quốc phòng, kết cấu hạ tầng kinh tế -xã hội, dịch vụ công, sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ góp phần cho cân đối
vĩ mô và ở một số địa bàn quan trọng
Tái cơ cấu DNNN ở khu vực nông thôn và nông, lâm trường quốc doanh phải gắn với giải quyết tốt các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn và nanag cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất
Trang 29Trong giai đoạn từ nay đến năm 2015, còn nhiều địa phương và bộ có nhiều doanh nghiệp, tiếp tục thực hiện cơ chế bộ, địa phương vừa quản lý nhà nước, vừa là đại diện chủ sở hữu đối với DNNN Làm rõ việc phân công, phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với DNNN giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ quản lý tổng hợp, bộ quản lý ngành, hội đồng thành viên tập đoàn, tổng công ty nhà nước và giám đốc DNNN
Chủ sở hữu tăng cường thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của doanh nghiệp; kiểm soát được định mức và thực tế chi phí sản xuất kinh doanh Hàng năm có đánh giá việc thực hiện chức năng quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, trong đó chú trọng làm rõ trách nhiệm của từng cơ quan, từng DNNN, đặc biệt là của cá nhân đứng đầu cơ quan, doanh nghiệp
và có biện pháp xử lý sai phạm theo quy định của pháp luật
Hình thành cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các cơ quan thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước Tăng cường trách nhiệm người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu nhà nước tại các DNNN; hoàn thiện cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước.[21]
1.3 Những kết luận rút ra từ việc nghiên cứu
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung
sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất kinh doanh là một yếu tố quan trọng để đánh giá sự tăng trưởng và thực hiện các mục tiêu về
kinh tế doanh nghiệp trong từng thời kỳ
Hiệu quả sản xuất kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội:
1.3.1 Hiệu quả kinh tế
Là sự so sánh giữa kết quả kinh doanh đạt được với toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để được kết quả đó
Trang 301.3.2 Hiệu quả xã hội
Phản ánh kết quả mà doanh nghiệp đạt được về mặt xã hội: Mức độ
ngân sách, tạo công ăn việc làm cho người lao động, cả thiện môi trường
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội là hai mặt của một vấn đề có tác động biện chứng, qua lại lẫn nhau Hiệu quả kinh tế quyết định hiệu quả xã hội nhưng hiệu quả xã hội cũng có tác động trở lại đối với hiệu quả kinh tế, góp phần làm tăng hiệu quả kinh tế Tuy nhiên thực tế hiện nay nhiều doanh nghiệp có xu hướng quan tâm hơn tới hiệu quả kinh tế, đó là doanh thu, lợi nhuận, … mà không chú trọng quan tâm hơn hiệu quả xã hội, đó là trốn thuế, không quan tâm tơí môi trường … những quan niệm đó hết sức sai lầm, chỉ có nâng cao hiệu quả kinh tế đi đôi với hiệu quả xã hội thì doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững được
Trong thực tiễn hoạt động, một số ngành đã đưa ra những chỉ tiêu khác nhau để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN Vào đầu những năm 1990, ngành công nghiệp cho rằng những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả (loại I) là những doanh nghiệp thực hiện đầy đủ chỉ tiêu nộp ngân sách nhà nước Ngành thương nghiệp cho rằng những doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả (loại I) là những doanh nghiệp sau khi nộp ngân sách Nhà nước vẫn có lợi nhuận Các cách đánh giá này chưa phản ảnh đầy đủ các mặt hiệu quả kinh doanh của DNNN như vấn đề bảo toàn và phát triển vốn, vấn đề quan hệ giữa nguồn lực với kết quả vv
Hiện nay nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũ không còn hợp lý Trong thực tế ở giác độ quản lý vĩ mô chưa có
hệ thống chỉ tiêu đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh của DNNN Cụ thể trong các báo cáo thống kê đối với DNNN hiện nay ở nước ta, chỉ qui định báo cáo một số chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh, lao động, thu nhập người lao động chứ chưa qui định về chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Trong hệ
Trang 31thống báo cáo tài chính do Bộ Tài chính ban hành chỉ trình bày một số chỉ tiêu hiệu quả :Tỷ suất lợi nhuận doanh thu, tỷ suất lợi nhuận vốn v.v trong biểu thuyết minh báo cáo tài chính, tất cả những chỉ tiêu trên không phản ảnh đầy đủ hiệu quả kinh tế, xã hội mà DNNN tạo ra
Về mặt lý luận, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống này được chia ra làm 2 phần : hiệu quả sử dụng nguồn lực và hiệu quả chi phí thường xuyên Trong mỗi phần bao gồm các chỉ tiêu hiệu quả toàn phần và hiệu quả cận biên Hệ thống chỉ tiêu này cũng được phân thành hiệu quả sử dụng các yếu tố riêng biệt và hiệu quả chung Hệ thống trên giúp cho chúng ta nhận thức đầy đủ chi tiết các chỉ tiêu phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên để đánh giá một cách khái quát nhưng toàn diện cả hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội của DNNN thì nên lựa chọn chỉ tiêu nào trong hệ thống trên, điều này cần làm rõ
Từ những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng cần thiết phải lựa chọn, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, nhằm phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của Nhà Nước, giúp cho nhà nước, nhà quản lý đánh giá khái quát nhưng toàn diện cả về mặt hiệu quả kinh tế lẫn hiệu quả xã hội của DNNN
Vì những lý do khác nhau mà cho đến nay, cẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách có hệ thống, đồng bộ và toàn diện về chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có đặc thù sản xuất về lâm nghiệp Phần lớn vấn đề này mới thực hiện ở một số lĩnh vực nhất định, một số tập trung nghiên cứu quy hoạch và phát triển lâm nghiệp, một số nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu, một số nghiên cứu lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản Sau đây là một số tồn tại chính:
Trang 32- Thiếu những công trình nghiên cứu theo hướng toàn diện, phát triển lâm nghiệp sản xuất hàng hoá ở một vùng hay địa phương nhất định, từ đó làm cơ sở cho việc đề ra giải pháp nhằm nâng cao sản xuất kinh doanh về lâm nghiệp như : trồng mới, chăm sóc, khai thác và chế biến lâm sản cho từng địa phương cụ thể
- Hầu hết các giải pháp đưa ra trong những nghiên cứu dạng này còn chung chung, tản mạn, đặc biệt mới chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng, có nghĩa
là mới khẳng định đó là giải pháp gì ( cái gì ), chứ chưa chỉ ra được làm như thế nào Vì vậy, vấn đề này cần tiếp tục được nghiên cứu và hoàn thiện
Trang 33Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hòa Bình
2.1.2 Mục tiêu cụ thể sau
Nghiên cứu hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình, từ đó tìm ra được những thế mạnh và những hạn chế trong sản xuất kinh doanh tại công ty
Xác định những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty
Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công
ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình
2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng mà đề tài nghiên cứu đó là : Hiệu quả SXKD của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà bình
Trang 342.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên đề tài tập trung vào nghiên cứu những nội dung sau :
- Phân tích thực trạng SXKD của Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình
- Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của công ty
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả SXKD của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hoà Bình
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Nghiên cứu và phân tích các tài liệu thứ cấp
Đề tài được triển khai nghiên cứu dựa trên một số giáo trình, tài liệu môn học như:
- Giáo trình bài giảng môn phân tích kinh tế
- Tài liệu về kinh tế học
- Giáo trình môn học Quản trị doanh nghiệp
- Các tài liệu liên quan đến sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực cũng như trên thế giới như : Trung quốc, Hàn quốc, Nhật bản, Mỹ, Brazil…
- Các quyết định, nghị quyết của chính phủ và các ban ngành về xây dựng chính sách phát triển kinh tế của Việt nam trong giai đoạn 2010 – 2020 Các cơ chế, chính sách phát triển SXKD cho các tập đoàn, doanh nghiệp trong và ngoài nước
- Dự thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt nam giai đoạn
2010 – 2020
- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Hòa Bình trong những năm vừa qua và những chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đóng trên địa bàn trong những năm tới
Trang 35- Các báo cáo tài chính và báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty trong các năm 2008, 2009, 2010
- Ngoài ra, thu thập tài liệu về điều kiện tự nhiên: vị trí địa lý kinh tế,địa hình, khí hậu, thủy văn, đặc điểm thổ nhưỡng, tài nguyên… Đặc điểm về kinh
tế xã hội: dân cư, phân bố dân cư, dân trí, cơ sở hạ tầng, điều tra thu thập thông tin về giá cả thị trường trong và ngoài nước…
2.4.2 Lựa chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng quyết định đến tính chính xác, khách quan và tính thực tiễn của kết quả nghiên cứu đề tài Các điểm nghiên cứu được lựa chọn sau khi khảo sát
sơ bộ một số hộ gia đình, hộ công nhân ở các lâm trường, xí nghiệp trực thuộc công ty có trồng rừng liên doanh và rừng quốc doanh
2.4.2.1 Nguyên tắc chọn điểm nghiên cứu
- Nguyên tắc chung: Điểm nghiên cứu phải là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu và phải hoạt động trên 3 lĩnh vực là: sản xuất cây giống, sản xuất chế biến lâm sản, trồng và khai thác rừng trồng
- Nguyên tắc cụ thể:
+ Mỗi HGĐ, lâm trường, xí nghiệp được chọn phải đại diện cho vùng được nghiên cứu Các HGĐ được lựa chọn phỏng vấn đảm bảo đại diện cho lâm trường, xí nghiệp và công ty
+ Các lâm trường, xí nghiệp được chọn để nghiên cứu phải thực hiện đủ
3 nội dung trong SXKD của công ty đó là : trồng rừng, khai thác chế biến lâm sản, sản xuất cây giống
+ Các lâm trường, xí nghiệp được chọn phải đảm bảo có trồng rừng quốc doanh và có các HGĐ, công nhân trồng rừng liên doanh trên đất 01 ( Nay là nghị định 135 của chính phủ)
Trang 36+ Các lâm trường, xí nghiệp được chọn đại diện cho điều kiện kinh tế, điều kiện giao thông, cơ sở hạ tầng, khả năng phát triển kinh tế trồng rừng, khả năng giải quyết việc làm…
+ Các lâm trường, xí nghiệp phải đảm bảo có đủ loại kinh tế hộ : Hộ có kinh tế khá, hộ có kinh tế trung bình, hộ nghèo, hộ rất nghèo…
Chọn điểm nghiên cứu được tiến hành theo các bước sau:
a) Chọn vùng nghiên cứu
Theo kết quả phân vùng sinh thái và kinh tế của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hòa Bình được chia làm 2 vùng sinh thái: vùng cao và vùng thấp
Hai vùng sinh thái này có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất đai, địa hình, khí hậu, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, điều kiện thị trường, cơ sở
hạ tầng, trình độ dân trí Do vậy, để đảm bảo yêu cầu cho nhu cầu nghiên cứu, điểm được chọn có đầy đủ các vùng sinh thái và kinh tế của công ty b) Chọn lâm trường, xí nghiệp nghiên cứu
Các lâm trường, xí nghiệp được chọn nghiên cứu phải đảm bảo theo yêu cầu nghiên cứu, phân tích và đảm bảo các tiêu chuẩn như sau:
+ Có quỹ đất lâm nghiệp để trồng rừng liên doanh và rừng quốc doanh ở mức trung bình khá so với các lâm trường, xí nghiệp còn lại trong công ty + Có điều kiện SXKD, có HGĐ và công nhân tham gia trồng rừng, có hoạt động trong lĩnh vực khai thác và chế biến lâm sản, sản xuất cây giống, trình độ của lao động thuê khoán ở mức trung bình
+ Có các HGĐ trồng rừng được phân bố cả ở vùng cao, vùng thấp và vùng sâu, và vùng lân cận các thị trấn, thị xã…
+ Có khoảng cách xa, gần khác nhau đến thị trường, đường quốc lộ và trung tâm thành phố Hoà Bình
Kết quả lựa chọn địa điểm nghiên cứu:
Trang 37- Đề tài chọn 2 lâm trường, xí nghiệp đại diện theo các vùng sinh thái, kinh tế, quỹ đất phát triển trồng rừng, khai thác chế biên lâm sản và có hoạt động sản xuất cây giống cụ thể như sau:
+ Vùng cao, điều kiện kinh tế khó khăn, thực hiện đủ 3 loại hình SXKD: Lâm trường Tu lý
+ Vùng thấp và có điều kiện về cơ sở hạ tầng, giao thông thuận lợi, có hoạt động đủ 3 loại hình SXKD : Lâm trường Lương sơn
Nhìn chung cả 02 lâm trường được chọn trên đã đáp ứng được yêu cầu
đề ra, kết quả cụ thể được trình bày ở Bảng 2.1:
Bảng 2.1: Bảng tổng hợp diện tích trồng rừng và sản xuất cây giống
Lâm trường,
XN
Hoạt động chế biến lâm sản
Tổng D.T trồng rừng ( ha)
K.lượng SX cây giống /năm ( vạn cây)
Tổng số hộ T.rừng ( hộ)
Trang 38Bảng 2.2: Kết quả lựa chọn các điểm nghiên cứu tại công ty TNHH
một thành viên lâm nghiệp Hòa Bình
Tính đại diện của HGĐ nghiên cứu Lâm
trường,
xí nghiệp
Tổng số
xã có HGĐ nhận khoán
Số xã có HGĐ nhận khoán lựa chọn
( 1 ) – Xã có HGĐ, công nhân tham gia nhận khoán trồng rừng có tổng
số diện tích trồng rừng hàng năm 1: S > 50ha/năm; 2: S = 30 đến 50ha/năm; 3: S < 30ha/năm;
(2)– Xã có HGĐ, xưởng chế biến của lâm trường có khối lượng gỗ khai thác và chế biến hàng năm:
1: KL>300m3/năm; 2: KL = 200 đến 300m3/năm; 3: KL < 200 m3/năm ( 3 ) – Xã có HGĐ, công nhân vườn ươm có khối lượng sản xuất cây giống hàng năm :
1: KL > 5 vạn cây/năm; 2: KL = 3 đến 5 vạn cây/năm; 3: KL < 3 vạn cây/năm
Trang 39c) Xác định dung lượng mẫu điều tra
Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần của tổng thể được lựa chọn theo những cách thức nhất định và với một dung lượng hợp lý Mẫu có tính đại diện để có thể suy rộng thông tin thu được cho tổng thể
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp lại theo công thức sau:
N t2 S2
n = N d2 + t2 S2 Trong đó:
n: Dung lượng mẫu cần chọn N: Số hộ, số công nhân của lâm trường chọn điều tra t: Là hệ số ứng với mức tin cậy của kết quả
d: Sai số mẫu ( cho trước d = 5% - 10% ) S2: Phương sai của tổng thể ( cho trước S2 = 0,25 ) Căn cứ vào dung lượng mẫu của mỗi lâm trường, xí nghiệp được chọn Kết quả tính toán số HGĐ, hộ công nhân tham gia trồng rừng cần lựa chọn điều tra, phỏng vấn theo các lâm trường, xí nghiệp được xác định như sau:
+ Lâm trường Tu lý n = 17,82 làm tròn là 18 hộ
+ Lâm trường Lương
sơn
n = 32,86 làm tròn là 33 hộ
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Để có được đầy đủ thông tin số liệu phục vụ cho việc phân tích đánh giá đáp ứng yêu cầu của mục đích nghiên cứu đề tài tiến hành từng bước và sử dụng nhiều phương pháp thu thập khác nhau
a) Thu thập thông tin số liệu thứ cấp
Đó là những thông tin số liệu có liên quan đến quá trình nghiên cứu của
đề tài đã được công bố chính thức ở các cấp, các ngành Thông tin số liệu chủ
Trang 40yếu bao gồm: Các kết quả nghiên cứu có liên quan đã tiến hành trước
đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình SXKD kinh doanh của công ty,các chính sách đầu tư khuyến khích phát triển SXKD của Bộ NN &PTNT, Tổng công ty lâm nghiệp Việt nam cũng như của công ty và các thông tin số liệu như:
- Các công trình khoa học và tác phẩm nghiên cứu liên quan đến tình hình, chính sách phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả SXKD của doanh nghiệp ở trong và ngoài nước
- Các tài liệu tổng kết, báo cáo hàng năm của công ty và các đơn vị thành viên
- Tài liệu báo cáo dự án hỗ trợ đầu tư trồng rừng sản xuất của các ban ngành trong tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2010 – 2020
- Tổng quan, phương hướng phát triển kinh tế xã hội; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của các lâm trường, xí nghiệp có các HGĐ,
hộ công nhân tham gia trồng rừng
- Đề án phát triển sản xuất của công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Hòa Bình từ năm 2011 đến năm 2015
Đề tài sử dụng các phương pháp điều tra trực tiếp thông qua hệ thống chứng từ sổ sách, tài liệu đã được công bố, phương pháp chuyên khảo hoặc thông qua các cuộc phỏng vấn các chuyên gia SXKD, Các lãnh đạo của công
ty cũng như lãnh đạo lâm trường, xí nghiệp trực thuộc và hộ sản xuất giỏi
Đề tài sử dụng phương pháp:
- Phương pháp phân tích chi tiết các số liệu trong báo cáo tài chính hàng năm của công ty, các số liệu thổng hợp từ các phòng ban và các đơn vị thành viên trong công ty đặc biệt là hai lâm trường : Lâm trường Tu lý và Lâm trường Lương sơn
- Trong đề tài có sử dụng biện pháp so sánh kết quả SXKD của công ty trong các năm 2008, 2009, 2010 để qua đó rút ra được những kết luận, những