1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của nhà đầu tư ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh bến tre luận văn thạc sỹ kinh tế nguyễn, thị ngọc phượng; người hướng dẫn

101 238 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất KCN, KCX được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc quy hoạch các vùng tập trung p

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN VĂN NGÃI

Đồng Nai, 2014

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Các Khu công nghiệp, Khu chế xuất (KCN, KCX) được hình thành và phát triển xuất phát từ chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc quy hoạch các vùng tập trung phát triển công nghiệp, vùng lãnh thổ kinh tế gắn với các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo đột phá trong phát triển công nghiệp, phát triển vùng phục vụ mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Qua 20 năm xây dựng và phát triển KCN, KCX đã đạt được những kết quả quan trọng Tính đến cuối tháng 12/2011, cả nước đã có 283 KCN, KCX được thành lập trên 58 tỉnh, thành phố KCN, KCX đã huy động được lượng vốn đầu tư lớn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phục vụ

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Với các chính sách ưu đãi, những điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và thủ tục hành chính giản đơn, các KCN, KCX đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài Tính đến cuối tháng 12 năm

2011, các KCN, KCX đã thu hút được 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt

27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đầu tư đăng ký Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, KCX chiếm từ 35 - 40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của

cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước Riêng trong năm 2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,5 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,3 tỷ USD; tương đương 44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện của cả nước trong năm 2011

KCN, KCX đã tạo ra một hệ thống kết cấu hạ tầng tương đối đồng bộ, có giá trị lâu dài, góp phần hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng trên cả nước Các KCN, KCX có đóng góp không nhỏ vào tăng trưởng ngành sản xuất công nghiệp, nâng cao giá trị xuất khẩu và sức cạnh tranh của nền kinh tế qua đó góp phần chuyển dịch cơ

Trang 4

cấu kinh tế của các địa phương và cả nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao thu nhập, đời sống và trình độ của người lao động

Các KCN được triển khai và thực hiện nhanh chóng trong phạm vi cả nước trong suốt 20 năm qua, đã làm thay đổi nhanh bộ mặt xã hội từ nông thôn đến thành thị Trong các KCN được triển khai thì Bến Tre tiến hành thực hiện các dự án công nghiệp và dịch vụ nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp Hiện nay Bến Tre đang là tỉnh thu hút đầu tư công nghiệp và dịch vụ, kèm theo đó là sự cải cách các thủ tục đầu tư tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư khi đến đầu tư tại tỉnh Tuy nhiên, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, đặc biệt là tỷ lệ diện tích lấp đầy chưa cao Nhận diện được một cách khoa học các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các KCN là thách thức của các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách

Đề tài “Một số giải pháp nâng cao sự hài lòng của nhà đầu tư ở các Khu

công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre” nhằm khảo sát tìm hiểu về môi trường đầu

tư, các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, khi các nhà đầu tư hài lòng đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng độ hài lòng của các nhà đầu tư, làm tăng tính hấp dẫn đầu tư của KCN tạo sức lan tỏa thu hút các nhà đầu tư vào KCN

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mục tiêu cụ thể

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhà đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Trang 5

Phân tích mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự hài lòng của nhà đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao sự hài lòng của các nhà đầu tư, làm tăng tính hấp dẫn đầu tư của KCN cũng như tạo sức lan tỏa thu hút nhiều nhà đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre

3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Là sự hài lòng của nhà đầu tư ở các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Phạm vi về nội dung: Mức độ hài lòng và các yếu tố ảnh hưởng đến độ hài lòng của các nhà đầu tư về môi trường đầu tư

Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ năm 2012 trở về trước để làm cơ sở lý luận và thực tiễn Các số liệu thứ cấp qua các năm đã được công bố trên các phương tiện truyền thông, báo cáo tổng kết từ Công ty Kinh doanh

hạ tầng KCN, Ban quản lý KCN, Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre; Các đề tài đã thực hiện; Sách, báo, tạp chí, tài liệu, hội thảo, internet

Số liệu sơ cấp sử dụng trong việc thực hiện nghiên cứu đề tài được tiến hành khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp của các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 01 năm 2014 Nghiên cứu thu thập nhằm xây dựng và phát triển hệ thống khái niệm/thang đo lường và các biến nghiên cứu từ đó tiến hành xây dựng bảng câu hỏi điều tra khảo sát

- Giả thuyết nghiên cứu

Việc nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre thông qua đánh giá mức độ hài lòng của các nhà đầu

tư trên giả thuyết chính là các nhân tố môi trường đầu tư sẽ tác động tích cực đến khả năng thu hút đầu tư vào các KCN và đầu tư sẽ gia tăng khi nhà đầu tư hài lòng với các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre Dựa trên giả thuyết này đề tài sẽ xác định

Trang 6

các dữ liệu nghiên cứu liên quan đến biến giải thích – biến độc lập, biến mục tiêu –

biến phụ thuộc – là sự hài lòng của các nhà đầu tư

4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu

* Lý thuyết tiếp thị địa phương

Cơ sở lý luận về tiếp thị địa phương được nghiên cứu trước đây cho thấy yếu

tố tác động vào sự thỏa mãn của nhà đầu tư có thể chia thành 3 nhóm chính:

Cơ sở hạ tầng

Chế độ chính sách đầu tư

Môi trường làm việc và sinh sống

- Thực trạng đầu tư vào các Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre

Đánh giá thực trạng môi trường đầu tư, tình hình thu hút đầu tư tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư mà nhà đầu tư quan tâm

- Giải pháp đề xuất

Từ kết quả nghiên cứu đề xuất các chính sách - giải pháp nên được quan tâm nhằm thu hút đầu tư vào các KCN tỉnh Bến Tre

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Các lý thuyết về dịch vụ và chất lượng dịch vụ

KCN thường được xây dựng trên các vùng có nhiều đất trống, các nhà máy xây dựng trong khu được tập trung theo chiều dọc, do đó chi phí đầu vào và đầu ra của DN sẽ hạ thấp vì các nhà máy thường xây dựng sát cạnh nhau, đầu ra của nhà máy này cũng là đầu vào của nhà máy kia Ngoài ra, các DN khi đầu tư vào KCN sẽ giảm được nhiều chi phí như: mua đất, xây dựng đường dây tải điện, đường giao thông vận tải vào nhà máy, hệ thống cấp thoát nước, xử lý nước thải và chất thải rắn Lợi thế của việc sản xuất tập trung tại các KCN so với phát triển phân tán là tận dụng được lợi thế quy mô, tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản

lý môi trường, đồng thời cung cấp các dịch vụ thuận lợi

Theo Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005

“Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch

vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo quy định của Chính phủ” KCN là khu tách biệt, tập trung những nhà đầu tư vào ngành công nghiệp mà nhà nước cần khuyến khích, ưu đãi Như vậy, KCN có thể được xem là sản phẩm của ngành dịch vụ, khách hàng là những DN đầu tư trong KCN

Mô hình ngoại tác của Romer và Lucas (2007), Trích theo Đinh Phi Hổ, Hà

Minh Trung tạp chí phát triển kinh tế [ 254, tr 32] cho thấy các nhân tố tác động tới

hành vi đầu tư: (1) sự thay đổi trong nhu cầu; (2) lãi suất; (3) mức độ phát triển của

hệ thống tài chính; (4) đầu tư công; (5) khả năng về nguồn nhân lực; (6) tình hình phát triển công nghệ, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ; (7) mức ổn định về môi trường đầu tư: bao gồm môi trường kinh tế vĩ mô, pháp luật; (8) các quy định về thủ tục; (9) mức độ đầy đủ về thông tin

Trang 8

Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế: thì chất lượng là toàn bộ những đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã được công

bố hay tiềm ẩn

Chất lượng dịch vụ là những gì mà khách hàng cảm nhận được – trong nghiên cứu này khách hàng là nhà đầu tư và địa phương là nhà cung cấp dịch vụ đầu tư Đánh giá chất lượng dịch vụ được Parasuraman (1985), Trích theo Đinh Phi

Hổ, Hà Minh Trung tạp chí phát triển kinh tế [ 254, tr 32] cho rằng chất lượng dịch

vụ phụ thuộc vào 5 thang đo: (1) Phương tiện hữu hình: sự thể hiện bên ngoài của cơ

sở vật chất, thiết bị, phương tiện truyền thông; (2) Tin cậy: khả năng thực hiện dịch

vụ đáng tin cậy, chính xác; (3) Đáp ứng: sẵn lòng giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ tạm thời; (4) Đảm bảo; (5) Sự cảm thông

Theo Dunning (1977), Trích theo Đinh Phi Hổ, Hà Minh Trung tạp chí phát

triển kinh tế [ 254, tr 32] một DN chỉ đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) khi hội tụ ba

điều kiện: (1) DN phải sở hữu một số lợi thế so với DN khác như quy mô, công nghệ, mạng lưới tiếp thị, khả năng tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp hay các tài sản

vô hình đặc thù của DN; (2) Nội vi hóa: việc sử dụng những lợi thế đó trong nội bộ của DN có lợi hơn là bán hay cho các DN khác thuê; (3) Sản xuất tại nước tiếp nhận đầu tư có chi phí thấp hơn là sản xuất tại nước mẹ rồi xuất khẩu

1.1.2 Lý thuyết tiếp thị địa phương

Cơ sở lý luận về tiếp thị địa phương được nghiên cứu trước đây cho thấy yếu

tố tác động vào sự thỏa mãn của nhà đầu tư có thể chia thành 3 nhóm chính - Nguyễn Đình Thọ (2005): (1) Cơ sở hạ tầng; (2) Chế độ chính sách đầu tư; (3) Môi trường làm việc và sinh sống Nghĩa là, một địa phương cần phải duy trì và phát triển một cơ sở hạ tầng cơ bản tương thích với môi trường thiên nhiên (điện, nước, thoát nước, thông tin liên lạc, giao thông vận tải) Cung cấp những dịch vụ cơ bản có chất lượng đủ đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cho cộng đồng (sự hỗ trợ của cơ quan chính quyền địa phương, các dịch vụ hành chính, pháp lý, ngân hàng, thuế, các thông tin cần thiết cho quá trình đầu tư và kinh doanh) Tạo ra môi trường sinh sống

Trang 9

và làm việc có chất lượng cao (môi trường tự nhiên, hệ thống trường học, đào tạo nghề, y tế, vui chơi giải trí, chi phí sinh hoạt)

Khách hàng đầu tư thỏa mãn với một địa phương khi họ hoạt động có hiệu quả tại địa phương đó Hiệu quả có thể được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau tùy theo mục tiêu của DN Tuy nhiên, một cách tổng quát, công ty hoạt động có hiệu quả khi nó đạt được tăng trưởng về doanh thu và lợi nhuận Một nhà đầu tư đạt được mục tiêu, họ sẽ có xu hướng tiếp tục quá trình đầu tư của họ cũng như giới thiệu cho các công ty khác đầu tư tại địa phương

1.1.3 Mô hình nghiên cứu

Từ các lý thuyết về chất lượng dịch vụ, cơ sở lý thuyết về tiếp thị địa phương chúng ta đã nhận diện được 7 yếu tố chính, Mô hình nghiên cứu của đề tài được mô

tả theo sơ đồ sau:

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của đề tài

 Cơ sở hạ tầng đầu tư: Sự thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, phương

tiện truyền thông gồm các quan sát:

1 Trụ sở văn phòng, trang thiết bị hiện đại, khang trang

2 Hệ thống cấp điện đáp ứng được yêu cầu

1- Cơ sở hạ tầng đầu tư

7- Nguồn nhân lực

Trang 10

3 Hệ thống cấp, thoát nước đầy đủ

4 Hệ thống thông tin liên lạc có thuận tiện

5 Hệ thống giao thông có thuận lợi

6 Phí xử lý nước thải, chất thải có hợp lý

7 Hệ thống giao thông nội khu và mảng cây xanh rất tốt

8 Nhà ở công nhân được đáp ứng đầy đủ

9 Dịch vụ tài chính ngân hàng đáp ứng tốt

 Mức độ tin cậy: Khả năng thực hiện dịch vụ đáng tin cậy, chính xác như:

1 Công ty kinh doanh hạ tầng KCN thực hiện đúng cam kết với nhà đầu tư

2 Phòng dịch vụ khách hàng của Công ty kinh doanh hạ tầng KCN có tư vấn rõ ràng, chính xác

3 BQL KCN có kết quả trả lời đúng hẹn đối với các thủ tục hành chính

4 Phòng dịch vụ khách hàng của Công ty kinh doanh hạ tầng KCN luôn sẳn sàng hỗ trợ nhà đầu tư

5 Lãnh đạo địa phương năng động trong hỗ trợ nhà đầu tư

 Mức độ đáp ứng : Sẵn lòng, kịp thời giúp đỡ khách hàng và cung cấp dịch vụ

1 Thủ tục hành chính BQL KCN đơn giản nhanh gọn

2 Chính quyền địa phương trợ giúp chu đáo khi nhà đầu tư cần

3 Văn bản pháp luật được triển khai nhanh đến nhà đầu tư

4 Thủ tục hải quan nhanh gọn

5 Hệ thống thuế rõ ràng (cán bộ thuế không lợi dụng để trục lợi)

 Sự đảm bảo: thể hiện trình độ chuyên môn và lịch lãm của nhân viên, tạo niềm

tin cho khách hàng

1 Trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ của nhân viên Công ty kinh doanh hạ tầng KCN tốt

2 Trình độ chuyên môn và thái độ phục vụ của nhân viên BQL KCN tốt

3 Công ty kinh doanh hạ tầng KCN có giữ đúng hẹn với nhà đầu tư

4 BQL KCN có giữ đúng hẹn với nhà đầu tư

 Sự cảm thông: Thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân khách hàng

Trang 11

1 Công ty kinh doanh hạ tầng KCN và BQL KCN có lắng nghe và chia sẻ

2 Công ty kinh doanh hạ tầng KCN và BQL KCN quan tâm giải quyết các đề nghị yêu cầu của DN

3 Công ty kinh doanh hạ tầng KCN và BQL KCN có tổ chức các hội nghị gặp gỡ và đối thoại với DN

4 Nhà đầu tư dễ dàng gặp gỡ để trao đổi, thảo luận với lãnh đạo Công ty kinh doanh

hạ tầng KCN và BQL KCN

 Chi phí đầu vào cạnh tranh:

1 Giá thuê đất, nhà xưởng có hợp lý

2 Giá điện, giá nước cước vận tải hợp lý

3 Chi phí lao động rẻ

4 Giá dịch vụ thông tin liên lạc cạnh tranh

 Nguồn nhân lực:

1 Nguồn lao động dồi dào

2 Dễ dàng tuyển dụng cán bộ quản lý giỏi tại địa phương

3 Trình độ lao động đáp ứng nhu cầu của chúng tôi

4 Khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ của lao động tốt

Mô hình nghiên cứu như sau :

Y = β0+ β1F1 + β2F2 + β3F3 + β4F4 + β5F5 + β6F6 +β7F7+ ε

Trong đó:

a) Y: mức độ hài lòng (biến phụ thuộc)

b) Fi: Các yếu tố ảnh hưởng (i= 1-7), biến độc lập

F1: Cơ sở hạ tầng đầu tư F2: Mức độ tin cậy F3: Mức độ đáp ứng F4: Sự đảm bảo F5: Sự cảm thông F6: Chi phí đầu vào cạnh tranh F7: Nguồn nhân lực

Trang 12

a Sử dụng phương pháp phân tích yếu tố khám phá (EFA: Exploratory Factor

Ananlyis): để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố theo đánh giá của nhà đầu tư cho là phù hợp Xây dựng được hệ thống thang đo tin cậy của các yếu

Trước tiên là vấn đề lãng phí nguồn lực

Nguồn lực, trước hết là đất đai, nguồn lực vật chất hữu hạn và cực kỳ quan trọng của một quốc gia Trong xu thế tất yếu của quá trình đô thị hóa và phát triển các KCN làm cho quỹ đất nói chung và quỹ đất nông nghiệp nói riêng ngày càng thu hẹp Nhiều KCN có thể đặt tại những khu vực không phải là đất nông nghiệp, song

Trang 13

vì nhiều lý do khác nhau, các KCN lại được xây dựng trên những khu vực đất canh tác (các KCN Hải Dương)

Có quá nhiều KCN được hình thành nhưng không được “lấp đầy”, và để “lấp đầy” (hình thức) các địa phương sẵn sàng cho thuê với giá rất rẻ Đã có nhiều doanh nghiệp thuê đất, sau một thời gian lại cho doanh nghiệp khác thuê lại với giá cao hơn Đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương, giữa các KCN, gây lãng phí xã hội Nhiều địa phương đã tự ý ban hành các chính sách ưu đãi thái quá “mời chào” các nhà đầu tư vượt quá quy định chung của Chính phủ và các bộ, ngành để thu hút đầu tư, chấp nhận dùng ngân sách địa phương bù lỗ, làm ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước

Vấn đề thứ hai là tình trạng thiếu đồng nhất giữa quy hoạch ngành với quy hoạch lãnh thổ

Cuộc chạy đua thành lập các KCN với mục đích là có KCN và hi vọng hưởng lợi từ các KCN đang làm mất đi quy hoạch tổng thể, không gắn quy hoạch KCN với quy hoạch ngành, vùng và quy hoạch lãnh thổ quốc gia, chưa xem xét đầy đủ tất cả các yếu tố: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, nguồn lực vật chất, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, để giải quyết tối ưu bài toán quy hoạch Tình hình đầu tư phát triển các KCN không theo quy hoạch tổng thể, thiếu sự phối hợp giữa các địa phương trong vùng nên đã không tận dụng được lợi thế so sánh, dẫn đến tình trạng cạnh tranh gay gắt làm hiệu quả hoạt động các KCN bị giảm sút

Vấn đề thứ ba còn tồn tại là chưa thống nhất quan điểm phát triển kinh tế và vấn đề xã hội

Một số địa phương (như Hưng Yên, Hải Dương, Đồng Nai, Long An…) do quy hoạch phát triển các KCN chưa hợp lý, sử dụng nhiều đất chuyên trồng lúa, đất

có ưu thế đối với sản xuất nông nghiệp, đất đang có khu dân cư tại những vị trí có hạ tầng kỹ thuật dẫn đến tình trạng các hộ nông dân bị thu hồi đất, không có đất canh tác, ảnh hưởng đến đời sống và gây tâm lý bất ổn trong nhân dân

Trang 14

Nhiều KCN chưa thực sự quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường khi tiến hành sản xuất, vi phạm các cam kết thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường

Kết cấu hạ tầng đắt đỏ, ứ đọng vốn, vướng mắc trong giải toả, đền bù đẩy giá thuê đất lên cao Mạng lưới KCN, KCX nặng tính cục bộ, khép kín trong địa giới hành chính, xuất hiện sự cạnh tranh không lành mạnh Tình trạng “Quy hoạch treo”,

“Dự án treo”, “đền bù treo ” đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các tỉnh, dân mất đất không có việc làm, mất lòng tin, nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực khác trong xã hội Tình trạng các KCN được xây dựng theo “nhiệm kỳ”, tệ xin – cho vẫn còn phổ biến trong việc phê duyệt dự án đầu tư, phê duyệt và đưa vào quy hoạch phát triển KCN ở các địa phương, làm phá vỡ quy hoạch tổng thể phát triển KCN của cả nước và sự thiếu các chuẩn mực để xây dựng một KCN của cơ quan Trung ương dẫn đến hiện tượng các KCN được xây dựng theo kiểu phong trào, đầu tư tràn lan, dàn trải, kém hiệu quả xảy ra ở rất nhiều nơi và ngày càng nghiêm trọng

Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch và việc xử lý đơn khiếu kiện liên quan đến việc đền bù giải phóng mặt bằng bị buông lỏng và không giải quyết kịp thời gây ra nhiều bức xúc cho người dân có đất bị thu hồi Chưa có cơ chế kiểm tra, giám sát lại của người dân đối với cơ quan nhà nước nên tình trạng tham nhũng, sách nhiễu gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân của một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức là rất nghiêm trọng Điều này thể hiện sự không công bằng, minh bạch của chính sách, vừa không ngăn chặn được các tiêu cực xảy ra và làm cản trở đến hoạt động và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp

Vấn đề thứ tư là chưa kết hợp quy hoạch KCN và quy hoạch đô thị

Tình trạng các KCN đã được xây dựng hoặc là ở trong lòng thành phố gây rất nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ môi trường gây ách tắc giao thông, cung cấp nhà ở, dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, trường học cho người lao động và con em họ hoặc được bố trí quá xa khu dân cư và các nguồn cung cấp dịch vụ nên khó khăn trong việc thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài

Trang 15

Với nền kinh tế trong giai đoạn chuyển mình, quá trình mở rộng và tăng tốc phát triển luôn đi kèm với những vấn đề phát sinh từ sự vận động quá nhanh đó Việc xác định những vấn đề cần giải quyết, song song vừa phát triển vừa giải quyết các vấn đề đó một cách hiệu quả sẽ có thể đảm bảo một nhịp độ tăng trưởng bền vững, tránh được những hệ quả đáng tiếc sau tăng trưởng

1.2.2 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây có liên quan

Hiện nay có nhiều nghiên cứu về môi trường đầu tư và thu hút đầu tư ở các KCN với những góc nhìn và tiếp cận khác nhau và cũng đã thu được nhiều kết quả nhất định Trong các nghiên cứu kể trên, có một số nghiên cứu gần với đề tài đáng chú ý là các nghiên cứu sau:

Nguyễn Đình Thọ và cộng tác viên (2005), thực hiện đề tài: “Điều tra đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Tiền Giang và đề xuất các giải pháp huy động các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển” Đề tài đã vận dụng lý thuyết tiếp thị địa phương và phương pháp phân tích nhân tố khám phá, phân tích hồi quy để nhận dạng, ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến thỏa mãn của nhà đầu tư và phương pháp phân tích vị trí đa hướng để xác định vị trí cạnh tranh của Tiền Giang trong khu vực Nghiên cứu 3 yếu tố môi trường đầu tư cơ bản là hạ tầng đầu tư; chế độ, chính sách đầu tư; và môi trường sống làm việc

Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt Nam (VNCI) do Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) năm

2005 - 2009, nghiên cứu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) thông qua nghiên cứu các yếu tố môi trường đầu tư mềm nhằm đánh giá năng lực điều hành kinh tế của các địa phương Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2009 gồm 09 yếu tố: (1) chi phí gia nhập thị trường; (2) tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; (3) tính minh bạch và tiếp cận thông tin; (4) chi phí và thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước; (5) chi phí không chính thức; (6) tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; (7) dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; (8) đào tạo lao động; (9) thiết chế pháp lý, USAID - VCCI (2009) Trong các yếu tố thì các yếu tố: 3, 4 và

8 được đánh giá là các yếu tố tác động lớn; các yếu tố: 1, 5 và 6 được đánh giá có tác

Trang 16

động trung bình; các yếu tố còn lại: 2, 7 và 9 được đánh giá có tác động yếu hơn đến

sự tăng trưởng của khu vực kinh tế tư nhân Và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được tổng hợp từ các chỉ số thành phần có trọng số theo hướng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

tư nhân Các yếu tố thành phần của PCI có thể được thay đổi theo thời gian cho phù hợp với quá trình vận động của nền kinh tế đất nước Kết quả nghiên cứu của VNCI năm 2009 cho thấy có mối liên hệ giữa chất lượng điều hành kinh tế - thông qua chỉ

số PCI và kết quả kinh tế Bằng cách cố định các nhân tố cơ sở hạ tầng (chất lượng đường giao thông và chất lượng viễn thông), các yếu tố cơ cấu (quy mô dân số, mật

độ dân số và khoảng cách đến thị trường chính) và hiệu ứng khu vực (cho phép cố định các nhân tố, các nhân tố kinh tế - xã hội và đặc thù khu vực) Trong mỗi phép hồi quy, hệ số hồi quy của PCI chưa tính trọng số phản ảnh tác động của điều hành kinh tế có giá trị khá lớn và có ý nghĩa về mặt thống kê Có thể kết luận rằng, các tỉnh có chất lượng điều hành tốt hơn cũng thành công hơn về phát triển doanh nghiệp dân doanh và thịnh vượng hơn về kinh tế Đối với tác động thu hút đầu tư từ kết quả nghiên cứu cho thấy nếu một tỉnh cải thiện 1 điểm trong PCI chưa có trọng số sẽ có thêm 3 nhà đầu tư có khả năng chọn tỉnh đó làm địa điểm đầu tư kinh doanh Hạn chế của nghiên cứu là chỉ tập trung vào cơ sở hạ tầng mềm thông qua đánh giá năng lực lãnh đạo địa phương và bỏ qua một số yếu tố môi trường đầu tư quan trọng khác Lương Hữu Đức năm 2007, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố tác động đến cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lâm Đồng” Đề tài đã vận dụng lý thuyết tiếp thị địa phương và chính sách công, sử dụng phân tích mô tả so sánh giữa các địa phương và phân tích hồi quy giữa chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh có trọng số (WP – theo VCCI) với FDI theo đầu người với 9 chỉ số năng lực cạnh tranh với bộ

số liệu gồm 30 tỉnh thành điều kiện như Lâm Đồng Kết quả nghiên cứu cho thấy có quan hệ thuận chiều giữa năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và thu hút FDI Tuy nhiên,

mô hình dự báo chỉ giải thích được 39% FDI là do năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Kết quả nghiên cứu các yếu tố thành phần của PCI cho thấy các nhân tố: tính năng động của lãnh đạo tỉnh, thiết chế pháp lý, tính minh bạch và tiếp cận thông tin và chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước có tác động thu hút FDI Các nhân

Trang 17

tố chính sách ưu đãi DN nhà nước và chi phí không chính thức có tác động giảm thu hút đầu tư Hạn chế của nghiên cứu là chưa định lượng được tổng các yếu tố tác động đến cải thiện môi trường đầu tư, chỉ phân tích được các nhân tố môi trường mềm do đó mức độ giải thích không cao từ đó đưa ra khuyến nghị về chính sách chưa sát với thực trạng với điều kiện của tỉnh Trong nghiên cứu đầu tư tác giả cũng chỉ xem xét đến nguồn FDI mà bỏ qua các thành phần đầu tư khác cũng rất quan trọng như đầu tư trong nước và nhất là đầu tư của các DN địa phương Việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của tỉnh Lâm Đồng cần nên xuất phát

từ môi trường đầu tư của tỉnh và sử dụng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của VNCI mang tính chất tham khảo, so sánh có thể sẽ cho kết quả xác thực hơn

Kiều Công Minh năm 2008, thực hiện đề tài: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Tây Ninh” Đề tài đã

sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua các chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh của VNCI, phương pháp so sánh mô tả và phương pháp chuyên gia để đánh giá tổng quan vai trò dòng vốn FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội ở những nước đang phát triển và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI về lý luận

và thực tiễn; phân tích các nhân nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI của tỉnh Tây Ninh; đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thu hút dòng vốn FDI của tỉnh Tây Ninh Nghiên cứu đã phân tích, xác định được một số các yếu tố tác động đến thu hút FDI bao gồm các nhân tố truyền thống (vị trí – khoảng cách đến thị trường chính, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, chính sách ưu đãi) và các nhân tố mềm (09 chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh thành phần theo VNCI) Nghiên cứu cũng đề xuất được một số giải pháp để thu hút FDI như: đề xuất phát triển kinh tế xã hội tỉnh Tây Ninh; nâng cao PCI; cải thiện cơ sở hạ tầng; nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển các KCN; tăng cường xúc tiến đầu tư; đề xuất giải pháp còn mang tính chung chung, thiếu cụ thể do đó ít tính khả thi

Trang 18

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẾN TRE

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH BẾN TRE 2.1.1 Giới thiệu chung về các Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre

2.1.1.1 Giới thiệu chung về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre

- Vị trí địa lý: Bến Tre là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, có diện

tích tự nhiên là 2.360 km2, được hợp thành bởi cù lao An Hóa, cù lao Bảo, cù lao Minh và do phù sa của 4 nhánh sông Cửu Long bồi tụ thành (sông Tiền, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, sông Cổ Chiên) Bến Tre cách thành phố Hồ Chí Minh 86

km, cách thành phố Cần Thơ 120 km, phía Bắc giáp tỉnh Tiền Giang, phía Tây và phía Nam giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh, phía Đông giáp biển Đông

- Khí hậu: tỉnh Bến Tre nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích

đạo, với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 đến 2.300 mm, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 260C – 270C Với vị trí nằm tiếp giáp biển Đông, nhưng Bến Tre ít chịu ảnh hưởng của bão lũ, khí hậu ôn hòa, mát mẻ quanh năm… Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư, sản xuất, kinh doanh và du lịch của tỉnh

- Tài nguyên đất: Bến Tre là tỉnh có nguồn tài nguyên đất phong phú, với nhiều loại đất như: đất cát, đất phù sa, đất phèn, đất mặn Sản xuất nông nghiệp của tỉnh ngày càng mở rộng, nhu cầu thâm canh, tăng vụ ngày càng được chú trọng Hơn

20 năm qua, bằng những nổ lực của mình, nhân dân Bến Tre cũng như cả vùng đồng bằng Nam Bộ đã tiến hành nhiều công trình tháu chua rửa mặn, cải tạo đất đai nhằm khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này có hiệu quả hơn Đất trên địa bàn tỉnh Bến Tre được phân thành 3 nhóm chính:

Nhóm đất phù sa chiếm khoảng 84% diện tích canh tác, chia làm 2 nhóm phụ:

Đất phù sa ngọt, chiếm khoảng 34% diện tích với 5 loại đất, tập trung ở phía Tây

Trang 19

Bắc của tỉnh Đất được hình thành từ trầm tích sông Cửu Long, có độ phì từ khá đến cao, khu vực ven sông được phù sa bồi đắp hàng năm, thích hợp canh tác lúa và trong điều kiện lên liếp có phổ thích nghi khá rộng (rau màu, cây lâu năm, cây ăn

trái); Đất phù sa nhiễm mặn, chiếm khoảng 50% diện tích, hình thành từ trầm tích

pha sông biển, tập trung chủ yếu ở các huyện ven biển (Bình Đại, Thạnh Phú, Ba Tri) … trong đó, loại đất phù sa nhiễm mặn ít và mặn trung bình đang được cải tạo từng bước theo quy hoạch phát triển thủy lợi, có độ phì từ trung bình đến khá và có nhiều triển vọng thâm canh nông nghiệp, thích nghi với nhiều loại cây trồng như: lúa, dừa, mía, cây ăn trái… Các loại đất phù sa mặn nhiều thích hợp cho việc phát triển rừng ngập mặn và nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ

Nhóm đất phèn chiếm khoảng 9,4% diện tích, phân bố rải rác trên toàn địa

bàn tỉnh Đất hình thành trong điều kiện bồi lắng chậm trên môi trường yếm khí giàu hữu cơ tại vùng bưng, trũng, sông cổ Hiện đang được cải tạo để canh tác các loại

cây như: lúa, mía, dừa,… và một phần còn hoang hóa

Nhóm đất cát chủ yếu là đất giồng cát, chiếm khoảng 6,8% diện tích, được

phân bố ở khắp các huyện trong tỉnh, tập trung nhiều nhất tại các huyện Ba Tri, Mỏ Cày, Thạnh Phú, Bình Đại Đất được hình thành trong quá trình biển lùi của vùng châu thổ sông Cửu Long, phổ thích nghi rộng đối với cây trồng cạn; tuy nhiên do sa

cấu nhiều cát, nghèo hữu cơ nên đất giồng cát có độ phì và khả năng giữ nước kém

- Tài nguyên nước: tỉnh Bến Tre có 4 con sông lớn chảy qua là: Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên Những con sông này giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hóa của nhân dân trong tỉnh như: cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và nông nghiệp, góp phần làm tươi đẹp cảnh quan, điều hòa khí hậu Hệ thống sông, rạch trong tỉnh còn là điều kiện thuận lợi cho Bến Tre phát triển mạng lưới giao thông đường thủy và thủy lợi

- Tài nguyên động vật, thực vật: Nằm ở giữa môi trường sông và biển, chịu ảnh hưởng của khí hậu gió mùa nhiệt đới nên cảnh quan tự nhiên của Bến Tre mang đặc trưng của miền địa lý động vật, thực vật miền Tây Nam Bộ Những con sông lớn

và vùng biển Đông ở Bến Tre có nhiều loại thủy sản như: cá vược, cá dứa, cá bạc

Trang 20

má, cá thiều, cá mối, cá cơm, nghêu, cua biển và tôm,…đây là nguồn nguyên liệu vô cùng phong phú cho ngành công nghiệp chế biến thủy sản của tỉnh phát triển Là tỉnh

có 3 huyện giáp biển: Ba Tri, Bình Đại và Thạnh Phú, rừng phòng hộ ở các huyện đang được bảo vệ nhằm ổn định vành đai rừng phòng hộ ven biển, thông qua việc trồng mới và quản lý lâm sản xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Năm 2010, Bến Tre

đã trồng mới 72 ha rừng, chăm sóc 336 ha và bảo vệ 3.461 ha

- Về vị trí kinh tế: tuy nằm không xa trung tâm vùng kinh tế trọng điểm phía

Nam là thành phố Hồ Chí Minh (86 km) nhưng do vị trí nằm cuối tuyến giao lưu kinh tế từ vùng trọng điểm kinh tế phía Nam đến biển Đông và lệch khỏi trục QL.1A

từ thành phố Hồ Chí Minh đi các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời do điều kiện địa thế cù lao bị sông rạch chia cắt, ít thuận lợi cho giao thông bộ, nên mức

độ giao lưu kinh tế và thu hút đầu tư của Bến Tre tương đối thấp so với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long Các trục đường bộ quan trọng (QL.60, QL.57, ĐT.883, ĐT.885, ĐT.887, ĐT.888) chỉ có giá trị giao lưu kinh tế nội tỉnh là chính; các tuyến giao thông đối ngoại trước đây đều bị cách ly tương đối thông qua các bến phà Rạch Miễu (QL.60 đi Mỹ Tho hướng về vùng kinh tế trọng điểm phía Nam), phà Cổ Chiên (QL.60 đi Trà Vinh) và phà Đình Khao (QL.57 đi Vĩnh Long); đến năm 2009, cầu Rạch Miễu hoàn thành đã tạo điều kiện kết nối tỉnh Bến Tre với vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, cầu Cổ Chiên vẫn đang được xây dựng nhằm kết nối liền tuyến giữa Bến Tre với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long

Tuy nhiên, về đường thủy, tỉnh Bến Tre lại khá thuận lợi với hệ thống 4 sông chính hướng ra biển Đông (cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên) và

hệ thống kênh rạch chằng chịt khắp ba cù lao, là các trục giao thông đối ngoại quan trọng gắn kết kinh tế tỉnh Bến Tre với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

Với vị trí địa lý kinh tế như trên, kết hợp với điều kiện tự nhiên đặc thù, hiện nay Bến Tre được xem như một tỉnh sản xuất nông ngư nghiệp là chủ yếu với các thế mạnh về kinh tế dừa, chăn nuôi đại gia súc (đứng hàng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long), kinh tế vườn (hàng thứ 2 sau Tiền Giang), kinh tế biển (đứng hàng

Trang 21

thứ 3 về nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản với trên 20.000 ha vùng lãnh hải thuộc đặc quyền của tỉnh) và còn có các vùng bảo tồn sinh thái rừng ngập mặn đặc thù Tuy nhiên các lĩnh vực kinh tế công thương nghiệp trên địa bàn tỉnh còn kém phát triển

Toàn tỉnh hiện có trên 2.886 doanh nghiệp và hơn 44.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực Bến Tre đã hình thành Khu công nghiệp Giao Long và Khu công nghiệp An Hiệp đưa vào hoạt động thu hút nhiều dự án đầu

tư vào tỉnh Hiện tỉnh đang tập trung phát triển các loại hình du lịch sinh thái, sông nước Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp phát triển khá ổn định, thương mại - du lịch phong phú, đa dạng ngày càng sôi động, tạo tiền đề cho bước đột phá tăng trưởng kinh tế của địa phương trong thời gian tới Đặc biệt, cống đập Ba Lai, cầu Rạch Miễu hoàn thành và đưa vào sử dụng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra tương lai phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, đưa Bến Tre thoát khỏi thế “ốc đảo”, nhanh chóng hòa nhập với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tạo đà phát triển các mặt kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng cho toàn vùng

- Về xã hội: tỉnh Bến Tre có khoảng 1,255 triệu người với 64,5% dân số trong

độ tuổi lao động Bên cạnh đó, tỉnh có hai trường Cao đẳng và trên 60 cơ sở dạy nghề Hàng năm tỉnh đã đào tạo và giới thiệu việc làm cho khoảng 30.000 lao động,

tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 36% Bến Tre hiện có 31 trường trung học với 40.000 học sinh, trong đó có khoảng 12.000 học sinh trung học phổ thông tốt nghiệp hàng năm và khoảng 3.000 học sinh bước vào các trường Đại học, Cao đẳng

- Đường bộ: hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh có vị trí đặc biệt trong

khu vực đồng bằng sông Cửu Long Thành phố Bến Tre nối liền thành phố Hồ Chí Minh (qua Tiền Giang, Long An) dài 86 km Quốc lộ 60 nối liền các tỉnh miền Tây đang được đầu tư nâng cấp, cầu Rạch Miễu đã khánh thành và đưa vào sử dụng, rút ngắn đáng kể thời gian đến Bến Tre bằng đường bộ Cầu Hàm Luông hoàn thành nối liền cù lao Bảo và cù lao Minh, cầu Cổ Chiên nối Bến Tre với Trà Vinh đang được xây dựng khi hoàn thành sẽ là động lực phát triển kinh tế của địa phương, gắn kết kinh tế của tỉnh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các vùng kinh tế trọng điểm

Trang 22

phía Nam, để tiềm năng kinh tế - văn hóa - xã hội của Bến Tre được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ

- Đường thủy: Tỉnh Bến Tre có hệ thống sông rạch phát triển với 4 nhánh

sông lớn của hệ thống sông Tiền là sông Mỹ Tho (sông Tiền), Ba Lai, Hàm Luông

và Cổ Chiên, tổng chiều dài khoảng 300 km Ngoài ra, còn hệ thống kênh rạch nối các sông lớn với nhau thành mạng lưới sông rạch chằng chịt với tổng chiều dài hơn 2.367 km Tổng lưu lượng nước các sông thuộc hệ thống sông Tiền lên đến 30 tỷ

m3/năm trong đó mùa lũ chiếm 80%

Sông Mỹ Tho (sông Tiền): chạy suốt theo chiều dọc của tỉnh, chiều dài

khoảng 83 km, lưu lượng mùa lũ khoảng 6.480 m3/s; mùa kiệt 1.598 m3/s

Sông Ba Lai: tổng chiều dài khoảng 59 km, lưu lượng mùa lũ khoảng 240

m3/s, mùa kiệt 59 m3/s

Sông Hàm Luông: có chiều dài khoảng 71 km, là con sông lớn nằm trọn vẹn

trong địa giới tỉnh Bến Tre, lòng sông rộng và sâu, lưu lượng lớn nhất so với các sông khác; vào mùa lũ lưu lượng khoảng 3.360 m3/s, mùa kiệt khoảng 828 m3/s

Sông Cổ Chiên: nằm về phía Nam của tỉnh, có chiều dài khoảng 82 km, là

ranh giới tự nhiên giữa Bến Tre với các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long Lưu lượng mùa

lũ khoảng 6.000 m3/s; mùa kiệt khoảng 1.480 m3/s

Các con sông có một vị trí quan trọng trong hệ thống giao thông đường thủy không chỉ của tỉnh mà còn của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long Ngoài ra, còn nhiều kênh rạch chính nối các sông lớn trên với nhau thành một mạng lưới chằng chịt với 46 kênh rạch chính có tổng chiều dài trên 300 km; trong đó quan trọng nhất

là các kênh Giao Hòa (Châu Thành - Bình Đại), Mỏ Cày, Cái Cấm, Vàm Thơm (Mỏ Cày), Băng Cung, Eo Lói, Khém Thuyền (Thạnh Phú), Bến Tre, Sơn Đốc (Thành phố Bến Tre - Giồng Trôm), Vàm Hồ, Cây Da, Mương Đào (Ba Tri),…

- Bưu chính viễn thông: Bến Tre đã xây dựng cơ sở hạ tầng, lắp đặt thêm nhiều trạm BTS 2G và 3G; đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng nhiều dự án hiện đại

về công nghệ, mở rộng về dung lượng đảm bảo phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế -

xã hội Trong những năm tới, Bưu chính viễn thông Bến Tre sẽ tiếp tục có những

Trang 23

sách lược, hướng đi phù hợp để phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững, phát triển nguồn nhân lực, tập trung xây dựng lực lượng cán bộ khoa học có trình độ và năng lực quản lý, quyết giữ vững vai trò chủ lực trong lĩnh vực bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh…

- Cấp thoát nước: Hệ thống xử lý và cấp nước tập trung đủ cho nhu cầu sinh hoạt của người dân thành phố và trung tâm các huyện Hiện tại, Công ty cấp thoát nước Bến Tre có hai nhà máy ở xã Sơn Đông (thành phố Bến Tre) và xã Hữu Định (huyện Châu Thành), công suất 32.000 m3/ngày đêm và nhà máy cấp nước Chợ Lách, công suất 1.000 m3/ngày đêm Với công suất này, hàng năm Công ty cung cấp trên 7 triệu m3 nước cho những hộ dân vùng đô thị và lân cận

- Điện lực: những năm gần đây, ngành điện đã đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để xây dựng nhiều công trình trọng điểm như: trạm 220 kV Bến Tre – 2 x 125 MVA đường dây 220 kV Mỹ Tho – Bến Tre, đường dây 110 kV Mỏ Cày – Chợ Lách, đường dây 110 kV Vĩnh Long – Chợ Lách, trạm 110 kV Chợ Lách và dự kiến công trình trạm 110 kV Bình Đại, trạm 110 kV Thạnh Phú, đường dây 110 kV Giồng Trôm – Bình Đại, Mỏ Cày – Thạnh Phú đưa vào vận hành trong các năm 2012 và

2013

2.1.1.2 Tiềm năng và cơ hội hợp tác phát triển

Bến Tre là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long có nhiều lợi thế trong giao thương như: với một hệ thống sông ngòi chằng chịt rất thuận lợi cho giao thông đường thủy Quốc lộ 60 nối liền các tỉnh miền Tây đang được nâng cấp, cầu Rạch Miễu và cầu Hàm Luông đã khánh thành và đưa vào sử dụng đã rút ngắn đáng kể thời gian đến Bến Tre bằng đường bộ Năm 2011, cầu Cổ Chiên đã khởi công xây

dựng nối liền Bến Tre và tỉnh Trà Vinh, đây sẽ là động lực phát triển kinh tế của

vù ng, là các trục giao thông quan trọng gắn kết kinh tế của tỉnh với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Hiện nay, tỉnh Bến Tre

có 03 cảng cá, 01 cảng gần Khu công nghiệp Giao Long và 01 cảng bốc xếp hàng hóa trên sông Hàm Luông

Trang 24

Tỉnh Bến Tre được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố Bến Tre

và 8 huyện: Mỏ Cày Bắc, Mỏ Cày Nam, Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri, Bình Đại, Chợ Lách, Thạnh Phú, với 164 xã, phường và thị trấn Ngày 02/9/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 34/NQ-CP về việc thành lập thành phố Bến Tre trực thuộc tỉnh Bến Tre, đây là động lực để thúc đẩy kinh tế của tỉnh khởi sắc trong thời gian không xa Về tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trên 10%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 790 USD, chỉ số năng lực ca ̣nh tranh năm 2010 đứng thứ 10/63 tỉnh, thành cả nước

Nguồn tài nguyên chủ yếu và quan trọng của tỉnh là tài nguyên đất nông nghiệp Năm 2010, diê ̣n tích đất nông nghiê ̣p của tỉnh là 179.672ha, chiếm 76,11% diện tích đất tự nhiên, trong đó diện tích trồng cây ăn trái là 32.023ha, sản lượng là 318.469 tấn, diê ̣n tích trồng mía là 5.865ha, sản lượng đa ̣t 460.056 tấn, diện tích trồng cây dừa là 51.560 ha, sản lượng đạt 420 triệu trái/năm và lớn nhất nước Từ dừa có thể làm ra nhiều sản phẩm hết sức đa dạng và phong phú, được thị trường trong nước và quốc tế ưa chuộng Bến Tre có thế mạnh về kinh tế thủy sản, với 65km chiều dài bờ biển và diện tích các huyện ven biển nên thuận lợi cho đánh bắt

và nuôi trồng thủy hải sản, tạo ra nguồn tài nguyên biển phong phú với các loại tôm, cua, cá, mực, nhuyễn thể hai mảnh vỏ tự nhiên Năm 2010, sản lượng đánh bắt là 122.608 tấn, sản lượng nuôi trồng 168148 tấn Lực lượng thương nghiê ̣p phát triển khá nhanh, toàn tỉnh hiện có 2.886 doanh nghiệp và 44.000 hộ kinh doanh cá thể đăng ký hoạt động trên các lĩnh vực, thu hút trên 100.000 ngàn lao đô ̣ng với thu nhập ổn đi ̣nh

Trong năm 2010, ngành công nghiê ̣p trên đà phát triển, giá tri ̣ sản xuất công nghiệp đa ̣t 3.710 tỷ đồng, trong đó doanh nghiê ̣p trong nước đa ̣t 3.359,5 tỷ đồng, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đa ̣t 350,5 tỷ đồng, sản phẩm chủ yếu là thuỷ

hải sản, các sản phẩm chế biến từ dừa, thủ công mỹ nghê ̣ Bến Tre đã hình thành Khu công nghiệp Giao Long và Khu công nghiệp An Hiệp đưa vào hoạt động thu hút được 41 dự án, trong đó vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có 23 dự án, vốn đầu tư trong nước có 18 dự án, đến nay đã có 38 dự án đã đi vào hoa ̣t đô ̣ng ổn đi ̣nh, 03

Trang 25

đang xây dựng Tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 9.074,76 tỷ đồng (quy đổi) của 18 dự

án trong nước với tổng vốn đầu tư là 2.500,77 tỷ đồng và 23 dự án FDI với vốn đăng

ký 318 triệu USD Hai Cu ̣m công nghiê ̣p mới hình thành là Cu ̣m công nghiê ̣p Phong Nẫm, huyện Giồng Trôm và Cu ̣m công nghiê ̣p Ba Tri, huyê ̣n Ba Tri Tổng mức bán

lẻ hàng hoá và di ̣ch vu ̣ đa ̣t 15.200 tỷ tăng 21,28% so với cùng kỳ Toàn tỉnh hiê ̣n có

175 chợ bao gồm 01 chợ cấp I, 8 chợ cấp II và 166 chợ cấp III và chợ ta ̣m Ngoài hê ̣ thống chợ truyền thống, loa ̣i hình thương ma ̣i hiê ̣n đa ̣i cũng đang từng bước hình thành với các dự án: Trung tâm thương ma ̣i Bình Đa ̣i, Ba Tri và Châu Thành

Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 230 triệu USD, tăng 22,15% so với cùng kỳ, kim ngạch nhập khẩu đạt 65 triệu USD, tăng 19,46% so với cùng kỳ, mă ̣t hàng xuất khẩu chủ yếu là thuỷ hải sản, hàng may mă ̣c, các sản phẩm từ dừa, hàng nông sản, thủ công mỹ nghê ̣ Thi ̣ trường xuất khẩu của các sản phẩm Bến Tre đã có mă ̣t trên

80 nước và vùng lãnh thổ, trong đó Thi ̣ trường châu Á, châu Mỹ, EU và châu Phi Tỉnh đang tập trung phát triển các loại hình du lịch sinh thái, sông nước Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp phát triển khá ổn định, thương mại - dịch vụ phong phú, đa dạng ngày càng sôi động, tạo tiền đề cho bước đột phá tăng trưởng kinh tế của địa phương trong thời gian tới

Trong những năm gần đây, Bến Tre đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi đầu

tư trên các lĩnh vực kinh tế Đă ̣c biê ̣t là tỉnh dành nhiều ưu đãi cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước Với những lợi thế về giao thương và tiềm năng kinh tế hiê ̣n có,

Bến Tre luôn mở rô ̣ng vòng tay mời go ̣i và hân hoan chào đón các nhà đầu tư trong

và ngoài nước đến Bến Tre hợp tác mở rô ̣ng giao thương để cùng phát triển, sẳn sàng

tạo mo ̣i điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi để các đối tác triển khai thực hiê ̣n các dự án có hiê ̣u quả

2.1.1.3 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020

a Quan điểm phát triển

Phát huy nội lực và sử dụng tốt mọi nguồn lực, tập trung khai thác có hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội nhanh, hiệu quả và bền vững, gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường; tiếp tục thực hiện định hướng chiến lược phát triển bền vững tỉnh Bến Tre đến 2020

Trang 26

gắn với định hướng chiến lược biển Việt Nam đến 2020 nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa, tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế

- Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, nền công nghiệp công nghệ cao; tích cực ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển nông nghiệp tạo ra các sản phẩm mũi nhọn có giá trị cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, tiến tới hình thành các vùng nông nghiệp công nghệ cao Trong giai đoạn 5 năm cuối của kỳ quy hoạch, tăng cường đầu tư mạnh vào lĩnh vực phúc lợi xã hội nhằm từng bước tiến đến phát triển kinh tế - xã hội toàn diện và đồng

bộ

- Phát triển kinh tế phải gắn với phát triển y tế, văn hóa, giáo dục và đào tạo, từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo, tập trung đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao để đáp ứng nhu cầu của xã hội

- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ an ninh - quốc phòng, giữ vững ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; hoàn chỉnh chiến lược quốc phòng và chiến lược an ninh trong điều kiện tỉnh Bến Tre nằm trong vùng ven biển của vùng đồng bằng sông Cửu Long và trong thế hội nhập kinh tế quốc tế

và khu vực Đông Nam Á

- Phát triển kinh tế kết hợp với bảo vệ môi trường sinh thái, có giải pháp chủ động ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu và nước biển dâng trong tầm nhìn dài hạn; trong đó, tập trung phát triển các nguồn lực, bố trí dân cư đô thị và nông thôn phù hợp với quy hoạch chung, phân bố không gian phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng kết cấu hạ tầng

b Mục tiêu phát triển

Xây dựng Bến Tre đến năm 2020 có tốc độ phát triển kinh tế - xã hội tương xứng với các địa phương trong vùng; thu nhập bình quân đầu người ở mức trung bình Tiếp tục phát huy lợi thế vị trí tiếp giáp vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và thế mạnh và phát triển kinh tế vườn, kinh tế biển để từng bước nâng cao đời sống vật

Trang 27

chất tinh thần của nhân dân, phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, văn hóa - xã hội và nguồn nhân lực; đẩy mạnh hội nhập quốc tế, tăng cường liên kết phát triển nhất là với các địa phương trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

c Các chỉ tiêu kinh tế cụ thể

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng 13,8%/năm trong 10 năm, trong

đó giai đoạn 2011 - 2015 đạt 13%/năm và giai đoạn 2016 - 2020 đạt 14,5%/năm GDP bình quân đầu người đạt khoảng 1.600 USD vào năm 2015 và khoảng 3.300 USD vào năm 2020; chỉ số HDI đạt khoảng 0,9

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp Dự kiến đến năm 2015, tỷ lệ cơ cấu

các ngành nông nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là 30,3% -27,4% - 42,3%;

đến năm 2020 là 19,2% - 32,6% - 48,2%

- Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 575 triệu USD năm 2015 và khoảng 1,4 tỷ USD năm 2020, tăng bình quân 20%/năm Thu ngân sách trên địa bàn tăng bình quân 13%/năm theo giá so sánh Tiết kiệm trong dân năm 2020 đạt 22% GDP; chỉ số

ICOR toàn thời kỳ khoảng 2,8

Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa

Tỉnh Bến Tre dự kiến đạt khoảng trên 1,31 triệu dân vào năm 2020, tỷ lệ đô thị hóa khoảng 30%, và khoảng 1,40-1,45 triệu dân vào năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa trên dưới 35%

Đô thị trung tâm đặt tại thành phố Bến Tre, tiến đến tiếp cận các chỉ tiêu thành phố đô thị loại II vào khoảng 2020 Trên địa bàn tỉnh sẽ hình thành 3 thị xã

Mỏ Cày, Ba Tri và Bình Đại trên cơ sở nâng cấp và điều chỉnh địa giới các thị trấn hiện có, đảm trách vai trò trung tâm tiểu vùng; đồng thời đầu tư nâng cấp mở rộng các thị trấn hiện có, cũng như nâng cấp mở rộng một số trung tâm xã lớn lên thị trấn tiêu chuẩn đô thị loại V theo hướng làm điểm tập kết hàng hóa, sơ chế, trung tâm phân phối và cung ứng hàng hóa cho tiểu vùng, đồng thời sắp xếp lại các đơn vị hành chính cấp huyện, xã Như vậy, hệ thống đô thị của tỉnh sẽ bao gồm đô thị trung

Trang 28

tâm và các đô thị vệ tinh là điểm tập trung mạng lưới thu mua, chế biến, phân phối sản phẩm, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng phúc lợi xã hội và bố trí dân cư

Năm 2020, hoàn chỉnh khu công nghiệp tập trung Giao Long và các cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp cho các huyện thị nhằm tạo động lực mới cho phát triển công nghiệp tỉnh Thu hút lấp đầy các khu công nghiệp Giao Long, An Hiệp (Châu Thành) và triển khai đầu tư các khu công nghiệp mới tại Giao Hòa (Châu Thành), Thành Thới (Mỏ Cày Nam), Thanh Tân (Mỏ Cày Bắc), Phước Long (Giồng Trôm), Phú Thuận (Bình Đại) thay thế An Phước (Châu Thành); trong điều kiện phát triển công nghiệp thuận lợi sau năm 2020, có khả năng phát triển thêm khu công nghiệp An Nhơn (Thạnh Phú); tích cực thu hút các nguồn lực đầu tư trong và ngoài tỉnh, trong và ngoài nước vào các khu, cụm công nghiệp

Hiện nay, ngoài Khu công nghiệp Giao Long và Khu công nghiê ̣p An Hiệp đã được đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng Bến Tre được Chính phủ phê duyệt đầu tư thêm 05 Khu công nghiệp mới cho giai 2011 - 2020 với tổng diện tích khoảng 1.000ha và mở rộng thêm hai Khu công nghiệp hiện hữu Giao Long và An Hiệp Các khu công nghiệp đã được quy hoạch, gồm:

Trang 29

Bảng 2.1 Các khu công nghiệp quy hoạch giai đoạn 2011 - 2020

STT Khu công nghiệp

Diện tích (ha)

Địa điểm (huyện)

Hiện trạng quy hoạch

2 Khu công nghiệp Giao Long

Long

182,32 Giồng Trôm Hoàn thành 1/2000

Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2020

Ngoài 07 Khu công nghiệp của tỉnh đang thu hút và mời gọi nhà đầu tư trong

và ngoài nước đầu tư hạ tầng các khu công nghiê ̣p, Bến Tre đang quy hoạch phát triển các cụm công nghiệp tại các huyện và thành phố đến năm 2020 để thu hút các

dự án đầu tư hạ tầng cụm công nghiệp và dự án thứ cấp phù hợp với năng lực và sự

lựa cho ̣n của nhà đầu tư, gồm các cụm công nghiệp:

Trang 30

Bảng 2.2 Các Cụm công nghiệp quy hoạch giai đoạn 2011 - 2020

STT Cụm công nghiệp Diện tích

(ha)

Vốn đầu tư (tỷ đồng)

Vị trí (huyện)

Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre năm 2020

Bến Tre hiện nay chỉ có một siêu thị bán lẻ của Coop Mart và 01 Trung tâm Thương mại tổng hợp quy mô nhỏ Định hướng hình thành 4 trung tâm thương mại lớn tại thành phố Bến Tre, Mỏ Cày, Ba Tri, Bình Đại, hiện đại hóa các hoạt động thương mại dịch vụ; xây dựng bến vựa, chợ đầu mối nông ngư sản tại một số lợi điểm như cảng Giao Long (huyện Châu Thành), cảng cá Bình Thắng (huyện Bình Đại), cảng cá An Nhơn (huyện Thạnh Phú), khu liên hợp An Thủy - An Hòa Tây (huyện Ba Tri), các chợ vựa nông sản tại Tân Thành Bình (huyện Mỏ Cày Bắc), Tân Phú (huyện Châu Thành), Lương Quới (huyện Giồng Trôm); đầu tư nâng cấp và xây dựng mới hệ thống chợ; khuyến khích nhân dân chỉnh trang cửa hàng, tăng nhanh mối quan hệ thị trường, liên kết xúc tiến thương mại các sản phẩm nông nghiệp -

Trang 31

thủy sản và công nghiệp, xúc tiến xuất khẩu; khả năng trở thành một trung tâm trung chuyển của vùng ven biển Đông và ngày càng phát huy vai trò này

Năm 2012, tổng khách du lịch ước đa ̣t 693.000 lượt, trong đó khách quốc tế 300.500 lượt Đa số hoạt động du lịch tại Bến Tre gắn với du lịch sinh thái, sông nước, vườn cây và những điểm du lịch văn hóa, lịch sử Bến Tre còn thiếu các cơ sở du lịch xứng tầm Số lượng khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 sao trở lên còn khiêm tốn (hiện nay chỉ

có hai khách sạn 3 sao) Tỉnh đang mời gọi đầu tư thêm một số tòa nhà thương mại Bến Tre kinh doanh tổng hợp nhằm hướng đến đô thị loại 2 trong tương lai

Kết cấu hạ tầng kỹ thuật

Giao thông: Xây dựng các số tuyến mới, kết hợp với các tuyến hiện có hình

thành mạng giao thông hoàn chỉnh theo trục Bắc - Nam (nối liền các cù lao) và Đông Tây (phát triển giao thông trong nội bộ cù lao) nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải và giao lưu kinh tế phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đảm bảo an ninh quốc phòng

Chú trọng phát triển các trục giao thông có chức năng liên huyện và chức năng đối ngoại nhằm phá bỏ thế cù lao trong nội bộ tỉnh cũng như kết nối giao lưu kinh tế giữa Bến Tre với các tỉnh lân cận trong vùng đồng bằng sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng thời hoàn chỉnh các tuyến trục đối nội nhằm tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Phát triển các tuyến đường nông thôn theo cả hai hướng: phát triển hoàn chỉnh mạng giao thông và cải thiện chiều rộng mặt đường nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển vận tải

Nâng cấp hoàn chỉnh và phát triển hệ thống đường đô thị tại thành phố, thị xã, các thị trấn và thị tứ phù hợp với quy hoạch các loại đô thị, tạo tiền đề cơ bản đẩy mạnh quá trình đô thị hóa

Nạo vét và cải tạo các tuyến đường thủy các cấp đồng bộ với việc kết hợp với các công trình thủy lợi cấp vùng, cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Xây dựng mới và cải tạo các cơ sở hạ tầng giao thông (bến xe khách, bến vận tải, cảng, bến hành khách, bến hàng hóa…) tại các đô thị và khu công nghiệp

Cấp điện, cấp nước:

Trang 32

- Mục tiêu của ngành điện trong thời kỳ 2011 - 2020 là đảm bảo yêu cầu về điện cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh theo từng giai đoạn quy hoạch; Tăng và đảm bảo phụ tải, giảm tổn thất công suất, điện năng và tổn thất điện áp trên lưới; Phấn đấu đưa số hộ sử dụng điện tăng lên 99% từ năm 2015, đồng thời với tăng chỉ tiêu điện thương phẩm bình quân đầu người từ 551 kWh/người vào năm 2010 lên 1.738 kWh/người vào năm 2020 Hướng phát triển lưới điện tỉnh là phấn đấu đưa điện về khắp các vùng dân cư để đảm bảo mọi hộ dân được được sử dụng điện lưới; đồng thời từng bước cải tạo hệ thống điện lưới không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật, không đảm bảo an toàn cho người sử dụng Nâng cơ cấu sử dụng điện công nghiệp lên 50%

Về cấp nước đô thị, mở rộng công suất và hoàn chỉnh hệ thống phân phối

hiện hữu của các huyện thị, đồng thời xây dựng mới hệ thống cấp nước đô thị cho các thị trấn, các trung tâm phường xã mới thành lập

Về cấp nước nông thôn, xây dựng các nhà máy nước 10 - 20 m3/giờ tại các khu dân cư tập trung khoảng 100-200 hộ Tại các vùng dân cư thưa thớt, các vùng sâu, vùng xa, tình hình cấp nước sinh hoạt sẽ được cải thiện dần thông qua chương trình cấp nước nông thôn (giếng tầng nông ở nơi thích hợp, giếng cạn hợp vệ sinh nơi giồng cát, giếng ống, cung cấp các bể xi măng, lu, vại, để lắng, lọc, chứa, theo chương trình mục tiêu quốc gia, viện trợ của các Tổ chức chính phủ nước ngoài… )

- Thông tin liên lạc: Hướng phát triển của ngành bưu chính trong thời kỳ sắp

tới là tiếp tục hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình phục vụ, giữ vững và tăng cường chất lượng vận chuyển thư, báo trên các tuyến đường thứ cấp 2 và cấp 3, 100% bưu cục 3 mở tất cả các dịch vụ bưu chính, phát hành báo chí và phát triển 100% bưu điện văn hóa xã, mở dịch vụ EMS ở 50% bưu cục 3 có điều kiện, đưa vào khai thác dịch vụ chuyển phát trong ngày tại tất cả các Bưu cục 2, mở rộng việc phát báo cho độc giả đến các huyện (bưu cục II) trước 7 giờ sáng đạt 100%, mở rộng mạng lưới, ứng dụng tin học trong lãnh vực bưu chính và phát hành báo chí, nhanh chóng đưa dịch vụ internet về tận các bưu điện văn hóa xã Phấn đấu rút ngắn bán

Trang 33

kính phục vụ bình quân dưới 1,5 km và số dân phục vụ bình quân là 5.500 người/điểm phục vụ

Về viễn thông, tiếp tục phát triển nhanh thuê bao cố định và di động, đầu tư

và mở rộng hệ điện thoại công cộng Các công trình trọng điểm là: Phát triển mới 5 bưu điện văn hóa xã còn lại để đảm bảo khép kín 100%, 68 đại lý Internet công cộng; Nâng cấp bưu điện trung tâm, xây dựng mới 2 bưu cục cấp II cho 2 thị xã mới Xây dựng hoàn chỉnh tuyến cáp quang, tăng cường mạng cáp treo tại các bưu cục

Tiếp tục tăng dung lượng tại các tổng đài, mở rộng mạng điện thoại di động Mật độ máy điện thoại cố định 100 máy/100 dân trong năm 2020

2.1.1.4 Thực trạng các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Để giải quyết bài toán tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế cần có sự thu hút mạnh mẽ đầu tư phát triển năng lực sản xuất mới với quy mô lớn, đặc biệt là sản xuất công nghiệp Trong các năm qua, các doanh nghiệp trong tỉnh đã có sự tăng trưởng tích cực, nhưng do qui mô nhỏ nên sự đóng góp cho tăng trưởng không đáp ứng yêu cầu Do vậy việc xây dựng và phát triển các Khu công nghiệp Bến Tre là một vấn đề quan trọng mà Tỉnh ủy Bến Tre đang tập trung chỉ đạo

Hiện tại Bến Tre có hai khu công nghiệp đã được thành lập và hoạt động

a Khu công nghiệp Giao Long

Địa điểm: xã An Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre; với tổng diện tích

104 ha Diện tích đất công nghiệp có khả năng cho thuê: 65,25 ha và đã cho thuê là 62,64/65,25 ha; Tỷ lệ lấp đầy đạt 96,33% Khu công nghiệp Giao Long cách trung tâm thành phố Bến Tre 13km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 86km và cách cảng sông Giao Long khoảng 2,5km

Hạ tầng kỹ thuật: có đường dây điện riêng 22KV từ trạm của tỉnh đến Khu công nghiệp; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của tỉnh cung cấp nước; giao thông nội khu đang được tiến hành xây dựng và đã xây dựng đạt 70%; giao thông nội khu được đấu nối với Tỉnh lộ 883; bưu chính - viễn thông đã sẳn sàng phục vụ doanh nghiệp

Trang 34

Ngành công nghiệp ưu tiên phát triển: ngành công nghiệp chế biến sản phẩm

từ thủy hải sản, chế biến hàng nông sản của địa phương; ngành công nghiệp dệt may; ngành điện, điện tử và các ngành công nghiệp khác

Lao động và dịch vụ hỗ trợ: hiện tại có khoảng 16.000 lao động, nhà nghỉ cho công nhân đang trong giai đoạn xây dựng

Chính sách ưu đãi: giá thuê đất là 0,5 USD/m2/năm (nếu trả một lần cho cả vòng đời dự án 50 năm thì giá thuê đất là 10 USD/m2); phí sử dụng cơ sở hạ tầng là 0,25 USD/m2/năm; phí xử lý nước thải là 0,35 USD/m3 đối với nước thải loại C; tỉnh

hỗ trợ đào tạo tay nghề cho công nhân của các doanh nghiệp lần đầu đầu tư vào khu công nghiệp; Giá cho thuê đất, phí sử dụng tiện ích hạ tầng, phí xử lý nước thải: theo Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND và Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND của

Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre

Kết quả thu hút đầu tư: KCN Giao Long có 28 dự án cấp giấy chứng nhận đầu

tư còn hiệu lực với vốn đăng ký 1.149,95 tỷ đồng của 10 dự án trong nước và 18 dự

án FDI với vốn đăng ký là 246,5 triệu USD Chủ đầu tư: công ty Phát triển hạ tầng các Khu công nghiệp Bến Tre

Về kết quả sản xuất kinh doanh của các dự án/doanh nghiệp:

Bảng 2.3 Kết quả SXKD của các dự án/doanh nghiệp KCN Giao Long

Chỉ tiêu Doanh thu Xuất khẩu Nhập khẩu Lao động (lũy kế)

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

b Khu công nghiệp An Hiệp

Địa điểm: xã An Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre với tổng diện tích là

72 ha Diện tích đất công nghiệp có khả năng cho thuê là 48,37 ha và đã cho thuê là 43,5 ha; Tỷ lệ lấp đầy đạt 89,97% Khu công nghiệp An Hiệp cách Trung tâm thành phố BếnTre 12km, cách Tp Hồ Chí Minh 90km và nằm cạnh sông Hàm Luông

Trang 35

Hạ tầng kỹ thuật: được Công ty Điện lực Bến Tre cung cấp điện và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của tỉnh cung cấp nước; giao thông nội khu đang tiến hành xây dựng và đã xây dựng đạt 30% giao thông nội khu, giao thông ngoại khu được đấu nối với Tỉnh lộ 884; Bưu chính - Viễn thông đã sẳn sàng phục

vụ cho doanh nghiệp

Ngành công nghiệp ưu tiên phát triển: ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ thủy hải sản, chế biến hàng nông sản của địa phương, sản xuất thức ăn cho thủy sản và gia súc, ngành công nghiệp dệt may

Chính sách ưu đãi: giá thuê đất là 0,6 USD/m2/năm (nếu trả một lần cho cả vòng đời dự án 50 năm thì giá thuê đất là 12 USD/ m2), phí sử dụng cơ sở hạ tầng là 0,25 USD/m2/năm, phí sử lý nước thải là 0,35 USD/m3 đối với nước thải loại C, tỉnh

hỗ trợ đào tạo tay nghề cho công nhân Khu công nghiệp Giá cho thuê đất, phí sử dụng tiện ích hạ tầng, phí xử lý nước thải: theo Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND và Quyết định số 16/2012/QĐ-UBND

Kết quả thu hút đầu tư: KCN An hiệp đã có 13 dự án đầu tư, với vốn đăng ký

là 1.330,83 tỷ đồng của 08 dự án trong nước và 05 dự án FDI với vốn đăng ký là 71,5 triệu USD Về lao động và chủ đầu tư: hiện tại có khoảng hơn 6.000 lao động

và chủ đầu tư là Công ty Phát triển hạ tầng KCN tỉnh Bến Tre

Về kết quả sản xuất kinh doanh của các dự án/doanh nghiệp:

Bảng 2.4 Kết quả SXKD của các dự án/doanh nghiệp KCN An Hiệp

Chỉ tiêu Doanh thu Xuất khẩu Nhập khẩu Lao động (lũy kế) Đơn vị tính tỷ đồng triệu USD triệu USD người

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

2.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre

2.1.2.1 Nguồn nhân lực

Trang 36

Nguồn nhân lực là một thế mạnh của Bến Tre với 64,5% dân số tham gia lao động; tỉ lệ qua đào tạo khoảng 44,6 % Năm 2012, tỉnh đào tạo và giới thiệu việc làm cho 24.350 lao động địa phương và xuất khẩu lao động 370 người sang làm việc tại các nước trong khu vực Châu Á Nguồn dự phòng lao động của tỉnh khá phong phú với 12.000 học sinh khối lớp 12 Mỗi năm, có khoảng 3.000 sinh viên tốt nghiệp từ các trường cao đẳng, đại học và trung học chuyên nghiệp Dự kiến trong kế hoạch 2013-2015, Bến Tre nâng cấp Trường Cao đẳng Bến Tre trở thành Trường đại học Nguồn nhân lực phổ thông dễ dàng được tuyển dụng tại Bến Tre Tuy nhiên, số lao động cung cấp cho tất cả các ngành nghề thuộc các KCN trên địa bàn và các vùng lân cận đông về số lượng nhưng chất lượng lao động chưa cao, thiếu kỹ năng, yếu về tay nghề, trình độ học vấn chưa cao, trình độ lao động chưa đáp ứng yêu cầu, khả năng tiếp thu và vận dụng công nghệ chưa tốt Năng lực cán bộ quản lý doanh nghiệp không được đào tạo chính quy nên yếu kém, công tác nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất kinh doanh chưa được doanh nghiệp quan tâm Trình độ tay nghề của người lao động hạn chế, tuy có lực lượng lao động dồi dào, nhưng lực lượng lao động làm việc trong KCN chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, sức khoẻ hạn chế, năng suất lao động không cao Sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp với các trung tâm đào tạo nhằm nâng cao trình độ cho

người lao động, tuy nhiên hiệu quả mang lại vẫn chưa đạt yêu cầu

2.1.2.2 Văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo

Hai KCN Giao Long và An Hiệp nằm trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Bến Tre, địa bàn có kiều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, hệ thống y tế huyện Châu Thành còn nhiều thiếu thốn về số lượng, yếu kém về chất lượng chỉ có một Bệnh viện đa khoa Châu Thành, nhưng quy mô về phòng bệnh cơ sở vật chất không thay đổi nhiều, chất lượng khám chữa bệnh chưa cao, do đó người lao động có nhu cầu khám chữa bệnh, chị em sinh nở thường đi đến các bệnh viện tuyến trên, sang Thành phố Mỹ Tho và Thành phố Hồ Chí Minh điều trị trong những trường hợp khó khăn

Năng lực giáo dục chuyên nghiệp, đào tạo nghề ở Bến Tre chưa tương xứng với quy mô phát triển của địa phương Trên địa bàn tỉnh có 2 trường Dạy nghề đào

Trang 37

tạo công nhân kỹ thuật (trường Dạy nghề số 4, trường Kỹ nghệ) với gần 1.000 học

viên được đào tạo dài hạn Số học viên đào tạo hằng năm không ổn định do ít ngành

nghề đào tạo và thiếu cơ sở thực hành Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có 1 Trung

tâm giới thiệu việc làm, 7 Trung tâm Dạy nghề huyện, 1 Trung tâm Dạy nghề Hội

Phụ nữ tỉnh, 1 Trung tâm Dạy nghề người khuyết tật, 1 Trung tâm dạy nghề Bình

Hòa của hội khuyến học và 38 cơ sở dạy nghề tư nhân, với số học viên trong khoảng

7.000 người Các cơ sở dạy nghề trong toàn tỉnh đã được nâng cấp, đầu tư trang thiết

bị giảng dạy và đi vào hoạt động có hiệu quả

Về văn hóa, tỉnh hiện có 1 thư viện tỉnh, 1 thư viện khoa học xã hội và 7 thư

viện huyện với tổng số sách là 193.000 quyển, số độc giả ngày càng tăng; ngoài ra

các trường còn có thư viện riêng, chủ yếu là trưng bày sách giáo khoa phục vụ cho

giáo viên học sinh

2.1.3 Hiện trạng hoạt động thu hút đầu tư các Khu công nghiệp tỉnh Bến Tre

2.1.3.1 Hiện trạng doanh nghiệp đầu tư vào KCN tỉnh Bến Tre

Tính đến cuối năm 2013 KCN tỉnh Bến Tre đã thu hút được 41 doanh nghiệp

đăng ký đầu tư vào sản xuất kinh doanh với 23 doanh nghiệp nước ngoài và 18

doanh nghiệp trong nước, trong 18 doanh nghiệp trong nước thì có 03 doanh nghiệp

là người địa phương Trong số các DN đăng ký thì có 38 DN đang hoạt động, 3 DN

đang xây dựng

Việc xây dựng nhà máy được hình thành trên cơ sở mạng lưới đường theo

dạng bàn cờ với cự ly trung bình khoảng 300 x 700 m, đồng thời cũng phù hợp với

qui mô, vị trí các lô đất mà các nhà đầu tư đã và đang xây dựng cũng như thuê đất tại

khu công nghiệp Diện tích thuần xây dựng nhà máy công nghiệp là: 110,62 ha

Trong đó Khu Giao Long đã cho thuê: 62,64 ha/65,25 ha, đạt tỉ lệ: 96% Khu An

Hiệp cho thuê 43,5 ha/48,37 ha, đạt tỷ lệ 90%

Bảng 2.5 Tổng hợp DN đầu tư vào sản xuất tại KCN tỉnh Bến Tre

Tổng

số lao động (người)

Trong nước

Nước ngoài Đang hoạt Đang xây Chưa xây

Tạm ngưng

Trang 38

động dựng dựng

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

Đến năm 2013, hai KCN trên địa bàn tỉnh Bến Tre có 41 DN còn tồn tại (Khu Giao Long: 28 DN, Khu An Hiệp: 13 DN), trong đó 38 DN đang hoạt động, đang xây dựng 3 dự án, trong số các DN đang hoạt động thì có 23 DN FDI Trong 18 DN trong nước đang đầu tư và xúc tiến đầu tư ở KCN tỉnh Bến Tre thì có 5 DN có vốn nhà nước tham gia, 3 DN là người địa phương, còn lại các DN từ nơi khác đến

2.1.3.2 Hiện trạng thu hút vốn đầu tư vào KCN tỉnh Bến Tre

Từ khi đi vào hoạt động 2005 đến nay KCN tỉnh Bến Tre đã thu hút được 41

DN vào đầu tư - xây dựng - sản xuất kinh doanh Sau gần 9 năm phát triển đến cuối năm 2013 số DN trên đã đăng ký hoạt động với tổng số vốn là 9.074,6 tỷ đồng đầu

tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, bình quân 221,33 tỷ đồng/DN

Bảng 2.6 Tổng hợp DN đăng ký KD tại KCN tỉnh Bến Tre

Danh mục Doanh nghiệp

Vốn (tỷ đồng) 9.074,76

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

Trong số 41 DN đầu tư thì có 38 DN đang hoạt động sản xuất kinh doanh, 3

DN đang xây dựng Các DN đóng góp rất lớn cho sự phát triển của tỉnh Bến Tre, giải quyết hơn 22.515 lao động của tỉnh Bến Tre Tốc độ giải ngân để đầu tư sản xuất kinh doanh khá cao

Bảng 2.7 Tổng hợp DN đăng ký vốn đầu tư tại KCN tỉnh Bến Tre

Khu công nghiệp Số dự án

Vốn đầu tư (tỷ đồng) Đã thực hiện (tỷ đồng) Tỷ lệ giải ngân

Trang 39

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

2.1.3.3 Tình hình thu hút đầu tư nước ngoài

Thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI là thế mạnh của KCN tỉnh Bến Tre, có 28/41

DN FDI chủ yếu là các DN đến từ Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật…

Bảng 2.8 Tổng hợp các dự án đầu tư nước ngoài

Khu công

nghiệp

Tổng số DN FDI đăng ký

Đang hoạt động

Chưa hoạt động

Vốn Đăng ký (triệu USD)

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN tỉnh Bến Tre (2013)

Các DN FDI chủ yếu là sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất linh kiện TV, may mặc và chế biến hàng thực phẩm… các DN FDI đã thu hút 19.089 lao động phổ thông và lao động qua đào tạo từ địa phương

Bảng 2.9 Tổng hợp các dự án đầu tư nước ngoài thu hút lao động

Khu công nghiệp Tổng số DN FDI đang

hoạt động

Thu hút lao động (người)

Nguồn: Dữ liệu nghiên cứu & BQL KCN Tỉnh Bến Tre (2013)

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu được thực hiện qua 2 giai đoạn là phương pháp thu thập số liệu, tài liệu và nghiên cứu định lượng

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu

2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập các tài liệu có sẵn phục vụ cho phân tích tổng quan, đánh giá chung Các số liệu thứ cấp qua các năm đã được công bố trên các phương tiện truyền thông, báo cáo tổng kết từ Công ty KD hạ tầng KCN, BQL KCN, UBND tỉnh Bến Tre

Trang 40

Các đề tài đã thực hiện

Sách, báo, tạp chí, tài liệu, hội thảo, internet

2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Nghiên cứu thu thập nhằm xây dựng và phát triển hệ thống khái niệm/thang

đo lường và các biến nghiên cứu từ đó tiến hành xây dựng bảng câu hỏi điều tra khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn chuyên gia Các chuyên gia là lãnh đạo DN: Tổng Giám đốc, Giám đốc, các Trưởng phòng chức năng

Thang đo lường các biến quan sát: trên cơ sở thừa kế lý thuyết và để phù hợp với điều kiện nghiên cứu, tác giả tiến hành hội thảo với nhóm chuyên gia thuộc Cty đầu tư hạ tầng KCN và Ban Quản lý KCN về các thang đo và các biến quan sát sử

dụng thang điểm Likert, R.A (1932), Trích theo Đinh Phi Hổ, Phương pháp nghiên

cứu định lượng, NXB Phương Đông [91] thông qua bảng câu hỏi trực tiếp

Việc nghiên cứu sẽ tiến hành khảo sát thử nghiệm khoảng 10 nhà đầu tư thuộc phạm vi nghiên cứu Thông qua đó các thang đo sẽ được điều chỉnh lại và hoàn chỉnh bảng câu hỏi cho phù hợp với thực tế Sau đó, tiến hành điều tra chính

thức các nhà đầu tư trên địa bàn

2.2.2 Phương pháp phân tích định lượng

Sử dụng bảng câu hỏi, thang đo Thực hiện thống kê mô tả, phân tích và kiểm định thang đo và hồi quy

Sử dụng phương pháp Phân tích yếu tố khám phá để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng và nhận diện các yếu tố theo đánh giá của nhà đầu tư là phù hợp

Sử dụng phân tích hồi quy để nhận diện các yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa và vai trò của từng yếu tố

Các biến :

Biến độc lập (nhóm nhân tố ảnh hưởng): Cơ sở hạ tầng đầu tư; mức độ tin cậy; mức độ đáp ứng; sự đảm bảo; sự cảm thông; chi phí đầu vào cạnh tranh; nguồn nhân lực

Biến phụ thuộc (sự hài lòng của nhà đầu tư): đáp ứng được các kỳ vọng

Ngày đăng: 29/08/2017, 14:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chính phủ nước CHXHCN VN (2008), “Nghị định số 29/2008/NĐ- CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về KCN, Khu chế xuất và Khu kinh tế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Nghị định số 29/2008/NĐ- CP ngày 14 tháng 3 năm 2008 quy định về KCN, Khu chế xuất và Khu kinh tế
Tác giả: Chính phủ nước CHXHCN VN
Năm: 2008
4. Dunning (1977), Trích theo Đinh Phi Hổ, Hà Minh Trung tạp chí phát triển kinh tế [ 254, tr. 32], trích dẫn tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí phát triển kinh tế
Tác giả: Dunning
Năm: 1977
5. Lương Hữu Đức (2007), “Các nhân tố tác động đến việc cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lâm Đồng”. Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố tác động đến việc cải thiện môi trường đầu tư tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Lương Hữu Đức
Năm: 2007
6. Nguyễn Trọng Hoài (2007), “Các nhân tố cơ sở hạ tầng mềm tác động đến việc thu hút đầu tư địa phương, kiểm định bằng mô hình hồi quy”, Phát triển kinh tế tháng 7 [18 -20] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố cơ sở hạ tầng mềm tác động đến việc thu hút đầu tư địa phương, kiểm định bằng mô hình hồi quy”, "Phát triển kinh tế tháng 7
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài
Năm: 2007
7. Lê Hồng Yến, “Thực trạng các Khu công nghiệp ở Việt Nam”, NXB Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng các Khu công nghiệp ở Việt Nam"”
Nhà XB: NXB Học viện Hành chính quốc gia
8. Likert, R.A (1932), Trích theo Đinh Phi Hổ, Phương pháp nghiên cứu định lượng, NXB Phương Đông [91] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu định lượng
Tác giả: Likert, R.A
Nhà XB: NXB Phương Đông [91]
Năm: 1932
9. Lưu Hữu Lễ (2010), Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020, Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển các khu công nghiệp tỉnh Bến Tre đến năm 2020
Tác giả: Lưu Hữu Lễ
Năm: 2010
10. Kiều Công Minh (2008), “ Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Tây Ninh”, Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhân tố ảnh hưởng và giải pháp đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Tây Ninh
Tác giả: Kiều Công Minh
Năm: 2008
11. Parasuraman(1985), Trích theo Đinh Phi Hổ, Hà Minh Trung tạp chí phát triển kinh tế [ 254, tr. 32], trích dẫn tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí phát triển kinh tế
Tác giả: Parasuraman
Năm: 1985
12. Romer và Lucas (2007), Trích theo Đinh Phi Hổ, Hà Minh Trung tạp chí phát triển kinh tế [ 254, tr. 32], trích dẫn tháng 12 năm 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí phát triển kinh tế
Tác giả: Romer và Lucas
Năm: 2007
13. Nguyễn Đình Sang (2011), Nghiên cứu môi trường đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các KCN tỉnh Bình Phước, Luận văn thạc sĩ, Đại học kinh tế TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu môi trường đầu tư và các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư vào các KCN tỉnh Bình Phước
Tác giả: Nguyễn Đình Sang
Năm: 2011
14. Sở Kế hoạch và Đầu tư (2011), “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020”, Bến Tre Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2020
Tác giả: Sở Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2011
15. Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nhà xuất bản Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2005
16. Nguyễn Đình Thọ và các cộng tác viên (2005), “Điều tra đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Tiền Giang và đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực xã hội đầu tư phát triền”. Đề tài nghiên cứu khoa học, Sở khoa học công nghệ tỉnh Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra đánh giá thực trạng môi trường đầu tư tỉnh Tiền Giang và đề xuất các giải pháp huy động nguồn lực xã hội đầu tư phát triền
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ và các cộng tác viên
Năm: 2005
17. USAIA – VCCI (2009), Báo cáo nghiên cứu chính sách VNCI số 14: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2009 của Việt nam – đánh giá điều hành kinh tế thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, Phòng Thương Mại & Công nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo nghiên cứu chính sách VNCI số 14: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2009 của Việt nam – đánh giá điều hành kinh tế thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Tác giả: USAIA – VCCI
Năm: 2009
1. Ban quản lý KCN tỉnh Bến Tre (2013), Báo cáo thường niên tổng kết kinh doanh Khác
3. Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ và Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (2005 -2009), Dự án sáng kiến cạnh tranh Việt nam(VNCI) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w