1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm một số giải pháp kèm cặp học sinh yếu môn toán lớp 3

15 364 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 128,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế này dù ít hay nhiều vẫn còn tồn tại ở các năm học, của các khối lớp, trong các nhà trờng và nếu nh không có sự kiểm tra chặt chẽ, kế hoạch để kèm cặp sát sao thì nó sẽ lại trở th

Trang 1

A đặt vấn đề

i Lý do

1 Tiếp tục hởng ứng cuộc vận động của Bộ trởng Bộ Giáo dục & Đào tạo phát động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” Trong nhiều nội dung hoạt

động giáo dục trong nhà trờng thì việc tập trung xoá bỏ tình trạng học sinh ngồi nhầm lớp là một trọng tâm Thực tế này dù

ít hay nhiều vẫn còn tồn tại ở các năm học, của các khối lớp, trong các nhà trờng và nếu nh không có sự kiểm tra chặt chẽ,

kế hoạch để kèm cặp sát sao thì nó sẽ lại trở thành “bệnh” phổ biến, tràn lan

2 Đổi mới Mục tiêu giáo dục ở bậc Tiểu học nói chung và bộ môn Toán nói riêng đã đặt ra những yêu cầu mới:

- Nội dung phải thiết thực, tránh khuynh hớng hàn lâm, khuynh hớng học sinh tách rời với thực tế cuộc sống

- Nội dung và phơng pháp giáo dục phải đảm bảo tính liên thông

- Việc học tập giúp cho học sinh hiểu biết về cuộc sống của chính các em, giúp các em giải quyết đợc những vấn đề gặp phải trong cuộc sống và trong t duy

- Việc học tập không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức và kỹ năng môn học mà còn học phơng pháp học tập tích cực nhằm

đặt nền móng cho tự học suốt đời

Để thực hiện mục tiêu giáo dục đó nhất thiết phải đổi mới phơng pháp giáo dục Phơng pháp dạy học theo định hớng đổi mới tập trung nhiều vào việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh

Chơng chình môn Toán lớp 3 là một bộ phận của chơng trình môn Toán ở tiểu học, nó tiếp tục thực hiện đổi mới về giáo dục toán học các lớp 1,2, góp phần thực hiện đổi mới

Trang 2

ch-dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá

đất nớc

3 Thực trạng nhà trờng:

* Học sinh toàn trờng: 850 em - Gồm 24 lớp

Học sinh khối 3: 171 em - Gồm 5 lớp

Tổng số giáo viên giảng dạy: 45 đồng chí

Giáo viên chủ nhiệm và giảng dạy khối 3: 5 đồng chí

* Học sinh yếu môn Toán qua khảo sát đầu năm: 6 em

Với lý do trên, tôi trăn trở suy nghĩ, đi sâu nghiên cứu và tìm giải pháp trong công tác chỉ đạo giảng dạy nhằm giảm thiểu tối đa số học sinh yếu ở các khối lớp Vì thời gian có hạn,

tôi tập trung đi sâu nghiên cứu và chỉ đạo để “ Tìm một số giải pháp kèm cặp học sinh yếu môn Toán lớp 3” Đề tài đã

thu đợc kết quả và đợc Hội đồng khoa học Nghành cấp tỉnh

đánh giá xếp loại C năm học 2009 – 2010 Vì thế tôi muốn tiếp

tục áp dụng và rút kinh nghiệm đề tài này vào thực tế

trong năm học 2010 – 2011 để kèm cặp phụ đạo, nâng chất l-ợng học sinh yếu môn Toán lớp 3

Toán 3 là sự kết thúc một giai đoạn học tập – lớp 1,2,3 Mở ra một giai đoạn học tập tiếp theo – lớp 4,5 Trong toán lớp 3, các mạch kiến thức đợc củng cố, mở rộng theo vòng tròn đồng tâm

Kết thúc lớp 2, Toán lớp 3 có thêm các phép tính nhân chia ngoài bảng, các phép tính đợc mở rộng vòng số, mức độ khó hơn; Phép chia còn d; phép chia có thơng chứa chữ số 0…; Giải toán có lời văn đã thêm nhiều dạng mới, có chứa từ 2,3 phép tính…

Nh vậy, với sự khó về chơng trình, thêm đối tợng học sinh không thể đồng nhất sẽ tất yếu có học sinh yếu mới trong năm học này Do vậy, tiếp tục áp dụng có chọn lọc kinh nghiệm

Trang 3

thành công của năm học trớc cho năm học này tôi thấy là cần thiết Tôi mạnh dạn áp dụng và chỉ đạo thực hiện

II Đối tợng và giới hạn nghiên cứu

Học sinh lớp 3, năm học 2009 – 2010

Học sinh lớp 3, năm học 2010 – 2011

III Các phơng pháp sử dụng

Phơng pháp nghiên cứu

Phơng pháp phân tích tổng hợp

Phơng pháp thực nghiệm

b Phần nội dung

Trong thực tế ở các lớp học luôn tồn tại ba dạng đối tợng: Dạnh hiểu bài nhanh, nắm bài một cách chắc chắn và vận dụng khá linh hoạt; Dạnh ghi nhớ máy móc, rập khuôn và làm theo; Dạng hay quên, ghi nhớ chậm Đối với những học sinh yếu thờng không thích thú mặn mà gì với việc đến trờng, các em rất sợ đối mặt với các bài toán khó, lại sợ bạn chê cời Vậy làm

thế nào để học sinh “mỗi ngày đến trờng là một ngày vui”;

để các em tự giác học hành, ham muốn đến trờng, tích cực học tập; để nâng chất lợng vững chắc các môn văn hoá nói chung, môn toán nói riêng, hạn chế học sinh yếu, tiến đến không còn học sinh ngồi nhầm lớp Một nhiệm vụ cấp thiết, đòi hỏi cần giải quyết để có đợc sự phát triển vững chắc trong mỗi nhà trờng

I Thực tế chơng trình

Chơng trình Toán lớp 3 cung cấp các kiến thức và kĩ năng sau:

- Biết đếm, đọc số, viết số trong phạm vi 100 000

- Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngợc lại

Trang 4

- Biết thực hiện các phép tính cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 1000

- Biết tính giá trị các biểu thức số có đến 2 dấu phép tính

- Biết tìm thành phần cha biết của phép tính; một trong các phần bằng nhau của một số

- Biết đo và ớc lợng các đại lợng thờng gặp Nhận biết các yếu tố và tính chu vi, diện tích của hình chữ nhật, hình vuông

- Bớc đầu vận dụng các kiến thức, kĩ năng của môn toán

để giải quết vấn đề đơn giản thờng gặp trong cuộc sống Nội dung toán lớp 3 là sự kết thúc một giai đoạn học tập ở tiểu học; nó không những hệ thống, cũng cố các kiến thức, kĩ năng toán lớp 1,2 mà còn cung cấp khá nhiều dạng toán mới, mở

đầu cho một số dạng toán lớp 4,5 Bởi vậy, học tốt toán lớp 3, là khởi đầu thuận lợi, là tiền đề cho học tốt toán lớp 4,5 Ngợc lại, học yếu toán lớp 3 sẽ là khó khăn cho học học toán lớp 4,5, và nếu không có sự cố gắng thật cao, học sinh sẽ không đạt yêu cầu chuẩn kiến thức của chơng trình toán lớp 4, 5 sau này

II Những giảI pháp kèm cặp học sinh yếu

Để công tác kèm cặp nâng chất lợng học sinh yếu môn Toán lớp 3 đi vào chiều sâu và có tác dụng thực sự góp phần nâng cao chất lợng dạy học của nhà trờng phụ thuộc vào nhiều yếu

tố Đó là sự tận tâm kiên trì và biện pháp thực hiện hiệu quả của cả đội ngũ cán bộ giáo viên; là sự cố gắng rèn luyện của từng cá nhân học sinh; là cơ sở vật chất đảm bảo cùng các

ph-ơng tiện dạy học; là sự nhận thức và hỗ trợ của cha mẹ học sinh Song quan trọng hơn cả là vai trò của đội ngũ cán bộ giáo viên

và sự chỉ đạo sát sao, quan tâm đúng mức của ban giám hiệu nhà trờng Từ nhận thức trên cùng với việc rút kinh nghiệm qua

Trang 5

các năm học trớc, chúng tôi thấy, ngời cán bộ quản lý chịu trách nhiệm chính trong sự phát triển của nhà trờng, vậy nên tôi đã xác định hai giải pháp chính cần tập trung trong công tác phụ

đạo kèm cặp học sinh yếu, đó là:

Thứ nhất: Sự định hớng chỉ đạo của CBQL.

Thứ hai: Biện pháp kèm cặp học sinh của giáo viên

đứng lớp.

Nhúm giải phỏp thứ nhất

CáC BIệN PHáP CủA CáN Bộ QUảN Lý

1 Xác định rõ tầm quan trọng của việc kèm cặp học sinh

yếu môn toán; trách nhiệm của giáo viên, của ban giám hiệu trong công tác này

Xác định rõ đối tợng, nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu môn toán

Tổ chức kèm cặp, phụ đạo học sinh học yếu môn toán

Phối hợp giáo dục với các đoàn thể, với gia đình

Kiểm tra đánh giá kết quả

2 Xây dựng kế hoạch chỉ đạo kèm cặp học sinh yếu:

Nội dung hoạt động Thời gian thực hiện

Chịu tránh

Chín

h Phối hợp

1 Tổ chức thảo

luận để hiểu rõ

mục tiêu và xác

định đúng nhiệm

vụ của công tác kèm

cặp phụ đạo học

sinh yếu.

Từ 15

đến

28 /8/2010

BGH PHT

Tổ trởng Có đợc kế hoạch phù hợp

2 Nắm vững đối

t-ợng còn yếu môn

Toán

Xây dựng kế hoạch

kèm cặp.

2 tuần

đầu tháng 9/2009

PHT GV Lập danh sách

HS yếu (kiến thức yếu) Lên

kế hoạch kèm cặp.

3 Triễn khai, bồi

d-ỡng nghiệp vụ

chuyên môn về kèm

Tuần thứ 2 tháng 9 PHT GVCN Mọi GV đều xác định, nắm

vững.

Trang 6

HS yếu.

4 Tổ chức thực

hiện. Từ tuần thứ 3

tháng 9 trở

đi

GVC

N Gia đìnhHS

Các HS giỏi trong lớp.

HS tích cực học tập.

5 Kiểm tra kết quả

Khảo sát khi dự giờ của BGH.

6 Tổng kết, đánh

giá

công tác kèm cặp HS

yếu.

Tuần thứ 2 tháng 5/

2011

PHT Hội đồng

giáo dục HS chuyển loại.GV có đợc kinh

nghiệm thực tiễn.

3 Triển khai kế hoạch, phối hợp chặt chẽ với giáo viên, tháo gỡ những vớng mắc trong quá trình thực hiện Mua sắm trang thiết bị dạy học, phát động học sinh quyên góp vì bạn nghèo, ủng hộ sách giáo khoa đã học xong trong cuối các năm học, để

bổ sung tủ sách nhà trờng có đủ sách giáo khoa, ngay từ đầu các năm học, cho học sinh nghèo mợn

4 Quan tâm thích đáng; kiểm tra thờng xuyên theo kế hoạch và kiểm tra đột suất qua dự giờ khảo sát; nhận xét,

đánh giá, rút kinh nghiệm cho công tác chỉ đạo của giám hiệu

và thực hiện kèm cặp học sinh của giáo viên

5 Tổ chức kiểm tra các đợt định kì một cách khách quan, công bằng và thật nghiêm túc dới hình thức giáo viên giảng dạy khối trên coi thi và chấm thi bài học sinh khối dới

Nhúm giải phỏp thứ hai

CáC BIệN PHáP tổ chức kèm cặp CủA giáo viên

1 Lập kế hoạch kèm cặp, phụ đạo học sinh yếu

Trang 7

Từ kế hoạch chung của nhà trờng, dựa vào chất lợng học sinh lớp, giáo viên lập kế hoạch kèm cặp phụ đạo học sinh yếu Thể hiện trong kế hoạch bao gồm:

1, Mục tiêu

2, Thực trạng

3, Nguyên nhân (ghi rõ nguyên nhân do sức khoẻ, hoàn cảnh hay

ý thức học tập …)

4, Biện pháp

5, Kết quả (ghi điểm cụ thể môn yếu sau từng

đợt kiểm tra định kì) Sau mỗi lần kiểm tra, giáo viên có thêm biện pháp kèm cặp

bổ sung cho từng tháng tới để chuyển đợc loại cho học sinh

2 Chuẩn bị chu đáo bài dạy trớc khi đến lớp

Bài soạn là yêu cầu bắt buộc đối với giáo viên khi đến lớp, trong kế hoạch bài soạn, chúng tôi yêu cầu giáo viên xác định kiến thức khó trong bài, trong từng mạch kiến thức, cùng biện pháp tổ chức học sinh nắm hoặc rèn luyện, ôn tập Thực hiện tốt điều này trong mỗi tiết học sẽ không có thêm học sinh yếu

đồng thời kết hợp kèm học sinh còn yếu để dần nâng chất học sinh

3 Các biện pháp kèm cặp học sinh yếu

Lựa chọn phơng pháp kèm cặp phù hợp, trớc hết giáo viên cần xác định đúng đối tợng với nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu môn toán Có thể chia theo từng nhóm:

+ Nhóm học sinh học yếu do hoàn cảnh gia đình nh: Bố

mẹ chia tay, bỏ con ở với ông bà; gia đình khó khăn, không quan tâm nhắc nhở con học hành dẫn đến con cái lời học + Nhóm học sinh học yếu do tiếp thu bài chậm, do thiếu hổng kiến thức vì lí do nào đó…

Từ đó, tuỳ thuộc đối tợng, giáo viên có sự can thiệp phù hợp: Giảng lại bài cũ hay kiến thức học sinh bị hụt hổng; Luyện tập lại kiến thức, kĩ năng còn non yếu; Giao thêm bài tập tơng

tự về nhà để học sinh làm thêm; Phân công bạn học giỏi gần nhà cùng học nhóm…

3.1 Nhóm học sinh học yếu môn toán do cha mẹ ly hôn, do gia đình không quan tâm, bỏ mặc con cái

Với đối tợng này, giáo viên phải là chỗ dựa tinh thần cho học sinh Luôn gần gũi các em, ân cần chăm sóc, động viên kịp

Trang 8

thời để các em thấy mình không bị lẻ loi, đơn độc Trong lớp, giáo viên cần phân các em vào những nhóm có nhóm trởng, có bàn trởng là học sinh giỏi, nhiệt tình và đợc hớng dẫn cách giúp bạn Thờng thì những học sinh khá giỏi tiếp thu bài nhanh, hoàn thành bài tập luyện tập trớc thời gian, lúc đó các em quay sang giúp bạn, vừa kịp thời, lại rất phù hợp và nhiều em cùng lúc

đợc giúp đỡ; vừa tạo không khí học hành thân thiện, hợp tác, lại vừa có tác dụng giáo dục các em tinh thần trách nhiệm, phát triển kỹ năng giao tiếp, đem lại bầu không khí đoàn kết, tin t-ởng nhau trong học tập

Trong số những em có hoàn cảnh này, quá nửa là thiếu sự quan tâm nhắc nhở của ông bà, cha mẹ và hầu hết các em cũng không có đủ sách vở, dụng cụ học tập Giáo viên cần nắm bắt, chủ động mợn sách th viện cho các em, phát động phong trào giúp bạn trong lớp Cho mợn đủ sách vở, đồ dùng học tập; Tạo tâm lý vui vẻ trong học tập, luôn động viên khích lệ các em chính là yếu tố quan trọng để nâng chất lợng học sinh nói chung, học sinh học yếu môn toán nói riêng

3.2 Nhóm học sinh học yếu toán do lời học, do tiếp thu bài chậm, do hổng kiến thức trớc đó…

- Không phải tất cả học sinh học yếu toán là do tiếp thu bài

chậm mà do lời học Có một số học sinh chúng ta thấy chúng

tiếp thu bài đợc, biết tính toán nhng kết quả bài kiểm tra lại hay bị điểm kém Trớc hết đó là tính chủ quan, ham chơi, cha chăm học, sau nữa là thiếu sự hỏi han, đôn đốc việc học hành của gia đình đến con cái, dẫn đến kiến thức không đợc luyện tập củng cố, không có sự chắc chắn, trở thành chóng quên, mơ hồ

Với những đối tợng này, giáo viên phân công một học sinh giỏi ngồi cạnh để kịp thời nhắc nhở, kiểm tra bài vở bạn Giáo viên dành sự chú ý đến đối tợng này khi học sinh luyện tập củng cố kiến thức Luôn có sự khích lệ, động viên, nâng cao ý thức học tập; khen ngợi trớc lớp về sự tiến bộ của học sinh, đồng thời gặp gỡ gia đình trao đổi để có sự đôn đốc nhắc nhở việc học hành của con cái

- Nhóm học sinh học yếu do tiếp thu bài chậm Với nhóm

này, giáo viên cần phải bỏ nhiều công sức, thời gian để kèm cặp hớng dẫn thêm, những câu hỏi dành cho các em là những câu hỏi nhỏ, cụ thể, ban đầu là sụ nhắc lại những kiến thức

Trang 9

vừa đợc hình thành, dần sau là sự khai thác kiến thức nhỏ,

đơn lẻ Những bài tập dành cho các em là đơn giản, mang tính vận dụng, có sự giảng giải thêm nếu các em cha nắm đợc yêu cầu hay còn lúng túng cách vận dụng

Luôn có sự thay đổi cách dạy, chú ý mức độ tiếp thu học sinh để không giao bài khó hay có những câu hỏi quá sức Tạo

điều kiện cho học sinh có dịp đợc thể hiện trớc lớp ở những bài tập dễ, có tính vận dụng lại nh: Đọc số, so sánh các số, nhân chia nhẩm, hay nêu lời giải các bài toán đơn… Điều này rất quan trọng vì nếu không học sinh dễ chán nản, không hứng thú học tập, thậm chí bỏ học Kiên trì giảng lại nhiều lần, thậm trí cả khi học sinh làm bài tập luyện tập củng cố

Bố trí cho ngồi cạnh học sinh học khá giỏi để khi vớng mắc nhỏ các em có thể nhờ bạn mách bảo ngay cho Kết hợp trao

đổi, hớng dẫn phụ huynh một số kĩ năng cơ bản để kèm cặp học sinh thêm ở nhà

Kịp thời khen ngợi, khích lệ sau mỗi câu trả lời đúng hay bài làm đúng của các em; Không tiếc lời khen trớc mỗi kết quả

đạt đợc, dù là nhỏ nhất của các em, tạo hứng khởi để các em luôn cố gắng học tập

- Trong thực tế, vẫn có một số học sinh học yếu do hổng kiến thức ở giai đoạn học tập trớc Ta thấy rằng, các mạch kiến

thức môn toán đợc xây dựng theo vòng tròn đồng tâm hợp lý

và có tính kế thừa Vì bị ốm đau nghỉ học hay gia đình xảy

ra sự bất thờng nên kiến thức bài trớc đó học sinh không nắm

đợc, dẫn đến khó tiếp thu, thậm trí không hiểu đợc bài học mới

Giúp học sinh hiểu lại bài cũ, kiến thức cũ có liên quan bằng cách đi ngợc kiểu xơng cá, có kết hợp mô tả trực quan, những học sinh này sẽ nhanh chóng học tập bình thờng trở lại Vậy nên giáo viên cần nghiên cứu nội dung từng mạch kiến thức, có biện pháp kèm cặp phù hợp:

a, Học sinh học yếu toán do cha thuộc bảng nhân

chia.

+ Đối với môn toán, việc học thuộc bảng nhân chia là hết sức cần thiết Các bảng nhân chia có ở hầu hết các bài toán, các dạng toán

Với các em khá giỏi, việc học thuộc bảng nhân chia là dễ dàng nhng với các em tiếp thu chậm, khả năng ghi nhớ kém thì

Trang 10

việc học thuộc các bảng nhân chia lại là việc rất khó khăn Nên giáo viên phải hớng dẫn, kiểm tra thờng xuyên, giao nhiệm vụ cho học sinh hằng ngày tự kiểm tra lẫn nhau (trong giờ sinh hoạt đầu giờ, giờ chơi …) Cho học sinh vận dụng những công thức đơn giản những ghi nhớ đơn giản nh tìm kết quả phép nhân bằng trực quan hay bằng phép cộng có các số hạng bằng nhau tơng ứng

VD: 5 x 9 = 9 x 5 = 9 + 9 + 9 =

Khi học sinh không nhớ số bị chia, ta tập cho học sinh biết nhẩm từ kết quả phép nhân với các thành phần tơng ứng (bởi phép chia là phép tính ngợc của phép nhân)

+ Tổ chức trò chơi có lồng ghép kĩ năng tính toán nhân chia để gây hứng thú học tập, củng cố kiến thức, giáo viên

động viên lôi cuốn cả học sinh yếu vào chơi

VD: Trò chơi “ Nhóm 3 nhóm 7.” Bài Tính chất giao hoán

của phép nhân

Giáo viên hô: Kết nhóm 7 x 3 với 3 x hoặc a x với b

x a

học sinh 2 nhóm thi nhau tìm ghép nhanh

+ Kiểm tra bất chợt về một phép nhân hoặc một phép chia bằng cách thi điền nhanh kết quả (nêu miệng hay gắn số có kết quả đúng)

VD: Nhân nhẩm:

20 x 2 = 2 000 x 2 =

200 x 2 = 4 000 x 2 =

Trong những tiết hoạt động tập thể, tổ chức cho học sinh các trò chơi có nội dung toán: Điền nhanh điền đúng, Đố vui, Hái hoa dân chủ …có lồng nội dung liên quan đến các bảng nhân, bảng chia Từ hình thức nhẹ nhàng này đã tăng thêm sự hứng khởi cho học sinh, tạo điều kiện cho học sinh đoàn kết, gắn kết nhau, cuốn hút vào học tập Từ đó nâng chất lợng học sinh

b, Học sinh học yếu do khả năng tính toán.

Qua việc chấm chữa bài, chúng ta sẽ nhận thấy học sinh sai khá nhiều ở bài tính cộng, trừ, nhân… giáo viên cần luyện

đi luyện lại nhiều lần các em này đến tính đúng mới thôi Có

nh vậy, trong phép chia ở từng lần nhẩm tìm số d, học sinh mới làm đúng đợc

Ngày đăng: 29/08/2017, 13:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w