BÀI TẬP MÔN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC Đề bài: Phân tích công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các dự án nhà máy điện hạt nhân của Ban chuẩn bị đầu tư dự án Điện hạt nhân và nă
Trang 1BÀI TẬP MÔN QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC
Đề bài:
Phân tích công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho các dự án nhà máy điện hạt nhân của Ban chuẩn bị đầu tư dự án Điện hạt nhân và năng lượng tái tạo - Tập đoàn Điện lực Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị
Bài làm:
I GIỚI THIỆU CHUNG 1.Tổng quan
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa với mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng phát triển Với dân số thuộc loại lớn trên thế giới và tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 5-7%, việc đảm bảo an ninh trong cung cấp năng lượng và phát triển khoa học, công nghệ của đất nước là rất quan trọng nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo an ninh xã hội
Những biến động về nguồn năng lượng thế giới, giá dầu mỏ tăng cao, tài nguyên phục vụ các nhà máy nhiệt điện, thủy điện ngày càng cạn kiệt, diễn biến khí hậu bất thường… ảnh hưởng đến khả năng khai thác thủy điện Do đó, điện hạt nhân được dự báo sẽ là "nguồn nước mát" giải tỏa cơn khát năng lượng toàn cầu và
là một trong những giải pháp ưu việt đảm bảo an toàn năng lượng và bảo vệ môi trường cho toàn thế giới
Hơn nữa, điện hạt nhân có lợi thế cạnh tranh so với các dạng năng lượng sản xuất từ nhiên liệu hóa thạch, bất chấp vốn đầu tư lớn, chi phí xử lý chất thải và chi phí khi nhà máy ngừng hoạt động Báo cáo của Ủy ban Năng lượng châu Âu chỉ ra rằng chỉ tính riêng chi phí ngoài (chi phí chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường và
có thể định lượng được không bao gồm giá điện) thì điện hạt nhân chỉ bằng 1/10 chi phí ngoài của điện than Giá điện hạt nhân đã và đang giảm trong suốt thập kỷ qua
vì giá nhiên liệu, vận hành và bảo trì đều giảm trong khi vốn đầu tư đã thu hồi được hoàn toàn hay một phần
Theo dự báo từ nay đến năm 2020 nước ta cần từ 36 đến 65 tỷ kWh điện Điện hạt nhân là một trong những nguồn năng lượng mới mà Việt Nam đang định hướng với mục tiêu đảm bảo phát triển năng lượng hiệu quả, bền vững và thân thiện môi trường Việc chúng ta quyết định xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào thời điểm hiện nay là phù hợp với xu thế chung trên toàn thế giới Vì vậy, Chính phủ đang xây dựng “Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2020” nhằm đưa tỉ trọng điện hạt nhân trong cơ cấu sản xuất điện lên tới 11% vào năm 2025-2030 và 30% trong thời gian 2040-2050
Trang 22
Để thực hiện chiến lược trên, nguồn nhân lực có trình độ và kinh nghiệm là một trong những thách thức hàng đầu khi phát triển điện hạt nhân của Việt Nam Mặc dù, chúng ta cũng đã có hàng nghìn kỹ thuật viên, công nhân lành nghề làm việc tại các dự án năng lượng, thủy điện, nhiệt điện, giao thông, xây dựng và
có những chuyên gia được Chính phủ tuyển chọn đi đào tạo ở nước ngoài có khả năng đảm nhận một số nhiệm vụ quan trọng trong chương trình phát triển điện hạt nhân Tuy nhiên, đội ngũ chuyên gia đó còn rất mỏng để có thể quản lý dự án; đánh giá và lựa chọn công nghệ điện hạt nhân; thẩm định và đánh giá an toàn dự án điện hạt nhân; tổ chức các hoạt động nghiên cứu triển khai về công nghệ và nhiên liệu cho nhà máy điện hạt nhân Hơn nữa, kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy những sai sót của người vận hành đã là một trong những nhân tố chính dẫn đến các sự cố hoặc tai nạn nhà máy điện hạt nhân Đặc biệt là đối với các nước lần đầu tiên muốn phát triển điện hạt nhân như Việt Nam, con người là một nhân tố quyết định sự thành công của chương trình điện hạt nhân, vì nó quyết định sự tiếp thu tốt chuyển giao công nghệ, tiến dần từng bước đến nội địa hóa, tự chủ dần về công nghệ
Do vậy, nhiệm vụ quan trọng số một của ngành điện hạt nhân Việt Nam hiện nay là đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp điện hạt nhân
2 Hiện trạng nhân lực của ngành hạt nhân Việt Nam nói chung và của Tập đoàn điện lực Việt Nam nói riêng
Nhân lực hạt nhân ở nước ta hiện nay tập trung chủ yếu tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Trung tâm Vật lý hạt nhân, Đại học Bách khoa Hà nội, Đại học Quốc gia Hà nội, Đại học Công nghiệp, Đại học Đà Lạt Tuy nhiên, lực lượng cán bộ hiện nay chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của tình hình mới Số lượng ít, phân tán và đang suy giảm rõ rệt do nhiều nguyên nhân: nghỉ hưu, thôi việc, chuyển sang ngành khác, làm việc cho công ty nước ngoài, ở lại nước ngoài dài hạn Trong một thời gian khá dài, sinh viên theo học ngành hạt nhân rất không đáng kể, cán bộ trẻ không được tuyển dụng, do đó độ tuổi trung bình của đội ngũ cán bộ ngành hạt nhân ngày càng cao Về chất lượng cán bộ đầu ngành nghỉ hưu dần, lực lượng kế cận không được đầu tư chuẩn bị chu đáo, không ít cán bộ trẻ có năng lực chuyên môn tốt xin ra khỏi ngành Thực tế đó dẫn đến tình trạng thiếu hụt cán bộ, cả chuyên môn lẫn quản lý
3 Nhân lực hạt nhân tại nước ta hiện nay :
Tại Việt Nam tập chung các Chuyên gia trong lĩnh vực hạt nhân tập chung chủ yếu tại Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VAEI), Viện có tổng số
có 392 người (trong biên chế và hợp đồng nghiên cứu dài hạn) trong đó:
- Về bằng cấp: có 76 Tiến sỹ, 68 Thạc sỹ; và 248 cử nhân và kỹ sư
- Về chuyên môn: có 92 cán bộ Vật lý hạt nhân; 41 Vật lý và công nghệ lò phản ứng; 52 Hóa bức xạ và hóa phóng xạ; 50 Sinh học phóng xạ; 22 Thiết bị hạt nhân; còn lại là các chuyên ngành khác
Ngoài ra còn một số cán bộ có chuyên môn liên quan đến hạt nhân công tác tại các cơ sở khác:
- Viện Cơ học : 21 người (7 Đại học, 14 người trên Đại học)
Trang 33
- Viện Khoa học Xây dựng: 10 người (6 Đại học, 4 người trên Đại học) Như vậy, tổng cộng có khoảng hơn 400 cán bộ có trình độ từ đại học trở lên làm việc trong các lĩnh vực hạt nhân với các chuyên ngành khác nhau mà đa phần là các lĩnh vực hạt nhân phi điện hạt nhân; số làm việc tại các lĩnh vực gần với điện hạt nhân chỉ có khoảng 30 đến 40 người với độ tuổi trung bình khá cao
4 Nhân lực hạt nhân tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Ban Chuẩn bị đầu
tư dự án điện hạt nhân và năng lượng tái tạo
Hiện nay, nhân lực ngành điện hạt nhân (số cán bộ được đào tạo trình độ đại học trở lên về điện hạt nhân) của EVN nói chung và của Ban Chuẩn bị đầu tư dự án điện hạt nhân và năng lượng tái tạo nói riêng còn rất hạn chế
- Ban CBĐT: có 5 người bao gồm: 1 Tiến sỹ Điện hạt nhân, 1 Tiến sỹ Vật lý hạt nhân, 1 Tiến sỹ Kinh tế, 2 Kỹ sư Điện hạt nhân
- Viện Năng lượng: 3 người gồm 1 TS, 2 thạc sỹ
- Đại học Điện lực: 7 người, trong đó: 3.TS Vật lý hạt nhân, 3ThS, 1 Kỹ sư
Về dài hạn, từ năm 2006 đến 2007 EVN đã cử 14 sinh viên là con em CBCNV trong ngành có thành tích học tập tốt sang học các chuyên ngành về điện hạt nhân tại Đại học Năng lượng Matxcova (MPEI) để phục vụ dự án điện hạt nhân
II NHỮNG TỒN TẠI, KHÓ KHĂN, THUẬN LỢI VÀ ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1 Những tồn tại và khó khăn
- Việt Nam nói chung và EVN nói riêng hoàn toàn chưa có kinh nghiệm trong việc phát triển điện hạt nhân, việc đào tạo nhân lực trong nước trong lĩnh vực này hoàn toàn mới mẻ
- Số lượng cán bộ chuyên ngành điện hạt nhân còn rất mỏng, đặc biệt là số lượng cán bộ nằm trong dây chuyền phát triển dự án điện hạt nhân gồm EVN, Ban QLDA, Các công ty Tư vấn Điện
- Số sinh viên cử đi đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân chưa đủ để đáp ứng nhiệm vụ trong thời gian tới khi các dự án triển khai hàng loạt, cần số lượng kỹ sư lớn
- Việc điều chuyển, huy động, tập trung cán bộ trong và ngoài EVN có trình
độ chuyên môn về điện hạt nhân về phục vụ dự án điện hạt nhân gặp không ít khó khăn do hoàn cảnh, điều kiện sống và sinh hoạt của cá nhân và gia đình không dễ thay đổi; mức thu nhập chưa hấp dẫn
Như vậy, để thúc đẩy nhanh việc triển khai dự án nhà máy điện hạt nhân đầu tiên, ngoài các điều kiện về cơ sở pháp lý, nền tảng kỹ thuật, sự đồng thuận trong và ngoài nước thì trước mắt EVN nói chung và Ban Chuẩn bị đầu tư dự án điện hạt nhân và năng lượng tái tạo nói riêng còn gặp nhiều khó khăn về nguồn nhân lực lập
và thực hiện dự án
2 Những thuận lợi và định hướng phát triển nguồn nhân lực của Ban
Với vai trò là đơn vị tiên phong, là đầu tàu được Đảng và Nhà nước giao trọng trách đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu điện năng cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, Tập đoàn Điện lực Việt Nam với truyền thống vượt qua khó khăn thử thách, vì dòng điện cho Tổ quốc, với rất nhiều kinh nghiệm trong sự nghiệp phát triển điện năng đã nhận thức được yếu tố quan trọng của nguồn nhân lực trong việc phát triển điện năng nói chung và điện hạt nhân nói riêng đã sớm có những biện pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ được giao
Trang 44
EVN đã sớm có định hướng và triển khai các hoạt động nhằm phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực điện hạt nhân thông qua các chương trình hợp tác và chương trình đào tạo mang tính chiến lược, gồm cả dài hạn và ngắn hạn như sau:
- Về hợp tác phát triển đào tạo nguồn nhân lực dài hạn trong tương lai:
Năm 2005 thiết lập quan hệ giữa EVN và MPEI để đào tạo nghiên cứu sinh,
kỹ sư tài năng, gửi giảng viên tu nghiệp và làm nghiên cứu sinh, trao đổi và gửi sinh viên sang học tập và thực tập, v.v
- Hợp tác với Công ty Điện lực Pháp (EDF), Trường Đại học Grenoble và một số Trường, Viện của Pháp để tìm hiểu về việc gửi nghiên cứu sinh, gửi sinh viên học tập và thực tập, hỗ trợ phát triển Trường Đại học Điện lực trong lĩnh vực năng lượng điện (bao gồm cả điện hạt nhân)
Các năm tiếp theo, EVN đang tiếp tục tuyển chọn sinh viên là con em trong ngành có thành tích học tập tốt để cử đi đào tạo chuyên ngành điện hạt nhân tại MPEI Ngoài ra, các địa chỉ đào tạo dài hạn về điện hạt nhân tại các nước khác như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc, v.v cũng đang được tìm hiểu và thiết lập quan hệ hơp tác
- Về đào tạo trung hạn, ngắn hạn để cung cấp nhân lực điện hạt nhân cho EVN:
Bên cạnh các chương trình dài hạn, để có đội ngũ nhân lực trong giai đoạn đầu phát triển điện hạt nhân, từ năm 2005 EVN đã phối hợp với Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VAEI) và tài trợ từ các tư vấn nước ngoài (Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp) để đào tạo cơ bản và nâng cao về điện hạt nhân cho các cán bộ, kỹ sư
có kinh nghiệm của EVN và các đơn vị thành viên Đến nay đã có khoảng 60 lượt người được cử đi đào tạo từ cơ bản đến nâng cao
Các chương trình hợp tác để đào tạo ngắn và trung hạn vẫn được EVN liên tục duy trì thực hiện cho đến nay, bên cạnh đó EVN cũng thường xuyên cử cán bộ,
kỹ sư tham dự các hội thảo, triển lãm, diễn đàn liên quan đến điện hạt nhân để tăng cường sự hợp tác và học hỏi kinh nghiệm từ các đối tác
Trang 5Trưởng Ban
Phó Trưởng Ban
Kỹ thuật
Phòng
Tổ chức Hành chính
(23) (4LĐ phòng)
Tổ
Tổ chức,
Nhân sự
& Đào
tạo
(08)
Tổ hành
chính
quản trị
(11)
Phó Trưởng Ban
Thiết bị & Công
nghệ
Phó Trưởng Ban
Quản lý XDCB
Phòng Tài chính kế toán (12) (3LĐ phòng)
Tổ
Dự án (06)
Tổ Nội bộ (03)
Phòng Hợp tác quốc tế (12) (3LĐ phòng)
Tổ Hợp tác quốc tế (03)
Tổ Quan
hệ cộng đồng (06)
Phòng
Kỹ thuật (80) (4 LĐ phòng)
Tổ
An toàn hạt nhân, QA&Q
C (12)
Tổ Công nghệ thiết bị nặng (15)
Tổ Công nghệ phụ trợ (10)
Tổ
Tự động hóa và Điện (08)
Phòng Kinh tế Kế hoạch (15) (3LĐ phòng)
Tổ Vật tư (03)
Tổ Kinh tế (04)
Phòng GPMB-Tái định cư
Tổ Đền bù,
di dân
và quan
hệ cộng đồng (07)
Tổ Vật tư
& Kỹ thuật công trình (05)
Tổ Tổng hợp (05)
Trung tâm tuyên truyền Ninh Thuận (20)
TT Đào tạo tại N.Thuậ
n (dự kiến xuất hiện ở
gđ CBSX (25)
Tổ Nhiên vật liệu hạt nhân
& Môi trường (10)
Tổ
Kỹ thuật công trình (15)
Tổ
VH, sửa chữa, bảo dưỡng (06)
Tổ
Kế hoạch tổng hợp (05)
SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐIỆN HẠT NHÂN
(giai đoạn 2009 đến 2020) TỔNG SỐ: 211 người
Hình 6 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Ban QLDA Điện hạt nhân
Trang 6III CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Chương trình phát triển nhân lực được xây dựng dựa trên các nhiệm vụ cho từng giai đoạn để đưa nhà máy điện hạt nhân vào hoạt động, được xác định qua 2 giai đoạn chính như sau:
✓ Giai đoạn tiền dự án và triển khai dự án 2008 đến 2012
✓ Giai đoạn thiết kế chi tiết, xây dựng, chạy thử nghiệm thu, vận hành: 2013 đến 2020 Tương ứng với nội dung công việc của từng giai đoạn, các nhiệm vụ cụ thể mà Ban chuẩn bị đầu tư dự án điện hạt nhân và năng lượng tái tạo - EVN sẽ đảm nhận sẽ phân tích, xác định lượng nhân lực cần thiết, lựa chọn nhân lực đầu vào và biện pháp tổ chức đào tạo
Đây là giai đoạn thực hiện các thủ tục đầu tư, dự án đầu tư chưa được phê duyệt, do đó chưa xác định được công nghệ của nhà máy, hình thức và mức độ chuyển giao công nghệ Vì vậy, công tác đào tạo trong giai đoạn này tập trung vào các nội dung chính sau đây:
- Đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ liên quan đến dây chuyền dự án (chủ yếu
là Ban CBĐT - sau này là Ban QLDA và tiếp đến là cấp cán bộ quản lý của chủ đầu tư, các cán
bộ và kỹ sư của các tư vấn trong nước)
- Đào tạo các kiến thức cơ sở cần thiết cho các cơ quan quản lý liên quan đến dự án điện hạt nhân, cho nhân dân vùng dự án ( các chương trình PA – Public Acceptance và PR – Public Relation)
Do đây là dự án Điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam do đó dự án sẽ theo hình thức ” Turn Key” hoặc ”EPC”, do đó đào tạo nhân lực cho vận hành và bảo dưỡng nhà máy sẽ do Ban QLDA phối hợp với nhà thầu cung cấp thiết bị đào tạo theo chương trình đào tạo chuyển giao của nhà thầu
1 Lựa chọn nhân lực đầu vào
Căn cứ nhu cầu nhân lực và yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn 1, Đề án đưa ra phương hướng lựa chọn nhân lực đầu vào như sau:
- EVN điều động các cán bộ được cử đi đào tạo ngắn hạn về Điện hạt nhân về làm việc tại Ban QLDA, dự kiến thời gian điều động trong khoảng cuối năm 2009 đầu 2010
- Tuyển mới sinh viên tốt nghiệp Đại học khối ngành kỹ thuật như: Điện, Tự động hoá, Nhiệt, Vật lý, Cơ khí, Hoá, Xây dựng,
- Trường hợp EVN không điều động kịp các cán bộ đã được cử đi đào tạo ngắn hạn về làm việc tại Ban CBĐT thì Ban CBĐT sẽ tuyển mới vào các vị trí cần thiết cho đủ số lượng
2 Các nội dung cần đào tạo cho cán bộ trong dây chuyền dự án giai đoạn chuẩn bị đầu tư (2008 – 2012)
Các chương trình đào tạo này tập trung vào một số nội dung chính dưới đây:
- Các chương trình đào tạo tổng quan về điện hạt nhân trong nước
- Đào tạo quản lý dự án dành cho lãnh đạo và cán bộ quản lý
+ Đào tạo về kỹ năng quản lý dự án
+ Đào tạo cơ bản về điện hạt nhân và quản lý cơ sở hạt nhân cho các lãnh đạo
- Đào tạo quản lý dự án dành cho chuyên viên
+ Đào tạo cơ bản về điện hạt nhân và quản lý cơ sở hạt nhân cho các bộ phận
chuyên môn
+ Quản trị nhân sự
+ Phân tích tài chính dự án
Trang 77
+ Kế hoạch dự án
+ Quản lý đấu thầu
+ Quản lý, giám sát dự án đầu tư xây dựng
+ Tiếng Anh giao tiếp và chuyên ngành
- Đào tạo kiến thức về văn hóa, tập quán của địa phương sẽ xây dựng nhà máy điện hạt nhân cho Ban CBĐT (Ban QLDA):
Điện hạt nhân là lĩnh vực rất nhạy cảm và có tầm quan trọng rất lớn với kinh tế, chính trị quốc gia nên việc triển khai dự án đòi hỏi thực hiện rất thận trọng, phải cập nhật thông tin
và có thái độ làm việc nghiêm túc, tỉ mỉ và có thái độ đúng mực với toàn thể cộng đồng trong
và ngoài nước, đặc biệt là với nhân dân và chính quyền địa phương Huyện Ninh Phước và Ninh Hải tỉnh Ninh Thuận được xếp ưu tiên hàng đầu trong những địa điểm có thể xây dựng NMĐ hạt nhân là nơi tập trung đồng bào Chăm đông nhất trong toàn tỉnh Bên cạnh đó còn có nhiều dân tộc như người Rắc-lây, H’mông, Thái, v.v Vì vậy việc hiểu biết về văn hoá, đặc điểm đời sống tại địa phương xây dựng nhà máy, là yếu tố quan trọng để triển khai dự án được thông suốt
- Các chương trình đào tạo chuyên sâu tại nước ngoài:
Giai đoạn này cần đào tạo các lĩnh vực chuyên sâu về điện hạt nhân cho các cán bộ sẽ là nòng cốt trong giai đoạn thực hiện đầu tư và quản lý vận hành nhà máy sau này Các lĩnh vực
và nội dung đào tạo chuyên sâu cần thiết về điện hạt nhân như : Lựa chọn vị trí xây dựng NMĐHN; Nghiên cứu NMĐHN giai đoạn Dự án đầu tư; Quản lý dự án công trình ĐHN; Văn
hóa an toàn
3 Đào tạo các kiến thức cơ sở cần thiết cho các cơ quan quản lý liên quan đến dự
án điện hạt nhân, cho nhân dân vùng dự án
- Mục tiêu: các chương trình đào tạo này nhằm trang bị các kiến thức cơ bản nhất về
năng lượng hạt nhân và nhà máy điện hạt nhân, sự cần thiết phải xây dựng nhà máy điện hạt nhân trong giai đoạn hiện nay, Các chương trình này kết hợp chặt chẽ với hoạt động PA, PR nhằm nâng cao hiệu quả của công tác PA, PR
- Đối tượng: là các cán bộ thuộc các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan có thẩm quyền
trong lĩnh vực điện hạt nhân Các cán bộ và nhân dân địa phương nơi dự định xây dựng nhà máy điện,
- Nội dung: tập trung vào 1 đến 2 vấn đề liên quan dưới đây
+ Tình hình năng lượng hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam + Khái niệm cơ bản về Lò phản ứng và các thiết bị của nhà máy điện hạt nhân + Các loại nhà máy điện hạt nhân
+ An toàn hạt nhân, An toàn bức xạ và lợi ích Kinh tế điện hạt nhân + Nhiên liệu và bãi thải hạt nhân
+ Hệ thống pháp quy và Dự án điện hạt nhân + Điện hạt nhân tại Việt Nam
- Hình thức: hội thảo, tập huấn
4 Giai đoạn 2: Giai đoan thực hiện đầu tư (lựa chọn nhà thầu, xây dựng, nghiệm thu và vận hành nhà máy)
4.1 Đào tạo vận hành, bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân (O&M)
Đây là giai đoạn rất quan trọng trong công tác đào tạo cho quản lý vận hành, bảo dưỡng NMĐ hạt nhân, được thực hiện chủ yếu thông qua các hình thức:
- Đào tạo theo các chương trình chuyển giao công nghệ của nhà thầu
Trang 88
- Đào tạo kèm cặp qua thực tế công việc tại công trường
- Đào tạo theo các mô đun vận hành, bảo dưỡng tại Trung tâm đào tạo với thiết bị mô phỏng quy mô thực (Full scope simulator) tại dự án
Như vậy, công tác đào tạo nhân lực cho quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa được thực hiện theo yêu cầu chuyển giao công nghệ của dự án và sẽ do nhà thầu chịu trách nhiệm thực hiện theo hợp đồng xây dựng dự án Công việc chính của chủ đầu tư sẽ tập trung vào:
- Tuyển chọn nguồn nhân lực đầu vào
- Cùng với nhà thầu xác định các chức danh và chuyên môn cần đào tạo
- Tổ chức quản lý và đánh giá chất lượng đào tạo
4.2 Trung tâm đào tạo, tổ chức quản lý và đánh giá chất lượng đào tạo
Đối với dự án điện hạt nhân, Trung tâm đào tạo với thiết bị mô phỏng quy mô thực là một hạng mục không thể thiếu trong dự án điện hạt nhân, đặc biệt là đối với dự án điện hạt nhân đầu tiên và cần phải hoàn thành trước khi tiến hành kiểm tra nghiệm thu dự án để đưa vào đào tạo cho đội ngũ vận hành, bảo dưỡng nhà máy Việc tổ chức đào tạo tại Trung tâm (đặt liền với Nhà máy) là phương án có hiệu quả rất cao, hàng năm sẽ liên tục thực hiện các chương trình đào tạo lại và đào tạo bồi dưỡng cho nhân lực quản lý vận hành nhà máy
4.3 Đào tạo dài hạn kỹ sư và chuyên gia chuyên ngành Điện hạt nhân
a Đào tạo kỹ sư điện hạt nhân
- Hình thức đào tạo: Gửi sinh viên đi đào tạo ở nước ngoài
- Hình thức tài trợ: Trao học bổng toàn phần (học phí, sinh hoạt phí, đi lại…) Các sinh
viên được tài trợ cam kết sau khi hoàn thành chương trình học sẽ làm việc theo phân công, điều động của EVN Xem xét tài trợ học tiếp ở bậc sau đại học đối với các sinh viên xuất sắc
- Địa điểm đào tạo: Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ
- Đối tượng đào tạo:
+ Sinh viên là con em CBCNV trong ngành có thành tích học tập tốt (chương trình kỹ sư tài năng của EVN)
+ Con em (có thành tích học tập tốt) ở địa phương xây dựng nhà máy Điện hạt nhân và các tỉnh lân cận
- Sử dụng nhân lực sau đào tạo: EVN điều động sinh viên tốt nghiệp về làm việc tại cơ
quan Tập đoàn, Ban CBĐT và các đơn vị liên quan đến công tác triển khai dự án như: các công ty tư vấn, các Trường đào tạo của EVN Nguồn nhân lực này sẽ làm nòng cốt cho công tác thực hiện dự án Điện hạt nhân đầu tiên và phục vụ cho mục tiêu phát triển nguồn nhân lực dài hạn cho chương trình điện hạt nhân
- Số lượng đào tạo: 20 đến 30 người mỗi năm
b Đào tạo sau đại học
- Hình thức đào tạo: Gửi sinh viên, nghiên cứu sinh đi đào tạo ở nước ngoài
- Hình thức tài trợ: Trao học bổng toàn phần (học phí, sinh hoạt phí, đi lại…)
- Địa điểm đào tạo: Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ theo các chương trình hợp tác đào tạo
của EVN với các cơ sở đào tạo: MPEI, Grenoble, CEA, INPO (Mỹ)
Trang 99
- Đối tượng đào tạo: Các CBCNV của EVN, Ban CBĐT Dự án Điện hạt nhân và Năng
lượng tái tạo, Viện Năng lượng, Trường Đại học Điện lực, các Công ty tư vấn và các nhà máy nhiệt điện đáp ứng đủ yêu cầu về chuyên môn và ngoại ngữ của các đơn vị đào tạo
- Sử dụng nhân lực sau đào tạo: EVN điều động về làm việc tại cơ quan Tập đoàn, Ban
CBĐT và các đơn vị liên quan đến công tác triển khai dự án như: Viện Năng lượng, các công
ty tư vấn, các Trường đào tạo của EVN Nguồn nhân lực này sẽ làm nòng cốt cho công tác thực hiện dự án Điện hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam
- Số lượng đào tạo: Kỹ sư tài năng: 30 đến 40 người mỗi năm
5 Đào tạo hỗ trợ địa phương
Việc đào tạo cho con em địa phương nhằm ba mục đích lớn:
- Tạo nguồn nhân lực tại địa phương cho EVN nói chung và cho dự án điện hạt nhân nói riêng
- Thực hiện nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án điện hạt nhân đối với nhân dân địa phương theo thông lệ quốc tế và Luật Năng lượng nguyên tử
- Việc hỗ trợ đào tạo cho con em địa phương là hình thức quảng bá, tuyên truyền, vận động rất hiệu quả, là một trong các biện pháp thực hiện công tác thông tin, tham vấn cộng đồng
Với các mục đích trên, ngoài việc tuyển chọn con em địa phương để đào tạo nhân lực cho công tác quản lý vận hành nhà máy, bên cạnh đó, để thực hiện đúng và đầy đủ trách nhiệm của chủ đầu tư đối với nhân dân phải di dời tái định cư phục vụ dự án, chủ đầu tư cần có các hoạt động đào tạo nghề hỗ trợ nhân dân ổn định sản xuất và đời sống Cụ thể:
- Đối tượng tham gia: Nhân dân địa phương các vùng phải di dời để phục vụ dự án
- Địa điểm đào tạo: Các trường nghề, Trung tâm dạy nghề tại địa phương và các tỉnh lân cận
- Đơn vị tổ chức: chủ đầu tư phối hợp với các trường nghề, các Trung tâm dạy nghề
- Hình thức tài trợ và nguồn kinh phí:
+ Hình thức: tổ chức tập trung, tài trợ 100%
+ Nguồn kinh phí: kinh phí dự án
- Thời điểm: ngay khi dự án đầu tư được phê duyệt hoặc trước khi thực hiện di dân tái
định cư 01 năm
IV.KINH PHÍ VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1 Kinh phí đào tạo
Đối với dự án NMĐ hạt nhân, tuỳ theo thời điểm xây dựng, tình hình kinh tế xã hội, loại công nghệ áp dụng, chi phí nhân công tại địa phương xây dựng nhà máy, v.v mà chi phí đầu tư
dự án sẽ thay đôi Theo đó chi phí đào tạo sẽ thay đổi, và còn tuỳ thuộc vào hình thức đào tạo tại nước ngoài là nước nào, toàn phần hay bán phần tại nước ngoài, có tài trợ quốc tế hay không, v.v
Theo kinh nghiệm quốc tế (khuyến cáo của Nhật Bản, Pháp, Canada) thì chi phí đào tạo cho 01 khối lò như sau:
- Trong giai đoạn lập và thực hiện đầu tư dự án: từ 0.1 đến 0.3% chi phí đầu tư của 1 khối lò;
Trang 1010
- Trong giai đoạn khai thác một khối lò: 3 đến 7% tổng quỹ tiền lương của nhà máy Như vậy, để đáp nguồn nhân lực cho NMĐ hạt nhân 4x1000MW với suất đầu tư 3.647USD/1kW thì chi phí đào tạo cho riêng dự án điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam trong
giai đoạn lập và thực hiện đầu tư dự án sẽ nằm trong phạm vi từ 14,6 triệu đến 43,8 triệu USD
1.1 Chương trình đào tạo không có yếu tố nước ngoài
Các chương trình này được tổ chức trong nước và đơn vị giảng dạy cũng là các đối tác trong nước Việc lập kế hoạch triển khai và lập dự toán cho các chương trình này có thể thực hiện được theo định mức chi phí và các quy định, hướng dẫn của Nhà nước và của EVN
1.2 Chương trình đào tạo có yếu tố nước ngoài
Các nhân tố liên quan đến công tác đào tạo có yếu tố nước ngoài:
- Loại công nghệ áp dụng
- Nước lựa chọn cung cấp thiết bị, cung cấp dịch vụ đào tạo
- Nguồn tài trợ quốc tế là bao nhiêu
- Nguồn lực và tiến độ triến khai đồng bộ của chương trình phát triển nhân lực điện hạt nhân của Quốc gia
- Chất lượng nguồn nhân lực đầu vào
- Khả năng thu hút nhân lực làm việc trong lĩnh vực điện hạt nhân
- Và một số yếu tố khác
2 Những tồn tại, hạn chế trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
- Ban CBĐT-EVN đã xây dựng tiêu chuẩn chức danh viên chức chuyên môn nghiệp vụ Tuy nhiên tiêu chuẩn này chỉ xây dựng chung cho từng loại công việc, Chưa có phân tích mô
tả công việc Do đó việc xây dựng kế hoạch đào tạo đôi khi chưa đáp ứng được nhu cầu thực
sự của từng vị trí Nếu yêu cầu đối với từng vị trí công việc được xây dựng rõ ràng, có thể nhìn được với từng vị trí đòi hỏi phải tuyển dụng người như thế nào và cần phải đào tạo những gì để người lao động đáp ứng được yêu cầu của công việc
- Đào tạo phải gắn liên với chính sách sử dụng lao động sau đào tạo để người được cử đi đào tạo có động lực phấn đấu
- Chưa có tiêu chuẩn cụ thể như với chức danh/vị trí này cần phải đào tạo những nội dung
gì, mức độ đào tạo như thế nào để có thể lựa chọn các chương trình đào tạo, yêu cầu kiến thức đào tạo, trình độ giảng viên phù hợp
- Đánh giá hiệu quả của các khóa đào tạo: chưa tổ chức đánh giá lợi ích thu được so với chi phí đã bỏ ra để đào tạo phát triển nguồn nhân lực
2 Đề xuất và Kiến nghị
- Việc xác định nhu cầu đào tạo phải dựa trên nhu cầu thực sự cần thiết của từng vị trí công tác, phù hợp với lược phát triển của của từng phòng trong Ban
- Bố trí hợp lý nguồn nhân lực sau đào tạo để phát huy hết khả năng để phục vụ tốt tránh gây lãng phí nguồn nhân lực sau đào tạo Đồng thời có chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài, giữ được những người thực sự có tài tránh tình trạng chảy máu chất xám nghĩa là người lao động được đào tạo bỏ đi làm việc ở nơi khác Nhiều khi bản cam kết làm việc trước khi được cử đi đào tạo không đủ sức mạnh để giữ chân người tài
- Xây dựng tiêu chuẩn, yêu cầu đào tạo đối với từng vị trí, đảm bảo đào tạo đúng người đúng việc, cung cấp các kiến thức mà người lao động thực sự cần