1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân trên địa bàn thành phố cần thơ

127 593 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu này là vì sao nhu cầu sử dụng rau an toàn của người tiêu dùng có xu hướng gia tăng và trong khi đó người cung cấp rau an toàn người nông dân h

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ THỊ NGỌC KIỀU

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Hà Nội, 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ THỊ NGỌC KIỀU

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ:60.62.01.15

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRƯƠNG ĐÔNG LỘC

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên cho tôi được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, quý

Thầy Cô trường Đại học Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ truyền

dạy những kiến thức để thời gian qua tôi có thể học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài tốt nghiệp của mình thời gian qua

Tiếp theo tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trương Đông Lộc, là

người đã trực tiếp hướng dẫn và tạo điều kiện để tôi có thể thực hiện luận văn này Được Thầy hướng dẫn là một vinh dự và là một cơ hội tốt để tôi có thể học tập, rèn luyện cả về kiến thức chuyên môn và tinh thần làm việc

Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Cô, Chú, Anh, Chị và đồng nghiệp nơi tôi đang công tác đã hỗ trợ hết mình, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian

để tôi có thể hoàn thành luận văn cao học

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến cha mẹ và các thành viên trong gia đình

đã động viên tôi trong quá trịnh thực hiện luận văn và chân thành cảm ơn các đáp viên đã nhiệt tình hỗ trợ khi tôi thực hiển phỏng vấn

Tác giả

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên quá trình nghiên cứu thực tế do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của các bạn cộng tác viên trong qua trình thu mẫu Đồng thời số liệu và kết quả trong nghiên cứu này chưa được dùng cho bất kỳ nghiên cứu nào khác

Tác giả

Hà Thị Ngọc Kiều

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cảm ơn i

Lời cam đoan ii

Mục lục iii

Danh mục các bảng vi

Danh mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Sự cần thiết của nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1.1 Khái niệm về rau an toàn 5

1.1.2 Cơ sở lý luận về hành vi tiêu dùng 7

1.1.3 Một số quy trình sản xuất rau thông dụng 16

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 18 1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 18

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội thành phố Cần Thơ 25

2.1.3 Tình hình sản xuất rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long 29

2.1.4 Tình hình sản xuất rau an toàn ở thành phố Cần Thơ 31

Trang 6

2.1.5 Thị trường rau an toàn tại thành phố Cần Thơ 32

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33

2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 36

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 41

3.1.1 Thực trạng về mức độ phổ biến của rau an toàn tại thành phố Cần Thơ41 3.1.2 Thực trạng sử dụng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ 47

3.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG RAU AN TOÀN CỦA NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 52

3.2.1 Thông tin đáp viên tham gia nghiên cứu 52

3.2.2 Nguyên nhân sử dụng và không sử dụng rau an toàn của các đáp viên 56 3.2.3 Đánh giá và dự đoán về rau an toàn ở hiện tại và trong tương lai của người dân thành phố Cần Thơ 58

3.2.4 Nguồn thông tin và nơi mua từng mua rau an toàn của các đáp viên tại thành phố Cần Thơ 60

3.2.5 Các mối quan tâm của người tiêu dùng tham gia nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ về rau an toàn 62

3.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ 65

3.3 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NGÀNH RAU AN TOÀN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ 77

3.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 77

3.3.2 Các giải pháp được đề xuất 79

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83

1 KẾT LUẬN 84

2 KHUYẾN NGHỊ 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 86

Trang 7

PHỤ LỤC 1 88 PHỤ LỤC 2 89 PHỤ LỤC 3 93

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

BẢNG 2.1 Cơ cấu lao động tại địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2012 26 BẢNG 2.2 Diện tích sản xuất rau an toàn ở một số tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long 30 BẢNG 2.3 Diện tích trồng rau trên địa bàn thành phố Cần Thơ năm 2012 32 BẢNG 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ được đưa vào nghiên cứu 35 BẢNG 2.5 Ý nghĩa khoảng giá trị thang đo 36 BẢNG 3.1 Cơ cấu mẫu nghiên cứu 41 BẢNG 3.2 Thông tin đáp viên tham gia khảo sát thực trạng hiểu biết rau an toàn tại thành phố Cần Thơ 45 BẢNG 3.3 Nguồn thông tin về rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ 47 BẢNG 3.4 Thực trạng số người sử dụng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ 48 BẢNG 3.5 Thông tin đáp viên tham gia khảo sát thực trạng có sử dụng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ 50 BẢNG 3.6 Nguồn mua rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ 51 BẢNG 3.7 Cơ cấu mẫu thu thập trong nghiên cứu 53 BẢNG 3.8 Thông tin đáp viên tham gia khảo sát phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ 55 BẢNG 3.9 Nguyên nhân sử dụng rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ 56 BẢNG 3.10 Nguyên nhân không sử dụng rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ 58 BẢNG 3.11 Đánh giá về sự phổ biến của rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ trong thời điểm hiện tai 58 BẢNG 3.12 Đánh giá về sự phổ biến của rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ trong tương lai 60

Trang 9

BẢNG 3.13 Nguồn thông tin về rau an toàn của đáp viên tham gia nghiên cứu tại

thành phố Cần Thơ 61

BẢNG 3.14 Nguồn mua rau an toàn của đáp viên tham gia nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ 62

BẢNG 3.15 Số lần sử dụng rau (rau an toàn) trong tuần của đáp viên tham gia nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ 62

BẢNG 3.16 Loại rau đáp viên tham gia nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ thường sử dụng 63

BẢNG 3.17 Các yếu tố về rau an toàn các đáp viên tham gia nghiên cứu tại thành phố Cần Thơ quan tâm 64

BẢNG 3.18 Kết quả kiểm định độ tin cậy thang đo 66

BẢNG 3.19 Kết quả kiểm định KMO và Bartlett 67

BẢNG 3.20 Kết quả phân tích nhân tố 69

BẢNG 3.21 Kết quả mô hình hồi quy Binary Logistic 71

BẢNG 3.22 Mức độ dự đoán chính xác của mô hình 73

BẢNG 3.23 Đánh giá của đáp viên đối với các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ 76

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

HÌNH 2.1 Mô hình hành vi người tiêu dùng 9

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết nghiên cứu

Rau là loại thực phẩm không thể thiếu của con người trong các buổi ăn hằng ngày bởi nó cung cấp rất nhiều vitamin mà các thực phẩm khác không thể thay thế được Phần lớn người ta sử dụng rau dưới dạng tươi sống nên khả năng ngộ độc khi tiêu dùng rau rất lớn nếu như rau được sử dụng không được đảm bảo về mặt an toàn thực phẩm như: rau tiêu dùng chứa dư lượng thuốc trừ sâu bệnh, dơ bẩn Thực tế

đã cho thấy trong những năm gần đây đã xảy ra nhiều sự cố làm phương hại đến sức khoẻ của người tiêu dùng, thậm chí có những trường hợp dẫn đến việc tử vong của những người tiêu dùng ăn phải rau không đảm bảo điều kiện an toàn thực phẩm Bên cạnh đó đời sống kinh tế của người dân thành phố Cần Thơ ngày càng được cải thiện, chất lượng cuộc sống ngày được nâng cao Con người không chỉ dừng lại ở mức ăn ngon, mặc đẹp như trước mà phải ăn như thế nào để có đầy đủ chất dinh dưỡng mà vẫn đảm bảo an toàn cho bản thân và gia đình Chính vì thế mà vai trò của rau an toàn trong đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Rau an toàn là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trên các diện tích đất có thành phần hoá - thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và các chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất bảo vệ thực vật và các chất thải sinh hoạt còn tồn tại trong đất đai), được sản xuất theo những quy trình kỹ thuật nhất định (đặc biệt là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và tưới nước), và nhờ vậy rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan quản lý nhà nước đặt ra

Gọi là rau an toàn vì trong quá trình sản xuất rau, người ta vẫn sử dụng phân bón nguồn gốc vô cơ và chất bảo vệ thực vật, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các chất bảo vệ thực vật trong danh mục cho phép Trong rau an toàn vẫn tồn tại dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không đến mức ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dùng Rau an toàn ở Việt

Trang 12

Nam được nói tới chủ yếu để phân biệt với rau được canh tác bằng các kỹ thuật thông thường, khó kiểm soát trên góc độ vệ sinh an toàn thực phẩm

Những thông tin về vấn đề vừa nêu đã được nhận thức ít nhiều bởi những người tiêu dùng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, trong thực tế thì việc sản xuất rau có đủ điều kiện an toàn thực phẩm để cung cấp cho thị trường người tiêu dùng vẫn còn rất hạn chế do người sản xuất chưa sẵn lòng để tạo

ra sản phẩm này để cung cấp cho thị trường, trong khi họ vẫn có khả năng kỹ thuật

để sản xuất rau an toàn đáp ứng cho nhu cầu của thị trường Mặt khác, đứng về mặt tiêu dùng thì nhìn chung việc quyết định sử dụng rau an toàn chưa trở thành thói quen của nhiều người tiêu dùng do nhiều lý do khác nhau từ việc nhận thức của chính bản thân người tiêu dùng đến vấn đề tổ chức thị trường của ngành hàng rau an toàn

Đứng về mặt lý thuyết quyết định tiêu dùng thì mỗi khi điều kiện thu nhập của người tiêu dùng gia tăng thì họ có xu hướng sử dụng các loại sản phẩm có đặc tính

an toàn cao hơn, đặc biệt là các loại thực phẩm tiêu dùng hàng ngày Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam và đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở thành phố Cần Thơ nói riêng thì xu hướng này chưa được thể hiện một cách rõ nét Do vậy, vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu này là vì sao nhu cầu sử dụng rau an toàn của người tiêu dùng có xu hướng gia tăng và trong khi đó người cung cấp rau an toàn (người nông dân) hoàn toàn có khả năng tạo ra sản phẩm này để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng gia tăng này, nhưng thực tế thì cung và cầu của sản phẩm rau an toàn vẫn chưa gặp

nhau Để trả lời cho vấn đề này, đề tài nghiên cứu ''Phân tích các nhân tố ảnh

hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân trên địa bàn thành phố Cần Thơ ''

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu chung của đề tài là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định

sử dụng rau an toàn của người dân trên địa bàn thành phố Cần Thơ, trên cơ sở đó đề

Trang 13

xuất các giải pháp nhằm gia tăng khả năng tiếp cận rau an toàn cho người tiêu dùng cũng như phát triển ngành hàng rau an toàn trên địa bàn thành phố Cần Thơ

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những người tiêu dùng có biết và từng sử dụng sản phẩm rau an toàn trên địa bàn thành hố Cần Thơ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại địa bàn 3 quận Ninh Kiều, Cái

Răng và Bình Thủy của thành phố Cần Thơ

- Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu được thực hiện từ tháng

11/2013 đến tháng 06/2014

- Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng

rau an toàn trên địa bàn thành phố Cần Thơ thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn và đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy quyết định sử dụng rau an toàn của người dân trên địa bàn thành phố Cần Thơ

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Thành phố Cần Thơ hiện nay là một thành phố có nền nông nghiệp hàng hóa gắn liền với thị trường đô thị, du lịch và xuất khẩu Toàn thành phố có diện tích trồng rau màu hàng năm vào khoảng 7.000 ha nhưng diện tích trồng rau an toàn khá

Trang 14

ít, khó đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ (Nguyễn Văn Thuận, 2011)

Đồng thời, có thể nhận thấy vấn đề rau an toàn đã và đang được khá nhiều người quan tâm, các nghiên cứu về rau an toàn hiện nay khá nhiều Tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu đều tập trung nghiên cứu vào tình hình sản xuất rau an toàn hiện nay tại đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể đã có các nghiên cứu về sản xuất rau an toàn tại các tỉnh Vĩnh Long, Tiền Giang, An Giang và Cần Thơ Các nghiên cứu đều cho thấy hiện nay diện tích trồng rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long khá

ít và hầu như khó đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Những

hộ trồng rau an toàn đều có nhiều kinh nghiệm nhưng việc áp dụng kỹ thuật sản xuất đúng quy trình lại không đồng đều khiến chất lượng rau an toàn của vùng không đảm bảo

Riêng đối với đề tài nghiên cứu về tình hình tiêu thụ rau an toàn hiện nay có không có nhiều tác giả nghiên cứu dù đây là một khía phần khá quan trọng trong chuỗi giá trị rau an toàn Việc sản xuất sản phẩm phải được tiêu thụ tốt thì mới có thể giúp người sản xuất có động lực sản xuất tốt hơn Chính vì thế đề tài này được thực hiện nhằm giúp tìm ra những yếu tố tác động đến quyết định sử dụng rau an toàn của người tiêu dùng thành phố Cần Thơ để từ đó có những giải pháp phù hợp tác động vào đối tượng người tiêu dùng giúp nâng cao khả năng tiêu thụ rau an toàn tại thành phố Cần Thơ

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Cơ sở lý luận về rau an toàn

1.1.1.1 Khái niệm về rau an toàn

Theo quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận chất lượng rau an toàn của

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007) thì rau an toàn là những sản phẩm rau tươi (bao gồm các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa quả có chất lượng đúng như đặc tính giống của nó, hàm lượng các hóa chất và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và môi trường thì được coi là rau đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, gọi tắt là rau an toàn

Rau an toàn được quy định là các chất sau đây chứa trong rau không được vượt quá tiêu chuẩn cho phép, trong đó rau an toàn phải đảm bảo được 4 tiêu chuẩn sau: Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (thuốc sâu, thuốc cỏ), số lượng vi sinh vật và

ký sinh trùng, dư lượng đạm Nitrat (NO3), dư lượng các kim loại nặng (chì, thủy ngân, axenic, kẽm, đồng,…)

1.1.1.2 Các tiêu chuẩn xác định rau an toàn

Tiêu chuẩn rau an toàn là hệ thống các chỉ tiêu về hình thái và vệ sinh an toàn thực phẩm được trình bày trong quy định “Quản lý sản xuất và chứng nhận chất lượng rau an toàn” ban hành kèm quyết định số 04/2007/QĐ-BNN về đây là căn cứ kiểm tra, giám sát và chứng nhận các sản phẩm rau đạt tiêu chuẩn an toàn Các tiêu chuẩn này xoay quanh bốn vấn đề chính: dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, số lượng

vi sinh vật và ký sinh trùng, dư lượng đạm Nitrat, dư lượng kim loại nặng

 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật

Thuốc bảo vệ thực vật hay nông dược là những chất độc có nguồn gốc từ

tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng bảo vệ cây trồng và nông sản, chống lại

sự phá hoại của những sinh vật gây hại đến tài nguyên thực vật

Trang 16

Khi phun thuốc bảo vệ thực vật, có một lượng thuốc bám lại trên bề mặt cây rau gọi là dư lượng thuốc Lượng thuốc tồn dư này ở một mức nhất định có thể gây ngộ độc cho người ăn Người bị ngộ độc có thể gánh chịu những hậu quả nặng

nề trước mắt hoặc lâu dài tùy thuộc vào nồng độ và loại độc tố tích lũy trong cơ thể Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây nên một số bệnh nan y như ung thư, thai dị dạng,…

Nguyên nhân làm cho dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trện rau chủ yếu là do: sử dụng các loại thuốc có độ độc cao và chậm phân hủy, kể cả một số thuốc đã

bị cấm sử dụng, phun thuốc nhiều lần không cần thiết và phun với nồng độ cao quá mức quy định, phun thuốc quá gần ngày thu hoạch

Biện pháp hạn chế dư lượng thuốc bảo vệ thực vật bằng cách: không phun, rải các loại thuốc có độ độc cao và chậm phân hủy, kể cả một số thuốc đã bị cấm sử dụng, nên sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học như các thuốc vi sinh, thuốc thảo mộc đã được chứng nhận, chỉ nên sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết trên cơ sở nắm vững tình hình và đặc điểm của các loại sâu bệnh, dịch bệnh đang bùng phát, chỉ được sử dụng thuốc đúng liều lượng, không được dùng quá nhiều lần, phải thực hiện đúng thời gian cách lý của thuốc

 Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng

Các vi sinh vật và ký sinh trùng trong rau như giun đũa, giun tóc, vi khuẩn E.Coli và Samonella khi thâm nhập vào cơ thể sẽ gây bênh về đường ruột, ngoài ra còn triệu chứng thiếu máu, bệnh ngoài da

Nguyên nhân do nước phân tưới hoặc nguồn nước dơ bẩn là nguyên nhân làm rau nhiễm các sinh vật gây bệnh

Biện pháp khắc phục cho vấn đề này là không bón phân người hoặc phân gia súc còn tươi trong quá trình trồng rau, không rửa rau bằng nước do bẩn, ao hồ, sông rạch bị ô nhiễm

 Dư lượng đạm Nitrat (NO 3 )

Đạm là thành phần hữu cơ quan trọng cho rau Khi đất trồng có quá nhiều đạm thì lượng đạm dư thừa sẽ tồn tại trong rau dưới dạng Nitrate (NO3-) Khi

Trang 17

đi vào cơ thể người, NO3 sẽ bị khử thành NO2, NO2 làm chuyển hóa chất oxyhaemoglobin (chất vận chuyển oxy trong máu) thành một chất không hoạt động methaemoglobin làm cho máu thiếu oxy Do đó nếu trong cơ thể lượng NO3 nhiều

sẽ hạn chế sự hô hấp của tế bào, ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến giáp gây đột biến và phát triển các khối u Vì vậy lượng NO3 cao là triệu chứng nguy hiểm cho sức khỏe con người

Nguyên nhân làm dư lượng NO3 cao trên rau chủ yếu do sử dụng nhiều phân đạm hóa học và sử dụng quá gần ngày thu hoạch

Biện pháp hạn chế vấn đề này thì trong quá trình sản xuất rau không bón quá nhiều phân đạm, không bón phân đạm quá gần ngày thu hoạch

 Dư lượng kim loại nặng

Các kim loại nặng như Asen (AS), chì (Pb), thủy ngân (Hg), đồng (Cu), kẽm (Zn), thiếc (Sn),… nếu vượt quá giới hạn cho phép cũng là những chất gây hại cho cơ thể, hạn chế sự phát triển của tế bào và hoạt động của máu, gây thiếu máu, biến động thân nhiệt, rối loạn tiêu hóa,

Nguyên nhân làm cho hàm lượng kim loại năng trên rau cao chủ yếu do trong thuốc bảo vệ thực vật và phân bón NPK có chứa cả một số kim loại nặng Trong quá trình tưới tiêu, các kim loại nặng này bị rửa trôi xuống ao hồ, sông rạch, thâm nhập vào mạch nước ngầm gây ô nhiễm nguồn nước tưới rau Ngoài ra còn do nguồn nước thải của thành phố và các khu công nghiệp chứa nhiều kim loại nặng chuyển trực tiếp vào rau tươi

Biện pháp khắc phục dư lượng kim loại nặng trong quá trình trồng rau không trồng rau trong khu vực có chất thải của nhà máy, các khu vực đất đã bị ô nhiễm do sản xuất trước đó gây ra, không tưới rau bằng nguồn nước có nước thải của các nhà máy công nghiệp

1.1.2 Cơ sở lý luận về hành vi tiêu dùng

1.1.2.1 Khái quát về hành vi tiêu dùng

Hành vi người tiêu dùng hiện nay có hai định nghĩa tiêu biểu Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ thì : “Hành vi người tiêu dùng chính là sự tác động qua lại giữa

Trang 18

các yếu tố kích thích của môi trường với nhận thức và hành vi của con người mà qua sự tương tác đó, con người thay đổi cuộc sống của họ Hay nói cách khác, hành

vi tiêu dùng bao gồm những suy nghĩ và cảm nhận mà con người có được và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng Những yếu tố như ý kiến từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin về giá cả, bao bì, bề ngoài sản phẩm,… đều có tác động đến cảm nhận, suy nghĩ và hành vi khách hàng”

Ngoài ra, theo Philip Kotler (1993) thì: “Hành vi tiêu dùng là những hành vi

cụ thể của một cá nhân khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và vứt bỏ sản phẩm hay dịch vụ”

Qua hai định nghĩa đó, ta có thể xác định hành vi tiêu dùng là hành động của người tiêu dùng liên quan đến việc mua sắm và tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu Cách cư sử, thái độ của khách hàng khi quyết định mua sắm này hay sản phẩm khác Hành vi được thể hiện bằng phản ứng đáp lại của khách hàng đối với các kích thích của môi trường kinh doanh Hành vi phần lớn do cá tính của khách hàng quyết định

1.1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu hành vi tiêu dùng

Theo Lưu Thanh Đức Hải (2007) thì hành vi tiêu dùng là những biểu hiện mà

cá nhân biểu lộ trong quá trình tìm kiếm, đánh giá, mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ để thỏa mãn những nhu cầu và ước muốn của họ Nguyên nhân cho việc thực hiện nghiên cứu hành vi tiêu dùng vì:

- Khách hàng là nhân tố quyết định cho thành công của doanh nghiệp, thông qua đó khi làm hài lòng khách hàng, doanh nghiệp thực hiện được mục tiêu lợi nhuận của mình

- Hiểu biết về khách hàng vì chỉ có hiểu biết khách hàng thì doanh nghiệp mới thỏa mãn được nhu cầu, mong muốn của họ

- Phải tiếp cận khách hàng để nhận biết những động cơ thúc đẩy khách hàng mua sản phẩm, điều này giúp doanh nghiệp có thể cạnh tranh hiệu quả với các đối thủ cạnh tranh của mình

Trang 19

- Để triển khai được các sản phẩm mới và xây dựng các chiến lược Marketing kích thích việc mua hàng thì các doanh nghiệp phải nghiên cứu hành vi tiêu dùng cũng như thiết kế các sản phẩm có chức năng, hình dạng, kích thước, bao bì, màu sắc phù hợp với thị hiếu và sở thích của khách hàng và thu hút sự chú ý của khách hàng

Sự hiểu biết về hành vi tiêu dùng không những thích hợp với tất cả các loại hình doanh nghiệp mà còn cần thiết cho cả những tổ chức phi lợi nhuận và những

cơ quan Chính phủ liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và điều chỉnh các chính sách liên quan đến hoạt động Marketing.

1.1.2.3 Mô hình hành vi của người tiêu dùng

Mô hình hành vi của người tiêu dùng gồm 3 nhân tố cơ bản: các tác nhân kích thích, ý thức của người mua và những phản ứng đáp lại của người tiêu dùng

Kích

thích

Marketing

Các kích thích khác

Đặc điểm người mua

Quá trình quyết định mua hàng

Các quyết định của người mua

- Tìm kiếm thông tin

- Đánh giá các giải pháp

- Thái độ sau khi mua

Hình 1: Mô hình hành vi người tiêu dùng

(Nguồn: Philip Kotler và Gary Armstrong, 1997)

Tác nhân kích thích là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài người tiêu dùng, có thể gây ảnh hưởng đến người tiêu dùng

Trang 20

- Kích thích Marketing: Đây là những hoạt động Marketing của doanh nghiệp tác động vào người tiêu dùng một cách có chủ đích thông qua các chương trình, chiến dịch Marketing 4P Doanh nghiệp có khả năng kiểm soát các kích thích này

- Các kích thích khác: Là những tác nhân thuộc môi trường bên ngoài, doanh nghiệp không điều kiện, kiểm soát được Bao gồm các nhân tố thuộc môi trường vĩ

mô Các nhân tố này có thể gây ra rủi ro hay thuận lợi cho doanh nghiệp, việc doanh nghiệp cần làm là dự báo và đưa ra các kế hoạch để giảm thiểu rủi ro và khai thác tối đa lợi nhuận

Ý thức người tiêu dùng bao gồm hai thành phần là đặc điểm người tiêu dùng

và quá trình quyết định mua hàng

- Đặc điểm của người tiêu dùng là các tác nhân kích thích tác động vào khách hàng và khách hàng tiếp nhận những kích thích đó với những đặc tính của mình (tính cách, tuổi tác, giới tích, hoàn cảnh gia đình, thu nhập,…) Khách hàng xử lý thông tin tiếp nhận được theo cách riêng của họ: cân nhắc, so sánh,… và đưa ra quyết định mua hoặc không mua hàng

- Quá trình quyết định mua sắm là toàn bộ lộ trình người tiêu dùng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự xuất hiện mong muốn-nhu cầu-tìm kiếm thông tin-tiêu dùng-cảm nhận có được sau khi tiêu dùng

Phản ứng đáp lại của người tiêu dùng là những phản ứng người tiêu dùng bộc

lộ trong quá trình trao đổi mà ta có thể quan sát được Có thể nói cách khác là tập hợp các cảm xúc, thái độ, hành động của người tiêu dùng khi tiếp cận với các kích thích

1.1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

Từ mô hình hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler và Gary Armstrong (1997) thì có 4 nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng: văn hóa, xã hội, cá nhân và tâm lý Đây là những nhân tố thuộc môi trường bên ngoài mà doanh nghiệp không thể kiểm soát được Đây cũng là những tác nhân đóng vai trò hình thành và tạo ra những biến đổi về đặc tính trong hành vi người tiêu dùng Dựa vào các yếu tố này, các kích thích Marketing có thể tác động tới hành vi người tiêu dùng

Trang 21

 Văn hóa

Văn hóa là nhân tố có ảnh hưởng sâu rộng nhất tới hành vi tiêu dùng và

là lực lượng cơ bản biến một nhu cầu thành mong muốn Ba vấn đề trọng tâm khi nghiên cứu ảnh hưởng của văn hóa là nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội

- Nền văn hóa: là yếu tố quyết định cơ bản nhất những mong muốn và hành vi của một người Mỗi người ở một nền văn hóa khác nhau sẽ có những cảm nhận về giá trị của hàng hóa, về cách ăn mặc,… khác nhau Do đó những người sống trong môi trường văn hóa khác nhau sẽ có hành vi tiêu dùng khác nhau (cảm nhận về giá trị hàng hóa khác nhau)

- Nhánh văn hóa: là bộ phận cấu thành nhỏ hơn của một nền văn hóa Nhánh văn hóa tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn cho những thành viên của nó Người ta có thể phân chia nhánh văn hóa theo các tiêu thức như: địa lý, dân tộc, tôn giáo Các nhánh văn hóa khác nhau có lối sống riêng, phong cách tiêu dùng riêng và tạo nên những phân khúc thị trường quan trọng (lối sống, phong cách, tiêu dùng)

- Tầng lớp xã hội: hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ sự phân tầng xã hội Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống đẳng cấp theo đó những thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ

để đảm nhận những vai trò nhất định, thường gặp hơn là trường hợp phân tầng thành các tầng lớp xã hội Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững trong xã hội được xếp theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi

 Xã hội

Thực tế cho thấy hành vi của người tiêu dùng gắn liền với cộng đồng xã hội của họ Những nhân tố xã hội cơ bản ảnh hưởng đến hành vi gồm: nhóm tham khảo, gia đình và địa vị xã hội

- Nhóm tham khảo là nhóm có ảnh hưởng đến hành vi của một người Nhóm tham khảo của một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp

Trang 22

đến một người gọi là những nhóm thành viên Đó là những nhóm mà người đó tham gia và có tác động qua lại Có những nhóm là nhóm sơ cấp như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng và đồng nghiệp mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên Các nhóm sơ cấp có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn

- Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng

có ảnh hưởng lớn nhất Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người mua, do từ bố mẹ mà một người có được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức về tham vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu Ngay cả khi người mua không còn quan hệ nhiều với bố mẹ thì ảnh hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người mua vẫn có thể rất lớn Một ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó, tức là vợ chồng và con cái Gia đình là một tổ chức mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội và nó đã được nghiên cứu rất nhiều năm

- Vai trò và địa vị xã hội: lối tiêu dùng của một người phụ thuộc khá nhiều vào địa vị xã hội của người đó, đặc biệt là các mặt hàng có tính thể hiện cao như quần áo, giày dép, xe cộ… Những người thuộc cùng một tầng lớp xã hội có khuynh hướng hành động giống nhau hơn so với những người thuộc hai tầng lớp xã hội khác nhau Những người có địa vị xã hội như thế nào thường tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tương ứng như thế Những người có địa vị cao trong xã hội chi tiêu nhiều hơn vào hàng hóa xa xỉ, cao cấp như dùng đồ hiệu, chơi golf,…

 Cá nhân

Những quyết định của người mua cũng chịu ảnh hưởng của những đặc điểm cá nhân, nổi bật nhất là tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống của người mua, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, lối sống, nhân cách và tự ý niệm của người đó Thông thường, người ta mua hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt cuộc đời mình Họ

ăn thức ăn thức ăn của trẻ sơ sinh trong những năm đầu đời và sử dụng phần lớn thực phẩm trong những năm lớn lên và trong giai đoạn trưởng thành, sau đó họ sẽ

sử dụng những thức ăn kiêng cữ trong những năm cuối đời Thị hiếu về quần áo, đồ

Trang 23

gỗ và cách giải trí cũng tùy theo tuổi tác, việc tiêu dùng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống

Ngoài ra nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của họ, người công nhân thường sẽ mua quần áo lao động, giày đi làm,… giám đốc công ty sẽ mua quần áo đắt tiền, thường xuyên đi du lịch, tham gia các công lạc bộ Việc nắm bắt được nghề nghiệp của từng cá nhân sẽ giúp chuyên môn hóa và đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng cho từng nhu cầu khác nhau Thêm vào đó việc lựa chọn sản phẩm cũng chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh tế của người

đó, những người có thu nhập cao sẽ có khuynh hướng tiêu dùng khác người có thu nhập thấp

Mỗi cá nhân có một nhân cách riêng biệt có ảnh hưởng đến hành vi của người đó, ở đây nhân cách có nghĩa là những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng tương đối nhất quán và lâu bền với môi trường của mình Nhân cách thường được mô tả bằng những nét như tự tin, có uy lực, tính độc lập, lòng tộn trọng, tính chan hòa, tính kín đáo,… nhân cách được xem như một phần quan trọng trong phân tích hành vi của người tiêu dùng vì mỗi nhân cách khác nhau sẽ có cách tiêu dùng, cách lựa chọn sản phẩm và lòng tin khác nhau

 Tâm lý

Việc lựa chọn mua sản phẩm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố thuộc phạm trù tâm lý gồm động cơ, sự cảm nhận, sự hiểu biết, niềm tin và thái độ

Động cơ: tại bất kỳ thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học, chúng nảy sinh từ những trạng thái căn thẳng về sinh lý như đói, khát, khó chịu Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý, chúng nảy sinh từ trạng thái căng thẳng về tâm lý, như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được gần gũi về tinh thần Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức Một nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó tăng lên đến một mức độ đủ mạnh

Trang 24

Một động cơ hay một sự hối thúc là một nhu cầu có đủ sức mạnh để thôi thúc người

ta hành động Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng

Maslow (1943) đã tìm cách giải thích tại sao ở những thời điểm khác nhau người ta bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau Tại sao có người đã dành nhiều thời gian và sức lực để đảm bảo an toàn cá nhân và có người lại cố gắng giành sự kính trong của người xung quanh Maslow cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất Theo thứ tự tầm quan trọng các nhu cầu đó được sắp xếp như sau: những nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết là những nhu cầu quan trọng nhất Khi người

ta đã thỏa mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa, người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo

Sự cảm nhận: một người có động cơ luôn sẵn sàng hành động Vấn đề người có động cơ sẽ hành động như thế nào trong thực tế còn chịu ảnh hưởng từ sự nhận thức của người đó về tình huống lúc đó Nhận thức được định nghĩa là một quá trình thông qua đó cá thể tuyển chọn, tổ chức và giải thích thông tin tạo ra một bức tranh có ý nghĩa về thế giới xung quanh Nhận thức không chỉ phụ thuộc vào những tác nhân vật lý mà còn phụ thuộc vào cả mối quan hệ của các tác nhân đó với môi trường xung quanh và những điều kiện bên trong cá thể đó

Sự hiểu biết: con người có khả năng khái quát hóa và có sự phân biệt khi tiếp xúc với những hàng hóa có kích thước tương tự nhau Khi người tiêu dùng hiểu biết về hàng hóa họ sẽ tiêu dùng một cách có lợi nhất

Niềm tin và thái độ: các nhà sản xuất rất quan tâm đến những niềm tin

mà người tiêu dùng mang trong đầu mình về những sản phẩm và dịch vụ của mình Những niềm tin đó tạo nên những hình ảnh của sản phẩm cũng như nhãn hiệu và người ta hành động theo những hình ảnh đó

Thái độ diễn tả những đánh giá tốt hay xấu dựa trên nhận thức bền vững, những cảm giác cảm tính và những xu hướng hành động của một người đối với một khách thể hay một ý tưởng nào đó Thái độ dẫn họ đến quyết định thích hay không

Trang 25

thích một đối tượng nào đó Thái độ làm cho người ta xử sự khá nhất quán đối với những sự vật tương tự Người ta không phải giải thích và phản ứng với mỗi sự vật theo một cách mới Thái độ cho phép tiết kiệm sức lực và trí óc Vì thế mà khó thay đổi được thái độ Thái độ của một người được hình thành theo khuôn mẫu nhất quán, nên muốn thay đổi phải thay đổi luôn những thái độ khác

1.1.2.5 Quá trình tạo quyết định mua

Theo Maslow (1943) thì quá trình tạo quyết định mua diễn ra khá phức tạp, là một chuỗi các giai đoạn mà người tiêu dùng trải qua trong việc ra quyết định mua sản phẩm hoặc dịch vụ Quá trình đó trải qua 5 giai đoạn

a) Nhận thức được nhu cầu: nhu cầu có thể được hiểu/nhận ra nhanh bởi những tác động bên trong và bên ngoài Các tác động bên trong như đói, khát sẽ tác động lên ý thức và trở thành một sự thôi thúc Do kinh nghiệm trước đó, người ta sẽ tìm cách giải quyết sự thôi thúc này và sẽ dẫn đến một đối tượng mà người ấy biết

sẽ thỏa mãn sự thôi thúc Các tác động bên ngoài như một chương trình quảng cáo

về một sản phẩm/nhãn hiệu nào đó sẽ dẫn khách hàng nhận biết một vấn đề gì đó (hay một nhu cầu)

b) Tìm kiếm thông tin: một người tiêu dùng khi đã có nhu cầu thì họ bắt đầu tìm kiếm thông tin hoặc không tìm kiếm thông tin

c) Đánh giá các giải pháp: do khách hàng có những nguồn thông tin khác nhau

và những suy nghĩ khác nhau dẫn đến những cụm sản phẩm lựa mua khác nhau, từ

đó khách hàng sẽ chọn những nhãn hiệu sản phẩm để mua

d) Quyết định mua hàng: sau khi tiến hành đánh giá các giải pháp người tiêu dùng tiến hành mua hàng Quá trình này có thể chịu ảnh hưởng từ người khác e) Cân nhắc sau khi mua hàng: sau khi mua hàng khách hàng có thể thỏa mãn hoặc không thỏa mãn về sản phẩm Nếu sản phẩm đáp ứng được các mong đợi, khách hàng sẽ thỏa mãn ngược lại nếu chưa đáp ứng được khách hàng sẽ không hài lòng Người tiêu dùng thường đặt mong đợi của họ dựa trên quảng cáo mà họ nhận được từ nhà sản xuất, người bán, bạn bè, người thân,… Sau khi mua nếu hài lòng

Trang 26

người tiêu dùng có thể sẽ mua sản phẩm đó trong lần tới, ngược lại khi bất mãn họ

sẽ có những thái độ khác nhau để thể hiện sự bất mãn

1.1.3 Một số quy trình sản xuất rau thông dụng

1.1.3.1 Quy trình IPM

Những năm gần đây các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (gọi tắt là IPM) đã ngày càng phổ biến bởi việc thực hiện theo quy trình IPM vừa tăng hiệu quả cho những cánh đồng, vườn rau, vừa giảm chi phí sản xuất, an toàn hơn đối với người sản xuất và người tiêu dùng

 Khái niệm về IPM

Quản lý dịch hại tổng hợp là một hệ thống điều khiển dịch hại bằng cách

sử dụng hài hòa những biện pháp kỹ thuật một cách thích hợp trên cơ sở phân tích

hệ sinh thái đồng ruộng một cách hợp lý để giữ cho chủng quần dịch hại luôn ở dưới ngưỡng gây hại kinh tế

 Quy trình của IPM

Quy trình IPM gồm 5 bước cơ bản:

- Biện pháp canh tác kỹ thuật: sử dụng thực tiễn canh tác có liên quan tới sản xuất cây trồng, hạn chế tối đa môi trường sống và sinh sản của các loài dịch hại, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho cây trồng phát triển khỏe, có sức chống dịch hại cao

- Biện pháp sử dụng giống: sử dụng các loại giống mà khi dịch hại tấn công thường ít hay không gây ảnh hưởng thiệt hại về mặt kinh tế

- Đấu tranh sinh học và cách phòng trừ sinh học: trong hệ thống sinh thái luôn có mối quan hệ dinh dưỡng, các thành phần trong chuỗi dinh dưỡng luôn khống chế lẫn nhau để chúng hài hòa về số lượng, đó là sự đấu tranh sinh học trong

tự nhiên Trong sản xuất nên lợi dụng đặc tính này để hạn chế sự can thiệp của con người

- Biện pháp điều hòa: tổ chức việc kiểm dịch, khử trùng nhằm ngăn chặn dịch hại

Trang 27

- Biện pháp sử dụng hóa chất khi cần thiết và hợp lý: đây là biện pháp cuối cùng sau khi áp dụng các biện pháp trên không hiệu quả, khi mật độ dịch hại phát triển đến ngưỡng gây thiệt hại về kinh tế Tuy nhiên sử dụng thuốc phải cân nhắc kỹ theo nguyên tắc 4 đúng và đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng

1.1.3.2 Quy trình GAP

 Khái niệm về GAP

Tháng 9 năm 2003, tổ chức người bán lẻ và cung cấp ở Châu Âu EUREP (European Retail Products) công bố tiêu chuẩn EUREPGAP (European Retail Products Good Agriculture Practice) cho thị trường này và hàng hóa của các nước muốn vào thị trường này phải tuân theo Đồng thời đó cũng là những thỏa thuận về các tiêu chuẩn và thủ tục nhằm phát triển nền sản xuất nông nghiệp bền vững với mục đích đảm bảo: một là thực phẩm an toàn, hai là an sinh cho người lao động và

ba là bảo vệ môi trường

 Nguyên tắc sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn GAP

- Chọn đất: đất để trồng rau phải là đất cao, thoát nước tốt, thích hợp với quá trình sinh trưởng, phát triển của rau Tốt nhất là đất cát pha, đất thịt nhẹ hoặc đất thịt trung bình có tầng canh tác dày 20-30 cm Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp nặng và bệnh viện ít nhất 2 km, với chất thải sinh hoạt của thành phố 200m Đất có thể chứa một lượng nhỏ kim loại nhưng không được tồn dư hóa chất độc hại

- Nước tưới: vì trong rau xanh chứa trên 90% là nước nên việc tưới nước

có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm Nếu không có nước giếng cần dùng nước sông, ao, hồ không bị ô nhiễm Nước sạch còn dùng để pha các loại phân bón lá, thuốc bảo vệ thực vật,… Đối với các loại rau ăn quả giai đoạn đầu có thể sử dụng nước từ mương, sông, hồ để tưới rãnh

- Giống: chỉ gieo những hạt giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh, không có mầm bệnh Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống Hạt giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật Trước khi gieo trồng hạt giống phải được xử lý hóa

Trang 28

chất hoặc nhiệt Trước khi trồng cây con xuống ruộng cần xử lý Sherpa 0,1% để phòng và trừ sâu hại

- Phân bón: mỗi loại cây có chế độ bón và lượng bón khác nhau Trung bình để bón lót dùng 15 tấn phân chuồng và 300 kg lân hữu cơ vi sinh trên 1 ha

- Bảo vệ thực vật: không sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật thuộc nhóm độc I và II, khi thật cần thiết có thể sử dụng nhóm III và IV Nên chọn các loại thuốc có hoạt chất thấp, ít độc hại với ký sinh thiên địch Kết thúc phun thuốc hóa học trước khi thu hoạch ít nhất 5 đến 10 ngày

- Thu hoạch, đóng gói: rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ các lá già, héo, quả bị sâu, dị dạng Rau được rửa kỹ bằng nước sạch, để ráo cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng Trên bao bì phải có phiếu bảo hành ghi rõ địa chỉ nơi sản xuất nhằm đảm bảo quyền lợi cho người tiêu dùng

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Có thể thấy hiện nay vấn đề rau an toàn tại thành phố Cần Thơ được khá nhiều người quan tâm, đặc biệt là các chuyên gia nước ngoài Trong một nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Axis –chương trình GTZ (2005) đã thực hiện nghiên cứu về chuỗi giá trị hàng rau quả ở thành phố Cần Thơ với phương pháp tiếp cận là phân tích chuỗi giá trị ngành hàng đã chỉ ra rằng mặc dù chương trình sản xuất rau an toàn đã đạt được những kết quả nhất định như nâng cao nhận thức cho nông dân về giống, kĩ thuật trồng rau an toàn, nâng cao năng suất cây trồng nhưng vẫn còn nhiều khó khăn xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan như trình độ nông dân còn thấp, hệ thống thủy lợi chưa hoàn chỉnh, qui trình xử lí sản phẩm sau thu hoạch chưa có,… Tuy nhiên, đây vẫn là hướng phát triển mà các cấp ngành Cần Thơ đang quan tâm, tìm ra giải pháp thích hợp để mở rộng quy mô vùng sản xuất rau an toàn với sản lượng và chất lượng ổn định Ngoài ra trong một nghiên cứu khác của nhóm nghiên cứu Axis cũng được thực hiện trong năm 2005 với phương pháp thảo luận nhóm đã cho thấy hiện nay một số nơi tại Cần Thơ nông dân đang triển khai trồng rau an toàn, tuy nhiên diện tích trồng rau còn rất nhỏ so với trái cây,

Trang 29

chưa qui hoạch thành khu vực rộng Theo kết quả phỏng vấn chuyên sâu, diện tích trung bình của một hộ trồng rau từ 200-500m2 Bên cạnh đó, theo báo cáo của sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn & Đại Học Cần Thơ, thì tỷ lệ nông dân có nhiều kinh nghiệm trong canh tác rau còn thấp, chủ yếu tập trung ở nhóm có từ 1-5 năm kinh nghiệm, hầu như chưa hộ nông dân nào đạt tiêu chuẩn rau an tòan cho đến thời điểm cuối 2004 Thông qua thảo luận với nông dân, Axis cũng nhận định rằng: cũng giống như ở một số thành phố khác (Hồ Chí Minh, Đà Lạt, ) người nông dân Cần Thơ nắm khá vững yêu cầu, quy định về trồng rau an tòan Tuy nhiên để thực hiện nghiêm ngặt các quy định này, họ phải thực sự an tâm về đầu ra vì chi phí cho rau an tòan cao, đầu tư nhiều (nhà lưới, phân bón,…) lại ít có nơi thu mua, cũng như chưa có các cửa hàng chuyên biệt bán rau an toàn để tiêu thụ được sản phẩm (như tại thành phố Hồ Chí Minh) hoặc xuất khẩu số lượng lớn (Đà Lạt) khiến rau

an tòan vẫn còn được sản xuất với sản lượng thấp, chủ yếu phục vụ các siêu thị trên địa bàn thành phố (Metro, Coopmart, Vinatex) Cũng từ kết quả nghiên cứu này cho thấy hiện nay các hộ nông dân Cần Thơ đang trồng nhiều các loại rau ăn lá, rau gia

vị (rau thơm, ngò rí, cải bẹ xanh, húng cây, xà lách, tần ô,…) và rau ăn quả (mướp,

bí, dưa leo, chanh, cà chua,…) Ngọai trừ một số lọai rau quả như cà chua, đậu cove v.v…thường được dành riêng đất cho việc trồng, các lọai khác được trồng chủ yếu xen canh với cây lúa (2 lúa 1 màu) Mỗi năm, các hộ nông dân trồng trung bình luân phiên trên cùng diện tích từ 2 đến 5 loại rau, mỗi loại cách nhau khoảng 1 tháng (rau lá), có khi 2-3 tháng (rau củ, quả) Việc thu hoạch rau trong một năm của nông dân Cần Thơ trung bình từ 3 đến 6 lần/năm (tùy loại rau trồng), tập trung vào tháng 3-4 và tháng 8-9 Âm lịch Lợi nhuận đạt trung bình từ 2-3 triệu đồng/1.000m2

Hai nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Axis đã giúp tác giả đề tài thấy được phần nào thực trạng về sản xuất rau an toàn hiện nay tại thành phố Cần Thơ trước khi tiến hành nghiên cứu cũng như biết được những sản phẩm rau an toàn đang được trồng chủ yếu tại thành phố, những nơi tiêu thụ rau an toàn phổ biến hiện nay tại Cần Thơ

Trang 30

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Ngoài các nghiên cứu của các chuyên gia nước ngoài thì rau an toàn tại thành phố Cần Thơ cũng được một số tác giả trong nước tiến hành nghiên cứu Trần Văn Hai (2003) cho một kết quả nghiên cứu khác với nhóm nghiên cứu Axis, nghiên cứu cho thấy hiện thành phố Cần Thơ chưa xây dựng được những vùng chuyên canh sản xuất rau an toàn với qui mô và diện tích lớn Các điểm trồng rau an toàn còn nhỏ lẻ, manh mún vì nhiều nguyên do Một số điểm trồng rau an toàn trước đây như phường Hưng Thạnh (quận Cái Răng), phường An Bình (quận Ninh Kiều) rơi vào vùng đất qui hoạch nên nông dân không dám phát triển mô hình Mặt khác, phần lớn các vùng trồng rau an toàn của địa phương hoặc các dự án sản xuất, rất ít nông

hộ tự đầu tư kinh phí để trồng vì không bảo đảm được đầu ra cho sản phẩm Thị trường tiêu thụ rau an toàn là một vấn đề đang được nhiều người quan tâm Ngoài một số siêu thị có uy tín để người tiêu dùng yên tâm khi chọn mua rau an toàn, rất ít chợ có đầu mối tiêu thụ rau an toàn vì không có gì chứng minh với người tiêu dùng đây thực sự là rau an toàn Do đó, rất nhiều ý kiến đề xuất là rau an toàn cần được đóng gói, có nhãn hiệu, có bao bì, có giấy chứng nhận của các cơ quan chức năng

để người tiêu dùng tin tưởng Song song đó, việc xây dựng các mạng lưới kinh doanh, phân phối rau an toàn cần được quan tâm đầu tư bởi có tìm được thị trường tiêu thụ sản phẩm, nông dân mới yên tâm sản xuất

Tại một địa bàn nghiên cứu khác, Nguyễn Thanh Việt (2012) đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn và

đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long Số liệu thu thập từ điều tra thực tế tập trung tại 3 huyện là Long Hồ, Bình Tân, Bình Minh Đối tượng phỏng vấn gồm người sản xuất

an toàn, thương lái, người bán lẻ, chuyên gia và người tiêu dùng Kết quả nghiên cứu đã phác họa rõ nét thực trạng trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn nghiên cứu Những điểm đáng chú ý là người trồng rau có kinh nghiệm lâu năm, có tâm huyết với nghề, điều kiện tự nhiên như đất, nước, khí hậu rất phù hợp để phát triển vùng rau an toàn Chính quyền địa phương cũng đã hỗ trợ hiệu quả cho nông

Trang 31

dân như tập huấn, chuyên biệt hóa vùng trồng rau như vùng chuyên trồng rau ăn lá

ở hợp tác xã Phước Hậu huyện Long Hồ, khoai lang ở huyện Bình Minh, đậu bắp,

xà lách, cải xoang ở huyện Bình Tân Những thách thức trong việc sản xuất và tiêu thụ rau an toàn hiện nay chủ yếu do người tiêu dùng chưa phân biệt được rau an toàn và rau thường, chưa có hệ thống kiểm soát quá trình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn, nhiều nơi trồng rau an toàn nhỏ lẻ và tự phát và giá các yếu tố đầu vào cao dẫn đến sản xuất không hiệu quả

Mở rộng địa bàn nghiên cứu trên toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long với sản phẩm rau an toàn, tác giả Bùi Văn Thời (2008) trong một nghiên cứu của mình đã tập trung phân tích thực trạng sản xuất và tiêu thụ rau an toàn ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó hoạt động nghiên cứu chủ yếu tại tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long,

An Giang và thành phố Cần Thơ Thông qua các đơn vị sản xuất như hợp tác xã, tổ

và nhóm sản xuất rau an toàn ở các địa phương trên đã phản ánh rõ nét về tình hình sản xuất rau an toàn trong vùng Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long đều ý thức được tầm quan trọng của việc sản xuất rau an toàn để phục vụ cho nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Điều

đó được khẳng định khi tất cả địa phương trong khu vực đã và đang triển khai sản xuất rau an toàn đồng thời có những chương trình hỗ trợ, khuyến khích người dân tham gia sản xuất Thêm vào đó, cũng như kết quả nghiên cứu của Trần Văn Hai (2003) thì hầu hết những nơi sản xuất rau an toàn có quy mô nhỏ lẻ và tổ chức quản

lý lỏng lẻo đôi khi tự phát Hơn nữa dù đã được tập huấn tham quan các mô hình sản xuất rau an toàn nhưng do ý thức kém mà vẫn còn tình trạng người sản xuất không tuân thủ đầy đủ quy trình sản xuất rau, dẫn đến sản phẩm có chất lượng không đảm bảo gây khó khăn trong tiêu thụ Ngoài ra trong đề tài này còn nghiên cứu về tình hình tiêu thụ rau an toàn mà chủ yếu thông qua kênh phân phối, xem xét tính chi phí marketing, lợi nhuận và sự phân phối giá trị gia tăng của một số mặt hàng rau qua quá trình tiêu thụ là: người sản xuất, thương lái, hệ thống bán lẻ và công ty chế biến Mặt khác đề tài cũng đã sử dụng lý thuyết về quản lý kênh marketing và thiết lập kênh tiêu thụ tối ưu như: phân tích cấu trúc thị trường, phát

Trang 32

triển hệ thống kênh phân phối “lý tưởng”, phân tích sai biệt và hình thành kênh phân phối hiệu quả Cuối cùng để đề ra các giải pháp marketing nhằm nâng cao hiệu quả tiêu thụ rau an toàn ở Đồng bằng sông Cửu Long đề tài sử dụng chiến lược marketing hỗn hợp (4P) trong đó tập trung vào mảng phân phối và chiêu thị

Ngoài ra nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận và Võ Thành Danh (2011) nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ được tiến hành dựa trên phỏng vấn trực tiếp 100 người hiện đang tiêu dùng rau

an toàn Nghiên cứu được tiến hành theo cách tiếp cận cầu theo lý thuyết hành vi tiêu dùng Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp và số liệu điều tra sơ cấp Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hàng năm của thành phố Cần Thơ, niên giám thống kê và kết quả nghiên cứu của những nghiên cứu trước trong và ngoài nước trong lĩnh vực rau an toàn Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp đánh giá nông thôn đối với các đối tượng là người sản xuất rau an toàn và đánh giá chuyên gia đối với các nhà cung ứng (thu gom), phân phối sản phẩm (các siêu thị và cửa hàng bán rau an toàn) Ngoài ra, để phân tích hành vi tiêu dùng và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng, nghiên cứu cũng tiến hành điều tra trực tiếp 100 người tiêu dùng cá nhân hiện đang có sử dụng rau an toàn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trên địa bàn thành phố Cần Thơ thông qua bảng câu hỏi điều tra Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, rau an toàn được cung cấp chủ yếu trong hệ thống siêu thị Phần lớn người tiêu dùng rau an toàn có thu nhập tương đối cao Có ba yếu

tố ảnh hưởng đến tiêu dùng rau an toàn, đó là: khoảng cách mua hàng, lòng tin của khách hàng, và tính sẵn có của sản phẩm Để phát triển ngành rau an toàn tại thành phố Cần Thơ, các giải pháp được đề xuất: phát triển thêm điểm bán hàng, đa dạng hóa hệ thống phân phối nhằm tạo sự thuận tiện hơn cho người tiêu dùng trong việc mua hàng, các nhà phân phối và nhà sản xuất nên kết hợp xây dựng nhãn hiệu/thương hiệu cho sản phẩm nhằm tăng lòng tin của khách hàng, và tổ chức lại sản xuất theo hình thức tổ/nhóm hợp tác, câu lạc bộ hoặc hợp tác xã

Từ những lược khảo tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, tác giả tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân

Trang 33

thành phố Cần Thơ dựa trên cách tiếp cận từ mô hình hành vi tiêu dùng, phương pháp thu mẫu thuận tiện, phương pháp thống kê mô tả và phân tích tần số mà các lược khảo trước đã sử dụng Bên cạnh đó, việc tập trung nghiên cứu riêng cho đối tượng người tiêu dùng tại thành phố Cần Thơ là một điểm mới của đề tài vì hiện nay đa số các nghiên cứu đối với rau an toàn đều tập trung nhiều vào khâu sản xuất trong khi đó việc nhìn nhận của người tiêu dùng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tiêu thụ rau an toàn Để có thể nghiên cứu các yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn tác giả sử dụng phân tích nhân tố khám phá dựa trên các tài liệu tham khảo và khảo sát điều chỉnh cho địa bàn nghiên cứu Từ các nhân

tố khám phá sẽ đưa vào mô hình hồi quy Binary Logistic nhằm xác định các nhân tố

có ảnh hưởng đến quyết định sử dụng rau an toàn của người dân thành phố Cần Thơ

từ đó đề xuất các giải pháp cho các đối tượng liên quan nhằm giúp phát triển ngành hàng rau an toàn trên địa bàn thành phố Cần Thơ Đây chính là điểm khác biệt của

đề tài so với các nghiên cứu trước

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Cần Thơ nằm trong vùng trung-hạ lưu và ở vị trí trung tâm châu thổ đồng bằng song Cửu Long, trải dài trên 55km dọc bờ Tây sông Hậu, tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2, chiếm 3,5% diện tích toàn vùng Phía Bắc giáp tỉnh

An Giang, phía Đông giáp Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giảng, phía Nam giáp tỉnh Hậu Giang

Thành phố Cần Thơ có tọa độ địa lý 105013’38’’ – 105050’35’’ kinh độ Đông và 9055’08’ – 10019’38’’ vĩ độ Bắc Đơn vị hành chính của Cần Thơ gồm 5 quận: Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ôn Môn, Thốt Nốt và 4 huyện gồm Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thới Lai với 85 đơn vị hành chính cấp xã phường thị trấn

độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa trong năm nên thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra một hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo nên sự đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất Tuy nhiên do mùa mưa thường đi

Trang 35

kèm với ngập lũ ảnh hưởng đến 50% diện tích toàn thành phố còn mùa khô thì đi kèm với việc thiếu nước tưới gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn

2.1.1.3 Thủy văn

Về thủy văn, sông Hậu là con sông lớn với tổng chiều dài chảy qua thành phố Cần Thơ là 65km, tổng lượng nước sông Hậu đổ ra biển là 200 tỷ m3/năm (chiếm 41% tổng lượng nước của sông Mekong), lưu lượng nước bình quân tại Cần Thơ là 14.800m3/giây, tổng lượng phù sa của sông Hậu là 35 triệu m3/năm (chiếm gần ½ tổng lượng phù sa sông Mekong)

Sông Cần Thơ bắt nguồn từ nội đồng tây sông Hậu, có chiều dài khoảng 16km, chiều rộng 280-350m, đi qua các quận Ninh Kiều, quận Cái Răng, quận Ôn Môn, huyện Phong Điền Sông có nước ngọt quanh năm, vừa có tác dụng tưới nước trong mùa cạn vừa có tác dụng tiêu úng trong mùa lũ và có ý nghĩa lớn về giao thông Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc với 158 sông, rạch lớn nhỏ và phụ lưu của 2 sông lớn là sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua thành phố, nối thành mạng đường thủy Các sông rạch lớn khác là rạch Bình Thủy, Trà Nóc, Ôn Môn, Thốt Nốt, kênh Tham Rôn,… cho nước ngọt suốt 2 mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất

2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội thành phố Cần Thơ

2.1.2.1 Dân số - Dân cư – Lao động

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, tính đến năm 2011, tổng

dân số trên địa bàn TP Cần Thơ đạt mức 1.200.300 người với mật độ 852

người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800 người, dân số sống tại nông thông đạt 408.500 người Dân số nam đạt 600.100 người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,2 ‰

Về độ tuổi, Cần Thơ là địa phương có dân số trẻ mặc dù mức sinh đã giảm nhưng kết cấu dân số vẫn trẻ với tiềm năng lao động lớn Xét về giới tính, dân

số Cần Thơ có nữ nhiều hơn nam, tuy nhiên, mức chênh lệch không đáng kể và không thay đổi nhiều qua các năm Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm

Trang 36

2004, số nữ trung bình của thành phố là 571.000 người, chiếm 50,8% dân số toàn thành phố và năm 2008, số nữ trung bình của thành phố là 592.400 người, chiếm 50,6% dân số toàn thành phố

Về lực lượng lao động, Cần Thơ có dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào Tính đến cuối năm 2012 tổng số lao động đang làm việc trong các ngành nghề tài thành phố Cần Thơ là 650.942 lao động, trong đó tập trung nhiều lao động nhất là ngành nông lâm, ngư nghiệp với tỷ lệ 38,5% tiếp theo là thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng với 22,3%, ngành nghề công nghiệp khai thác mỏ có số lao động ít nhất chỉ chiếm 0,1%

BẢNG 2.1 Cơ cấu lao động tại thành phố Cần Thơ năm 2012

độ tăng trưởng kinh tế của thành phố ước đạt 8,4%, trong khi đó cùng kỳ năm 2011 mức tăng là 12,2% Thu nhập bình quân đầu người của Cần Thơ 6 tháng đầu 2012 ước đạt 1.819 USD Tỷ trọng nông nghiệp thủy sản chiếm 10,8%, công

Trang 37

nghiệp xây dựng chiếm 44,5% và dịch vụ thương mại chiếm 44,7% Giá trị sản xuất nông nghiệp thủy sản thực hiện được 1.617 tỉ đồng, đạt 39,5% kế hoạch cả năm, công nghiệp xây dựng thực hiện được 12.433 tỉ đồng, đạt 38,6% kế hoạch cả năm, dịch vụ thương mại ước thực hiện được 7.309 tỉ đồng, đạt 37% kế hoạch cả năm Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện được 3.443 tỉ đồng, đạt 41% dự toán Hội đồng nhân dân thành phố giao Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 16.770 tỉ đồng

Ngành nông nghiệp - thủy sản phát triển theo hướng sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ-kỹ thuật cao và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và hiệu quả cao với mô hình đa canh bền vững; gắn với công nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ Mặc dù tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp giảm, song giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 5,3%, trong đó nông nghiệp giảm bình quân 1,6%, thủy sản tăng bình quân 14,1% Cơ cấu GDP nội bộ ngành nông-lâm nghiệp-thủy sản có sự chuyển dịch tích cực, so với năm 2005: tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp giảm 3,4%, tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành thủy sản tăng 3,8% và tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp giảm 0,4% Diện tích canh tác lúa ổn định trong khoảng 93.000-96.000ha, sản lượng lúa

ổn định ở mức 1,1-1,2 triệu tấn/năm, lúa chất lượng cao chiếm trên 80%; rau-màu tập trung khu vực ven sông Hậu, khoảng 8.000ha, sản lượng 96.000 tấn; cây công nghiệp ngắn ngày diện tích khoảng 5.000ha, sản lượng 5.500 tấn Kinh tế vườn diện tích khoảng 15.000ha, sản lượng 100.000-110.000 tấn/năm

Khối lượng hàng hóa lưu thông trên thị trường liên tục tăng với tốc độ cao, tổng mức hàng hóa bán ra tăng bình quân 26,5%/năm, vượt 4,1% so với kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 (kế hoạch 22,4%/năm) và tăng cao so giai đoạn trước (giai đoạn 2001 - 2005 tăng 13,2%/năm), tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng bình quân 25,3%/năm, thấp hơn 0,7%/năm so với kế hoạch 5 năm 2006-2010 (kế hoạch tăng 26%/năm) và tăng cao so giai đoạn trước (giai đoạn 2001-2005 tăng 16%/năm) Công tác xúc tiến thương mại được tăng cường, các doanh nghiệp của thành phố có quan hệ xuất nhập khẩu với hơn 97 quốc gia và vùng lãnh thổ Tổng

Trang 38

kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ ước thực hiện 5 năm đạt 3.701 triệu USD, vượt 2,5% so với kế hoạch 5 năm 2006-2010, tăng bình quân 19,8%; trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 3.569,6 triệu USD, tăng bình quân 20,6% Dịch vụ thu ngoại tệ ước thực hiện 5 năm đạt 131,5 triệu USD, đạt 48,1% kế hoạch, tăng bình quân 4,2%/năm Trong 5 năm 2006-2010, thành phố Cần Thơ đã cấp mới giấy chứng nhận đầu tư cho 35 dự án, vốn đăng ký 631,6 triệu USD; vốn điều chỉnh tăng thêm 58 triệu USD; thu hồi 21 giấy phép đầu tư và giấy chứng nhận đầu tư với số vốn đăng ký là 76,5 triệu USD Đến cuối năm 2010, trên địa bàn thành phố có 48 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài còn hiệu lực, vốn đăng

ký 764,88 triệu USD, vốn thực hiện chiếm 24,1% vốn đầu tư đăng ký Thu hút vốn

hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) 67,7 triệu USD; tiếp nhận vốn viện trợ của các

tổ chức phi chính phủ (NGO) 16,23 triệu USD

Kim ngạch nhập khẩu ước thực hiện 5 năm đạt 2.436,8 triệu USD, đạt 94,5% kế hoạch 5 năm 2006-2010, tăng bình quân 13,8% Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 97,7% và máy móc, dụng cụ, phụ tùng chiếm 1,7%; hàng tiêu dùng chiếm 0,6% tổng kim ngạch nhập khẩu

Dịch vụ vận tải phát triển ổn định, góp phần thúc đẩy phát triển kinh

tế-xã hội của thành phố bằng sự đa dạng về các phương tiện vận tải cả đường bộ, đường thủy và hàng không Khối lượng hàng hóa vận chuyển tăng bình quân 6,5% (giai đoạn 2001-2005 tăng 3,1%), luân chuyển tăng bình quân 5,8% (giai đoạn 2001-2005 tăng 9%); vận chuyển hành khách tăng bình quân 7,2% (giai đoạn 2001-

2005 tăng 6,4%), luân chuyển tăng bình quân 9,6% (giai đoạn 2001-2005 tăng 4,2%)

2.1.2.3 Tình hình xã hội

Dân số thành phố Cần Thơ tính đến cuối năm 2012 là 1.231.000 người,

tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 100/00, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,19% Số lao động được giải quyết việc làm là 51.000 lao động, vượt 2% kế hoạch được đề ra Về đào tạo nghề, năm 2012 có 36.000 lao động được đào tào Tỷ lệ học sinh đi học đúng độ

Trang 39

tuổi đạt 100% so với kế hoạch ở bậc tiểu học, trung học cơ sở 83%, trung học phổ thông 48% và có thêm 15 trường đạt chuẩn quốc gia

Thành phố công nhận thêm 04 xã, phường, thị trấn văn hóa, nâng tổng số lên 43/85 xã, phường, thị trấn văn hoá, đạt tỷ lệ 50,6% tổng số xã, phường, thị trấn,

có 79/85 xã, phường, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 13,1% Số máy điện thoại/100 dân: 220,25 máy, có 7,78 thuê bao internet/100 dân Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện 99,8%, khu vực ngoại thành 99,4%

Xây dựng và sửa chữa 295 căn nhà tình nghĩa (trong đó sửa chữa 104 căn), xây dựng 3.859 căn nhà đại đoàn kết, nhà đồng đội, mái ấm công đoàn, hoàn thành cơ bản việc xây dựng nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo thật sự khó khăn về nhà

Hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng một số công trình: tuyến kè bảo

vệ bờ kè cồn Cái Khế, bệnh viện Đa khoa Trung ương trung tâm truyền máu huyết học, trung tâm y tế dự phòng, bệnh viện đa khoa Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Phong Điền, Thới Lai, trung tâm thông tin tư liệu Khoa học Công nghệ, trung tâm văn hóa thành phố Cần Thơ, trung tâm văn hóa quận Ô Môn, dự án đầu tư nâng cấp đô thị thành phố Cần Thơ giai đoạn I, trường nghiệp vụ thể dục thể thao, trường Đại học Tây Đô, trường Cao đẳng Y tế, các trường trung học phổ thông: Cái Răng, Nguyễn Việt Dũng, Phan Ngọc Hiển, Thốt Nốt (giai đoạn II); các trường tiểu học: Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Võ Trường Toản,… Trung tâm kỹ thuật phát thanh truyền hình Cần Thơ; các khu dân cư: 91B, 586, Diệu Hiền, Long Thịnh, khu dân cư khu vực cồn Cái Khế, cồn Khương, Khu Cái Sơn-Hàng Bàng,… khu tái định cư Thới Nhựt, khu tái định cư phục vụ đường tỉnh 923, khu tái định cư phục vụ chợ gạo Thốt Nốt, các khu dân cư vượt lũ,

2.1.3 Tình hình sản xuất rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long

Theo thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (2012) thì đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích trồng rau là 36.646 ha nhưng trong đó chỉ có 1.832,38 ha trồng rau an toàn chiếm 5,13% diện tích trồng rau an toàn của cả nước Diện tích chủ yếu phân bố tại một số khu

Trang 40

vực như: thành phố Cần Thơ, tỉnh Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Long An và một số tỉnh khác

Bảng 2.2 Diện tích sản xuất rau an toàn ở một số tỉnh, thành khu vực đồng bằng sông Cửu Long

(TP Mỹ Tho) 01 hợp tác xã 85 Chuyên canh

Cải bắp, cà chua, đậu Hà Lan, xu hào, cải các loại

- Xã Thân Cửu Nghĩa

(H Châu Thành) 01 hợp tác xã 8,5 Chuyên canh

Các loại rau gia vị: mùi tàu, rau thơm và rau các loại

(Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thông một số tỉnh, thành khu vực đồng bằng

sông Cửu Long)

Hiện nay diện tích sản xuất rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long chưa đủ lớn, nơi có diện tích sản xuất lớn nhất là tỉnh Vĩnh Long với tổng diện tích sản xuất

Ngày đăng: 29/08/2017, 12:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Trần Văn Hai (2003), Triển khai ứng dụng kỹ thuật sản xuất và nghiên cứu khả năng tiêu thụ rau an toàn thành phố Cần Thơ, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai ứng dụng kỹ thuật sản xuất và nghiên cứu khả năng tiêu thụ rau an toàn thành phố Cần Thơ
Tác giả: Trần Văn Hai
Năm: 2003
7. Lưu Thanh Đức Hải (2007), Bài giảng nghiên cứu Marketing, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng nghiên cứu Marketing
Tác giả: Lưu Thanh Đức Hải
Năm: 2007
8. Lưu Thanh Đức Hải (2007), Marketitng ứng dụng, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketitng ứng dụng
Tác giả: Lưu Thanh Đức Hải
Năm: 2007
10. Mai Văn Nam (2008), Giáo trình nguyên lý thống kê kinh tế, Nhà xuất bản văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nguyên lý thống kê kinh tế
Tác giả: Mai Văn Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản văn hóa thông tin
Năm: 2008
12. Chu Nguyễn Mộng Ngọc và Hoàng Trọng (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1 và 2, Nhà xuất bản Hồng Đức, Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1 và 2
Tác giả: Chu Nguyễn Mộng Ngọc và Hoàng Trọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
13. Ngọc Nhi (2013), Cần Thơ phát triển vùng nông nghiệp chuyên canh, Trung tâm xúc tiến đầu tư-thương mại-du lịch thành phố Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần Thơ phát triển vùng nông nghiệp chuyên canh
Tác giả: Ngọc Nhi
Năm: 2013
15. BBT (2012), Cần Thơ: Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong sản xuất rau, hoa, Trung tâm Khuyến nông quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần Thơ: Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong sản xuất rau, hoa
Tác giả: BBT
Năm: 2012
16. Mỹ Thanh (2013), Tìm chỗ đứng cho rau an toàn, Báo Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm chỗ đứng cho rau an toàn
Tác giả: Mỹ Thanh
Năm: 2013
17. Bùi Văn Thời (2008), Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn tại đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Bùi Văn Thời
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Thuận (2011), Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ, Tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ trang 113-119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng rau an toàn tại thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận
Năm: 2011
20. Nguyễn Thanh Việt (2012), Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long, Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long
Tác giả: Nguyễn Thanh Việt
Năm: 2012
21. Trung tâm xúc tiến đầu tư-thương mại-du lịch thành phố Cần Thơ (2013), Tại sao đầu tư vào Cần Thơ.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tại sao đầu tư vào Cần Thơ
Tác giả: Trung tâm xúc tiến đầu tư-thương mại-du lịch thành phố Cần Thơ
Năm: 2013
22. Axis –chương trình GTZ (2005), Kết quả thảo luận với nhóm trồng rau an toàn ở thành phố Cần Thơ, thành phố Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thảo luận với nhóm trồng rau an toàn ở thành phố Cần Thơ
Tác giả: Axis –chương trình GTZ
Năm: 2005
23. Axis –chương trình GTZ (2005), Chuỗi giá trị ngành hàng rau quả ở thành phố Cần Thơ, thành phố Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị ngành hàng rau quả ở thành phố Cần Thơ
Tác giả: Axis –chương trình GTZ
Năm: 2005
25. Israel, Glenn D. (2013), Determiming sample size, Florida university Sách, tạp chí
Tiêu đề: Determiming sample size
Tác giả: Israel, Glenn D
Năm: 2013
26. Maslow (1943), A theory of human motivation, York University Sách, tạp chí
Tiêu đề: A theory of human motivation
Tác giả: Maslow
Năm: 1943
27. Polonia (2013), Analysis of sample size in consumer surveys, Poland Sách, tạp chí
Tiêu đề: Analysis of sample size in consumer surveys
Tác giả: Polonia
Năm: 2013
28. Philip Kotler (1993), The major tasks of marketing management, Marketing Management Sách, tạp chí
Tiêu đề: The major tasks of marketing management
Tác giả: Philip Kotler
Năm: 1993
29. Philip Kotler và Gary Armstrong (1997), Marketing: An introduction, Prentice Hall PTR Sách, tạp chí
Tiêu đề: Marketing: An introduction
Tác giả: Philip Kotler và Gary Armstrong
Năm: 1997
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2007), Quy định về quản lý sản xuất và chứng nhận rau an toàn Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm