SỬ THANH HOÀI GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ GẮN VỚI QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG N
Trang 1SỬ THANH HOÀI
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ GẮN VỚI QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2SỬ THANH HOÀI
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN CẢI THIỆN SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ GẮN VỚI QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG Ở TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LẠC DƯƠNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60620115
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ MINH CHÍNH
Đồng Nai, 2014
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên 33,12 triệu ha, trong đó diện tích
có rừng 12,61 triệu ha và 6,16 triệu ha đất trống đồi núi trọc là đối tượng của sản xuất nông lâm nghiệp [1] Như vậy, ngành Lâm nghiệp đã và đang thực hiện hoạt động quản lý và sản xuất trên diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh tế quốc dân Diện tích đất lâm nghiệp phân bổ chủ yếu ở trên các vùng đồi núi của cả nước, đây cũng là nơi sinh sống của khoảng 25 triệu cư dân thuộc nhiều dân tộc ít người, có trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn [14]
Trong quá trình phát triển lâm nghiệp, quan niệm “Quản lý rừng bền vững” ở Việt Nam mới được hình thành từ những năm cuối thập niên 80 thế
kỷ 20 Từ đó đến nay, vấn đề quản lý rừng bền vững luôn là một yếu tố chủ chốt trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch hành động của Việt Nam Hoạt động sản xuất của ngành lâm nghiệp đang chuyển đổi mạnh mẽ từ nền lâm nghiệp quốc doanh, theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền lâm nghiệp xã hội hóa với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần Do đó, ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực tạo việc làm, cải thiện đời sống cho khoảng 25% dân số của Việt Nam sống trên địa bàn rừng núi, góp phần đảm bảo an ninh chính trị xã hội, tạo đà phát triển cho các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng như phát triển chung cho đất nước [12]
Sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số cũng đang là mối quan tâm hàng đầu hiện nay Việc đánh giá hiệu quả các hoạt động sinh kế, trong đó gắn với quản lý rừng bền vững giúp chúng ta hiểu rõ những phương thức sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số và mối quan hệ với quản lý rừng bền vững
Trang 4Huyện Lạc Dương nằm trên cao nguyên Lâm Viên có địa hình cao nguyên đất đỏ bazan, ở độ cao 1.500m – 2.200m và độ cao bình quân 1.500m – 1.600m Là một huyện miền núi phía bắc tỉnh Lâm Đồng, gồm 5 xã và 01
thị trấn Địa hình của toàn huyện chủ yếu là rừng núi, rộng lớn và bị chia cắt
Trình độ dân trí và đời sống về vật chất, tinh thần của một bộ phận người dân
còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số
gốc Tây Nguyên Lạc Dương có tổng diện tích tự nhiên 131.252,84 ha, trong
đó rừng là 114.936,57 ha, chiếm 87,57% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong
đó rừng tự nhiên 109.761,49 ha, rừng trồng 5.175,08 ha (rừng sản xuất 668,99 ha; rừng phòng hộ 53.618,51 ha và rừng đặc dụng 60.586,07 ha)[15]
Rừng ở Lạc Dương không chỉ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của địa phương mà còn có vai trò quan trọng bảo vệ nguồn nước cho hệ thống sông Đa Nhim, sông Đa Dâng, sông Krông Nô và vùng hạ lưu Huyện có tỷ lệ hộ nghèo còn cao của tỉnh Lâm Đồng, tỷ lệ hộ nghèo toàn
huyện năm 2013 là 7,01%, trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số 8,98% [16]
Tình trạng phá rừng, chiếm đất làm nương rẫy của đồng bào dân tộc trên địa bàn còn ở mức khá cao, vẫn còn tình trạng bà con đồng bào trở về làng cũ trong các khu rừng đặc dụng để phát rừng Đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp tham gia bảo vê ̣ và phát triển rừng chỉ được hưởng mô ̣t phần giá tri ̣ sử du ̣ng,
còn giá tri ̣ sử du ̣ng gián tiếp của rừng hầu như không đươ ̣c nhâ ̣n Trong khi xã
hội, cô ̣ng đồng, tổ chức và cá nhân nằm ngoài khu vực có rừng, không tham gia
bảo vê ̣ tái ta ̣o rừng la ̣i được hưởng lợi từ các di ̣ch vu ̣ do rừng ta ̣o ra rất lớn như điều tiết nguồn nước, chống xói mòn cho các công tình thủy điê ̣n, cung cấp nước
sạch, kinh doanh du li ̣ch sinh thái…mà không phải trả tiền cho những người bảo
vệ và phát triển rừng, yếu tố quan trọng đảm bảo cho các di ̣ch vụ đó phát triển bền vững
Trang 5Tuy nhiên hiện nay các đề tài trên địa bàn huyện chủ yếu nghiên cứu riêng lẽ các vấn đề về giảm nghèo bền vững, thực trạng công tác quản lý bảo
vệ rừng, dịch vụ chi trả môi trường rừng… Chưa có đề tài nghiên cứu cụ thể
về mối liên hệ giữa sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số với quản lý rừng bền vững
Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, học viên thực hiện đề tài: “Giải
pháp góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
- Đề xuất các giải pháp góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào dân
tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc Dương
- Xác định và đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số và quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện
- Đề xuất được các giải pháp góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc Dương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tập trung nghiên cứu sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững
Trang 6* Phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sinh kế, quản lý rừng bền vững, sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững
- Nghiên cứu đánh giá được thực trạng về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn, tình hình quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Lạc Dương
- Nghiên cứu xác định và đánh giá sự ảnh hưởng của các nhân tố đến sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số và quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện
- Nghiên cứu đề xuất được các giải pháp góp phần cải thiện sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa bàn huyện Lạc Dương
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO
DTTS GẮN VỚI QUẢN LÝ RỪNG BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về sinh kế và quản lý rừng bền vững
1.1.1 Khái niệm sinh kế, sinh kế bền vững và các phương thức sinh
kế
* Khái niê ̣m về sinh kế
- Tại hô ̣i thảo khoa ho ̣c và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”, ông Tri ̣nh Công Khanh Vu ̣ trưởng Vu ̣ Chính sách Dân tô ̣c – Ủy Ban Dân Tô ̣c cho rằ ng: Sinh kế theo nghĩa chung bao gồ m các khả năng tài sản (bao gồm
các nguồn lực vâ ̣t chất và xã hô ̣i” và các hoa ̣t đô ̣ng cần thiết để kiếm số ng Ở Việt Nam, khái niê ̣m về sinh kế của hô ̣ hay mô ̣t đồng bào được hiểu là một
tập hơ ̣p các nguồn lực, và khả năng của con người kết hợp với những quyết
đi ̣nh và những hoa ̣t đô ̣ng mà ho ̣ sẽ thực hiê ̣n để kiếm sống đồng thời đạt được những mu ̣c tiêu đa da ̣ng hơn Mô ̣t cách đơn giản và dễ hiểu, sinh kế của một
hộ gia đình hay mô ̣t cô ̣ng đồng chính là sinh nhai của hô ̣ hay cô ̣ng đồng đó
Từ đi ̣nh nghĩa trên, có thể hiểu nô ̣i dung sinh kế bao gồm hai khía ca ̣nh cơ
bản là:
Các nguồn lực nguồn vố n để đảm bảo sinh kế
Các hoa ̣t đô ̣ng sinh kế cu ̣ thể
- Khái niê ̣m về sinh kế theo Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) năm
1999: “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất, xã hội) và các hoạt động cần thiết để kiếm sống”
* Sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát triển vào những năm đầu 1990 Tác giả Chambers và Conway
Trang 8(1992) định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư
nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh
kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
Theo DFIT (2001), sinh kế trở nên bền vững khi nó giải quyết được những căng thẳng và đột biến, hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai mà không làm tổn hại đến
cơ sở tài nguyên thiên nhiên Tiêu chí SKBV gồm: an toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường cộng đồng
- xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ tránh rủi ro và các cú sốc
* Khung phân tích sinh kế
-Ở các cấp khác
nhau của Chính phủ, luật pháp, chính sách công, các động lực, các qui tắc
-Chính sách và thái độ đối với khu vực tư nhân
-Các thiết chế công dân, chính trị và kinh tế (thị trường, văn hoá)
Các chiến lược SK
-Các tác nhân
xã hội (nam,
nữ, hộ gia đình, cộng đồng …) -Các cơ sở tài nguyên thiên nhiên -Cơ sở thị trường
- Đa dạng -Sinh tồn hoặc tính bền vững
Các kết quả
SK
-Thu nhập nhiều hơn
-Cuộc sống đầy
đủ hơn -Giảm khả năng tổn thương -An ninh lương thực được cải thiện
-Công bằng xã hội được cải thiện
-Tăng tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên
-Giá trị không
sử dụng của tự nhiên được bảo
vệ
Trang 9* Các phương thức sinh kế
Có nhiều cách chia các phương thức sinh kế của nhiều tác giả khác nhau Luận văn sử dụng Mô hình sinh kế ở Việt Nam hiện nay gồm: trồng trọt, chăn nuôi, thủ công gia đình, trao đổi hàng hóa và khai thác các nguồn lợi tự nhiên, trong đó 4 thành tố đầu là sinh kế sản xuất, thành tố thứ 5 là sinh
kế chiếm đoạt
* Tiếp cận sinh kế bền vững
Khung phân tích SKBV do Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFIT) đưa ra được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi Ba thành tố chính của sinh kế theo DFIT là: (1) Nguồn lực và khả năng mà con người có được; (2) Chiến lược sinh kế (thể hiện ra các hoạt động sinh kế); (3) Kết quả sinh kế
* Giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế
Để giảm nghèo, phát triển SKBV, ngoài việc các hộ dân phải tự mình nâng cao năng lực phát triển họ cũng cần những can thiệp hỗ trợ từ bên ngoài Vai trò của các chương trình can thiệp hỗ trợ là tác động vào tài sản sinh kế
và chiến lược sinh kế của nông hộ, giúp họ tăng cường tài sản và giảm tổn thương.[3]
1.1 2 Khái niệm về quản lý rừng bền vững
Khái niệm QLRBV được hiểu là chủ rừng hoặc người quản lý rừng tổ chức các hoạt động của một khu rừng xác định luôn thu được lợi ích về gỗ, lâm sản và giá trị dịch vụ tối đa mà không làm thay đổi diện tích, trữ lượng và năng suất lâm sản trong đó và không làm ảnh hưởng tới lợi ích lâu dài của khu rừng
Tiến trình Helsinki (1995) định nghĩa như sau:” Quản lý rừng bền vững
là sự quản lý rừng và đất rừng theo cách thức và mức độ phù hợp để duy trì tính đa dạng sinh học, năng suất, khả năng tái sinh, sức sống của rừng, và
Trang 10duy trì tiềm năng của rừng trong việc thực hiện, hiện nay và trong tương lai, các chức năng sinh thái, kinh tế và xã hội của chúng, ở cấp địa phương, quốc gia và toàn cầu, và không gây ra những tác hại đối với các hệ sinh thái khác” [8]
Tổ chức gỗ nhiệt đới ITTO (2004) định nghĩa là :” Quản lý rừng bền vững là quá trình quản lý những lâm phần ổn định nhằm đạt được một hoặc nhiều hơn những mục tiêu quản lý đã được đề ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ rừng mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng và không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên
và xã hội” [8]
Các định nghĩa trên, nhìn chung tương đối dài dòng nhưng tựu trung lại
có mấy vấn đề chính sau:
Quản lý rừng ổn định bằng các biện pháp phù hợp nhằm đạt các mục tiêu đề ra (sản xuất gỗ nguyên liệu, gỗ gia dụng, lâm sản ngoài gỗ ; phòng hộ môi trường, bảo vệ đầu nguồn, bảo vệ chống cát bay, chống sạt lở đất ; bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn loài, bảo tồn các hệ sinh thái )
Bảo đảm sự bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, cụ thể:
Bền vững về kinh tế là bảo đảm kinh doanh rừng lâu dài liên tục với năng suất, hiệu quả ngày càng cao (không khai thác lạm vào vốn rừng; duy trì
và phát triển diện tích, trữ lượng rừng; áp dụng các biện pháp kỹ thuật làm tăng năng suất rừng)
Bền vững về mặt xã hội là bảo đảm kinh doanh rừng phải tuân thủ các luật pháp, thực hiện tốt các nghĩa vụ đóng góp với xã hội, bảo đảm quyền hạn
và quyền lợi cũng như mối quan hệ tốt với nhân dân, với cộng đồng địa phương
Trang 11Bền vững về môi trường là bảo đảm kinh doanh rừng duy trì được khả năng phòng hộ môi trường và duy trì được tính đa dạng sinh học của rừng, đồng thời không gây tác hại đối với các hệ sinh thái khác
1.2 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của người dân gắn với quản lý rừng bền vững
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của người dân trên thế giới
Việc phát triển kinh tế hộ nói chung và kinh tế hộ nông dân nói riêng ở các nước đang phát triển, hướng tới xóa đói giảm nghèo bền vững, là chủ đề lớn và nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả quốc tế trong vài thập kỷ gần đây Khảo sát các công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề này, chúng tôi thấy nổi lên một số chủ đề lớn đáng lưu ý sau đây
* Các nghiên cứu dưới góc độ thu nhập của kinh tế hộ
- Trong các nghiên cứu về kinh tế hộ của Cervantes-Godoy and Brooks (2008); Ironmonger; Duncan (2000); World Bank (2003,2007), đã cho thấy kinh tế hộ có nguồn thu nhập rất đa dạng, bao gồm cả sản xuất nông nghiệp, phi nông và di cư Việc tập trung phát triển kinh tế hộ mang lại nhiều lợi ích
do hộ là đơn vị kinh tế nhỏ, năng động, có khả năng ứng phó nhanh với những cú sốc thị trường; trợ giúp kinh tế hộ cũng dễ đảm bảo tính công bằng hơn Ngoài ra, đối với cấp hộ cũng dễ áp dụng nông nghiệp xanh, hạn chế việc sử dụng phân bón hoá học, thuốc trừ sâu trên diện rộng, hạn chế quá trình hoang mạc hóa,…[23]
* Các nghiên cứu xung quanh vấn đề về nguồn lực (sinh kế) của kinh tế
hộ gia đình
- Việc phát triển kinh tế hộ ở các nước đang phát triển gặp phải rất nhiều lực cản Năng suất lao động thấp, thu nhập thấp đó là một phần nguyên nhân của nghèo đói nếu không được khắc phục
Trang 12- Trong các nghiên cứu của Anríquez and Bonomi (2007); World Bank (2003); Reardon et al 1998; Hall and Patrinos (2006); Carter and Barrett (2006); Christiaensen and Subbarao (2005); Dercon (2004); Vollrath (2007); Zezza et al (2007); Jayne et al (2006); Fafchamps and Pender (1997), Jalan and Ravallion (2002); Chambers, R and G R Conway (1992); Diana Carney (1998); Frank Ellis (2000); Bent D Jorgensen (2006); Cho thấy hầu hết các
hộ nông nghiệp đều thiếu nguồn lực, đặc biệt là đất đai, thiếu vốn cần thiết để
mở rộng sản xuất hay chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chất lượng lao động kém, mật độ dân số và tỷ suất sinh cao, gặp nhiều rủi ro về cả thiên tai và thị trường Các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp cũng phải đối diện với nhiều rủi ro về cả thiên tai và thị trường (do biến động giá và độ co dãn của cầu theo thu nhập thấp đối với nông sản) làm cho hộ nông lâm nghiệp và trang trại mất nhiều thời gian để phục hồi khi gặp các cú sốc.[21]
* Các nghiên cứu xung quanh vấn đề đói nghèo và thoát nghèo của hộ nông dân
- Khi nghiên cứu về vấn đề nghèo và thoát nghèo của ở hộ nông dân, các nghiên cứu của các tác giả và tổ chức như: De Weerdt (2006); IFAD (2009); Krishna et al (2006); Olawepo (2010); Peters (2006); Barrett (2008); Minot et al (2006); McCulloch, Weisbrod, and Timmer (2007); Foster and Rosenzweig (2004); Davis (2006); Beegle, De Weerdt, and Dercon (2006); Mansuri 2007; Knight and Song (2003); World Bank (2002, 2008); Frank Ellis and H Ade Freeman (2002); UNDP (2004); P.R Fourace; cho thấy ở nhiều nước đang phát triển, các hộ gia đình sản xuất nông lâm nghiệp thoát khỏi đói nghèo nhờ vào đa dạng hoá thu nhập như: đa dạng hóa sản xuất bằng cách canh tác đan xen, chuyển dịch sang cây công nghiệp cho nhu cầu nội địa
và xuất khẩu, mở rộng chăn nuôi; một số tập trung chuyên môn hoá sản xuất
và chuyển chủ yếu sang sản xuất hàng hóa; một số chuyển hẳn sang các hoạt
Trang 13động phi nông nghiệp như kinh doanh, làm dịch vụ hoặc đi làm thuê; một số
hộ thì di cư một phần lao động của gia đình đến các vùng khác có mức lương
và thu nhập cao hơn.[22]
- Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ đói nghèo giảm có tương quan chặt chẽ với việc đa dạng hóa sản xuất hàng hóa và tham gia tích cực vào thị trường của nông hộ Từ đó đa dạng hóa các nguồn thu nhập là phương kế hữu hiệu để chống lại rủi ro, linh hoạt trong sản xuất và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn, trong đó thu nhập phi nông nghiệp vừa là lực kéo vừa là lực đẩy cho phát triển kinh tế hộ
Các tác giả, tổ chức như: IFAD (2003); Brooks (2010); Godoy and Brooks (2008), cho rằng cần cải cách thể chế kinh tế như điều chỉnh chính sách đất đai và quyền sở hữu tài sản, tạo thuận lợi cho việc mua bán đất đai; mở rộng sản xuất và gây dựng thương hiệu; cải cách thị trường lao động để tạo thêm các cơ hội việc làm và tăng thu nhập là những chính sách giúp kinh tế hộ phát triển và thoát nghèo.[21]
Cervantes-Kinh tế văn hoá của đồng bào vùng cao có quan hệ mật thiết với rừng Rừng đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá của người dân Ví
dụ của Raha (dẫn trong Guha, 1989) cho rằng rừng có ảnh hưởng lớn đến đừi sống tôn giáo và tinh thần Guha viết (1989:29):
Sự phụ thuộc của người dân vùng núi vào tài nguyên rừng đã được thể chế hoá thông qua rất nhiều thế chế xã hội và văn hoá Thông qua tôn giáo, văn hoá và truyền thống, các cộng đồng bản địa đã tạo ra một vành đai bảo vệ xung quanh rừng
Theo Uỷ ban Phát triển Quốc tế (DFID – Anh, 1998:1), sinh kế gồm có năng lực, tài sản (bao gồm cả tài nguyên vật chất và xã hội) và các hoạt động cần để kiếm sống Có 5 loại vốn: Thứ nhất là vốn tự nhiên hoặc các nguồn tài nguyên như đất, nước, động vật mà con người có thể khai thác để phục vụ cho
Trang 14cuộc sống Thứ hai là vốn xã hội, hay các nguồn tài nguyên xã hội như là mạng lưới xã hội hoặc các tổ chức mà người dân tham gia để kiếm sống Thứ
3 là nguồn nhân lực hay chính là các kỹ năng, kiến thức, khả năng làm việc và sức khoẻ tốt – điều này rất quan trọng để có thể tìm kiếm những phương thức sinh kế khác nhau Thứ tư là vốn vật chất hay là những cơ sở hạ tầng cơ bản như đường xá, nhà cửa và các thiết bị sản xuất để giúp người dân kiếm sống Thứ năm là vốn tài chính hay nguồn tài chính mà con người có như tiền tiết kiệm hoặc nguồn tín dụng cung cấp cho họ những lựa chọn sinh kế khác nhau.[23]
Tài nguyên rừng cung cấp một vài dạng của cải các loại vốn cho người dân miền núi Chúng đóng góp đáng kê vào thu nhập của người dân, làm cho người dân trở nên giàu có hơn bằng cách cung cấp cho họ nguồn sản phẩm và nguyên liệu, bổ sung đầu vào cho hoạt động nông nghiệp và giữ gìn sinh khối
mà con người có thể dựa vào đó để tồn tại trong những lúc khó khăn như khi mùa màng thất bát, thất nghiệp hoặc các khó khăn khác
1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững trên thế giới
Tại khu vực châu Á, từ những năm 1970 Trung Quốc đã thực hiện một
số các chương trình để chuyển quản lý rừng Trung ương xuống địa phương
Từ cuối năm 1970 đến đầu những năm 1980, chính quyền Trung Quốc đã chuyển giao quyền quản lý nhiều diện tích đất rừng cằn cỗi cho các gia đình nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt củi đun và nhu cầu canh tác, đồng thời khuyến khích người dân trồng và bảo về rừng trên vùng đồi trọc Việc chuyển quyền sở hữu rừng thông qua hệ thống định hướng thị trường bắt đầu được thực hiện vào cuối những năm 1980, rừng non và rừng trung bình có thể được bán và nhờ đó giải quyết được các khó khăn nhất thời trong khi các khu rừng
có giá trị cao chưa bị khai thác, đồng thời giảm áp lực lên khu vực này Những người quản lý rừng có khả năng lấy lại vốn đầu tư ban đầu đồng thời
Trang 15thu lợi nhuận nhiều so với trước Chính sự nhận thức về lợi nhuận này đã giúp
họ trở nên linh hoạt hơn trong xử lý những khó khăn nảy sinh và sự thay đổi các điều kiện kinh tế Đến lượt mình, hiệu quả của sự đổi mới này đã nâng cao ý thức của người dân trong khai thác và bảo vệ rừng, đồng thời quản lý tài nguyên thiên nhiên, Trung Quốc đã cải thiện tình trạng quản lý rừng, dẫn tới tăng sản lượng cũng như bảo vệ rừng tốt hơn (Zhang Kun trong Enters và cộng sự, 2000)
Nêpan cũng chuyển giao quyền quản lý rừng đến chính quyền địa phương Chức năng của các cấp chính quyền địa phương như quận, huyện, thị trấn hay uỷ ban phát triển làng bản sau khi phân quyền là tiến hành trồng rừng, mở rộng và quản lý rừng bằng cách thành lập các uỷ ban người sử dụng
từ chính những người đang sử dụng rừng (Singh và Kafle trong Enters và cộng sự, 2000)
Ở Indonexia, chương trình cải cách (reformasi) được thực hiện từ năm
1988 trong đó chính quyền phải đưa ra các điều luật và chính sách mới (trong lĩnh vực lâm nghiệp) nhằm xác định lại vai trò của nhà nước và các cơ quan, đoàn thể liên quan trong quản lý rừng Với Nghị định Kawasan dengan Tujuan Istimewa (KdTI-khu vực cho mục đích riêng biệt), hình thức quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã được thừa nhận một cách hợp pháp như một tổ chức quản lý rừng tại địa phương Mặc dù khu vực KdTI vẫn là một bộ phận của đất rừng quốc gia, Nghị định này lại thừa nhận những lợi ích xã hội và môi trường của hệ thống quản lý bản địa, vai trò của các tổ chức cơ sở trong việc đảm bảo tính bền vững của hệ thống quản lý tài nguyên thiên nhiên và quyền của các hộ dân khai thác, bán các sản phẩm gỗ và các sản phẩm khác ngoài gỗ từ những cây họ trồng (Lai và cộng sự trong Enters và cộng sự, 2000)
Trang 16Ở Thái Lan, Đạo luật 1992 Tambon Administration trao quyền nhiều hơn cho các đơn vị chính quyền địa phương trong quản lý rừng Với đạo luật này, các đơn vị chính quyền cấp dưới (TAO) có trách nhiệm quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên trong địa phận của họ Hiến pháp mới của Thái Lan năm 1997 còn cũng cố vững chắc hơn kế hoạch phân quyền Hiến pháp nêu rõ người dân và các tổ chức địa phương cần phải tham gia vào quản lý nguồn tài nguyên của họ Cả Đạo luật 1992 và Hiến pháp 1997 đều đề cao sự tham gia của người dân trong quản lý rừng và mở đường cho việc làm sáng tỏ vấn đề
sử dụng đất và vai trò của người dân trong quản lý rừng (Poffennberger 1999, dẫn trong Pratong trong Enters và cộng sự, 2000)
Mặc dù tại một số nước, việc quản lý tài nguyên rừng đã được chuyển
từ chính quyền trung ương xuống chính quyền địa phương, họ đã có quyền nhiều hơn về tài chính, trách nhiệm và việc ra quyết định, nhưng những luật lệ
cơ bản và chức năng xây dựng luật vẫn thuộc về chính quyền trung ương Các
cơ quan địa phương hoạt động với chức năng thực hiện các chương trình và
kế hoạch đã được định sẵn từ trên trung ương Có thể lấy trường hợp ở Philippin làm ví dụ: Trách nhiệm quản lý tài nguyên thiên nhiên, như được phân quyền cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (DENR), bị hạn chế tác dụng đối với hình thức quản lý rừng cộng đồng, quản lý lưu vực theo cộng đồng, và
cả những khu vực vành đai xanh (Mercado trong Enters và cộng sự, 2000) Mặt khác, việc thực hiện các điều luật bảo vệ rừng chống lại nạn khai thác gỗ lậu và các hoạt động khai thác lâm sản trái phép khác hoàn toàn thuộc thẩm quyền của các cơ sở, nhưng quyết định sử dụng tài nguyên rừng như thế nào vẫn do các cơ quan trung ương quyết định
Ở Nhật Bản từ những năm 1994-1997 người ta đã tính đủ giá trị của rừng, với khoảng 25 triệu ha rừng trồng và rừng tự nhiên hàng năm sẽ tạo ra với tổng giá trị là 312,6 tỷ USD, trong đó (giá trị bảo vệ nguồn nước 34 tỷ
Trang 17USD, bảo vệ đất: 64 tỷ USD, dịch vụ sức khỏe cộng đồng: 62 tỷ USD, cung cấp Oxy: 147 tỷ USD, lâm sản (gỗ): 5,6 tỷ USD) [25]
1.2.2 Tại Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu về sinh kế của người dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi
Sinh kế là mối quan tâm hàng đầu của con người, là điều kiện cần thiết
cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên Việc lựa chọn những hoạt động sinh kế của người dân miền núi chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố
về điều kiện tự nhiên, xã hội, yếu tố con người, kết cấu hạ tầng
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chương trình, chính sách, dự án lớn đầu tư hỗ trợ khá tập trung và đồng bộ vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn miền núi Các chính sách có sự hỗ trợ tác động qua lại, tạo tiền đề cho nhau, góp phần làm thay đổi cơ bản bộ mặt nông thôn, miền núi
Chính sách về định canh, định cư Quyết định 138/QĐ-TTg (năm 2000),
các dự án ĐCĐC đã được hợp nhất vào Chương trình 135 Quyết định số 33/2007/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ di dân thực hiện ĐCĐC cho đồng bào DTTS giai đoạn 2007 - 2010
Chính sách hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, nhà ở và nước sinh hoạt
cho hộ đồng bào DTTS nghèo, đời sống khó khăn Thực hiện theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg Triển khai Quyết định này có 03 quyết định của Thủ tướng, 03 văn bản cấp Bộ Đáng chú ý là Quyết định 146/2005/QĐ-TTg và Quyết định 57/2007/QĐ-TTg về thu hồi đất của các nông, lâm trường để giao cho các hộ đồng bào DTTS nghèo
Chính sách vay vốn đối với hộ đồng bào DTTS: Quyết định
32/2007/QĐ-TTg về cho vay vốn phát triển sản xuất đối với hộ DTTS Quyết định
Trang 18126/2008/QĐ-TTg về sửa đổi một số điều của Quyết định 32/2007/QĐ-TTg Ngoài ra hộ nghèo DTTS ngoài diện trên được vay vay với lãi xuất thấp theo Quyết định 31/2007/QĐ-TTg
Chính sách giáo dục, đào tạo học sinh DTTS: Chính phủ đã ban hành 02
nghị định, 11 quyết định của Thủ tướng và văn bản hướng dẫn cấp Bộ Đáng chú ý là Nghị định 134/2006/NĐ-CP qui định về chế độ cử tuyển vào các cơ
sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân; các Quyết định 267/2005/QĐ-TTg và Quyết định 82/2006/QĐ-TTg
về chính sách và tổ chức dạy nghề đối với học sinh DTTS nội trú và điều chỉnh học bổng và trợ cấp xã hội đối với học sinh, sinh viên là người DTTS học tại các trường đào tạo công lập Đối tượng học sinh, sinh viên DTTS thuộc diện nghèo, chính sách cũng được vay vốn tín dụng để học tập theo Quyết định 157/2007/QĐ-TTg
Chính sách văn hóa - thông tin cho DTTS: thực hiện qua Quyết định số
975/2006/QĐ-TTg, Quyết định 2472/QĐ-TTg (năm 2010) về cấp một số báo, tạp chí cho vùng DTTS và miền núi ĐBKK Quyết định số 124/2003/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam Quyết định 1270/QĐ-TTg (năm 2011) phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát triển văn hóa các DTTS Việt Nam đến năm 2020
Chính sách hỗ trợ phát triển KT-XH các dân tộc ít người: Các Quyết
định về hỗ trợ phát triển của 6 dự án cho 5 dân tộc rất ít người, (phía Bắc có dân tộc Pu Péo ở Hà Giang, Si La ở Lai Châu và Điện Biên, thực hiện từ 2006
- 2010 Quyết định 2123/QĐ-TTg (năm 2010) phê duyệt đề án phát triển giáo dục dân tộc ít người giai đoạn 2010 -2015 (cho 9 dân tộc, có 5 dân tộc ở vùng MNPB là Pu Péo, Cống, Si La, Mảng, Cờ Lao); Quyết định 1672/QĐ-TTg (năm 2011) phê duyệt đề án Phát triển KT-XH vùng dân tộc Mảng, La Hủ, Cống, Cờ Lao
Trang 19Bên cạnh chính sách của Đảng và Nhà nước hỗ trợ mọi mặt về đời sống của đồng bào dân tộc vùng cao, thì nhiều tổ chức xã hội cũng chăm lo sinh kế của người dân tộc thiểu số
Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD): là một tổ chức phi
chính phủ, phi lợi nhuận của Việt Nam, trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (viết tắt là VUSTA) Tiền thân từ tổ chức CIDSE Việt Nam (tổ chức Hợp tác Quốc tế vì sự Phát triển và Đoàn kết), SRD được thành lập vào tháng 3 năm 2006, giấy phép hoạt động do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp Sứ mệnh của SRD là hỗ trợ các vùng nông thôn để cộng đồng tự quản lý hệ thống sinh kế một cách bền vững thông qua: i) phát triển nông nghiệp bền vững; ii) tăng thu nhập cho nông dân qua việc phát triển phương thức sinh kế bền vững và đa dạng; iii) tăng cường năng lực cho các tổ chức cộng đồng qua quá trình ra quyết định; iv) vận động chính sách vì người nghèo SRD chú trọng vào việc cải thiện năng lực của cộng đồng bị thiệt thòi để họ có thể quản lý bền vững hệ thống sinh kế, các chương trình giảm nghèo hiệu quả của các tổ chức phi chính phủ, phát triển cộng đồng và các mô hình quản lý nguồn lực; trong đó nhóm mục tiêu là các nhóm dân tộc thiểu số nghèo và nghèo nhất ở Việt Nam Trung tâm SRD đang thực hiện những dự án phát triển nông nghiệp và sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu
hỗ trợ xoá đói giảm nghèo tại các tỉnh miền núi phía Bắc và các tỉnh miền Trung (Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Quảng Trị) Với tôn chỉ “người dân tại các vùng nông thôn đủ năng lực để tự quản lý nguồn sinh kế của họ một cách bền vững trong một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh”, trong khuôn khổ dự
án “Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam hướng tới sinh kế của các cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc”, Trung tâm SRD triển khai các hoạt động
hỗ trợ kĩ thuật, tín dụng thông qua củng cố và phát triển hai câu lạc bộ sinh kế cộng đồng và các nhóm sở thích tại hai xã Tam Thanh và Võ Miếu của tỉnh
Trang 20Phú Thọ nhằm phát triển đa dạng các mô hình sinh kế phù hợp với nông dân nghèo và cộng đồng dân tộc thiểu số SRD đồng thời truyền tải nhu cầu, tiếng nói từ người dân và chính quyền địa phương, các đề xuất, khuyến nghị và sáng kiến cộng đồng tới các diễn đàn chính sách ở cấp cao hơn
Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Vùng cao (CERDA): là tổ chức
hoạt động không vì lợi nhuận thành lập năm 2004, trực thuộc Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), giấy phép hoạt động do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp CERDA hoạt động với sứ mệnh góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm thiệt thòi, cộng đồng dân tộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em, hỗ trợ thúc đẩy sự tham gia của người dân hướng tới quản trị tốt cộng đồng, thúc đẩy cộng đồng có cơ hội tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực công, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên hợp lý, phát triển bền vững về các mặt xã hội, kinh tế và môi trường Từ năm 2004, CERDA đã quản lý, thực hiện các dự án phát triển cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia toàn diện của người dân, đặc biệt ưu tiên các nhóm thiệt thòi, nhóm yếu thế thông qua các hoạt động thúc đẩy dân chủ cơ sở, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, bình đẳng giới, thực thi pháp luật hướng tới quản trị cộng đồng tốt, sinh kế bền vững, thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu, sử dụng tài nguyên thiên nhiên bền vững Trung tâm còn tham gia các mạng lưới, phối hợp thực hiện hoạt động chung, các nghiên cứu, hội thảo nhằm trao đổi các bài hoc kinh nghiệm, sáng kiến Sự hợp tác đã giúp các tổ chức cùng hưởng lợi, thúc đẩy sự đổi mới của tổ chức và đối thoại chính sách Ngoài ra, Trung tâm còn nhận được sự hỗ trợ quý báu và sự hợp tác hiệu quả của các tổ chức
và chuyên gia trong nước và quốc tế trong lĩnh vực phát triển thông qua các hoạt động mạng lưới, hoạt động hợp tác và đồng thực hiện dự án như đã thực hiện dự án với SRD hiện nay Tại hai xã Đức Lương và Phú Cường của tỉnh Thái Nguyên, với sứ mệnh “hỗ trợ thúc đẩy nhóm dễ bị tổn thương, dân tộc
Trang 21thiểu số, phụ nữ và trẻ em tham gia hiệu quả, bình đẳng và đóng góp vào đời sống chính trị, kinh tế và xã hội”, CERDA hỗ trợ xây dựng các tổ tự quản và các hợp tác xã sản xuất chè an toàn CERDA hỗ trợ nâng cao năng lực toàn diện cho các nông dân chủ chốt trong các tổ nhóm và giới thiệu các mô hình sinh kế hướng tới cung cấp các sản phẩm sạch ra thị trường
Trung tâm Vì sự Phát triển Bền vững Miền núi (CSDM): thành lập năm
2000, là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận thuộc Hội Địa chất Việt Nam trực thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), giấy phép hoạt động do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường cấp Trung tâm bắt đầu thực hiện các dự án phát triển, xoá đói giảm nghèo từ năm 1998 tại Lạng Sơn Các hoạt động của Trung tâm tập trung vào: (i) nâng cao năng lực cho cán bộ và cộng đồng người dân tộc để họ có thể tự giải quyết những khó khăn, phát huy những thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội tại địa phương; (ii) hỗ trợ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở các tri thức và văn hoá truyền thống dân tộc kết hợp với khoa học kỹ thuật tiên tiến; (iii) hỗ trợ đồng bào dân tộc xoá đói giảm nghèo trên cơ sở sử dụng hợp lí và bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, rừng); (iv) hỗ trợ các mong muốn và hoạt động giữ gìn và phát huy văn hoá và bản sắc dân tộc; (v) nâng cao năng lực cho cán bộ của Trung tâm nhằm đáp ứng một cách có hiệu quả và bền vững những yêu cầu, mong muốn của đồng bào các dân tộc và những nhóm người chịu thiệt thòi trong xã hội Với “mong ước những người thiệt thòi và người dân tộc thiểu số có thể thực hiện quyền của họ để có được một cuộc sống với chất lượng tốt hơn, giữ gìn và lưu truyền lại cho con cháu văn hóa truyền thống của mình Tất cả những người dân tộc thiểu số sẽ tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc của dân tộc mình và tự tin trong cuộc sống chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường”, CSDM đang tích cực triển khai các hoạt động dự án trên địa bàn hai xã Tân Sơn và Nà Mèo của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Trang 22CSDM đã hỗ trợ hình thành các tổ chức cộng đồng và xây dựng đội tự quản tại các thôn, hỗ trợ nâng cao năng lực toàn diện cho các nhóm và hỗ trợ kĩ thuật, tín dụng phát triển các mô hình sinh kế đa dạng
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu về quản lý rừng bền vững tại các tỉnh miền núi trong nước
Xác định vai trò qua trọng của ngành lâm nghiệp trong việc phát triển trong việc phát triển kinh tế và môi trường, nhất là đối với việc phát triển của các vùng miền núi, Việt Nam tích cực triển khai các chính sách, chương trình nhằm hạn chế việc chặt phá rừng và tiến hành trồng rừng, như chương trình
327 phủ xanh đất trống đồi trọc, và mới đây là Chương trình 5 triệu ha rừng Tuy nhiên diện tích trồng rừng của Việt nam không tăng rõ rệt trong những năm gần đây Năm 2000 diện tích rừng trồng của Việt Nam chỉ đạt 196,4 nghìn ha, thấp hơn so với năm 1995 (209,6 nghìn ha) Điều này cho thấy hiệu quả của các chương trình chưa phát huy được Chất lượng rừng tiếp tục giảm sút, rừng tự nhiên, rừng nguyên thuỷ bị thay thế bằng rừng trồng, chu kỳ sinh trưởng ngắn Đa dạng sinh học tiếp tục bị suy giảm, việc săn bắn sinh vật hoang dại diễn ra tràn lan Đất đai và sinh kế tiếp tục xuống cấp Các khủng hoảng môi trường, thiên tai diễn ra ngày càng phức tạp
* Tình hình quản lý đất rừng tại các địa bàn phía bắc
Xã Phúc Sen là một xã vùng cao với dân số 2.027 người, trong đó đa số
là người dân tộc Nùng An, sống ở 12 bản Người dân sống bằng nghề nông và
ít liên hệ với thị xã Cao Bằng, nơi cách xã Phúc Sen khoảng 40 km Xã Phúc Sen có diện tích 1.300 ha trong đó 23 ha là khu dân cư, 267 ha là đất nông nghiệp và 1.010 ha là đất rừng Trước đây, nhân dân xã Phúc Sen đã phải đương đầu với tình trạng rừng bị tàn phá nghiêm trọng và người dân có mức sống rất thấp từ năm 2003 thực hiện áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng cuộc sống của người dân nơi đây đã có nhiều đổi khác Việc giao
Trang 23đất được thực hiện chủ yếu thông qua việc thảo luận với dân làng ngay tại hiện trường Mỗi làng được giao quản lý hai hay ba ngọn núi đá vôi riêng biệt hay một nửa sườn núi Thông qua việc bàn bạc và dàn xếp với dân làng, xã đã giao rừng trên cơ sở vị trí đất rừng, khả năng quản lý rừng và mức độ phụ thuộc vào các khu rừng đó của người dân Sau đó các bản làng lại giao lại cho các hộ dân sử dụng và quản lý dựa trên các quy định riêng của từng bản, làng Trong diện tích do bản quản lý, người dân được phép lấy củi sau khi đã được phép của lãnh đạo trong bản Nếu xảy ra tình trạng chặt cây trái phép, thì người vi phạm bị phạt 5kg gạo cho 1kg củi chặt trái phép Sau hơn 5 năm thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng đã mang lại cho người dân cũng như những khu rừng nơi đây những thay đổi đánh kể các khu rừng già bị chặt phá trước dây đã phục hồi bình tốt che phủ một diện tích trên 71
ha Khoảng 176 ha đã tái sinh tốt và bình quân một ha có 412 cây con được trồng bổ sung Đời sống của người dân trong bản được nâng cao nhờ các hoạt động khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ
Sơn La là tỉnh vùng cao nằm phía Tây Bắc Việt Nam Tổng diện tích
tự nhiên toàn tỉnh là 1.421.000 ha Trong đó đất lâm nghiệp có 1.034.100 ha, đất nông nghiệp có 147.360 ha, đất khác và núi đá chiếm 239.530 ha Trong điều kiện khi mà tài nguyên rừng đã cạn kiệt, nền nông nghiệp đang đứng trước những thử thách mới Sơn La đã áp dụng mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng Lâm Nghiệp đang dần chuyển hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xây dựng hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp Bình quân mỗi năm tỉnh đã trồng 4000 – 5000 ha rừng tập trung, hơn 1 triệu cây phong trào, khoanh nuôi tái sinh 30.000 ha, bảo vệ 162.000 ha rừng hiện còn, đưa độ che phủ rừng lên 11,5% 25.000 hộ nông dân đã nhận khoán bảo vệ rừng Bộ mặt nông thôn đang từng bước được cải thiện về thu
Trang 24nhập : có 1,72% số hộ giàu, 8,3% hộ khá, 70,3% hộ trung bình, còn 19,5% hộ nghèo Đổi mới sinh hoạt của hộ gia đình: nhà kiên cố 10,45%, nhà bán kiên
cố 31,36%, được dùng điện 28,25%, dùng nước giêng 17,15%
1.2.3 Tại Tỉnh Lâm Đồng
1.2.3.1 Tình hình nghiên cứu sinh kế người dân
Ngành nghề kinh tế chính của các hộ điều tra là sản xuất nông nghiê ̣p
và sống dựa vào rừng chiếm 98% với các loại cây trồng chủ yếu trong khu
vực là Cà phê, Hồng, và mô ̣t số loài cây rau hoa ngắn ngày nhưng có năng suất không cao (Lúa 21 tạ/ha, Ngô 18,5 tạ/ha, Cà phê 2 tấn/ha), họ số ng phu ̣ thuộc vào rừng qua quan sát thấy ở các xã người dân sống phu ̣ thuô ̣c vào rừng trên 90% Theo số liệu báo cáo của UBND các xã, tỷ lê ̣ hô ̣ nghèo trong vùng
còn cao ta ̣i xã Đa Nhim có 168 hô ̣ xếp diê ̣n nghèo chiếm 26,4% tổng số hô ̣ trong xã; xã Đa Sar có 104 hô ̣, chiếm 14,5%; xã Đa Chais có 87 hô ̣, chiếm 31,2%; Thị trấn La ̣c Dương có 75 hô ̣, chiếm 6,5% và tỷ lê ̣ thiếu đất canh tác trong vù ng còn cao chiếm 70% số hô ̣ Từ các hộ điều tra cho thấy diện tích đất ở và đất sản xuất bình quân cho mỗi hộ 1,07 ha nhưng có sự phân bố không đều Số hộ có diện tích đất sản xuất dưới 1 ha và không có đất sản xuất chiếm tới 70% số hộ, nhưng ngược lại có 2,5% số hộ có diện tích đất sản xuất trên 3 ha Số hộ còn thiếu đất sản xuất và không có đất sản xuất nên đời sống còn nhiều khó khăn
1.2.3.2 Tình hình thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
Được sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ đặc biệt là Chương trình bảo tồn đa dạng sinh học vùng Châu Á (ARBCP-Winrock), Dự án lâm nghiệp Việt Đức (GTZ), sự quan tâm của chính phủ Việt Nam, UBND tỉnh Lâm Đồng luôn dành sự quan tâm đặc biệt phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ban ngành, lãnh, chỉ đạo các sở, ngành trong tỉnh triển khai đồng bộ với nhiều biện pháp tích
Trang 25cực, đến nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR ở Lâm Đồng cũng như trong khu vực nghiên cứu, đã thực sự đem lại những hiệu quả đáng khích lệ cả
về kinh tế, xã hội và môi trường Thông qua việc điều tra, khảo sát từ các bên
có liên quan tham gia thực hiện chính sách chi trả DVMTR trong khu vực và các nguồn tài liệu thứ cấp được thu thập từ các sở ban ngành trong tỉnh sau khi tổng hợp
- Với việc chi trả DVMTR theo hình thức gián tiếp hiện nay tại Lâm Đồng số tiền mà Quỹ BV&PTR Lâm Đồng được giữ lại 10% trên tổng số tiền thu được và các đơn vị quản lý rừng nhà nước được giữ lại 10% trên tổng số tiền ký kết hợp đồng QLBVR với Quỹ BV&PTR cấp tỉnh, đảm bảo được cho các hoạt động như: kiểm tra, giám sát, nghiệm thu, thanh quyết toán, đào tạo nâng cao năng lực, mua sắm trang thiết bị phục vụ cho công tác QLBVR, phục vụ cho các chiến dịch tuyên truyền, nâng cao nhận thức và trách nhiệm trong việc QLBVR thường xuyên, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên ở đơn vị, và địa phương khi tham gia thực hiện chính sách chi trả DVMTR có trách nhiệm hơn
Chúng ta có thể thấy, nếu biết tổ chức, quản lý và kinh doanh tốt, rừng
sẽ đem lại cho chúng ta nhiều lợi nhuận Khi chúng ta đầu tư 30 triệu đô la cho việc chống phá rừng và suy thoái rừng thì chúng ta có thể nhận được 2,5
tỷ đô la từ các sản phẩm và dịch vụ mà nó mang lại [14]
1.3 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu khái niệm về sinh kế
và quản lý rừng bền vững Từ đó có cơ sở đi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế của người DTTS trên địa bàn huyện Lạc Dương, vai trò của người dân địa phương đến quản lý rừng bền vững Dựa vào nguyên tắc và tiêu chí FSC để có cái nhìn tổng quan và phân tích về tác động qua lại giữa sinh kế và quản lý rừng bền vững
Trang 26- Về cơ sở thực tiễn:
Hầu hết các nghiên cứu về sinh kế của người dân được các học giả trên thế giới tập trung phân tích dựa trên thu nhập kinh tế hộ, nguồn lực kinh tế hộ gia đình, vấn đề nghèo đói và thoát nghèo của hộ nông dân, các chính sách phát triển kinh tế hộ nông dân ở các nước đang phát triển Các tác giả đã nghiên cứu về sinh kế của người dân sống dựa vào rừng như rừng cung cấp cho họ nguồn sản phẩm và nguyên liệu, bổ sung đầu vào cho hoạt động nông nghiệp Còn ít tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng đến sinh kế của người dân
Nghiên cứu về quản lý rừng bền vững của các tác giả trên thế giới đều nhận định: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng, cá nhân bản địa được thực hiện khá sớm và đem lại hiệu quả về kinh tế cho người dân cũng như ổn định được diện tích rừng
Người dân vùng cao được Đảng, nhà nước và các tổ chức phi chính phủ hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề, cho vay vốn ưu đãi, đầu tư
hỗ trợ trên tất cả các lĩnh vực đồi sống Do vậy cuộc sống của người dân ngày một được nâng lên, ổn định sản xuất
Trong thời gian qua nhiều nghiên cứu quản lý rừng nhằm hạn chế chặt phá rừng, song song là các nghiên cứu tiến hành trồng rừng, như chương trình
327 phủ xanh đất trống đồi trọc, và mới đây là Chương trình 5 triệu ha rừng nhưng hiệu quả chưa cao Các tỉnh phía bắc thực hiện mô hình quản lý rừng dựa vào cộng đồng với chủ trương giao đất giao rừng Lâm Nghiệp dần chuyển hướng quản lý từ nhà nước sang cộng đồng với nhiệm vụ là xây dựng
hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất theo phương thức nông lâm kết hợp Bước đầu hạn chế được nạn phá rừng, ổn định đời sống của đồng bào dân tộc sống phụ thuộc vào rừng
Trang 27Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã có nhiều đề tài nghiên cứu về sinh kế của người DTTS, nghiên cứu về chi trả dịch vụ rừng, về phát triển kinh tế rừng Nhưng chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề sinh kế của người DTTS gắn với quản lý rừng bền vững Các nghiên cứu có tính chất riêng lẻ, mà chưa tìm hiểu tác động của sinh kế người DTTS đến công tác trồng và bảo về rừng, ngược lại ảnh hưởng của rừng đến đời sống, sinh hoạt và phong tục tập quán của người DTTS trên địa bàn tỉnh Vì vậy đề tài cần nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đồng thời đề xuất được những giải pháp thiết thực góp phần đảm bảo sinh kế của người DTTS gắn với quản lý rừng bền vững trên địa bàn huyện Lạc Dương
Trang 28Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Lạc Dương được điều chỉnh ranh giới theo Nghị định số
189/2004/NĐ-CP (17/11/2004) của Chính phủ về việc thành lập huyện Đam Rông trên cơ sở sát nhập 3 xã thuộc huyện Lạc Dương (Đầm Ròn, Đạ Tông, Đạ Long) và 4 xã
huyện Lâm Hà Huyện Lạc Dương hiện nay có địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp Đắk Lắk
- Phía Nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Đơn Dương
- Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận
- Phía Tây giáp huyện Đam Rông
Hình 2.1 Vị trí địa lý của huyện Lạc Dương
LạC DƯƠNG
Trang 29Huyện có 6 đơn vị hành chính cấp xã: Thị trấn Lạc Dương, xã Lát, xã
Đạ Chais, xã Đạ Nhim, xã Đưng Knớ và xã Đạ Sar Tổng diện tích tự nhiên 131.252,84 ha, dân số 23.189 người
2.1.1.2 Địa hình
Huyện Lạc Dương nằm trên cao nguyên Lâm Viên có địa hình cao nguyên đất đỏ bazan, ở độ cao 1.500m – 2.200m và độ cao bình quân 1.500m – 1.600m, giới hạn phía Bắc là sông K’Rông Dou đầu nguồn của sông
K’Rông Nô và núi Yon ReUm (1.623m), núi Chư Yang Gloup (1.157m); phía Đông là núi Bi Doup (2.287m), núi Hòn Giao (2.062m) và sông Klong Klet (Đa Muông) là một nhánh của sông Đa Nhim Địa hình huyện Lạc Dương
tương đối phức tạp với 3 dạng địa hình chính đan xen gồm núi cao, đồi thấp đến trung bình, thung lũng
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
Lạc Dương nằm trong vùng ôn đới, độ cao so với mặt nước biển từ
1.500-1.600m Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp (17,5-18,3 0 C), tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất (16,4 0 C), tháng 5 có nhiệt độ trung bình cao nhất (19,7 0 C) nhiệt độ ổn định các mùa trong năm Biên độ dao động giữa ngày và đêm lớn (9 0 C), các tháng mùa khô biên độ nhiệt cao (11-13 0 C), các
tháng mùa mưa biên độ giảm còn 6-70C Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tổng lượng mưa trung bình hàng năm 1.700-1.800mm
2.1.1.4 Thuỷ văn
Do đặc điểm địa hình nhiều đồi dốc xen kẽ nên hệ thống sông suối trên địa bàn Lạc Dương khá dày đặc, trong đó có 3 hệ thống sông chính là sông
Đa Nhim sông Đa Dâng và sông K’Rông Dou đầu nguồn của sông K’Rông
Nô chi phối toàn bộ nguồn nước mặt của huyện, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nước và bảo vệ môi trường
Trang 302.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc đánh giá đất huyện Lạc Dương, tỷ lệ bản đồ 1/25.000 của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng năm 2008, trên địa bàn huyện có 5 nhóm đất chính, nhóm đất cát, nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất thung lũng dốc tụ và nhóm đất mùn đỏ vàng
2.1.2.2 Tài nguyên nước
Trên địa bàn huyện Lạc Dương có 3 hệ thống sông chính là sông Đa Nhim, sông Đa Dâng và sông K’Rông Dou Nên có tài nguyên nước dồi dào
2.1.2.3 Tài nguyên rừng
Tổng diện tích rừng là 114.936,57 ha, chiếm 87,57% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó rừng tự nhiên 109.761,49 ha, rừng trồng 5.175,08 ha
(rừng sản xuất 668,99 ha; rừng phòng hộ 53.618,51 ha và rừng đặc dụng 60.586,07 ha) Rừng ở Lạc Dương không chỉ có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế và bảo vệ môi trường của địa phương mà còn có vai trò quan trọng bảo vệ nguồn nước cho hệ thống sông Đa Nhim và vùng hạ lưu Rừng ở Lạc Dương có tính đa dạng sinh học rất cao với thành phần cũng như số lượng cá thể các loài rất phong phú Đặc biệt trên địa bàn có Vườn quốc gia
Bi Doup - Núi Bà đang được nhiều dự án trong và ngoài nước quan tâm đầu
tư Đây là nguồn tài nguyên vô cùng có ý nghĩa đến phát triển kinh tế của huyện Lạc Dương
Theo kết quả thống kê rừng tỉnh Lâm Đồng năm 2010, trữ lượng rừng được xác định như sau:
Trang 31Biểu 2.1: Trữ lượng các loại rừng năm 2010
Trang 322.1.2.4 Tài nguyên khoáng sản
Lạc Dương không thuộc nhóm huyện giàu về khoáng sản, các loại khoáng sản chủ đạo của tỉnh như: vàng, thiếc, bô xit, đá quý, caolin, bentonit,
than nâu, điatonit đều không có ở huyện, hoặc có (vàng, thiếc…) nhưng ở
dạng sa khoáng, trữ lượng thấp Tuy nhiên có thể khai thác sét, đá, đất, cát làm gạch ngói và vật liệu xây dựng cho nhu cầu xây dựng nông thôn
2.1.2.5 Tài nguyên nhân văn - du lịch
Huyện Lạc Dương có tài nguyên nhân văn khá đa dạng, nơi hội tụ của nhiều nền văn hoá của nhiều dân tộc, có nhiều lễ hội truyền thống như: Lễ
nghi nông nghiệp, lễ hội đâm trâu, lễ hội cồng chiêng (Du lịch văn hoá cồng chiêng đã là một sản phẩm gắn kết với du lịch Đà Lạt thu hút hàng ngàn lượt khách mỗi đêm); có các ngành nghề truyền thống như: dệt thổ cẩm, làm rượu
cần,…; kết hợp với cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục và thơ mộng, tạo nên sự hấp dẫn mạnh mẽ với du khách là lợi thế nổi trội về phát triển du lịch
2.1.2.6 Thực trạng môi trường
- Về chất lượng môi trường: Do còn giữ được tỷ lệ che phủ rừng khá
cao (86,3%) và chưa có cơ sở sản xuất công nghiệp gây ô nhiễm, cùng với
nhiều cố gắng của địa phương, nên nhìn chung môi trường ở Lạc Dương được bảo vệ khá tốt
- Thoát nước bẩn: Do đặc điểm về địa hình nên việc xây dựng hệ thống thoát nước bẩn gặp nhiều khó khăn Hiện tại trên địa bàn huyện chưa có hệ thống thoát nước bẩn, khu vực thị trấn Lạc Dương và các khu trung tâm cụm
xã đã có quy hoạch nhưng chưa xây dựng
- Quản lý, xử lý chất thải rắn: Đối với thị trấn Lạc Dương việc thu gom
xử lý rác thải, chất thải rắn được thực hiện tốt theo mô hình cộng đồng dân cư thu gom và trung tâm khai thác công trình công cộng chuyển về bãi rác thành phố Đạ Lạt để xử lý; rác thải trong các khu du lịch được thu gom và xử lý tại
Trang 33chỗ; các hộ gia đình trong khu vực thị trấn và trung tâm các xã đều sinh hoạt
có công trình hợp vệ sinh
- Nghĩa trang, nghĩa địa: Tất cả các xã, thị trấn đều có nghĩa địa nhưng chưa đạt yêu cầu về tiếu chí môi trường, một số khu vực vùng đồng bào dân tộc còn chôn cất theo phòng tục, tập quán của địa phương Bên cạnh đó, nhiều nghĩa trang, nghĩa địa nằm gần khu dân cư nên chưa đảm bảo được vệ sinh
Do vậy, trong những năm tới cần quy hoạch sắp xếp lai để đảm bảo đạt chuẩn theo quy định
2.1.2.7 Tình hình cơ sở hạ tầng
a Giao thông
Giao thông trên địa bàn Lạc Dương là giao thông đường bộ, mạng lưới
giao thông đường bộ huyện Lạc Dương gồm có quốc lộ (đường Trường Sơn Đồng) tỉnh lộ, huyện lộ, đường thị trấn Lạc Dương, giao thông nông thôn (đường xã, thôn, giao thông nội đồng) Hiện nay hệ thống giao thông nông
thôn trên địa bàn huyện được đầu tư nâng cấp mạnh mẽ Đường trục chính đã được bê tông, đổ nhựa thuận lợi cho sinh hoạt của người dân
b Thuỷ lợi
Hiện nay trên địa bàn huyện có 1 công trình hồ chứa là hồ số 7 tại TT Lạc Dương và nhiều đập dâng nhỏ, tổng diện tích được tưới từ các công trình thuỷ lợi trên địa bàn khoảng 200 ha
c Hiện trạng cấp nước sinh hoạt
Theo báo cáo Tổng hợp thông tin cấp nước hộ gia đình từ phòng Nông nghiệp và PTNT huyện cho thấy, nước sinh hoạt trên địa bàn được cấp từ các
nguồn là nước sông, suối, nước giếng (khoan, đào), nước mưa (lu, bể chứa), nước máy (cấp nước tập trung)
d Điện
Tính đến cuối năm 2011, toàn huyện có 100% xã đã có điện lưới quốc
Trang 34gia, 97% số thôn và 95% số hộ sử dụng điện, cao hơn nhiều so với thời điểm
2005 (90% số thôn và 85% số hộ sử dụng điện) Việc phủ lưới điện trên khắp
địa bàn huyện đã tạo điều kiện nâng cao đời sống của người dân địa phương, nhiều hộ đã sử dụng điện để phục vụ sản xuất như chiếu sáng cho hoa, bơm tưới vườn, chế biến nông lâm sản,
e Bưu chính viễn thông
Toàn huyện đã được phủ lưới điện thoại hữu tuyến và sóng di động Hiện tại trên địa bàn có một bưu điện trung tâm huyện và 4/5 xã có bưu điện văn hoá xã, tổng số có 2.590 thuê bao trả sau trong đó có 2318 điện thoại cố định và 272 điện thoại di động, số máy điện thoại bình quân trên 100 dân là
13 máy tăng 8 máy so với năm 2005 (chưa tính điện thoại di động trả trước)
Thông qua hệ thống điện thoại hữu tuyến mạng lưới internets cũng được cung cấp đến tận xã tạo điều kiện cho người dân tiếp cận thông tin phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
f Hệ thống các cơ sở dịch vụ thương mại
Hoạt động thương mại dịch vụ ở Lạc Dương từ sau khi có chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã có bước phát triển Tuy nhiên hệ thống hạ tầng còn thiếu và chưa thực sự đáp ứng đầy đủ nhu cầu của địa phương Tính đến nay, toàn huyện chỉ có 1 chợ tại thị trấn Lac Dương mới được xây dựng và đưa vào hoạt động trong năm 2011 với tiêu chí chợ hạng II , các xã còn lại chưa có chợ, hoạt động trao đổi hàng hoá, nhu yếu phẩm chủ yếu thông qua tư thương
và các cơ sở tạp hoá của tư nhân, chất lượng dịch vụ còn nhiều hạn chế
2.1.2.8 Tình hình dân số và lao động của huyện
a Đặc điểm dân số, dân tộc và phân bố dân cư
- Dân số: Dân số trung bình năm 2011 là 4.456 hộ trên 20.905 khẩu Tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên là 1,6% Mật độ dân số bình quân 15,96 người/km2
- Dân tộc: Toàn huyện có 20 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó
Trang 35đồng bào Cil, K’ho chiếm 77,45%; người kinh chiếm 21,75%; các dân tộc còn lại chiếm 0,8%
- Phân bố dân cư: Hiện nay ở hầu hết các xã dân cư đã sống tập trung thành các khu, điểm dân cư lớn, trên các trục đường giao thông, gần khu sản xuất, nguồn nước nên việc phục vụ các nhu cầu về điện, nước, y tế, giáo dục
và chỉ đạo sản xuất tương đối thuận lợi Tuy nhiên, dân cư phân bố không đều giữa các xã, dân cư tập trung chủ yếu ở thị trấn Lạc Dương với mật độ 139 người/km2; xã Lát (17 người/km 2 ), Đạ Sar (16 người/km 2 ), Đạ Nhim (15 người /km 2 ), xã Đưng Knớ (8 người/km 2 ) và Đạ Chais mật độ rất thấp (4
chiếm 87,76% nên nếu xét chỉ tiêu mật độ dân số so với diện tích đất phi nông nghiệp thì mật độ đạt 1263 người/km2
b Thực trạng lao động
* Nguồn lao động
Theo số liệu thống kê năm 2010 số người trong độ tuổi lao động là 11.753 người, chiếm 58,6%, trong đó lao động số người có khả năng lao động là 11.643 người chiếm 99,1% số người trong độ tuổi và 52,9% số người trong độ tuổi lao động Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 10.603 người, chiếm 52,89% dân số toàn huyện và 91,07% lao động trong độ tuổi có khả năng lao động
* Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế
- Tổng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 10.603 người, trong đó:
+ Lao động nông lâm nghiệp có 9.648 người, chiếm 91% (giảm 3,9%
so với năm 2005)
+ Lao động công nghiệp - TTCN, xây dựng có 127 người, chiếm 1,2%
(tăng 1% so với năm 2005)
Trang 36+ Lao động thương mại, dịch vụ, quản lý nhà nước-xã hội có 828
người, chiếm 7,8% (tăng 3,8% so với năm 2005)
* Chất lượng lao động
Tỷ lệ lao động được qua đào tạo (đào tạo, tập huấn) chiếm 18%, trong
đó đào tạo nghề trên 15% tổng lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế Lao động qua đào tạo chủ yếu thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước, giáo dục, y tế
và doanh nghiệp Chất lượng nguồn lao động với tỷ trọng trên 82% số lao động
là lao động phổ thông chưa qua đào tạo và chủ yếu lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp, thuỷ sản; thiếu nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật ở các ngành kinh tế quốc dân và các cơ sở sản xuất quan trọng đồng thời phân bố không đồng đều trên địa bàn huyện
c Thu nhập, đời sống dân cư
Theo kết quả đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm
2010 và điều tra nông nghiệp nông thôn cho thấy thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt gần 11 triệu đồng; trong đó: khu vực nông thôn là 8 triệu đồng, khu vực thành thị 15 triệu đồng, thu nhập của hộ nông nghiệp là 8 triệu đồng/người, hộ làm công nghiệp – xây dựng 12 triệu đồng, hộ thương nghiệp - dịch vụ 15 triệu đồng, các hộ thuộc khu vực cán bộ công chức đạt 16-17 triệu đồng/người/năm Các hộ có thu nhập khá tập trung vào những hộ trang trại, thương nghiệp, dịch vụ, và một số hộ có ngành nghề phát triển Vùng đồng bào dân tộc đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn số hộ nghèo tập trung chủ yếu ở những vùng này
2.1.2.9 Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp, thuỷ sản
Nông - Lâm nghiệp, thuỷ sản là ngành chính của huyện, hiện thu hút khoảng 90,01% lao động xã hội, đóng góp 55,43% trong tổng GDP toàn huyện Giá trị sản xuất năm 2010 theo giá thực tế đạt 226,72 tỷ đồng, tăng gấp 2,64 lần so với năm 2005, tốc đông tăng bình quân 23,27%
Trang 37Biểu 2.2 Thực trạng phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2005-2010
Trang 38( Nguồn; Niên giám thống kê huyện Lạc Dương năm 2005 – 2010)
Cơ cấu giá trị sản xuất trong nội bộ ngành chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, tiếp đến là lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Trong đó: nông nghiệp
chiếm 90,8%, lâm nghiệp và thuỷ sản chỉ chiếm 9,2% (lâm nghiệp 3,9% và thuỷ sản 5,3%) Trong nội bộ ngành sản xuất nông nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi
có chiều hướng gia tăng từ 10% năm 2005 lên 15,3% năm 2010
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát
Sẽ chọn điểm các thôn tại các xã để tổ chức điều tra 100 phiếu về sinh
kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững ở trên địa
Trang 39bàn xã Lát, xã Đạ Sar, xã Đạ Nhim, xã Đạ Cháy, xã Đưng K’nớ huyện Lạc
Các tài liệu về chủ trương chính sách, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ và của UBND tỉnh nhằm chỉ đạo, hướng dẫn về về sinh kế và quản lý rừng bền vững
Các sách, báo, các công trình nghiên cứu đã được công bố, báo cáo tổng kết, các số liệu điều tra về dân số, lao động, đất đai, về hộ nông dân; các tài liệu khác có liên quan về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn với quản lý rừng bền vững
Các tài liệu liên quan đến đề tài từ nguồn Internet, trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho công tác nghiên cứu
- Niên giám thống kê các năm 2011-2013
- Tài liệu quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến 2020 huyện Lạc Dương
- Tài liệu quy hoạch sử dụng đất 2011 – 2020 huyện Lạc Dương
2.2.2.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn khảo sát các điều kiện sinh kế
- Khảo sát thu nhập từ sản xuất, quản lý bảo vệ rừng của hộ đồng bào dân tộc thiểu số
- Khảo sát tình hình phá rừng của hộ đồng bào dân tộc thiểu số
- Nội dung phiếu điều tra, khảo sát (theo mẫu)
Trang 40- Tham khảo ý kiến một số chuyên gia trong lĩnh vực lao động việc làm, quản lý bảo vệ rừng, dân tộc học, các bài viết, bài nghiên cứu liên quan đến quản lý rừng bền vững, đời sống đồng bào dân tộc Tập hợp ý kiến của các phòng ban liên quan nhằm phục vụ cho công việc nghiên cứu, phân tích
2.2.3 Các phương pháp xử lý và phân tích số liệu
- Các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số;
- Các hoạt động quản lý rừng bền vững tác động như thế nào đối vói sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số;
- Những nguồn vốn sinh kế mà đồng bào dân tộc thiểu số được hưởng trong hoạt động bảo vệ rừng;
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mất rừng;
- Mức độ sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số ảnh hưởng như thế nào đến quản lý rừng bền vững
2.2.3.3 Phương pháp phân tích thống kê
Được sử dụng đánh giá mức độ sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn quản lý rừng bền vững thông qua biểu hiện về lượng bởi hệ thống các chỉ tiêu và công cụ phân tích định lượng Trên cơ sở các tài liệu đã được tổng hợp, vận dụng các phương pháp phân tích thống kê như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân, lượng tăng/giảm tuyệt đối, tốc độ tăng/giảm tương đối để phân tích kết quả về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số gắn quản lý rừng bền vững