trường ở bậc tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp nhận và sử dụng đúng, thành thạodấu câu trong việc biểu đạt tri thức, tư tưởng, tình cảm bằng chữ viết.Xuất phát từ những lí do phân tích ở
Trang 1Vai trò của dấu câu trong hoạt động giao tiếp bằng chữ viết rất quan trọng.
Để giao tiếp bằng chữ viết đạt hiệu quả, cả người tạo lập văn bản lẫn ngườitiếp nhận văn bản đều cần nắm vững chức năng, công dụng của dấu câu và sửdụng chúng thành thạo, hướng tới sự tinh tế trong việc tiếp nhận và biểu đạt bằngchữ viết
Trong chương trình dạy học tiếng mẹ đẻ của các nước, việc dạy cách sửdụng dấu câu là một trong những yêu cầu đặt ra rất sớm Mặc dù vậy, học sinhvẫn thường mắc lỗi khi dùng dấu câu Đây cũng là tình trạng chung của nhiềunước trên thế giới Hiện nay nhiều giáo viên tiểu học đã thừa nhận rằng dạy họcdấu câu không dễ Trên thực tế, có rất ít công trình nghiên cứu về việc dạy họcdấu câu và việc trẻ em học cách sử dụng dấu câu như thế nào… nhưng lại có khánhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề dạy đọc, dạy cách đánh vần, dạy viết chữ,dạy cảm thụ thơ văn, tích lũy vốn từ v.v Tuy số lượng các dấu câu không nhiều,nhưng chúng được sử dụng linh hoạt: có dấu thực hiện chỉ một chức năng, códấu đảm nhiệm nhiều chức năng khác nhau, cùng một dấu trong cùng một cấutạo có thể đồng thời mang một số chức năng, hoặc cùng một chức năng có thểdựng nhiều dấu khác nhau…
Với mỗi người, việc sử dụng dấu câu đúng phải trở thành thói quen ngay từkhi tạo lập những văn bản đầu tiên Bậc Tiểu học có vai trò quan trọng trong việchình thành ở học sinh ý thức cũng như khả năng sử dụng đúng dấu câu khi tạolập văn bản từ giản đơn đến phức tạp Ở nước ta, cách sử dụng dấu câu đãđược đưa vào chương trình tiếng Việt ở tất cả các bậc học Song phương phápdạy học dấu câu tiếng Việt chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức, các sáchhướng dẫn giảng dạy chưa thực hiện sự giúp nhiều cho giáo viên dạy học dấucâu có hiệu quả Chính vì vậy mà giáo viên còn lúng túng về phương pháp dạyhọc những bài về dấu câu; Kiến thức về dấu câu của giáo viên cũng hạn chế, vìthế mà một số giáo viên còn thiếu tự tin khi sử dụng dấu câu … Tuỳ vào kinhnghiệm cá nhân, mỗi giáo viên có cách dạy học dấu câu khác nhau nhưng thườngchưa khái quát hoá thành những “ biện pháp” hay “ quy trình” rõ ràng Bài học vềdấu câu chưa gây được hứng thú học tập ở học sinh và bản thân các em cũngkhông coi đây là nội dung kiến thức quan trọng Thực tế này đã đặt ra yêu cầu tìmgiải pháp khắc phục những hạn chế về phương pháp dạy học dấu câu trong nhà
Trang 2trường ở bậc tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp nhận và sử dụng đúng, thành thạodấu câu trong việc biểu đạt tri thức, tư tưởng, tình cảm bằng chữ viết.
Xuất phát từ những lí do phân tích ở trên, bản thân tôi đã mạnh dạnnghiên cứu về “ Dạy dấu câu tiếng Việt cho học sinh các lớp 1,2,3 theo hướngthực hành”, nhằm góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt của học sinhtiểu học nói chung và học sinh khối 1,2,3 nói riêng
Thực tiễn dạy và học dấu câu ở trường Tiểu học
Qua dự giờ Tiếng Việt nhiều lớp ở tiểu học, tôi nhận thấy các giáo viênchú trọng nhiều đến việc giảng dạy và uốn nắn học sinh về cách dùng từ, đặtcâu, về việc phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu, về cách diễn đạt, cách xâydựng nội dung bài viết… nhìn chung, các giờ dạy về dấu câu chưa gây đượchứng thú học tập ở học sinh Đối với giờ học nhận biết chức năng dấu câu, chủyếu giáo viên giúp học sinh nhận biết những quy tắc, công dụng, chức năng củadấu câu bằng phương pháp thuyết giảng, rồi yêu cầu học sinh nêu ( đọc lại) cácquy tắc, công dụng của dấu câu ở phần ghi nhớ Các giờ học khác của bộ môntiếng việt hầu như không đề cập gì đến dấu câu Thời gian dành cho việc luyện tập,thực hành dấu câu rất hạn hẹp, khó có thể khắc sâu kiến thức, kĩ năng sử dụng dấu câu
ở học sinh
Sách hướng dẫn giáo viên dạy, sách giáo khoa của học sinh hiện nay đã cónhiều điểm đổi mới so với sách cải cách giáo dục, tuy nhiên phần dạy học về dấu câuvẫn là điều băn khoăn của nhiều người dạy Các ý kiến tập trung về mấy vấn đề sau:
- Ngay từ lớp 1 học sinh chưa được học về dấu câu nhưng trong sách giáo khoa
đã xuất hiện hầu hết các loại dấu câu tiếng Việt (Sách Tiếng Việt 1, tập 1 đã sử dụngdấu phẩy, dấu chấm, dấu chấm hỏi, dấu ngoặc đơn; Tập 2 xuất hiện thêm dấu chấmcảm, dấu chấm lửng, dấu 2 chấm, dấu gạch ngang, dấu ngoặc kép)
- Trong sách Tiếng Việt 1,2,3 dấu câu được dạy thông qua hệ thống bài tập,phần hướng dẫn dạy học, dấu câu chủ yếu nêu lời giải cho các bài tập ở sách giáo khoa
mà không có hướng dẫn cụ thể cho giáo viên về cách hướng dẫn học sinh làm bài tậpcũng như cách giảng giải cho học sinh nhận biết chức năng, công dụng của dấu câuđược học Vì vậy, giáo viên và học sinh có phần lúng túng trước cách dạy và cách họccác bài tập về dấu câu đưa ra ở sách giáo khoa hiện nay
- Nhận thức được tầm quan trọng của việc dạy học dấu câu nói riêng và dạy họctiếng Việt nói chung, trong những năm gần đây Bộ giáo dục và đào tạo đã liên tục đưa
ra nhiều biện pháp khác nhau nhằm cải thiện chất lượng dạy và học Các biện pháp đó
là đổi mới sách giáo khoa; Tập huấn chuyên đề theo định kì về đổi mới phương phápdạy và học, về sử dụng sách giáo khoa mới Tuy nhiên, trong cách dạy của giáo viên,phương pháp dạy học dấu câu vẫn chủ yếu củng cố các hoạt động của thầy như: Giảnggiải, đàm thoại, làm mẫu Giáo viên hoặc chưa nhận thức được, hoặc chưa nhận thứcđúng về vai trò quan trọng của kĩ năng sử dụng dấu câu nên chỉ dạy lướt qua Chưavận dụng sáng tạo được các phương pháp dạy học mới một cách thường xuyên, chưa
có biện pháp hữu hiệu nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh nên thực
Trang 3tế giờ dạy vẫn là thầy diễn giảng, áp đặt cách hiểu bài của mình cho trò; Trò thừa nhận
ý kiến của thầy, nhắc lại lời của thầy
Qua trao đổi trực tiếp một số giáo viên, tôi thấy khó khăn lớn nhất đối với giáoviên trong quá trình dạy học dấu câu nói riêng và quá trình dạy học tiếng việt nóichung là việc vận dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, sự phối hợp cácphương pháp dạy học chưa nhuần nhuyễn, chưa phù hợp với mục tiêu bài học Trongkhi đó một số giáo viên lại chú trọng vào việc cung cấp kiến thức yêu cầu học sinh họcthuộc mà quên mất rằng cần chú trọng việc hình thành cho học sinh phương pháp họctập, rèn luyện các kĩ năng Phần lớn giáo viên khi lên lớp thường sử dụng phươngpháp giảng giải, một số giáo viên trực tiếp đưa ra các chức năng, công dụng của dấucâu, yêu cầu học sinh phải thừa nhận
Một số giáo viên có tâm huyết đã đầu tư công sức, thời gian cho bài dạy, vậndung các phương pháp dạy học tích cực nhằm tổ chức cho học sinh hoạt động
( Giao tiếp, thảo luận) Nhằm phát huy tính tích cực hoạt động học của học sinh, tuynhiên trình tự còn lộn xộn, giáo viên phối hợp các phương pháp dạy học chưa nhuầnnhuyễn, học sinh chưa có thói quen học tập, làm việc một cách độc lập nên hiệu quảthực sự chưa cao Do bị ảnh của chương trình cải cách giáo dục - nặng về ngữ phápcấu trúc, ít chú ý đến nội dung thông báo Vì vậy, giáo viên thường xét câu một cách
cô lập, tách rời, không đặt trong hoàn cảnh giao tiếp, trong văn bản Cho nên, việc xácđịnh đích giao tiếp trong những câu dùng theo lối gián tiếp còn nhiều hạn chế
Điều tra kết quả sử dụng dấu câu của học sinh
Sau khi dự giờ để nắm được thực trạng dạy học trên lớp, tôi đã tiến hành điềutra kết quả học tập của học sinh Tôi chọn đối tượng học sinh lớp 3A của trường tôi đểkhảo sát chất lượng
- Lần 1: Phát phiếu ghi đề bài và cho học sinh làm để kiểm tra kiến thức về dấu câu
của các em
Đề bài: Hãy kể về gia đình em với một người bạn em mới quen
Kết quả thu được:
Số em sử dụng đúng dấu câu: 7/ 31 học sinh Chiếm 22, 5 %
Số em sử dụng thiếu dấu câu: 13/ 31 học sinh Chiếm 41,9 %
Số em sử dụng sai dấu câu: 11/ 31 học sinh Chiếm 35,6 %
- Lần 2: Điều tra năng lực sử dụng dấu câu của học sinh qua việc thực hành
Đề bài: 1 Kể lại buổi đầu em đi học
2.Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn ngắn( từ 5 đến 7 câu)
Kết quả thu được:
Số em sử dụng đúng dấu câu: 8/31 Học sinh Chiếm 25,8%
Số em sử dụng thiếu dấu câu: 13/31 Học sinh Chiếm 41,9%
Số sử dụng sai dấu câu: 10/31 Học sinh Chiếm 32,3%
Trang 4Qua hai lần khảo sát việc sử dụng dấu câu của học sinh , tôi đã tổng hợp chung
về việc sử dụng dấu câu của học sinh lớp 3A như sau:
- Không sử dụng dấu câu: Hiện tượng học sinh không sử dụng dấu câu nào trong toàn
bộ bài viết không ít Điều này chứng tỏ học sinh chỉ quan tâm đến nội dung bài viết
mà không nhận thức rõ tầm quan trọng của dấu câu Các em không hề để tâm đến yêucầu sử dụng dấu câu trong bài viết Điều đó cũng cho thấy người dạy đã không chú ýsửa lỗi về dấu câu cho học sinh, khiến việc không dùng dấu câu khi tạo lập văn bản đãtrở thành thói quen ở các em
- Sử dụng dấu câu tuỳ tiện, nhiều sai sót: Hiện tượng học sinh thiếu ý thức trong việc
sử dụng dấu câu dẫn đến sai sót về dấu câu trong bài viết cũng khá phổ biến Đó lànhững trường hợp bài viết của các em sử dụng thiếu dấu hoặc thừa dấu câu Nhiều bàilàm của học sinh chỉ sử dụng dấu kết thúc câu mà không sử dụng các loại dấu câukhác, khiến cho các ý diễn đạt kém mạch lạc Ngược lại, có những trường hợp, đã sửdụng từ ngữ liên kết các thành phần câu nhưng các em vẫn đánh dấu câu trước hoặcsau các từ nối đó Đặc biệt, trong các bài viết của các em còn có hiện tượng sử dụngdấu câu mang tính ngẫu hứng, không theo quy tắc nào và không đúng với chức năngcủa chúng Các hiện tượng sử dụng dấu câu có nhiều sai sót nêu trên cho thấy học sinh
đã có ý thức phải sử dụng dấu câu khi viết song các em chưa hiểu đúng vai trò, chứcnăng, công dụng của dấu câu nên đã mắc lỗi
- Sử dụng dấu câu đơn điệu: Hiện tượng bài viết của học sinh chỉ sử dụng hai loạidấu( dấu chấm, dấu phẩy) rất phổ biến
Tình hình dạy học nêu trên đây càng cho thấy rõ hơn nhiệm vụ trọng tâm và nhữngyêu cầu đói với việc dạy học dấu câu ở tiểu học cũng như sự cần thiết phải có biệnpháp hỗ trợ việc dạy học dấu câu cho giáo viên và học sinh tiểu học nhằm từng bướcnâng cao kết quả dạy và học dấu trong thời gian tới
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Một số biện pháp, giải pháp dạy dấu câu tiếng Việt ở các lớp 1, 2, 3 theo
hướng thực hành.
I Định hướng và những giải pháp chung
Trang 5Để giúp học sinh sử dụng đúng dấu câu thì yếu tố quyết định đầu tiên phải làgiáo viên Trước tiên, giáo viên phải xác định rõ công dụng, chức năng của dấu câu.
Từ đó giúp học sinh sử dụng dấu câu tiếng Việt một cách chính xác và đạt kết quả caonhất
1 Hướng dẫn HS nhận biết chức năng của dấu câu
Trong sách giáo khoa cải cách giáo dục, trước giờ luyện tập về dấu câu là giờhình thành kiến thức về từng loại dấu câu Trong sách giáo khoa hiện nay, ở phân mônLuyện từ và câu lớp 2, 3 không có giờ lí thuyết về dấu câu, học sinh được học dấu câuqua bài tập Tuy nhiên, trong hệ thống bài tập này vẫn có những bài tập giúp học sinhnhận biết cách sử dụng, kĩ thuật sử dụng từng loại dấu câu được học Những loại bàitập này vẫn chứa yếu tố lí thuyết để định hướng Có thể coi đó là dạng bài tập cungcấp kiến thức, hình thành kĩ năng sử dụng dấu câu
Đối với bài học giúp học sinh nhận biết chức năng của dấu câu, cần xác định rõnhững yêu cầu riêng, cụ thể, phù hợp với mỗi loại dấu câu để lựa chọn phương phápdạy học Vì dấu câu liên quan đến mục đích nói, ngữ nghĩa, ngữ điệu, ngữ pháp củacâu, giáo viên cần giúp học sinh nhận biết dấu câu trên các phương diện đó và tạo điềukiện để các em được thực hành, vận dụng nhiều trong các tình huống giao tiếp cụ thể ở
cả dạng nói và dạng viết Qua đó, các em sẽ dần nhận ra chức năng của dấu câu và ghinhớ quy tắc sử dụng
Theo tôi, dựa vào đặc thù của giờ học Tiếng việt, việc dạy học sinh nhận biếtchức năng của dấu câu nên tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Quan sát câu mẫu( nhận biết dấu câu qua ngữ điệu, ngữ pháp )
Bước 2: Phân tích câu mẫu( nhận biết chức năng và cách dùng dấu câu)
Bước 3: Tổng hợp và khái quát hoá( khái quát thành định nghĩa, qui tắc sử dụngdấu câu)
Bước 4: Thực hành, luyện tập (củng cố kiến thức mới về dấu câu)
Bước1: Quan sát câu mẫu
Như tôi đã trình bày ở trên về quan điểm dạy học dấu câu ở các lớp 1, 2, 3 cầntìm được mối liên hệ giữa ngôn ngữ nối và ngôn ngữ viết để dạy dấu câu cho học sinh
ở bước này, giáo viên có thể sử dụng phương pháp thực hành giao tiếp để tạo các tìnhhuống giao tiếp, tận dụng câu mẫu từ lời nói sinh động của các em Qua đó các emđược quan sát ngữ điệu lời nói ứng với dấu câu khi viết lại lời nói đó Các câu mẫu(ngữ liệu) này cần đảm bảo được những yêu cầu cơ bản như tôi đã trình bày
Vì dung lượng của sách giáo khoa có giới hạn nên ngữ liệu đưa ra để nhận diệnchức năng của dấu câu khó có thể bao quát được hết các trường hợp sử dụng mỗi loạidấu câu ứng với chức năng được học Do đó, giáo viên có thể giới thiệu thêm ví dụ đểhướng dẫn các em quan sát, tập suy đoán để nhận ra yếu tố lập lại mang tính bản chấtcủa mỗi loại dấu câu đang là nội dung của bài học Giáo viên nên tạo điều kiện để họcsinh được quan sát mẫu(ở đây là mẫu lời nói) Học sinh quan sát trên chức viết đểnhận diện vị trí dấu câu ở trong câu; Đọc thành tiếng câu mẫu để bước đầu nhận diện
Trang 6dấu câu từ phương diện ngữ điệu Không thể phủ nhận vai trò của sự quan sát ngữđiệu trong dậy học dấu câu, bởi trong rất nhiều trường hợp, dấu câu và ngữ điệu có sựtương hợp với nhau Chẳng hạn, cũng một câu văn nhưng nếu điền các dấu khác nhau
sẽ đọc với ngữ điệu khác nhau và mang nội dụng thông báo hoặc nội dung biểu cảmkhác nhau, ví dụ như ba câu dưới đây có cách đọc hoàn toàn khác nhau:
Nam đội mũ vào đi kẻo lạnh.
Nam, đội mũ vào đi kẻo lạnh.
Nam! đội mũ vào đi kẻo lạnh.
Đối với những trường hợp nêu trên, việc quan sát ngữ điệu đóng vai trò rất quantrọng để nhận biết nội dung lời nói, thông qua đó nhận diện chức năng của dấu câu.Đặc biệt, với người bản ngữ, ngay cả khi đọc thầm văn bản, ngữ điệu của lời văn vẫn
có thể vang lên trong tâm chí của người đọc, tạo nên sức biểu đạt, sức truyền cảm chovăn bản
Khi đọc câu mẫu biểu thị ngữ điệu mà dấu câu quy định, giáo viên có thể đọcmẫu, song tốt hơn nên yêu cầu học sinh tự tìm cách đọc và biết cách lí giải về cách đọccủa mình Đó cũng là cách giúp học sinh học tập và ghi nhớ chức năng, công dụng củadấu câu rất hữu hiệu Theo đó, giáo viên có thể tạo điều kiện để học sinh học tập tíchcực, đồng thời cũng tạo cơ hội để học sinh vận dụng vốn hiểu biết về văn viết và kinhnghiệm giao tiếp bằng ngôn ngữ nói của mình vào việc chiếm lĩnh nội dung bài học
Bước 2: Phân tích câu mẫu
Sau khi quan sát và chỉ ra đặc điểm ngữ điệu của câu và vị trí dấu câu, giáo viêncho học sinh phân tích câu mẫu trên các phương diện mà nó liên quan hoặc thể hiện,
đó là: mục đích nói, nội dung, ngữ điệu, ngữ pháp của câu để nhận ra tác dụng củadấu câu được học Đây là bước giáo viên có thể vận dụng phương pháp phân tích ngônngữ trong dạy học tiếng Việt để dạy dấu câu
Ở bước này, giáo viên cần lưu ý, không nên chỉ từ một mẫu câu, một ví dụ đãđược yêu cầu học sinh khái quát, phát biểu về chức năng, công dụng của một dấu câunào đó Với mỗi chức năng của một loại dấu câu, cần học sinh quan sát một ví dụ đủ
để các em có thể so sánh, đối chiếu, từ đó nhận ra tính lặp lại của một hiện tượng nào
đó gắn với sự xuất hiện của dấu câu mà bài học có nhiệm vụ cung cấp Đó chính là cơ
sở để các em có thể khái quát hoá thành quy tắc sử dụng loại dấu câu được học Cách
ra bài tập trong sách giáo khoa Tiếng việt 3 nêu dưới đây, chúng tôi cho là hợp lí:
Chép các câu sau vào vở, thêm dấu phẩy vào chỗ thích hợp:
a) Ông em bố em và chú em đều là thợ mỏ.
b) Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan trò giỏi
c) Nhiệm vụ của đội viên là thực hiện năm điều Bác Hồ dạy tuân theo điều lệ Đội và giữ gìn danh dự Đội
(Tiếng việt 3, tập 1, Tr 51)
Sự lặp lại hợp lí của một hiện tượng sử dụng dấu câu nào đó (như ví dụ nêutrên) có khả năng giúp học sinh ghi nhớ lâu cách dùng Bên cạnh giúp học sinh nhận
Trang 7ra tính lặp lại nào đó của hiện tượng sử dụng dấu câu, cũng cần có những câu hỏi hoặcbài tập giúp học sinh biết loại trừ những hiện tượng dễ nhầm lẫn Ví dụ, khi dạy vềdấu chấm hỏi, giáo viên nên đưa thêm bài tập giúp học sinh phân biệt được sự khácnhau của hai câu dưới đây về mục đích nói:
Hãy so sánh sự khác nhau về nội dung dưới đây và cách sử dụng dấu câu của mỗi câu:
-Chị ơi, chị biết nhà bác Hùng ở đâu không ạ?
-Chị làm ơn chỉ giúp em nhà bác Hùng ở đâu ạ.
Cần lưu ý, ở bước này, học sinh không chỉ nhận diện được vị trí xuất hiện củadấu trong câu mà còn nhận biết rõ ý nghĩa, tác dụng của dấu câu trong việc truyền đạtnội dung thông tin và nội dung biểu cảm của lời nói Học sinh phải nhận biết từ hiệntượng đến bản chất của việc sử dụng dấu câu trong văn bản
Bước 3: Tổng hợp và khái quát hoá
Đây là bước giáo viên giúp học sinh tổng kết và khái quát thành định nghĩa, quytắc sử dụng dấu câu Trước tiên, giáo viên cần dành cho học sinh một khoảng thời giannhìn lại các ví dụ đã phân tích trước đó dể dối chiếu, so sánh, hệ thống hoá, rút ra nhậnxét hoặc kết luận về cách sử dụng dấu câu và nêu thành quy tắc sử dụng Qua đó, rènluyện cho các em khả năng quy nạp vấn đề, năng lực nắm bắt bản chất của các sự vật,hiện tượng, phát triển tư duy logic Để thực hiện tốt bước này, giáo viên cần có câu hỏidẫn dắt, gợi mở để học sinh tự phát hiện và tự khái quát Học sinh chỉ có thể thực hiệntốt bước này khi đã nắm rõ tính quy luật của việc sử dụng dấu câu trên cơ sở nhận biếtviệc lặp lại nào đó từ các trường hợp sử dụng dấu câu cụ thể
Bước 4: Luyện tập, thực hành
Ở bước này, giáo viên tiếp tục giao việc, hướng dẫn học sinh vận dụng nhữngkiến thức, kĩ năng mới lĩnh hội được vào giải quyết các bài tập thực hành Với mỗi bàitập, giáo viên cần giúp học sinh xác định đúng yêu cầu của bài tập, suy nghĩ, so sánhvới những trường hợp dấu câu đã biết, đã học để nhận xét và đi đến lựa chọn hướnggiải quyết bài tập Nhờ vậy, từ một ít kiến thức và kinh nghiệm ban đầu, học sinh sẽ tự
mở rộng kiến thức và tạo được những cơ hội rèn kĩ năng sử dụng dấu câu cho mình
Bên cạch các bài tập ở sách giáo khoa, cần thiết kế riêng hệ thống bài tập bổ trợcho việc dạy và học từng loại dấu câu có thể sử dụng trong phần luyện tập, thực hànhcuối giờ học Trong đó, các bài học cần được sắp xếp từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp, ứng với từng lớp để học sinh có cơ hội luyện kĩ năng sử dụng dấu câu mộtcách có hệ thống
2 Tổ chức cho HS thực hành sử dụng dấu câu
Người giáo viên vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và điềukhiển quá trình tư duy của học sinh thông qua việc làm mẫu, nêu câu hỏi, gợi ý Câuhỏi hoặc gợi ý của giáo viên cần được diễn đạt dễ hiểu Các câu hỏi nên phân thànhnhững mức độ yêu cầu khác nhau, để mọi đối tượng học sinh( Trung bình, khá,giỏi ) trong lớp đều được tham gia trả lời Giáo viên cần giúp học sinh biết các kết
Trang 8nối kiến thức cũ - mới khi cần thiết và định thời gian cho mỗi câu hỏi và điểm dừnggiữa các câu hỏi sao cho vừa sức với các em Hệ thống câu hỏi đặt ra theo hướng yêucầu nhận thức ngày càng nâng cao dần Đặc biệt đối với việc đặt dấu câu, nên chútrọng sử dụng hiệu quả các câu hỏi viết Trong giờ học, việc sử dụng câu trả lời củahọc sinh theo các tích cực (cả câu trả lời chưa đúng) là điều giáo viên phải hết sứcquan tâm.
Trong quá trình dạy thực hành, luyện tập, giáo viên cần dành thời gian thíchđáng cho học sinh suy nghĩ, thảo luận theo cặp, sau đó chia sẻ suy nghĩ với cả nhóm.Cách tổ chức hoạt động học tập này giúp học sinh biết hợp tác trong suy nghĩ và hànhđộng để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao
Bài luyện tập, thực hành dấu câu là cơ hội để học sinh rèn luyện một cách chủđộng kỹ năng sử dụng dấu câu Qua hệ thống bài tập thực hành, học sinh được đặt vàonhững tình huống buộc phải bộc lộ kiến thức và kỹ năng sử dụng dấu câu Để giúpgiáo viên thực hiện có hiệu quả giờ dạy thực hành về dấu câu, theo tôi cần xây dựngquy trình chung đối với giờ dạy thực hành về dấu câu theo các bước:
Bước 1: Nhận biết yêu cầu của bài tập (xác định nhiệm vụ)
Bước 2: Xác định phương hướng làm bài (Huy động kiến thức, kỹ năng đã biết) Bước 3: Giải bài tập( xác định các bước và các cách làm)
Bước 4: Nêu tác dụng của bài tập( Củng cố kiến thức, rèn kỹ năng)
Bước 1: Nhận biết yêu cầu của bài tập
Đây là bước giáo viên giúp học sinh hiểu yêu cầu của bài tập Với học sinh tiểuhọc, việc hiểu yêu cầu, nhiệm vụ bài tập không phải là đơn giản Giáo viên nên để chocác em đọc toàn bộ bài tập, suy nghĩ và xác định nhiệm vụ mà bài tập yêu cầu Hiểu
và xác định đúng yêu cầu của bài tập là một bước giúp trẻ tự tin hơn và có ý thức vềnhiệm vụ cần hoàn thành Ví dụ, học sinh phải làm bài tập sau:
Hãy đưa ra các cách đặt dấu câu cho câu dưới đây, để tạo ra các thông tin khác nhau:
Bò cày không được thịt.
( Tiếng Việt 5, tập 2, trang 133)
Đây là dạng bài từ một câu văn cho trước, học sinh thi tìm nhanh các phương
án chấm câu khác nhau( dung các dấu câu khác nhau) sẽ đưa lại những nội dung khácnhau( nội dung thông tin, nội dung biểu cảm ) Với bài tập trên, học sinh có thể cónhững cách chấm câu như sau:
+ Bò cày, không được thịt!
Đây là câu mệnh lệnh, ý muốn nói: Bò dùng để cày ruộng, không được đemgiết thịt!
+ Bò cày không được, thịt.
Đây là câu kể( nêu nhận xét): Bò dùng để cày ruộng thường gày, mổ ra được ítthịt
Trang 9Để hướng dẫn học sinh giải bài tập, giáo viên cần có biện pháp xác định xemcác em có hiểu đúng yêu cầu của bài tập hay không bằng cách nêu câu hỏi để học sinhsuy nghĩ, trả lời.
Ví dụ: - Bài tập này có gì đặc biệt?
( Học sinh cần nêu: Đây là dạng bài cùng một câu văn nhưng có thể hiểu nhiềucách khác nhau, tuỳ thuộc vào việc ngắt hơi khi nói và cách sử dụng dấu câu khi viết.)
Bước nhận biết yêu cầu của bài tập chính là bước học sinh phải xác định đượcnhiệm vụ bài tập yêu cầu Bước này đòi hỏi học sinh phải rèn luyện khả năng tư duy kháiquát, óc phán đoán nhanh nhạy Làm tốt bước này, các bước tiếp theo mới đúng hướng
Bước 2: Xác định phương hướng làm bài tập
Thông thường, ở bước này, giáo viên yêu cầu học sinh tự suy nghĩ làm bài.Cách dạy này, theo chúng tôi khó đưa lại hiệu quả như mong muốn, đặc biệt đối vớiđối tượng học sinh đại trà Bởi các em sẽ lúng túng không biết suy nghĩ cái gì hoặcphải "làm mò", nặng về cảm tính và kinh nghiệm chủ quan, khả năng khái quát khôngđược rèn tập Để khắc phục việc này, theo tôi thì người giáo viên nên nêu ra các câuhỏi nhỏ để gợi ý, định hướng các tư duy cho học sinh Với bài tập nêu trên, giáo viên
có thể nêu yêu cầu hoặc câu hỏi cho học sinh suy nghĩ:
- Em hãy tìm những cách đọc (Cách ngắt hơi, ngữ điệu) khác nhau( Cho câuvăn trên), sao cho câu văn vẫn có nghĩa (có thể nội dung thông báo của câu trong mỗicách ngắt câu - tương ứng với mỗi cách sử dụng dấu câu - không giống nhau) Theo
em, nên đặt câu như thế nào để làm rõ nghĩa và rõ ngữ điệu của mỗi cách đọc mà em
đã tìm ra
Hoặc: Em hãy đặt dấu câu nào, ở vị trí nào cho câu văn trên để tạo ra nhữngnội dung thông báo khác nhau?
Có thể giáo viên đưa thêm những dạng bài tương tự giúp học sinh nhận ra vấn
đề cần giải quyết ở dạng bài này là gì Đó cũng là một các gợi ý về cách làm, cách giảibài tập rất hữu hiệu
Với yêu cầu của bước này, những câu hỏi, những gợi ý, dẫn dắt như vậy,giáo viên có thể định hướng, cách suy nghĩ, cách giải quyết bài tập sử dụng dấu câutrong các trường hợp cụ thể cho học sinh
Bước 3: Làm bài tập
Từ bước xác định phương hướng đến bước giải bài tập cũng còn một khoảngcách đòi hỏi học sinh phải nỗ lực huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm sử dụngngôn ngữ của mình Với đối tượng học sinh khá giỏi, ở bước này, giáo viên có thể gợi
ý cách giải bài bằng việc đưa ra một bài tập khác như sau:
Hãy khoanh tròn vào chữ cái trước câu sử dụng sai dấu câu.
A Trên nương, mỗi người một việc Người lớn thì đánh trâu ra cày Các bà mẹ cúi lom khom tra ngô Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá Mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm
B Trên nương mỗi người một việc, người lớn thì đánh trâu ra cày Các bà mẹ cúi lom khom tra ngô, các cụ già nhặt cỏ đốt lá Mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm
Trang 10C Trên nương mỗi người một việc Người lớn thì đánh trâu ra cày, các bà mẹ cúi lom khom tra ngô Các cụ già nhặt cỏ đốt lá, mấy chú bé đi bắc bếp thổi cơm.
( Tiếng việt 3, tập 1, tr 80)
Hoặc: Dấu phẩy đặt ở vị trí nào trong câu dưới đây là đúng?
A Tiếng mưa êm sợi, mưa đều như dệt.
B Tiếng mưa êm, sợi mưa đều như dệt.
C Tiếng mưa êm sợi mưa, đều như dệt.
C Tiếng mưa êm sợi mưa đều, như dệt.
Đưa ra những bài tập như vậy, giáo viên đã gợi ý cho học sinh cách làm bàitheo hướng đặt ra những giả thiết, những phương án sử dụng dấu chấm câu khác nhaucho cùng một câu văn Trên cơ sở đối chiếu các cách sử dụng dấu câu khác nhau, các
em biết các cách sử dụng dấu câu chính xác và linh hoạt
Bước 4: Nêu tác dụng của bài tập trong việc củng cố, mở rộng, nâng cao
kiến thức và kỹ năng sử dụng dấu câu
Đây là bước quan trọng giúp học sinh tích luỹ vốn kinh nghiệm, khắc sâuphương pháp tư duy thông qua việc giải quyết những nhiệm vụ cụ thể của từng bài tập.Nếu bỏ qua bước này, các em sẽ không có ý thức thu lượm những kiến thức cơ bản, cốtlõi mà mỗi bài tập hướng đến Do vậy, ở bước này, giáo viên nên giúp trẻ nhìn lại toàn
bộ quá trình giải bài tập của mình để rút ra những bài học cần thiết về phương pháp giảibài tập, kiến thức về công dụng, chức năng của dấu câu, về khả năng sử dụng dấu câulinh hoạt, sáng tạo, v.v Có như vậy, các em mới có thể chủ động khi gặp lại nhữngtrường hợp sử dụng dấu câu đa dạng trong mọi loại hình văn bản mà em thường gặp
Dạy thực hành dấu câu theo các bước nêu trên sẽ giúp học sinh thực sự thamgia vào hoạt động học tập tích cực Các kiến thức kỹ năng sử dụng dấu câu được hìnhthành ở học sinh một cách chắc chắn, hợp quy luật nhận thức và khả năng nhận thứccủa học sinh
Bên cạnh các bài tập dành cho mục tiêu luyện tập, thực hành sử dụng dấu câu
đã có sách giáo khoa, cũng cần xây dựng hệ thống bài tập về dấu câu đảm bảo tínhkhoa học, tính sư phạm giúp giáo viên chủ động trong các giờ dạy thực hành ở nhữngđối tượng học sinh khác nhau, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy học dấu câutrong nhà trường Hiểu được dụng ý của của mỗi loại, dạng bài tập về dấu câu là rấtquan trọng đối với giáo viên để từ đó có kế hoạch , biện pháp thích hợp giúp học sinhhọc tập rèn luyện kỹ năng sử dụng dấu câu đạt hiệu quả Rèn luyện kỹ năng sử dụngdấu câu thông qua hệ thống bài tập là cách thức, biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệuquả dạy học dấu câu
3 Xây dựng hệ thống bài tập dấu câu
Để nâng cao chất lượng dạy học dấu câu, bên cạnh các bài học trong sách giáokhoa, cần xây dựng hệ thống bài tập dấu câu để học sinh có thể thực hiện rèn luyện kỹnăng dùng dấu câu của mình, thông qua đó các em có thể tự đánh giá kết quả học tập