TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP TRẦN DUY THƯƠNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG TÂM DỰ TRỮ VẬT TƯ THÚ Y VÀ BẢO VỆ THỰC VẬT LÂM ĐỒNG LUẬN VĂN THẠC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN DUY THƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG TÂM DỰ TRỮ VẬT TƯ THÚ Y VÀ BẢO VỆ THỰC VẬT LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
TRẦN DUY THƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP CỦA TRUNG TÂM DỰ TRỮ VẬT TƯ THÚ Y VÀ BẢO VỆ THỰC VẬT LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN:
PGS.TS CHU TIẾN QUANG
Đồng Nai, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận
văn là trung thực được thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Lâm Đồng, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Duy Thương
Trang 4Ban Giám hiệu, phòng sau Đại học, thầy cô giáo khoa Kinh tế nông nghiệp trường Đại học Lâm Nghiệp (cơ sở II) thị trấn Trảng Bom, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Lãnh đạo Sở Nông nghiệp, Chi cục bảo vệ thực vật Lâm Đồng, Trung tâm Dự trữ Vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng, các Đại lý,
Hộ nông dân đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thu thập các số liệu nghiên cứu
Bạn bè đồng nghiệp trong và ngoài cơ quan
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục hình và sơ sồ xi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3
5 Các nội dung chính của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DỰ TRỮ, CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp do Nhà nước giao và thực hiện 5
1.1.1 Khái niệm, bản chất và nội dung của hiệu quả 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của vật tư nông nghiệp hoạt động dữ trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp 5
1.1.2.1 Khái niệm về vật tư nông nghiệp 5
1.1.2.2 Đặc điểm của vật tư và hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp 5
1.1.2.3 Phân loại vật tư nông nghiệp 6
1.1.2.4 Đặc điểm của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp 7
1.1.3 Hiệu quả hoạt động dữ trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp 7
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp 9
1.1.4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài Nhà cung ứng (ngoại sinh) 9
1.1.4.2 Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong Nhà cung ứng (nội sinh) 11
Trang 61.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả trong cung ứng vật tư nông nghiệp 13
1.2 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của một số tổ chức kinh doanh vật tư nông nghiệp ở nước ngoài và Việt Nam 13
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của Thái Lan 13
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của một số Công ty vật tư nông nghiệp tại Việt Nam 14
1.3.Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan 19
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Lâm Đồng 24
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24
2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 28
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
2.2 Đặc điểm Trung tâm Dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng 32 2.2.1 Giới thiệu Trung tâm 32
2.2.2 Tổ chức, hoạt động Trung tâm DTVT Thú y và BVTV Lâm Đồng 33
2.2.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm 35
2.3 Khái quát về sản xuất nông nghiệp và chính sách của tỉnh Lâm Đồng đối với hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp 36
2.3.1 Khái quát về sản xuất nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng 2011-2013 36
2.3.2 Thực hiện một số chính sách của tỉnh Lâm Đồng đối với hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp 37
2.4 Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 38
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu 38
2.4.2.1.Thu thập tài liệu thứ cấp 38
2.4.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp 38
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 39
2.4.4 Các chỉ tiêu phân tích 39
Trang 72.4.4.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả dự trữ, cung ứng vật tư của Trung tâm
39
2.4.4.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư của Trung tâm 40
2.4.4.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cung ứng nhìn từ phía nông dân, xã hội và môi trường thể hiện quan các chỉ tiêu sau: 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Thực trạng hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng 42
3.1.1 Kết quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư phòng chống dịch cho các Trung tâm nông nghiệp huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng 42
3.1.2 Thực trạng cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm cho hộ nông dân thông qua các đại lý trong giai đoạn 2011-2013 43
3.1.2.1.Về số lượng, chủng loại, cơ cấu vật tư đã cung ứng 43
3.1.2.2 Tình hình về giá các loại vật tư cung ứng 44
3.1.2.3 Về chất lượng của vật tư đã cung ứng 44
3.1.2.4 Về kênh cung ứng vật tư 45
3.1.2.5 Hoạt động xúc tiến nhằm thúc đẩy tiêu thụ vật tư nông nghiệp 45
3.1.2.6 Kết quả về: doanh thu, chi phí, lợi nhuận, giá trị gia tăng của Trung tâm: 47
3.1.2.7 Hiệu quả hoạt động của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng qua các năm 2011-2013: 49
3.1.3 Hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp từ phía hộ nông dân qua nghiên cứu trường hợp sản xuất hoa cúc tại Thành phố Đà Lạt 51
3.1.4 Đóng góp xã hội của Trung tâm 54
3.1.5 Hiệu quả về môi trường 55
3.2 Thực trạng tổ chức, quản lý hoạt động cung ứng vật tư của Trung tâm và ý kiến đánh giá của cán bộ, nhân viên về hiệu quả hoạt động của Trung tâm 56
3.2.1 Thực trạng tổ chức, quản lý hoạt động dự trữ, cung ứng của Trung tâm 56
Trang 83.2.2 Đánh giá của cán bộ, nhân viên về hiệu quả hoạt động của Trung tâm dự
trữ thuốc Thú y và bảo vệ thực vật Lâm Đồng 59
3.3 Đánh giá của các đại lý về hoạt động cung ứng của Trung tâm 63
3.4 Đánh giá mức độ hài lòng của nông dân về vật tư do Trung tâm cung ứng 66
3.4.1 Đánh giá về hiệu quả sử dụng 67
3.4.2 Sự hài lòng về giá vật tư do Trung tâm cung ứng 68
3.4.3 Đánh giá về mức độ thuận lợi trong thanh toán tiền mua vật tư 69
3.4.4 Đánh giá về mức độ hài lòng về hình thức cung ứng vật tư 70
3.5 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả cung ứng vật tư của Trung tâm DTVT Thú ý và BVTV 71
3.5.1 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài (ngoại sinh) 71
3.5.1.1 Số lượng và quy mô sản xuất nông nghiệp 71
3.5.1.2 Yếu tố tập quán và thu nhập của người sản xuất: 73
3.5.1.3 Yếu tố nguồn cung cấp vật tư nông nghiệp: 73
3.5.1.4 Yếu tố vĩ mô, chính sách của nhà nước: 74
3.5.1.5 Yếu tố cơ sở hạ tầng: 75
3.5.1.6 Yếu tố cạnh tranh trong hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp: 76
3.5.2 Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong Trung tâm (nội sinh): 77
3.5.2.1 Nhân tố quản trị doanh nghiệp: 77
3.5.2.2 Yếu tố nguồn nhân lực: 78
3.5.2.3 Yếu tố vốn: 78
3.5.2.4 Trang thiết bị công nghệ phục vụ cung ứng: 79
3.5.2.5 Yếu tố mối quan hệ và uy tín trên thị trường: 80
3.6 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm DTVT Thú ý và BVTV 80
3.6.1 Phân tích điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức của hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật 80
3.6.2 Những căn cứ và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư của Trung tâm DTVT Thú y và BVTV tỉnh Lâm đồng 82
Trang 93.6.2.1 Những căn cứ chủ yếu 82
3.6.2.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm DTVT Thú y và BVTV tỉnh Lâm đồng 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92
1 Kết luận 92
2 Khuyến nghị 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 10ĐTXDCB : Đầu tư xây dựng cơ bản
GO :Giá trị dự trữ và cung ứng vật tư
IC :Chi phí để dự trữ, cung ứng KT-XH :Kinh tế - xã hội
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả thực hiện dự trữ, cung ứng các loại thuốc Thú ý và Bảo vệ thực
vật từ năm 2011 đến 2013 42
Bảng 3.2 Cơ cấu vật tư cung ứng 43
Bảng 3.3 Giá cung ứng vật tư 44
Bảng 3.4 Kết quả doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Trung tâm DTVT Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng 48
Bảng 3.5.Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động cung ứng của Trung tâm DTVT Thú y và BVTV Lâm Đồng qua các năm 2011-2013: 49
Bảng 3.6 Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Trung tâm năm 2011-2013 50
Bảng 3.7 Tình hình đầu tư thâm canh cho 1.000m2 trồng Cây hoa cúc/1vụ
(3 tháng) của 3 nhóm hộ có mức thu nhập khá, giàu; trung bình và nghèo 52
Bảng 3.8 Kết quả và hiệu quả sản xuất cây hoa Cúc/1 vụ (3 tháng) năm 2013 53
Bảng 3.9 Thuế đã nộp từ năm 2011-2013 của Trung tâm 54
Bảng 3.10 Tình hình cán bộ công nhân viên chức và trình độ của Trung tâm DTVT Thú y và BVTV tỉnh Lâm Đồng năm 2011-2013 56
Bảng 3.11 Kết quả đánh giá về bộ máy tổ chức, cách thức điều hành, sự phối hợp của Trung tâm và các phòng ban liên quan, giữa bộ phận cung ứng vật tư và bộ phận hành chính, kế toán 60
Bảng 3.12 Kết quả về các hoạt động cung ứng VTNN của Trung tâm 62
Bảng 3.13 Hiệu quả phối hợp giữa Trung tâm và đại lý cung ứng VTNN 63
Bảng 3.14 Về cách thức làm việc giữa Trung tâm và đại lý cung ứng VTNN 64
Bảng 3.15 Kết quả cung ứng VTNN của các đại lý qua các năm 2011-2013 65
Bảng 3.16 Ý kiến phản hồi của các đại lý về chất lượng vật tư do Trung tâm cung ứng 66
Bảng 3.17 Mức độ hài lòng của hộ nông dân về hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp từ các đại lý phân phối VTNN của Trung tâm 67
Bảng 3.18 Mức độ hài lòng của hộ nông dân về giá VTNN trên thị trường 68
Trang 12Bảng 3.19 Mức độ thuận lợi trong thanh toán khi mua VTNN trên thị trường 69 Bảng 3.20 Mức độ hài lòng về các hình thức cung ứng VTNN trên thị trường 70 Bảng 3.21 Dự báo sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng tới năm 2015 71 Bảng 3.22 Tình hình trang bị vốn của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và BVTV tỉnh Lâm Đồng năm 2011-2013 78
Trang 14PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO) và đang hội nhập sâu rộng vào kinh tế khu vực và thế giới Trong quá trình này, Việt Nam có điều kiện thuận lợi hơn để phát triển kinh tế, song cũng phải đối mặt với các thách thức trên tất cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ
Hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp cũng đang chịu tác động mạnh bởi sự gia nhập WTO và thực hiện các cam kết quốc tế song phương và đa phương khác Các Nhà cung ứng phải thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh vật tư nông nghiệp, vừa tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh, chấp nhận cạnh tranh với các doanh nghiệp phân phối nước ngoài để tồn tại, đứng vững trên thương trường và phát triển Để vượt qua được các thách thức này, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải
nỗ lực không ngừng trong nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư và không ngừng khẳng định được uy tín và thương hiệu của mình đối với người sử dụng vật tư nông nghiệp
Lâm Đồng là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đông-Nam Bộ, nằm ở phía Nam Tây Nguyên, là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, dịch vụ, là đầu mối giao lưu kinh tế trong hệ thống đô thị Việt Nam; là trung tâm du lịch, tham quan nghỉ dưỡng, sinh thái Bên cạnh đó, Lâm Đồng có đất đai, khí hậu thích hợp cho sản xuất các loại cây trồng, vật nuôi có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới cho năng suất, chất lượng sản phẩm và giá trị cao trên cơ sở áp dụng công nghệ hiện đại, kết hợp với chế biến hiện đại theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa tầm khu vực và thế giới
Để phát huy tối đa các tiềm năng trên đây, việc cung ứng đầy đủ, kịp thời và đúng chủng loại các loại vật tư (thuốc Bảo vệ thực vật, thuốc Thú ý và phân bón) để đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp là nhân tố quan trọng tạo ra sự gia tăng
về sản lượng và giá trị nông nghiệp trên địa bàn Tỉnh Qua đó, nhiều nông dân sẽ áp dụng các tiến bộ của khoa học - kỹ thuật để phát triển sản xuất, từng bước làm giàu, tạo
ra bộ mặt nông thôn mới trên nhiều vùng nông thôn của tỉnh Lâm Đồng
Trang 15Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng là tổ chức kinh tế nhà nước trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lâm Đồng, được thành lập theo quyết định số 135/2001/QĐ-UB, ngày 18/12/2001 của UBND tỉnh Lâm Đồng có chức năng, nhiệm vụ chính là: “dự trữ, cung ứng một số vật tư nông nghiệp và luân chuyển thuốc bảo vệ thực vật và thú y nhằm hỗ trợ phòng chống dịch bệnh cây trồng,vật nuôi”
Trong những năm vừa qua, Trung tâm đã thực hiện cung ứng các loại vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và các vùng lân cận với mạng lưới tiêu thụ rộng lớn với số lượng 250 đại lý lớn và nhỏ Trong thời gian gần đây hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp nói chung gặp nhiều khó khăn, nên hoạt động cung ứng của Trung tâm cũng trong hoàn cảnh khó khăn, chưa đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất, hiệu quả kinh tế thấp và chưa ổn định, mặc dù Trung tâm đã có nhiều cố gắng hoàn thiện tổ chức và hoạt động của mình
Câu hỏi lớn đang đặt ra đối với Ban Giám đốc Trung tâm là làm thế nào để tổ chức hoạt động dữ trữ và cung ứng vật tư có hiệu quả, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ được Nhà nước giao và có tích lũy để từng bước mở rộng quy mô hoạt động để tồn tại và phát triển bền vững trên thị trường vật tư nông nghiệp tại Lâm Đồng Đây là vấn đề bức thiết cần phải được nghiên cứu nghiêm túc để tìm ra nguyên nhân để có các giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy điểm mạnh, hạn chế những mặt yếu của Trung tâm hiện nay, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư của Trung tâm
Xuất phát từ những lý do nêu trên, với vị trí là cán bộ cung ứng của Trung tâm,
tôi chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y & Bảo vệ thực vật Lâm Đồng” để làm đề
tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp trình độ thạc sỹ tại trường Đại học Lâm Nghiệp
Học viên mong muốn góp phần thiết thực vào nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm, đáp ứng tốt nhu cầu trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Lâm Đồng, góp phần vào công nghiệp hóa nông nghiệp theo chủ trương của Tỉnh
Trang 162 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát:
Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú ý và Bảo vệ thực vật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
Là hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng
Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Về thời gian: Từ năm 2011 - 2013
+ Không gian: Hệ thống tổ chức hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng
+ Nội dung: Các nội dung liên quan đến lý luận, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật
tư Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa về cả lý luận và thực tiễn, là tài liệu giúp Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng hoàn thiện bộ máy tổ chức và hoạt
động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dữ trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp
Trang 175 Các nội dung chính của luận văn
Ngoài phần “mở đầu” và “ kết luận”, nội dung của luận văn gồm:
- Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả và nâng cao hiệu quả dữ trữ, cung ứng
vật tư nông nghiệp
- Thực trạng hoạt động dự trữ, cung ứng và hiệu quả dự trữ, cung ứng vật tư
nông nghiệp của Trung tâm dự trữ thuốc Thú y và Bảo vệ thực vật
- Định hướng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả dữ trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ Thú y và Bảo vệ thực vật tỉnh Lâm Đồng trong những năm tới
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
DỰ TRỮ, CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP 1.1 Cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp do Nhà nước giao và thực hiện
1.1.1 Khái niệm, bản chất và nội dung của hiệu quả
Theo cách hiểu chung hiện nay thì “hiệu quả” là phạm trù kinh tế phản ánh trình
độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu kinh tế ở một thời điểm nào đó
Theo đó, bản chất của hiệu quả là thực hiện tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra Đánh giá hiệu quả của một hoạt động kinh tế nào đó chính là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh tế đó
Nội dung của hiệu quả kinh tế bao gồm: xác định kết quả thu được từ một hoạt động kinh tế, chẳng hạn như: giá trị sản xuất (doanh thu), giá trị tăng thêm, thu nhập và lợi nhuận và xác định được các chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh tế đó (gồm chi phí vật chất, chi phí tài chính và chi phí nhân lực…)
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của vật tư nông nghiệp hoạt động dự trữ, cung ứng vật
tư nông nghiệp
1.1.2.1 Khái niệm về vật tư nông nghiệp
Vật tư nông nghiệp là vật tư chuyên dùng trong sản xuất nông nghiệp bao gồm giống cây trồng, giống vật nuôi, phân bón, thức ăn chăn nuôi, thức ăn thủy sản, thuốc Bảo vệ thực vật, thuốc Thú y, hóa chất, chế phẩm sinh học, máy móc, nguyên vật liệu, thiết bị sử dụng trong sản xuất kinh doanh nông -lâm -thủy sản, thủy lợi và muối thuộc
phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
1.1.2.2 Đặc điểm của vật tư và hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp
- Mang tính thời vụ:
Vật tư nông nghiệp phục vụ ngành trồng trọt mang tính thời vụ, vì vậy hoạt động cung ứng vật tư cũng mang tính thời vụ theo, nó phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng và phát triển vào mùa vụ của các loại cây trồng
Trang 19- Khó bảo quản
Đặc điểm của các loại vật tư nông nghiệp là khó bảo quản, dễ hao hụt và hư hỏng Vì vậy muốn dự trữ vật tư trong thời gian dài để đáp ứng tính mùa vụ của sản xuất thì tổ chức dự trữ phải có đủ phương tiện và biện pháp bảo quản tốt, đảm bảo vật
tư không bị xuống cấp, không bị hao hụt theo thời gian để không ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng của người sản xuất
- Người sản xuất nông nghiệp là đối tượng chính sử dụng vật tư nông nghiệp,
họ thường đông về số lượng, quy mô sản xuất nhỏ và khả năng kinh tế khác nhau nên khả năng thanh toán và khả năng tiếp cận vật tư rất khác nhau Nếu hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp không phù hợp với điều kiện kinh tế của họ thì người sản xuất
sẽ rất khó tiếp cận được các loại vật tư cần thiết, nhất là đối với những người sản xuất nhỏ, kinh tế nghèo và trình độ văn hóa thấp
- Đòi hỏi sự hiểu biết về sử dụng hợp lý, khoa học
Hiệu quả sử dụng vật tư nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý, khoa học của cách thức sử dụng Nếu sử dụng đúng, hợp lý thì kết quả sản xuất sẽ cao và hiệu quả sử dụng vật tư sẽ cao Do đó, tổ chức cung ứng cần hướng dẫn người sản xuất biết sử dụng hợp lý vật tư theo yêu cầu sinh trưởng của các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau Chẳng hạn các loại phân bón có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, nhưng nếu không biết sử dụng hợp lý thì có thể làm hạn chế kết quả sản xuất và gây lãng phí, kém hiệu quả Người sản xuất nông nghiệp chủ yếu là hộ nông dân quy mô nhỏ, trình độ hiểu biết về vật tư hạn chế, vì vậy việc cung ứng vật tư cho sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với việc hướng dẫn cụ thể cách sử dụng từng loại cho hộ nông dân, nhất là những loại vật tư mới lạ mà hộ nông chưa quen sử dụng
1.1.2.3 Phân loại vật tư nông nghiệp
- Vật tư nông nghiệp trong trồng trọt gồm: giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật, hóa chất kích thích tăng trưởng… Việc sử dụng phân bón hợp lý và sử dụng đúng các biện pháp bảo vệ thực vật sẽ làm tăng năng suất cây trồng, đem lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất
Trang 20- Vật tư nông nghiệp trong chăn nuôi gồm: giống vật nuôi, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi…Nếu biết chọn lọc và sử dụng các loại thức ăn có chất lượng cao và phù hợp với từng giống vật nuôi sẽ đem lại năng suất cao cho người nông dân
1.1.2.4 Đặc điểm của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp
Hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp là chuyển giao các loại vật tư cần thiết tới người sản xuất nông nghiệp theo đúng số lượng, chủng loại và thời điểm cần sử dụng Do vậy, hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp mang những đặc điểm sau:
- Đối với người sản xuất nông nghiệp thì hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp mang đến cho họ số lượng, chủng loại, chất lượng và đúng thời điểm theo yêu cầu của quy trình sản xuất Theo đó, trong khoảng thời gian nhất định, hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp sẽ đạt được kết quả cao khi có nhiều người sản xuất nông nghiệp tiếp nhận đủ về số lượng, đúng về chủng loại, chất lượng và thời điểm cần
sử dụng;
- Đối với tổ chức thực hiện dự trữ, cung ứng vật tư thì hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp mang lại doanh thu, giá trị gia tăng, thu nhập và lợi nhuận cần thiết cho tổ chức đó để tái mở rộng hoạt động Theo đó, hoạt động dự trữ, cung ứng vật
tư nông nghiệp cần được thực hiện theo cơ chế thị trường, phải hạch toán đầy đủ các chi phí quản lý và chi phí vận hành dự trữ và chi phí cung ứng tới người sản xuất trên các địa bàn diễn ra sản xuất nông nghiệp
1.1.3 Hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp
Từ các đặc điểm trên có thể hiểu về hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật
tư nông nghiệp trên các khía cạnh như sau:
Thứ nhất, hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp phản ánh lợi ích kinh tế của cả người sản xuất nông nghiệp và tổ chức dự trữ, cung ứng vật tư Nghĩa là, người sản xuất nhận được vật tư theo đúng yêu cầu về số lượng, chất lượng, thời gian; còn
tổ chức dự trữ, cung ứng nhận được lợi ích kinh tế về thu nhập, lợi nhuận từ hoạt động dự trữ, cung ứng để thu hồi đủ các chi phí đã bỏ ra để thực hiện dự trữ, cung ứng và có lợi nhuận nhất định để thực hiện tái mở rộng hoạt động này trong lâu dài
Trang 21Thứ hai, bản thân hoạt động cung ứng phải tự hạch toán để tự đảm bảo cân đối thu-chi, có lãi để tồn tại và mở rộng hoạt động như các hoạt động kinh tế khác trong cơ chế thị trường Trong trường hợp thu không đủ chi thì hoạt động cung ứng vật tư đó sẽ phá sản và dừng hoạt động
Thứ ba, các vật tư sản xuất nông nghiệp là một phần của chi phí trung gian của sản xuất và phải được hoàn lại sau quá trình sản xuất, nghĩa là người sản xuất phải thanh toán giá trị các loại vật tư đã sử dụng
Thứ tư, trong trường hợp hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp do Nhà nước sử dụng nguồn lực của mình nhằm thực hiện chính sách hỗ trợ đầu vào cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy phát triển các ngành, sản phẩm nông nghiệp mà Nhà nước thấy cần thiết phải hỗ trợ, chẳng hạn như: sản xuất lúa gạo cho mục tiêu an ninh lương thực, sản xuất mía để đảm bảo tự cân đối về đường cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, hay sản xuất bông nguyên liệu để cung cấp cho ngành dệt may…thì hoạt động cung ứng vật tư đóng vai trò là công cụ hay kênh để Nhà nước can thiệp vào sản xuất nông nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu mà Nhà nước đưa ra và là một loại hình hoạt động dịch vụ công đối với sản xuất nông nghiệp
Nói cách khác, hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp do Nhà nước tổ chức bằng các nguồn lực: tài chính, kỹ thuật và nhân lực của mình là hoạt động mang tính kinh tế và tính xã hội Theo đó hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp do Nhà nước thực hiện phải được xem xét trên cả 3 mặt gồm: lợi ích của
tổ chức dự trữ, cung ứng vật tư; lợi ích của người sản xuất nông nghiệp và lợi ích xã hội có đạt được hay không?
Từ đây có thể thấy rằng, hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp phụ thuộc vào cả tổ chức dự trữ, cung ứng; người sản xuất nông nghiệp và chính sách của Nhà nước đưa ra đối với hoạt động này Các tổ chức dự trữ, cung ứng phải lựa chọn được phương án cung ứng tốt nhất, cụ thể là đưa đến người sản xuất các loại vật tư nông nghiệp có chất lượng cao nhất, giá cả hợp lý nhất và đúng thời điểm nhất; người sản xuất nông nghiệp phải biết sử dụng đúng các vật tư để thu được kết quả sản xuất cao nhất, đáp ứng mục tiêu do Nhà nước đưa ra để thỏa mãn nhu cầu của
Trang 22Mặt khác, hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp phản ánh mối quan hệ giữa kết quả dự trữ, cung ứng vật tư so với các chi phí đã bỏ ra để thực hiện hoạt động dự trữ, cung ứng đó và được tính bằng doanh thu trừ đi chi phí đã
bỏ ra để thực hiện hoạt động này Từ đó suy ra, bản chất của hiệu quả dự trữ, cung ứng nông nghiệp là nâng cao năng suất lao động xã hội của chuỗi giá trị sản xuất nông nghiệp, từ khâu dự trữ, cung ứng các vật tư tới khâu tiêu thụ sản phẩm cuối cùng của sản xuất nông nghiệp Để đạt được năng suất lao động xã hội cao thì mối quan hệ giữa
tổ chức dự trữ, cung ứng với người sản xuất và các tác nhân khác phải được hình thành, vận hành hợp lý và mang lại lợi ích cho tất cả các tác nhân tham gia chuỗi
1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp
Từ các phân tích về bản chất hiệu quả của hoạt động dự trữ, cung ứng vật tư
nông nghiệp ở trên, Học viên xác định các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp bao gồm 2 nhóm sau
1.1.4.1 Ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài Nhà cung ứng (ngoại sinh)
a) Số lượng người sản xuất và quy mô sản xuất nông nghiệp:
Trong hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp thì phía cầu (tiêu thụ vật tư) là người sản xuất nông nghiệp Vì vậy, số lượng và quy mô sản xuất nông nghiệp của những người sản xuất nông nghiệp có ảnh hưởng mạnh tới khối lượng và hiệu quả của hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp
Những người sản xuất nông nghiệp là thị trường đầu ra tiêu thụ các loại vật tư
mà Nhà cung ứng thực hiện trên cơ sở chấp nhận và mua hàng hoá, dịch vụ của Nhà cung ứng Do đó, người sản xuất nông nghiệp là nhân tố quyết định tốc độ tiêu thụ, ảnh
Trang 23hưởng tới vòng quay vốn nhanh hay chậm của Nhà cung ứng, từ đó tác động đến hiệu quả của hoạt động cung ứng vật tư của Nhà cung ứng
b) Yếu tố tập quán và thu nhập của người sản xuất:
Yếu tố này gắn liền với người sản xuất, nhưng phản ánh về mặt chất lượng của
họ Người sản xuất có kinh nghiệm, hiểu biết về vật tư nông nghiệp sẽ sử dụng có hiệu quả vật tư, ngược lại nếu không hiểu biết họ sẽ không dám sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả, lãng phí vật tư Từ đó sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới kết quả
và hiệu quả của hoạt động cung ứng Nói cách khác, tập quán và thu nhập của người sản xuất quyết định số lượng, chủng loại, mặt hàng vật tư mà Nhà cung ứng sẽ thực hiện Nhà cung ứng cần phải nắm bắt để cung ứng các loại vật tư phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của những người sản xuất cụ thể mà
họ cung ứng
c) Yếu tố nguồn cung cấp vật tư nông nghiệp:
Yếu tố này ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả của hoạt động cung ứng vật tư vì nó tạo ra sản phẩm cho quá trình cung ứng, nếu sản phẩm vật tư dồi dào, đa dạng thì Nhà cung ứng có điều kiện cung ứng nhiều hơn và đa dạng hơn các loại vật tư cho người sản xuất, trong trường hợp ngược lại, Nhà cung ứng sẽ khó đáp ứng được nhu cầu của người sản xuất do bản thân họ không tự sản xuất ra các loại vật tư mà người sản xuất cần Nguồn cung vật tư có ảnh hưởng trực tiếp tới giá thành, tính liên tục và hiệu quả của quá trình cung ứng Nhà cung ứng muốn có được tác động tích cực của nhân tố này, buộc họ phải thiết lập mối quan hệ gắn bó với các nhà sản xuất vật tư
d) Yếu tố vĩ mô, chính sách của Nhà nước:
Việc mở rộng quy mô cung ứng phải xuất phát từ định hướng phát triển của đất nước Lợi ích của Nhà cung ứng phải gắn liền với lợi ích kinh tế -xã hội của đất nước Các chính sách của Nhà nước đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và đối với hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp nói riêng có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp tới hiệu quả cung ứng Nếu Nhà nước có chính sách hỗ trợ vật tư cho người sản xuất nông nghiệp thì người sản xuất sẽ tăng sử dụng vật tư và khối lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, làm tăng số lượng cung ứng và Nhà cung ứng và giảm các chi phí cho quá trình cung ứng,
Trang 24tạo ra hiệu quả cao hơn cho hoạt động cung ứng
e) Yếu tố cơ sở hạ tầng - kỹ thuật:
Các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng như hệ thống đường giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, điện, nước … đều là những nhân tố tác động mạnh đến hiệu quả cung ứng của Nhà cung ứng Việc cung ứng sẽ tốn ít chi phí hơn nếu việc cung ứng được thực hiện tại khu vực có hệ thống giao thông thuận lợi… tạo điều kiên tăng doanh thu, giảm chi phí, là cơ sở tiền đề để nâng cao hiệu quả cung ứng
f) Yếu tố cạnh tranh trong hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp:
Trên thị trường vật tư nông nghiệp luôn tồn tại sự cạnh tranh gay gắt giữa các Nhà cung ứng để tồn tại, phát triển Do đó các Nhà cung ứng luôn phải có những chính sách để tạo vị thế, khẳng định mình với người tiêu thụ vật tư nông nghiệp, tức là những người sản xuất nông nghiệp Họ là khách hàng và là người tiêu thụ cuối cùng các loại vật tư và dịch vụ nông nghiệp, quyết định của họ về sử dụng hay không sử dụng một chủng loại vật tư nào đó sẽ có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả cung ứng
Nhà cung ứng phải nắm bắt kịp thời sức mua, thói quen sử dụng các loại vật tư của người sản xuất để thực hiện cung ứng đúng về khối lượng, chất lượng và thời gian
1.1.4.2 Ảnh hưởng của các nhân tố bên trong Nhà cung ứng (nội sinh)
a) Nhân tố quản trị doanh nghiệp:
Là nhân tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của Nhà cung ứng Nhân tố này phản ánh tính hợp lý của tổ chức bộ máy quản lý và tổ chức hoạt động cung ứng Nhân tố quản trị liên quan đến toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh Nếu Nhà cung ứng có bộ máy quản trị tốt sẽ tổ chức quản lý và cung ứng tốt và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, có khả năng nhìn xa trông rộng, tiên đoán phân tích thị trường để hoạch định đựợc hướng đi đúng đắn nhất trong tương lai
Bộ máy quản trị tốt là bộ máy đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, thống nhất, linh hoạt, đảm bảo hoạt động mang lại hiệu quả cao cho Trung tâm Trong bộ máy quản trị thì vai trò cán bộ lãnh đạo tổ chức được xem là nhân tố quyết định thành công của toàn
bộ hoạt động cung ứng
Trang 25b) Yếu tố nhân lực của Nhà cung ứng:
Hiệu quả cung ứng phụ thuộc vào yếu tố nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động cung ứng Nếu nhà cung ứng có nguồn nhân lực tốt, kỹ năng chuyên môn cao, thì hoạt động cung ứng của họ sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại Để có được nguồn nhân lực tốt thì Nhà cung ứng phải quan tâm đào tạo kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho từng người lao động
c) Yếu tố vốn phục vụ cho hoạt động cung ứng:
Vốn cung ứng cũng là một yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của hoạt động cung ứng Nếu Nhà cung ứng có vốn lớn sẽ có năng lực lớn về mở rộng hoạt động cung ứng của mình và gia tăng lợi ích cho chính mình và người sản xuất Tiềm lực về vốn giúp cho Nhà cung ứng đa phương hoá phương thức kinh doanh, đa dạng hoá thị trường, đa dạng hoá các mặt hàng và đảm bảo cạnh tranh trên thị trường
d) Trang thiết bị, công nghệ phục vụ cung ứng:
Trình độ kỹ thuật, công nghệ tiến tiến cho phép nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ cung ứng, nhờ đó Nhà cung ứng có thể tăng sức cạnh tranh, đảm bảo cho quá trình tái cung ứng mở rộng Ngược lại với trình độ công nghệ thấp thì không những giảm khả năng cạnh tranh mà còn giảm lợi nhuận, kìm hãm sự phát triển Nói tóm lại nhân tố trình độ kỹ thuật cho phép nâng cao chất lượng cung ứng, khả năng cạnh tranh, tăng vòng quay của vốn, tăng lợi nhuận dẫn đến tăng hiệu quả cung ứng
e) Yếu tố mối quan hệ và uy tín của Nhà cung ứng trên thị trường:
Đây chính là tiềm lực vô hình của Nhà cung ứng tạo nên sức mạnh trong hoạt động cung ứng của mình Nó tác động rất lớn tới sự thành bại của việc nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng Đây là sự tác động phi lượng hóa bởi chúng ta không thể tính toán, định lượng được Một hình ảnh, uy tín tốt của Nhà cung ứng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả … là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của Nhà cung ứng Mặt khác tạo cho Nhà cung ứng một ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn hay mối quan hệ với bạn hàng Mối quan hệ rộng sẽ tạo cơ hội cho Nhà cung ứng có thêm nhiều phương án, kế hoạch cung ứng tốt nhất cho mình
Trang 261.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả trong cung ứng vật tư nông nghiệp
- Từ sự tồn tại và phát triển của bản thân Nhà cung ứng, việc nâng cao hiệu quả
cung ứng là cơ sở đảm bảo sự hoạt động của Nhà cung ứng Việc nâng cao hiệu quả cung ứng là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các Nhà cung ứng hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay
- Từ yêu cầu của phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn mà hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp vận hành Do tính chất của cung ứng vật tư nông nghiệp
là thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp, do vậy nâng cao hiệu quả cung ứng có ý nghĩa tác động tích cực tới sản xuất nông nghiệp Từ đó, nhu cầu nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp chính là xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn của phát triển sản xuất nông nghiệp Hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp cần được hiểu và được đánh giá cao khi nó thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh và bền vững hơn khi không có hoạt động này
- Từ yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp càng cao theo các ý nghĩa trên sẽ càng đem lại cho nền kinh tế quốc gia sự phân bố, sử dụng hợp lý các nguồn lực
1.2 Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của một số tổ chức kinh doanh vật tư nông nghiệp ở nước ngoài và Việt Nam
1.2.1 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của Thái Lan
Do diện tích đất nông nghiệp có hạn nên Thái Lan không thể mãi tiếp tục theo đuổi phát triển nông nghiệp theo hướng mở rộng đất canh tác, mà thay vào đó là đưa công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, lai tạo các giống cây trồng mới siêu năng suất có khả năng thích ứng với những vùng đất canh tác bạc màu, khô hạn Hữu cơ hóa đất nông nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học cải tạo đất thoái hóa, nâng cao độ màu mỡ đã triển khai trong nhiều năm qua Điều này vừa giúp sử dụng quỹ đất hiệu quả, giảm nhập khẩu phân bón lại nâng cao xuất khẩu nông sản hữu cơ sạch Bên cạnh đó, Thái Lan khuyến khích các tổ chức tư nhân tham gia vào các chương trình khuyến nông Nếu có dịp đến thăm những vùng nông thôn mới nhận thấy cơ giới hóa đã bao phủ
Trang 27từng thửa ruộng Ngay cả những khâu sau thu hoạch đã hầu như được cơ giới hóa toàn
bộ Những bí quyết thành công của nông dân Thái Lan chính là sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm canh tác truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
Bởi do điều kiện tự nhiên như địa lý, địa chất, tính chất đất trồng trọt nên nhiều vùng cần phải có những công nghệ và kỹ thuật canh tác đặc thù Bên trong các viện nghiên cứu, trường đại học trên khắp đất nước Thái Lan, nhà khoa học đang nghiên cứu những thế hệ cây trồng siêu năng suất, cải thiện chất lượng giống thông qua kỹ thuật chuyển gene; kỹ thuật chọn tạo, công nghệ di truyền và công nghệ nuôi cấy mô Những "nút thắt cổ chai" trong việc nâng cao chất lượng nông sản theo hướng phát triển bền vững đã được các nhà khoa học tháo gỡ bằng công nghệ sinh học Chẳng hạn, Trung tâm Công nghệ gene Quốc gia Thái Lan từ Ngân hàng gene đã nghiên cứu
ra những giống lúa chịu mặn cao có thể gieo trồng ở vùng Đông Bắc, nơi đang đối mặt với tình trạng người dân bỏ nghề nông vì đất nhiễm bị nhiễm mặn Và cũng tại miền Đông Bắc này với "đặc sản" gạo Horn Mali phát triển được trong điều kiện nắng nóng, các nhà khoa học Thái Lan đã tạo thêm 3 giống lúa có khả năng kháng bệnh và cho năng suất cao là Khao Jao Hawm Suphan Buri, Khao Dok Mali 105, Khao Jao Hawm Klong Luang 1 Trong tương lai, Thái Lan được xem là nước đi đầu sản xuất và xuất khẩu vi sinh vật cho nông nghiệp Với việc cơ giới hóa nông nghiệp, đẩy mạnh nghiên cứu áp dụng công nghệ sinh học đã đáp ứng được tôn chỉ mà chính phủ Thái Lan đặt
ra là sản xuất nông sản sạch, chất lượng bằng công nghệ sinh học thay vì chạy theo số lượng Và giờ đây người Thái Lan đã trở nên khá giả nhờ xuất khẩu nông sản.[tài liệu tham khảo số 19 trang 29]
1.2.2 Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả cung ứng vật tư nông nghiệp của một số Công ty vật tư nông nghiệp tại Việt Nam
a) Công ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp tỉnh Nghệ An
Nhờ thực hiện tốt phong trào thi đua, Công ty cổ phần Vật tư Nông nghiệp Nghệ
An đã phát huy sức mạnh của tập thể cán bộ, công nhân viên, liên tục nhiều năm đạt hiệu quả cao và là một trong những đơn vị đi đầu tham gia hoạt động từ thiện xã hội
Trang 28Nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hoá, do nhận thức chưa đúng, hầu như các phong trào, nhất là phong trào thi đua bị chìm xuống Riêng Công ty cổ phần Vật tư Nông nghiệp Nghệ An lại khác, hầu hết các phong trào không những được giữ vững
mà còn phát huy cao độ Dù ở loại hình doanh nghiệp nào Công ty cũng hết sức coi trọng phong trào thi đua Thông qua phong trào thi đua đã khích lệ động viên cán bộ, công nhân viên ra sức học tập, rèn luyện, phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tìm tòi, sáng tạo để đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả trong sản xuất
Để đẩy mạnh phong trào thi đua, ngay từ đầu năm, thông qua hội nghị dân chủ Công ty tổ chức ký giao ước thi đua với các phòng chuyên môn và các đơn vị cơ sở Nội dung thi đua tập trung vào phát huy sáng kiến cải tiến lề lối làm việc phục vụ tốt, kinh doanh giỏi và được toàn thể Công ty từ đồng chí giám đốc tới cán bộ, công nhân
và người lao động đã quán triệt sâu sắc và phấn đấu thực hiện Công ty đã có nhiều sáng kiến đổi mới công tác quản lý, điều hành mang lại hiệu quả cao như: Sáng kiến thực hiện khoán vốn, thưởng hoa hồng chiết khấu, đã thực sự phát huy tính tự chủ, sáng tạo của từng người và từng cơ sở, khắc phục tình trạng trông chờ ỷ lại, nợ nần dây dưa Bước vào thời kỳ mở cửa, hội nhập, phân bón không còn là mặt hàng chiến lược Nhà nước xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu, hoạt động sản xuất kinh doanh phân bón chịu
sự cạnh tranh khốc liệt Giá cả lên xuống thất thường, làm cho không ít công ty kinh doanh phân bón đứng bên bờ vực phá sản Nhưng Công ty CP Vật tư nông nghiệp Nghệ An vẫn trụ vững và không ngừng phát triển Công ty còn thực hiện giảm một phần lãi để triển khai bán một giá thống nhất thấp hơn giá thị trường 5-10%, góp phần bình ổn thị trường Trong điều kiện nhu cầu về giống lớn, các đơn vị cung ứng giống không đáp ứng yêu cầu thị trường Công ty đã dành một phần lợi nhuận để tổ chức khảo nghiệm, tuyển chọn các bộ giống tốt, năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được sâu bệnh phục vụ thâm canh trên đồng ruộng Hiện nay, các giống lúa lai: Q.Ưu1, Q.Ưu 6 và giống lúa thuần Vật tư nông nghiệp do đơn vị cung ứng được bà con chấp nhận đưa vào sản xuất trong vụ xuân và vụ hè thu đạt năng xuất bình quân trên 7 tấn/ha Tại các xã Nghi Lâm (Nghi Lộc) bà con nông dân khẳng định: "Giống
Trang 29lúa thuần Vật tư NN (HTH) vụ xuân 2008 không chỉ được mùa vượt trội so với các giống khác mà bán được giá lắm (7.500 đ/kg), gấp rưỡi so với các giống lúa khang dân
và Nhị ưu 838" Phong trào thi đua đã đưa hoạt động sản xuất cung ứng của Công ty ngày càng đạt hiệu quả Riêng năm 2007, doanh thu đạt trên 1000 tỷ đồng, lợi nhuận
20 tỷ đồng, nộp ngân sách trên 17 tỷ, thu nhập người lao động đạt 3,7 triệu đồng/người/tháng, so với năm 2006 doanh thu tăng 30%, nộp ngân sách tăng gần 2 tỷ đồng, lợi nhuận vượt 21%, thu nhập người lao động tăng 20% Làm ăn có lãi, Công ty vừa có điều kiện tập trung đầu tư mở rộng sản xuất, qui mô hoạt động và tích cực tham gia đóng góp vào phong trào từ thiện nhân đạo Năm 2007, Công ty đã đóng góp ủng
hộ vào các hoạt động từ thiện nhân đạo 749 triệu 620 ngàn đồng và 5 tháng đầu năm
2008 ủng hộ đóng góp 510 triệu đồng Từ đầu tháng 5/2008 đơn vị đã đi vào hoạt động theo mô hình Tổng công ty cổ phần Vật tư nông nghiệp với 16 Công ty trực thuộc
b) Công ty Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp Quảng Ngãi
Là một doanh nghiệp Nhà nước chuyên cung ứng vật tư phân bón, giống cây trồng, thuốc bảo vệ thực vật chủ yếu cho nông dân Mặc dù mới đi vào cổ phần hoá từ tháng 2/2004, tuy còn nhiều khó khăn về tài chính, cơ chế chính sách nhưng Công ty
Cổ phần Vật tư Kỹ thuật Nông - Lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đã từng bước vươn lên khẳng định mình trong cơ chế thị trường Ngay từ khi cổ phần và qua các kỳ Đại hội, Công ty đã xác định được chiến lược phát triển kinh doanh trong triển vọng của ngành hàng, đó là, khi khối lượng sản xuất phân bón trong nước ngày càng tăng thì nhu cầu
về phân bón nhập khẩu ngày càng giảm; khi diện tích các khu công nghiệp, sự cạnh tranh giữa các Công ty cùng loại hàng hoá ngày càng tăng thì thị phần về cung ứng phân bón của Công ty có nguy cơ bị cạnh tranh và thu hẹp Trong bối cảnh đó chiến lược phát triển kinh doanh của Công ty được xác định là: Tiếp tục tổ chức tốt hoạt động kinh doanh phân bón và xuất nhập khẩu khi điều kiện còn cho phép, bên cạnh đó phải mở rộng lĩnh vực kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực mà Công ty có ưu thế và thị trường còn có nhu cầu lớn Thực hiện chiến lược trên, Công ty đã từng bước mở rộng ngành nghề, trước mắt là mở rộng qui mô kinh doanh những ngành hàng có lợi cà
mở thêm mặt hàng thức ăn chăn nuôi, bước đầu có hiệu quả; các ngành hàng kinh
Trang 30doanh, khối lượng tiêu thụ đang tăng trưởng và thị trường đang dần dần được mở rộng
Doanh thu của Công ty năm 2007 đạt hơn 150 tỷ đồng, so với năm 2006 tăng 12% Lợi nhuận trước thuế năm 2007 đạt hơn 2 tỷ đồng, so với năm 2006 tăng 76% Nộp ngân sách trên 1 tỷ đồng Để có được kết quả trên, Ban Giám đốc của Công ty đã
có sự nỗ lực vượt bậc trong mọi quá trình tổ chức kinh doanh, từ công tác dự tính dự báo đến việc tổ chức thực hiện, nhất là nghiên cứu đề ra các nội qui, qui chế, chính sách bán hàng, để khuyến khích mọi đối tượng, đem lại hiệu quả cao, đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, các nhà đầu tư và người lao động Cơ sở vật chất phục vụ công tác cung ứng được tu sửa và xây dựng nhằm đủ sức chứa vật tư hàng hóa trong những lúc thời vụ cao điểm Bên cạnh đó, công tác nâng tầm nhận thức của Hội Đồng quản trị, Ban kiểm soát, Cán bộ quản lý điều hành và toàn thể cán bộ công nhân lao động của Công ty để điều chỉnh hoạt động của mình hàng ngày nhằm đáp ứng được yêu cầu của Công ty hoạt động cung ứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Ban Giám đốc rất lưu tâm
Bên cạnh những thành công trên, Công ty cũng luôn tham gia công tác xã hội như: Đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng suốt đời Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tích cực hưởng ứng các cuộc vận động ủng hộ đồng bào bị thiên tai, bão lụt, chất độc Dioxin thể hiện sự đồng hành và chia
sẽ với những khó khăn chung của xã hội
Để đáp ứng yêu cầu cơ chế thị trường, tạo dựng được uy tín, thương hiệu với khách hàng, nhất là bà con nông dân trong tỉnh, hướng đến sự phát triển bền vững, Công ty đã có kế hoạch đẩy nhanh xúc tiến thương mại, mở rộng liên doanh, liên kết, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, quan tâm hơn đến chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm Tiếp tục duy trì và củng cố 3 kênh tiêu thụ, nhất là kênh nhân viên thị trường và kênh bán lẻ để huy động sức mạnh từ nội lực, khai thác tối đa những thị trường còn tiềm năng như miền núi, hải đảo, đẩy mạnh tiêu thụ những mặt hàng có tỷ trọng còn thấp như thuốc BVTV, giống cây trồng và thức ăn chăn nuôi; tạo mối quan hệ thân thiện với các đối tác lớn như Công ty Cổ phần Đạm Phú Mỹ, các Công ty phân lân…để khai thác đủ chủng loại
Trang 31hàng hóa và giá cả có sức cạnh tranh cao.[tài liệu tham khảo số 19, trang 30]
Nhận xét chung
Thứ nhất, để nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ, cung ứng cần có sự kết hợp khéo léo giữa kinh nghiệm công tác truyền thống với việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào cả hai khâu dự trữ và cung ứng Ví dụ kinh nghiệm của doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp ở Thái Lan cho thấy, bằng cách áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cải tạo đất trồng, lai tạo các giống cây trồng mới có năng suất và khả năng thích ứng với các vùng đất bạc màu, khô hạn; hữu cơ hóa đất nông nghiệp thông qua sử dụng các loại phân bón hữu cơ, phân vi sinh và thuốc trừ sâu sinh học để cải tạo đất thoái hóa; khuyết khích khu vực tư nhân tham gia vào chương trình khuyến nông, cơ giới hóa nông nghiệp; áp dụng công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp đưa lại kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp sạch bằng công nghệ sinh học, mang lại thu nhập cao cho nông dân Thái Lan và cho tổ chức cung ứng VTNN
Thứ hai, mô hình cung ứng vật tư nông nghiệp của Công ty cổ phần vật tư Nghệ An đã chứng minh việc tổ chức tốt phong trào thi đua nội bộ trong tổ chức dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp sẽ khích lệ, động viên công nhân học tập, rèn luyện, phấn đấu nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tìm tòi sáng tạo để đạt năng suất chất lượng, hiệu quả trong các khâu của quá trình dự trữ, cung ứng Công ty đã phát động phong trào thi đua rất thiết thực để phát huy được mọi khả năng, sáng kiến của tập thể và cá nhân trong thi đua sản xuất kinh doanh mang lại hiệu quả cao cho Công ty;
Thứ ba, muốn dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp đạt hiệu quả cao thì phải mở rộng lĩnh vực cung ứng ở những ngành, lĩnh vực có ưu thế về thị trường, từng bước
mở rộng ngành, nghề trước mắt là mở rộng quy mô cung ứng những ngành hàng vừa
có lợi cho sản xuất, vừa có khả năng thu hồi vốn cao thì nên mở rộng;
Thứ tư, công tác dự tính, dự báo xu thế phát triển nông nghiệp và nhu cầu sử dụng vật tư nông nghiệp tốt sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả của việc tổ chức dữ trữ, cung ứng;
Thứ năm, nghiên cứu đề ra các nội qui, quy chế, chính sách bán hàng, để
Trang 32khuyến khích mọi đối tượng tham gia cùng hưởng lợi từ quá trình dự trữ, cung ứng sẽ
là điều kiện quan trọng để đem lại hiệu quả cao cho công tác dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp của tổ chức dự trữ, cung ứng vật tư nông nghiệp
1.3.Tổng quan tài liệu nghiên cứu liên quan
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, Học viên đã khảo cứu các công trình khoa học liên quan, bao gồm:
a) Tác giả Trần Thị Thanh Hà "Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiêp của Công Ty Cổ phần Vật tư Nông nghiệp Thái Nguyên”; Luận văn thạc sĩ kinh tế nông nghiệp; Thái Nguyên - năm 2008
Luận văn đã đề cập những vấn đề về: cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh
và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty vật tư nông nghiệp; Thực trạng kinh doanh và hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiệp của cổ phần VTNN Thái Nguyên; Phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiệp của Công ty cổ phần VTNN Thái Nguyên
Kết quả nghiên cứu luận văn đã đạt được trên một số điểm chính sau: khái niệm, bản chất, ý nghĩa, đặc điểm và những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiệp; khái quát về thị trường vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và thực trạng hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiệp của Công ty cổ phần VTNN Thái Nguyên
Từ kết quả đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của Công ty, Luận văn đã đưa ra các quan điểm, căn cứ, định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh vật tư nông nghiệp của Công ty cổ phần VTNN Thái Nguyên
Khảo cứu kết quả nghiên cứu luận văn trên đã gợi mở những vấn đề cơ bản về
lý luận và thực tiễn để Học viên nghiên cứu đề tài luận văn về “Giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và
Bảo vệ thực vật Lâm Đồng”
b) TS Đào Thế Anh và các cộng sự đã hoàn thành đề tài khoa học cấp bộ-Bộ
NN và PTNT về “Nghiên cứu cơ sở khoa học của sự hình thành và phát triển thể chế
hệ thống dịch vụ nông nghiệp và nông thôn” trong các năm 2007- 2008 Kết quả
Trang 33nghiên cứu này đã đề cập những vấn đề cơ bản liên quan đến thể chế của hoạt động dịch vụ nông nghiệp như:
Các tác nhân tham gia thể chế dịch vụ nông nghiệp gồm: các chủ thể cung cấp dịch vụ nông nghiệp (doanh nghiệp, HTX, tổ chức dân sự, cộng đồng ): các tác nhân
sử dụng (hộ nông dân, trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp) sử dụng các sản phẩm của dịch vụ nông nghiệp; các mối quan hệ chức năng và quan hệ trao đổi các loại sản phẩm, vật tư trong hệ thống dịch vụ nông nghiệp; và các cơ quan chính quyền các cấp liên quan;
- Các loại hình dịch vụ bao gồm: nhận và cung ứng giống cây trồng, vật nuôi; phân bón; thuốc bảo vệ thực vật; thuốc thú ý; thủy lợi; khuyến nông; tài chính, tín dụng; tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.vv ;
Báo cáo đã phân tích, đánh giá các mối quan hệ kinh tế, thị trường và hiệu quả của hoạt động dịch vụ nông nghiệp trong hệ thống nói trên, chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong hoạt động dịch vụ nông nghiệp hiện nay đứng từ góc độ thể chế quản lý, từ
đó đã đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ nông nghiệp trong từng lĩnh vực nói trên và những gợi ý quan trọng về phát triển các loại hình thể chế có hiệu quả trong cung ứng dịch vụ nông nghiệp, bao gồm: thể chế HTX, các tổ chức của nông dân và các doanh nghiệp chuyên hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ nông nghiệp
Từ khảo cứu công trình này, Học viên đã nhận thức rõ hơn về thể chế dịch vụ nông nghiệp và hiệu quả của hoạt động dịch vụ nông nghiệp để ứng dụng vào nghiên cứu luận văn của mình
c) Nguyễn Tri Phương, luận văn Thạc sĩ kinh tế nông nghiệp: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giống của xí nghiệp giống cây trồng Hà Tây” thuộc Công ty
TNHH một thành viên đầu tư và phát triển nông nghiệp Hà Nội; Hà Nội năm 2014
Kết quả nghiên cứu luận văn đã đạt được trên những mặt sau: luận giải một số vấn đề cơ sở lý luận, thực tiễn về hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giống; thực trạng hiệu quả sản xuất giống của xí nghiệp giống cây trồng Hà Tây; phân tích các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa giống của xí nghiệp giống cây trồng Hà Tây
Trang 34Kết quả nghiên này đã gợi mở cho học viên một số phương pháp về đánh giá hiệu sản xuất lúa giống có thể tham khảo vào đánh giá hiệu quả của hoạt động cung
ứng vật tư nông nghiệp trong nghiên cứu luận văn này
d) Ngô Thị Tâm, Đồ án tốt nghiệp đại học với đề tài về “Phân tích tình hình cung ứng, dự trữ, sử dụng vật tư và một số biện pháp nâng cao tình hình cung ứng,
dự trữ, sử dụng vật tư tại Công ty cao su sao vàng” đã bảo vệ thành công ngày
5/11/2013 Nội dung chính của công trình là: sử dụng mô hình Wilson (dự trữ-sử dụng vật tư hàng hóa) để tính toán các chi phí dữ trữ theo các hình thức khá nhau (các hình thức kho tang dự trữ ) và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả của các phương án dự trữ và sử dụng vật tư của Công ty cao su sao vàng, từ đó đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dự trữ và sử dụng vật tư và góp phần nâng giảm chi phí sản xuất nói chung và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cao su sao vàng Cách tiếp cận chính của tác giả là tối
đa hóa khối lượng dự trữ theo nhu cầu sử dụng vật tư của Công ty cao su sao vàng
và tối thiểu hóa các chi phí dữ trữ, từ đó đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động
dữ trữ và cung cấp đầy đủ, đúng thời gian các loại vật tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty sao vàng trong mỗi năm
Khảo cứu công trình này giúp học viên hiểu rõ thêm mối quan hệ giữa dự trữ
và sử dụng vật tự trong mỗi tổ chức sản xuất kinh doanh, cụ thể là Công ty cao su sao vàng, những vấn đề liên qua cần đề cập trong nghiên cứu về hiệu quả hoạt động
dự trữ và sử dụng (hay cung ứng các loại vật tư nói chung) theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh1
đ) Bài nghiên cứu khoa học của Thạc sĩ Đỗ Ngọc Diệp về “Quản lý lượng hàng hóa, vật tư dự trữ trong chuỗi và giá trị doanh nghiệp” đã đề cập về ý nghĩa của
dự trữ hàng hóa và vật tư trong chuỗi bởi trong điều kiện luôn có sự khác biệt giữa cung và cầu trên thị trường các loại hàng hóa này Chức năng và ý nghĩa chính của
dự trữ vật tư là giúp cho việc sản xuất kinh doanh các tác nhân trên thị trường (hộ kinh doanh, doanh nghiệp) có thể diễn ra liên tục và ổn định theo thời gian và theo
1 Nguồn: Http://doc.edu.vn/tai-lieu/do-an-phan-tich-tinh-hinh-cung-ung-du-tru-va-su-dung-vat-tu; Tài liệu Ebook tham khảo cho học sinh, sinh viên
Trang 35nhu cầu thị trường, câu hỏi lớn luôn đặt ra đối với hoạt động dự trữ là nên dự trữ bao nhiêu tại một thời điểm nào đó để có thể cung ứng kịp thời cao nhất cho sản xuất Bài nghiên cứu nhận định rằng, hàng hóa dự trữ tồn tại và xuất hiện trong chuỗi bởi vì luôn luôn có sự khác biệt giữa cung và cầu trên thị trường Trong bất kì một chuỗi nào cũng phải dự trữ vật liệu sản xuất, sản phẩm dở dang và sản phẩm đã hoàn thành Từ đó hoạt động dự trữ và cung ứng vật tư, hàng hóa có các vai trò sau: i) Tăng tính kinh tế trong mối quan hệ cung ứng-sản xuất: ii) Tăng tính ổn định cho sản xuất; iii) Tăng chất lượng phục vụ khách hàng, hàng hóa dự trữ chính là phần điều chỉnh làm cân bằng giữa cung và cầu
Bài nghiên cứu đã đề cập kinh nghiệm về dự trữ và cung ứng vật tư, hàng hóa của các doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp ở Mỹ và rút ra nhận định rằng: i) Vốn lưu động dùng trong hoạt động sản xuất chiếm 1/3 giá trị vốn hóa của doanh nghiệp trên sổ sách và phần còn lại là giá trị máy móc và thiết bị Từ đó dẫn đến, sự thay đổi của lượng hàng hóa dự trữ chính là nguyên nhân chính làm cho vốn lưu động
sử dụng trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp tăng lên và các doanh nghiệp thật
sự gặp khó khăn trong việc ổn định hóa lượng hàng hóa dự trữ Việc tăng lượng hàng hóa dự trữ và nợ phải thu đều làm giá của cổ phiếu của doanh nghiệp giảm đi Như vậy chi phí để dự trữ và cung ứng hàng hóa vật tư dự trữ lên giá trị của doanh nghiệp nên việc quản lý lượng hàng hóa vật tư dự trữ đều ảnh hưởng mạnh tới sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng hưởng tới hiệu quả chung của toàn bộ chuỗi cung ứng-sản xuất-tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp2
Từ tổng quan các nghiên cứu trên, Học viên nhận thấy những nghiên cứu này
đã trên đã cung cấp những kiến thức cơ bản hoạt động dự trữ và cung ứng vật tư nói chung, vật tư nông nghiệp nói riêng và đánh giá hiệu quả của sản xuất, kinh doanh vật
tư nông nghiệp, các giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động của một tổ chức kinh tế
có chức năng sản xuất, cung ứng các loại vật tư cần thiết cho sản xuất nông nghiệp Đồng thời giúp Học viên tiếp cận và sử dụng các phương pháp thích hợp để nghiên
2 Nguồn: http://www.vlr.vn/vn/news/logistics-viet-nam/nghien-cuu-ung-dung/1171/quan-ly-luong-hang-ho a Cổng thông tin Logistics Việt Nam-Cơ quan của Hiệp hội các DN logisctics Việt Nam, Trang “Chuỗi cung ứng” ngày 1/1/2014
Trang 36cứu đề tài luận văn về “Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cung ứng vật tư nông nghiệp của Trung tâm dự trữ vật tư Thú y và Bảo vệ thực vật Lâm Đồng” Học viên
tin rằng, đề tài luận văn không trùng lắp với các đề công trình khoa học đã công bố
Trang 37Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Lâm Đồng
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
Lâm Đồng là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ, phía Nam Tây Nguyên, là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, dịch vụ, là đầu mối giao lưu kinh
tế trong hệ thống đô thị Việt Nam; là trung tâm du lịch, tham quan nghỉ dưỡng, sinh thái, đồng thời còn là nơi đào tạo nghiên cứu khoa học đa ngành và là khu vực sản xuất, chế biến, xuất khẩu rau, hoa chất lượng cao theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa của khu vực và cả nước
- Vị trí địa lý:
` Tỉnh Lâm Đồng nằm ở vùng Tây Nguyên ranh giới cụ thể được xác định như sau: phía bắc giáp với tỉnh Đắk Lắk, phía Nam giáp với tỉnh Bình Thuận và Đồng Nai, phía Đông giáp tỉnh Ninh Thuận và Khánh Hòa, phía Tây giáp các tỉnh Đắk Nông và Bình Phước
Trang 38Toàn tỉnh hiện có 12 đơn vị hành chính gồm: Thành phố Đà Lạt, Thành phố Bảo Lộc và 10 huyện với 148 xã, phường, thị trấn; trong đó, có 106 xã vùng sâu, vùng
xa, vùng trọng điểm nằm trong danh sách các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 30/2007/QĐ-TTg ngày 05/03/2007 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Thành phố Đà Lạt là trung tâm hành chính - kinh tế - xã hội của Tỉnh, cách trung tâm kinh tế lớn của vùng và khu vực không xa, hướng Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 300 km, Biên Hoà 270 km, Vũng Tàu 340 km, hướng Đông cách cảng biển Nha Trang 160 km
- Địa hình :
Địa hình Lâm Đồng nhìn chung thuộc dạng vùng núi, từ núi thấp, trung bình đến núi cao, có độ cao thay đổi từ 200 - 2.200m Địa hình nghiêng dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam, có rất nhiều đỉnh núi cao vượt quá 1.500m như: Bi Doup (2.287 m), Lang Biang (2.167 m), Chư You Kao (2.006 m), M’Neun Ro (1.996 m), Be Nom Dan Seng (1.931 m), Braiom (1.874 m), Quan Du (1.805 m), Chư Yen Du (1.784 m), M’Neun Pautar (1.664 m), M’Neun Lamleo (1.623 m), M’Neun San (1.502 m), … Độ cao phổ biến là 500 - 1.200 m Trong mối quan hệ với địa chất - địa mạo, có thể phân chia địa hình của tỉnh ra các dạng sau:
+ Địa hình thung lũng
Gồm các bề mặt tương đối bằng phẳng, ít dốc; có nguồn gốc tích tụ thung lũng giữa núi hoặc các bồi tích sông suối hiện đại Đất ở đây tùy thuộc vào nguồn gốc mẫu thổ và mức độ bão hòa nước mà được xếp vào các loại đất phù sa, dốc tụ hoặc đất gley
và hầu hết có khả năng thích hợp với bố trí lúa nước và các loại cây hàng năm khác Có thể gặp lúa nước phổ biến ở khu vực các xã thuộc huyện mới Đam Rông như Đạ K’Nàng, Phi Liêng, Liêng S’Rônh
+ Địa hình đồi núi thấp đến trung bình
Là các dải đồi hoặc núi ít dốc (phần lớn dốc < 200) và có độ cao < 800 -1.000
m Ở dạng địa hình này phần nhiều là các đồi núi có nguồn gốc phun trào bazan với các đất nâu đỏ hoặc nâu vàng trên bazan
Trang 39+ Địa hình núi cao
Là các khu vực núi có độ cao > 800 m và thường là dốc mạnh (> 200), chủ yếu
là các khu vực có nguồn gốc xâm nhập jura-creta (granit, dacit hoặc andezit) hoặc các trầm tích mesozoi (phiến sa, phiến sét) Ở dạng địa hình này phổ biến là các đất vàng
đỏ, đỏ vàng hoặc xám trên các đá magma acit trung tính hoặc đá phiến và phần lớn là
có tầng mỏng Do có những hạn chế về độ dốc và độ dày tầng đất mà phần lớn đầt trên dạng địa hình núi cao chủ yếu chỉ thích hợp cho sản xuất lâm nghiệp, phần lớn diện tích đều có rừng che phủ
Nhìn chung,với nhiều đứt gẫy và nhiều bậc thềm, địa hình tỉnh Lâm Đồng đã tạo nên những biến đổi của các yếu tố tự nhiên như khí hậu, thảm thực vật, thổ như-nhưỡng và tạo ra những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú cho tỉnh Lâm Đồng Lâm Đồng được xem là mái nhà của miền Đông Nam bộ, nơi đây là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông suối đổ về miền Đông Nam Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ (như sông Đồng Nai,
La Ngà, Đa Nhim, Sêrêpok ) Tài nguyên rừng, tài nguyên đất tỉnh Lâm Đồng là nguồn sinh thủy làm dịch vụ môi trường nước rất quan trọng cho hoạt động của nhiều công trình thủy điện trọng điểm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Tỉnh Lâm Đồng nằm ở vị trí có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772 km2, địa hình chủ yếu là bình sơn nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật và những cảnh quan kỳ thú
Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam - là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và là thị trường có nhiều tiềm năng Toàn tỉnh có thể chia thành
3 vùng với 5 thế mạnh: phát triển cây công nghiệp dài ngày, lâm nghiệp, khoáng sản,
du lịch - dịch vụ và chăn nuôi gia súc
Trang 40vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mông Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía đông nam đới Đà Lạt Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền Cambri bị sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo mạnh mẽ trong Mesozoi muộn và Kainozoi
- Thổ nhưỡng:
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm
8 nhóm đất và 45 đơn vị đất: Nhóm đất phù sa (fluvisols); Nhóm đất glây (gleysols) ; Nhóm đất mới biến đổi (cambisols); Nhóm đất đen (luvisols); Nhóm đất đỏ bazan (ferralsols); Nhóm đất xám (acrisols); Nhóm đất mùn alit trên núi cao (alisols); Nhóm đất xói mòn mạnh (leptosols);
Đất có độ dốc dưới 250 chiếm trên 50%, đất dốc trên 250 chiếm gần 50% Chất lượng đất đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất
có khả năng sản xuất nông nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích hợp cho việc trồng cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như cà phê, chè, dâu tằm Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha, tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng 23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng; chè, cà phê, rau, hoa ở Lâm Đồng đa dạng về chủng loại, có những loại giá trị phẩm cấp cao
Đất có khả năng nông nghiệp còn lại tuy diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì bị úng ngập hoặc bị khô hạn, tầng đất mỏng
có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số sử dụng không cao Trong đó diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, còn lại là đất trồng đồi trọc khoảng 40%
- Khí hậu:
Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, biến thiên theo độ cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình từ 18 - 250C, thời tiết
ôn hòa và mát mẻ quanh năm Lượng mưa trung bình từ 1.750 - 3.150 mm/năm, độ
ẩm tương đối trung bình cả năm là 85 - 87%, số giờ nắng trung bình cả năm là 1.890 - 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển các loại cây trồng,