1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh đái tháo đường type 2

15 689 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 226,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng đường huyết có thể gây ra các biến chứng cấp tính, tình trạng dễ bị nhiễm trùng và về lâu dài, gây tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của các cơ quan khác nhau, đặc biệt là

Trang 1

I Bệnh đái tháo đường[1],[2],[3],[4]

1 Định nghĩa.[1]

Đái tháo đưỡng (ĐTĐ) là một nhóm bệnh lý chuyển hoá, đặc trưng bởi tăng đường huyết do sự khiếm khuyết tiết insulin hoặc sự suy giảm hoạt tính insulin Tăng đường huyết có thể gây ra các biến chứng cấp tính, tình trạng dễ bị nhiễm trùng và về lâu dài, gây tổn thương, rối loạn và suy giảm chức năng của các cơ quan khác nhau, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu Do đó, ĐTĐ là thuật ngữ chỉ một phạm vi rộng các bệnh không đồng nhất, có bệnh nguyên và cơ chế bệnh sinh phức tạp

2 Vài nét lịch sử bệnh và thuật ngữ.[1]

 ĐTĐ (còn gọi là bệnh tiểu đường) đã được mô tả từ thời cổ Hy Lạp

 1875, Bouchardat đưa ra nhận xét về tính đa dạng của nhóm bệnh và các thuật ngữ ĐTĐ thể gầy và ĐTĐ thể mập

 1921, Best & Banting phát hiện ra insulin và đưa vào điều trị

 1936, Himsworth phân biệt ĐTĐ nhạy cảm và ĐTĐ đề kháng insulin

 1950, phát hiện ra nhóm sulfonylurea và biguanide

 1976, Gudworth đề nghị tên ĐTĐ type 1 và type 2

 1979, NDDG của Mỹ và WHO-1980 đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại ĐTĐ phụ thuộc insulin (IDDM, type 1) và ĐTĐ không phụ thuộc Insulin (NIDDM, type 2)

 1995, FDA công nhận nhóm thuốc ức chế men -glucosidase đã được nghiên cứu trước đó ở Châu Âu 1996, FDA cho phép sử dụng tại Mỹ nhóm thiazolidinediones

 1998, công bố kết quả nghiên cứu UKPDS sau 20 năm theo dõi tại Anh với kết luận: việc kiểm soát đường huyết tốt ở BN ĐTĐ type 2 làm giảm

rõ rệt tử vong và tàn phế

 ADA-1997 và WHO-1999 thống nhất tiêu chuẩn chẩn đoán và bảng phân loại hiện nay với tên gọi đái tháo đưỡng type 1 và type 2

3 Tần suất và dịch tễ học[3],[4]

ĐTĐ có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ chung ở nam và nữ tương đương nhau

Số người mắc tiểu đường trên toàn thế giới tăng từ 171 triệu vào năm 2000; năm 2003 con số này đã tăng lên 194 triệu người; năm 2011 con số này

Tỷ lệ người mắc bệnh tăng 42% ở các nước phát triển, các nước đang phát triển tỷ lệ này là 170% Trong đó chủ yếu là đái tháo đường týp 2 chiếm khoảng 85-95% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường (theo số liệu của Liên đoàn Đái tháo đường thế giới)

Trang 2

Chi phí về y tế dành cho căn bệnh này đã tăng lên 465 tỉ USD Đây là căn bệnh được xếp đứng thứ 4 nguyên nhân gây tử vong, gây giảm tuổi thọ trung bình

từ 5 đến 10 năm; là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà, suy thận giai đoạn cuối và cắt cụt chi không do chấn thương Trung bình cứ 7 giây lại có một người chết do nguyên nhân đái tháo đường và các biến chứng; cứ 30 giây lại có một người đái tháo đường có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi

Từ những tác hại đó cho thấy, đái tháo đường đang phá hoại sự phát triển của toàn cầu và các nước đang phát triển như Việt Nam Đặc biệt tập trung “đánh” vào những người nghèo nhất, khó khăn nhất

Theo TS.BS Trần Quang Khánh - phó chủ nhiệm bộ môn nội tiết Đại học Y dược TP.HCM, trưởng khoa nội tiết Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, bệnh đái tháo đường (type 2) được ví như “cơn sóng thần” hay một “đại dịch” của thế kỷ 21 với tỉ

lệ ngày càng tăng nhanh và tuổi chẩn đoán bệnh ngày càng trẻ hóa Nếu như vào những thập niên cuối của thế kỷ trước, bệnh nhân đái tháo đường thường được chẩn đoán ở độ tuổi 60-70 thì hiện nay là 40-50 tuổi, thậm chí có trường hợp

20-30 tuổi đã bị đái tháo đường

Năm 1991, một điều tra dịch tễ học về đái tháo đường lần đầu tiên được thực hiện trên phạm vi toàn quốc ở ba thành phố lớn là TP.HCM, Hà Nội và Huế cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường ở TP.HCM cao nhất với 2,52% dân số nội thành, Hà Nội 1,1% và Huế thấp nhất chỉ có 0,96%

Mười năm sau (2001), một điều tra về đái tháo đường khác được tiến hành

ở bốn thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và TP.HCM cho thấy tỉ lệ mắc đái tháo đường đã tăng lên 4,9% Như vậy chỉ sau 10 năm tỉ lệ bệnh nhân mắc đái tháo đường chung đã tăng gấp ba lần

Bác sĩ Đỗ Thị Ngọc Diệp - giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM - cho biết trung tâm đã tiến hành hai cuộc nghiên cứu dịch tễ về tình trạng dinh dưỡng

và rối loạn chuyển hóa đường vào năm 2001 và 2008 trên đối tượng 30-69 tuổi Kết quả cho thấy tình trạng thừa cân béo phì, đái tháo đường gia tăng nhanh chóng từ hai đến ba lần trong vòng tám năm Cụ thể, tỉ lệ đái tháo đường tăng từ 3,7% lên 7,04%; tỉ lệ rối loạn chuyển hóa tăng từ 12% lên 17,7%

Đặc biệt có xu hướng trẻ hóa ở đối tượng mắc bệnh đái tháo đường, thừa cân béo phì và rối loạn chuyển hóa Năm 2011, qua đợt khám sàng lọc của Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM ở 16 phường thuộc các quận: 6, 11, Tân Bình và Phú Nhuận cho thấy tỉ lệ dân số bị đái tháo đường ở đợt khám này lên tới 9,3%

Theo bác sĩ Ngọc Diệp, xét về độ tuổi, tuy tỉ lệ đái tháo đường ở nhóm tuổi dưới 40 khá thấp nhưng tỉ lệ rối loạn đường huyết lúc đói khá cao, với 11,4%, cảnh báo nguy cơ các đối tượng này chuyển sang đái tháo đường trong tương lai

Trang 3

TS Quang Khánh cho biết thêm một nghiên cứu về đái tháo đường được tiến hành tại TP.HCM năm 2009-2010 bằng phương pháp cho bệnh nhân uống 75gam đường glucose và hai tiếng sau mới lấy máu thử đường huyết (được coi là

“tiêu chuẩn vàng” để chẩn đoán đái tháo đường) thì tỉ lệ đái tháo đường ở nam giới là 10% và nữ giới là 11%

4 Đái tháo đường type 2.[2]

Đái tháo đường type 2 thuộc phân loại đái tháo đường theo bệnh nguyên Bệnh còn gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin, có cơ chế bệnh sinh đa dạng, đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mạn tính và kết hợp với béo phì trong 60 – 80% trường hợp Bệnh thường xuất hiện sau tuổi 30, phần lớn bệnh nhân đã có một giai đoạn bị béo phì Bệnh có liên quan đến yếu tố di truyền và stress Việc điều trị đôi khi cũng dùng insulin nhưng không phải luôn luôn mà thường là sử dụng các sulfamid

5 Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ type 2.[1]

ĐTĐ type 2 có bệnh nguyên đa yếu tố và cơ chế bệnh sinh phức tạp Trong

đó, hai yếu tố chính có liên hệ mật thiết là sự đề kháng isulin và rối loạn tiết insulin

+ Sự đề kháng insulin: được xác định ở hơn 90% bệnh nhân ĐTĐ tip 2 và

thường xuất hiện nhiều năm trước khi chẩn đoán được bệnh

Đề kháng insulin có liên hệ nhân quả mật thiết với tình trạng tăng insulin máu và hàng loạt biểu hiện của hội chứng chuyển hoá: béo phì, rối loạn lipid máu, xơ vửa động mạch, tăng huyết áp và rối loạn dung nạp glucose

Các yếu tố di truyền và môi truờng có ảnh hưởng thúc đẩy tình trạng đề kháng insulin như: béo phì, tuổi già, thiếu vận động, thai kỳ, bệnh nặng hoặc phẩu thuật, hội chứng Cushing và một số thuốc (steroid, lợi tiểu thiazides,…)

Trên lâm sàng, có thể nhận biết tình trạng đề kháng insulin qua các biểu hiện gián tiếp của hội chứng chuyển hoá, chứng gai đen, gan nhiễm mỡ, tăng nồng độ insulin và nồng độ peptid C trong máu

+ Rối loạn tiết insulin: Ở thời kỳ tiền ĐTĐ, những người có tình trạng đề kháng

insulin thường có sự gia tăng tương đối nồng độ insulin máu và peptid C Tuy nhiên, sự gia tăng này không còn đáp ứng thích hợp cho nhu cầu chuyển hoá Khiếm khuyết đầu tiên là mất phóng thích insulin pha sau ăn và mất sự đáp ứng dao động theo nồng độ đường huyết gây hậu quả tăng đường huyết sau ăn Ngoài ra, sự giảm tiết insulin khiến không còn đủ để ức chế sự tân sinh đừơng từ gan gây hậu quả tăng đường huyết lúc đói

Khi đường huyết tăng cao liên tục, gây ra hiện tượng nhiễm độc glucose mạn tính Tình trạng này cùng với sự gia tăng mạn tính các acid béo tự do sẽ làm suy giảm thêm tiết insulin và gây chết tế bào  tụy Hậu quả cuối cùng là sự cạn kiệt tế bào  Điều này giải thích hiện tượng các trường hợp bệnh nhân ĐTĐ tip 2 lâu năm sẽ không còn đáp ứng với các thuốc uống kích thích  tụy tiết insulin

Trang 4

+ Ảnh hưởng của di truyền trong ĐTĐ tip 2 rất mạnh dựa trên các quan sát:

Tỉ lệ hai anh/ chị em sinh đôi cùng trứng bị ĐTĐ từ 90 -100%

Bệnh nhân thường có liên hệ trực hệ bị ĐTĐ tip 2

Các chủng tộc, sắc dân trên thế giới có tỷ lệ mắc bệnh khác nhau nhiều

6 Lâm sàng[1]

 Triệu chứng tăng đường huyết

Có thể thay đổi theo thể bệnh, chủ yếu là những triệu chứng cơ năng và bệnh sử Hầu hết trường hợp ĐTĐ tip 1 và những trường hợp ĐTĐ tip 2 có biến chứng cấp thường có các triệu chứng điển hình:

- Tiểu nhiều, tiểu đêm và có thể tiểu dầm ở trẻ em

- Uống nhiều và khát nhiều

- Sụt cân nhiều ở tip 1 và thườg ít hơn ở tip 2

- Ăn nhiều hoặc chán ăn; thèm ngọt và ăn nhiều thức ăn ngọt hơn trước đó

Ngòai ra, trong thực hành nên lưu ý các biểu hiện không điển hình khác để có thể

chẩn đoán sớm, nhất là ĐTĐ tip 2 vì diễn tiến bệnh thường âm thầm:

- Mệt mỏi hoặc tình trạng mất sức không giải thích được

- Sụt cân ít hoặc vừa, không giải thích được

- Nhìn mờ (do tăng áp lực thẩm thấu dịch kính hoặc các biến chứng tại mắt)

- Rối loạn chức năng tình dục ở nam; rối loạn cương

- Tê, dị cảm đầu chi Chóng mặt Da khô

- Các tình trạng nhiễm trùng thông thường kéo dài và tái phát như nhiễm trùng da (nhọt, vết thương lâu lành), nhiễm trùng tiểu, viêm hô hấp trên, viêm nhiễm vùng sinh dục (nấm candida âm hộ, qui đầu,…); ngứa hậu môn, nấm candida họng – thực quản

- Bệnh nhân phát hiện nước tiểu kiến bu, hoặc nếm nước tiểu có vị ngọt

 Hầu hết các thể bệnh không phụ thuộc insulin, trong đó ĐTĐ tip 2 chiếm đa

số có diễn tiến bệnh thường chậm và với các biểu hiện không rõ ràng Khoảng 1/3 các trường hợp được chẩn đoán tình cờ khi thăm khám sức khoẻ định kỳ hoặc xét nghiệm tiền phẩu, thậm chí bệnh nhân đến khám vì biến chứng mạn của ĐTĐ Nhiều trường hợp đã có một hoặc nhiều biến chứng mạn tại thời điểm chẩn đoán mới Một số trường hợp khác nhập viện lần đầu với các biến chứng cấp và nặng như tăng áp lực thẩm thấu, nhiễm cetone, nhiễm trùng,…

 Các đối tượng có nguy cơ bị đái tháo đường type 2:

- Tuổi trên 45

- Thuộc các chủng tộc thiểu số có nguy cơ cao (người Mỹ gốc Châu Á, Phi)

- Có bố mẹ và anh chị em ruột bị ĐTĐ type 2

- Béo phì, BMI > 27kg/m2, đặc biệt béo phì kiểu trung tâm

Trang 5

- Có tiền căn rối loạn đường huyết đói hoặc rối loạn dung nạp glucose.

- Tiền căn ĐTĐ thai kỳ và/hoặc sinh con nặng hơn 4 - 4,5kg

- Có tăng huyết áp (>140/90mmHg)

- Có rối loạn lipid máu: HDL ≤ 35mg/dL, triglycerid ≥ 250mg/dL

- Tiền căn suy dinh dưỡng bào thai hoặc trong năm đầu sau sinh

- Ít hoạt động thể lực, hút thuốc lá, uống nhiều rượu, ăn nhiều béo, ít carbohydrat

- Các đối tượng này nên được tầm soát để chẩn đoán sớm bệnh và các biến chứng mạn tính ở mắt, thận vì các biến chứng này có thể xuất hiện từ 5-6 năm trước khi chẩn đoán được bệnh ĐTĐ type 2

7 Các biến chứng mạn tính.[1]

Các thể bệnh đái tháo đường đều gây ra nhiều biến chứng mạn tính đa dạng trên nhiều hệ cơ quan khác nhau Đa số các biến chứng là hậu quả của tổn thương các tổ chức mạch máu và thần kinh Tần suất các biến chứng tăng theo thời gian bệnh và kiểm soát đường huyết kém

Có sự khác biệt tương đối về tần suất và hình thái tổn thương giữa hai type 1

và 2 Nguyên nhân chính gây tử vong ở type 1 là bệnh thận giai đoạn cuối, còn

ở type 2 là bệnh mạch máu lớn Nguyên nhân chính gây mù ở type 1 là viêm võng mạc tăng sinh, bong võng mạc, xuất huyết thể kính; còn ở type 2 là tổn thương hoàng điểm, đục thuỷ tinh thể

7.1 Biến chứng mạch máu lớn

Bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch gấp 2- 4 lần người bình thường Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm 70%

tử vong ở bệnh nhân ĐTĐ

Cơ chế tổn thương sớm là tổn thương tế bào nội mạc mạch máu Sau đó là xơ vữa động mạch và tăng huyết áp Xơ vữa động mạch là hậu quả quá trình tương tác của nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó ĐTĐ là một trong những yếu tố nguy cơ chính Xơ vữa động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ xảy ra sớm hơn, nặng hơn, lan rộng hơn

Biểu hiện LS của biến chứng mạch máu lớn được chia ra 3 nhóm:

- Bệnh mạch vành: đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, đột tử, suy tim

- Bệnh mạch máu não: các thể tai biến mạch máu não, sa sút trí tuệ

- Bệnh mạch máu ngoại biên: chủ yếu là mạch máu chân với các biểu hiện:

* Viêm động mạch: đau cách hồi, chân lạnh, màu tím đỏ, teo cơ,

* Hoại tử: hoại tử khô một hoặc nhiều ngón, hoại tử ướt bờ ngoài gót chân, loét thiếu máu tại chỗ

7.2 Biến chứng mạch máu nhỏ (bệnh lý vi mạch)

Trang 6

Đây là những biến chứng đặc hiệu do ĐTĐ, tổn thương chủ yếu ở các mao mạch và các tiểu động mạch tiền mao mạch, biểu hiện bằng dày màng đáy mao mạch Hậu quả lâm sàng bao gồm bệnh lý võng mạc, bệnh lý thận và các bệnh lý thần kinh

Bệnh lý mắt do ĐTĐ:

Bao gồm bệnh lý võng mạc và các bệnh lý ngoài võng mạc (đục thuỷ tinh thể, glaucoma, liệt mắt do tổn thương các dây thần kinh sọ số III, IV hoặc VI) Các tổn thương mắt thường không có triệu chứng ở giai đoạn sớm nên việc khám chuyên khoa mắt và theo dõi định kỳ được khuyến cáo đối với tất cả bệnh nhân ĐTĐ típ 2 mới được chẩn đoán hoặc ĐTĐ típ 1 trên 5 năm

7.2.2 Bệnh lý võng mạc do ĐTĐ bao gồm các hình thái tổn thương

sau:

- Bệnh võng mạc không tăng sinh (viêm võng mạc tổn thương cơ bản): thường gặp hơn ở ĐTĐ típ 2 Đặc trưng bởi các vi phình mạch, các mao mạch giãn ra, gấp khúc; xuất tiết, xuất huyết dạng chấm và vết Các tổn thương này chưa gây ảnh hưởng thị lực

Phù hoàng điểm là tổn thương nặng hơn, do sự tích tụ bất thường dịch ngoại bào gây ra hiện tượng dày lean ở trung tâm võng mạc Thị lực thường giảm đột ngột, có thể không hồi phục nên cần được điều trị ngay

- Bệnh võng mạc tăng sinh: thường gặp hơn ở ĐTĐ típ 1 Đặc trưng bởi sự tăng sinh mạch máu mới và bám vào bao sau của dịch kính, là hậu quả của sự tắt các vi mạch gây thiếu oxy võng mạc Nguy cơ cao giảm thị lực khi có xuất huyết trong dịch kính, sẹo xơ và bong võng mạc

7.2.3 Bệnh thận đái tháo đường

Bệnh thận ĐTĐ hiện nay là nguyên nhân hàng đầu của bệnh thận giai đoạn cuối Bệnh xảy ra ở cả hai tip với các cơ chế bệnh sinh phức tạp Các tổn thương vi thể bao gồm xơ cứng cầu thận kiểu Kimmelstein – Wilson, thay đổi cấu trúc các tiểu động mạch và bệnh ống thận mô kẽ Về đại thể, tăng kích thước thận là một đặc trưng thường gặp

Giai đoạn sớm, bệnh được chẩn đoán bằng microalbumin niệu (30 – 300mg albumin/24g) và ở giai đoạn này bệnh có khả năng ngăn được tiến triển Thời gian từ khi xuất hiện mircoalbumin niệu đến đạm niệu rõ (> 300mg/24g) là vài năm Tầm soát microalbumin niệu hàng năm nên được tiến hành đối với bệnh nhân ĐTĐ típ 2 kể từ khi được chẩn đoán và ĐTĐ típ 1 sau

5 năm

Giai đoạn tổn thương thận, bệnh trở nên rõ rệt khi có đạm niệu và/hoặc creatinin huyết thanh tăng dần Khoảng 40% trường hợp có biểu hiện

Trang 7

hội chứng thận hư trên bệnh nhân ĐTĐ (phù toàn, giảm albumin máu, protein niệu > 3g/24g, tăng huyết áp và suy thận) Thời gian trung bình từ tiểu đạm đến bệnh thận giai đoạn cuối là 5 năm

Giai đoạn cuối, với hội chứng uremia rõ, thiếu máu và phù; thường kèm theo nhiều biến chứng mạn tính khác, tiên lượng xấu, tử vong cao nếu không được lọc máu hoặc ghép thận

7.2.4 Các bệnh lý thần kinh do đái tháo đường

Bệnh thần kinh ngoại biên cũng như bệnh thần kinh tự chủ là các biến chứng mạn tính quan trọng thường gặp, thường xuất hiện sau 5 năm ở ĐTĐ tip 1

và từ trước thời điểm chẩn đoán ở ĐTĐ tip 2 Sinh bệnh học còn nhiều điểm chưa

rõ ràng Tổn thương mô học cơ bản là mất bao myelin của sợi thần kinh Hiện chưa có điều trị nào đặc hiệu cho các tổn thương này Các biểu hiện lâm sàng rất

đa dạng

7.2.4.1 Bệnh thần kinh ngoại biên:

- Viêm đa dây thần kinh ngoại biên: rất hay gặp, thường đối xứng.

Bắt đầu từ phần xa của chi dưới với tê nhức, dị cảm, tăng cảm giác và đau Đau thường âm ỉ hoặc đau trong sâu, có khi như điện giật, thường tăng về đêm Khám thấy giảm hoặc mất phản xạ gân xương, đặc hiệu là mất phản xạ gân gót

- Viêm đơn dây thần kinh : hiếm gặp, triệu chứng cổ tay rớt, bàn chân rớt hoặc liệt dây thần kinh III, IV ,VI, VII

7.2.4.2 Bệnh thần kinh tự động

- Hệ tim mạch: nhịp tim nhanh lúc nghỉ, khả năng gắng sức giảm, nhồi máu

cơ tim không đau, hạ huyết áp tư thế, đột tử

- Hệ tiêu hoá: rối loạn chức năng thực quản; hội chứng trào ngược Mất trương lực dạ dày (chán ăn, buồn nôn, nôn, đầy bụng sau ăn) Táo bón Tiêu chảy (đặc biệt về đêm và sau ăn) Đại tiện không tự chủ

- Hệ niệu dục: rối loạn cương, xuất tinh ngược dòng, bàng quang thần kinh

7.3 Các biến chứng khác

7.3.1 Biến chứng nhiễm trùng:

Bệnh nhân ĐTĐ rất dễ bị nhiễm trùng bởi nhiều yếu tố sau: sự suy giảm chức năng bạch cầu, sự giảm tưới máu mô do bệnh mạch máu, chấn thương lặp lại do mất cảm giác,…

- Nhiễm trùng da và viêm mô tế bào

- Nhiễm nấm candida ở thực quản, bộ phận sinh dục

- Nhiễm trùng tiểu thường gặp viêm bàng quang, viêm đài bể thận cấp

- Viêm phổi do vi khuẩn Lao phổi

- Viêm túi mật khí thũng Viêm tai ngoài ác tính

Trang 8

7.3.2 Bàn chân ĐTĐ do bệnh thần kinh, giảm tưới máu và nhiễm nhiều loại

vi khuẩn Nếu không điều trị tốt loét, hoại thư bàn chân thường phải đoạn chi

8 Điều trị đái tháo đường.[2]

8.1 Mục tiêu

- Làm giảm bớt các triệu chứng:

+ Lâm sàng: uống nhiều, nếu có tiểu nhiều

+ Cận lâm sàng: đưa đường huyết về mức gần bình thường nhất, đường niệu

âm tính

- Đạt được cân nặng hợp lí gần với hằng số sinh lý, đối với bệnh nhân có béo phì cần làm giảm cân

- Làm chậm xuất hiện các biến chứng, tránh các biến chứng nguy hiểm như hôn

mê tăng đường huyết, suy thận, hoại tử chi do tắc mạch, viêm võng mạc…

- Nâng cao chất lượng đời sống người bệnh

8.2 Nguyên tắc điều trị

Để điều trị có hiệu quả cần có sự phối hợp của nhiều phương pháp như:

- Chương trình huấn luyện bệnh nhân

- Chế độ dinh dưỡng hợp lí

- Rèn luyện cơ thể

- Thái độ tinh thần trong cuộc sống

- Điều trị dùng thuốc

- Ngoài ra có thể thay thế dùng thuốc bằng các bài thuốc đôngy, y học cổ truyền, châm cứu

9 Nhược điểm của phương pháp điều trị đái tháo đường dùng thuốc

Một trong các phương pháp bắt buộc để điều trị tiểu đường là dùng thuốc suốt đời Tuy nhiên phương pháp này gặp phải những nhược điểm sau:

- Hiệu quả điều trị không cao

- Gây nhiều tác dụng phụ, thậm chí gây nguy hiểm cho người bệnh

- Việc phải uống nhiều loại thuốc lâu ngày làm cho gan bị suy yếu và dẫn đến viêm gan

Trang 9

II Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh đái tháo

đường type 2

1 Ưu điểm của thiết bị quang châm Laser bán dẫn công suất thấp so với châm cứu cổ truyền

Trong chữa trị bệnh tiểu đường, châm cứu nhằm mục đích khôi phục và

duy trì sức khỏe bằng cách kích thích điểm cụ thể trên cơ thể con người bằng cách đưa kim vào các huyệt trên cơ thể Có khoảng 20 huyệt trong cơ thể có hiệu quả trong việc làm giảm lượng đường trong máu Châm cứu có hiệu quả làm giảm lượng đường trong máu, ở những người mắc bệnh tiểu đường Nó đã được chứng minh là đặc biệt hiệu quả ở những người mắc bệnh tiểu đường type 2

Trong khi đó, quang châm bằng laser bán dẫn công suất thấp là dùng các tia sáng chiếu vào các huyệt trên cơ thể, thay thế cho việc dùng kim truyền thống trong châm cứu Phương pháp này là sự kết hợp giữa y học cổ truyền với y học hiện đại

Laser châm cứu có ưu điểm: không gây tổn thương ở các điểm châm cứu, không có nguy cơ gãy kim hoặc tổn thương mạch máu, tránh lây nhiễm bệnh Thích hợp cho bệnh nhân sợ đau và trẻ em Không có tác dụng phụ Có thể châm cứu tới 12 điểm huyệt cùng một lúc đồng thời kết hợp nhiều bước sóng điều trị ở các độ sâu khác nhau, điều trị một phạm vi rộng hơn và thời gian dài hơn Phương pháp phát huy được những ưu điểm của châm cứu cổ truyền nhưng cũng mang lại

sự thoải mái, an toàn và hiệu quả cao trong điều trị

2 Cơ chế điều trị bằng laser bán dẫn công suất thấp.[5]

Trong tác động của laser bán dẫn công suất thấp thì hiệu ứng kích thích sinh học đóng vai trò quyết định

Hiệu ứng kích thích sinh học xảy ra khi chùm tia Laser tác động lên hệ sinh học với mật độ công suất khoảng 10-4 – 100 W/cm2 với thời gian chiếu từ 10 giây đến vài chục phút

Hiệu ứng kích thích sinh học thông qua hàng loạt phản ứng quang hóa và quang sinh

Phản ứng quang hóa được hiểu như sau: phân tử ở trạng thái trung hòa (ở mức năng lượng cơ bản) thì hoạt tính sinh học của nó yếu (thí dụ như oxy phân tử trong tổ chức sinh học) Dưới tác động của photon trong chùm tia Laser phân tử

ấy được chuyển lên trạng thái kích thích ở đấy hoạt tính sinh học của nó mạnh mẽ hơn

hv + O2 ⇒ O2 *

Đây chính là ngòi nổ cho hàng loạt các phản ứng khác xảy ra.Trong công trình nghiên cứu kéo dài 6 năm (1981 – 1986) của Karu T [15] cho biết, thực chất tác dụng của tia Laser công suất thấp lên hệ sinh học là phản ứng quang sinh Khi

tổ chức sống hấp thu năng lượng photon của chùm tia Laser thì xảy ra sự sắp xếp

Trang 10

lại các quá trình phản ứng của tế bào Nơi nhận photon đầu tiên là mạch hô hấp tế bào

Nhờ những quá trình trên đây làm thay đổi rất đa dạng ở mức độ tế bào, từ đấy tạo nên nhiều đáp ứng tích cực ở mức hệ thống chức năng và mức cơ thể trọn vẹn

Có thể tóm tắt quá trình trên bằng sơ đồ dưới:

Nghiên cứu của tiến sĩ Larry Lytle cho thấy các tế bào trong cơ thể phát ra tia hồng ngoại cường độ thấp gọi là photon sinh học Các photon sinh học cho phép giao tiếp giữa các khoảng gian bào Khi 2 photon sinh học gặp nhau chúng tạo thành soliton wave Soliton wave là thuật ngữ chỉ các xung lan truyền qua khoảng cách dài mà không thay đổi hình dạng xung Một soliton wave có cường độ cao hơn 2 photon sinh học riêng lẻ và di chuyển qua cơ thể dễ dàng hơn (mang thông tin và năng lượng)

Các tế bào bao gồm các nguyên tử, nguyên tử gồm có hạt nhân và các electron chuyển động xung quanh Khi electron rời khỏi nguyên tử, nguyên tử bị thay đổi điện tích âm và gây ra bệnh Từ những nguyên tử này cấu tạo nên tế bào được phân bào thông qua DNA và bệnh trở nên mạn tính

Như phần trên ta đã biết đái tháo đường type 2 xảy ra khi các tế bào nhận

bị biến đổi và không tiếp nhận insulin dẫn đến suy giảm khả năng tổng hợp ATP – đồng tiền năng lượng của tế bào

Laser công suất thấp tạo ra các soliton wave mang electron đến các tế bào

bị tổn thương, phục hồi lại chức năng bình thường cho chúng

3 Điều trị hạ đường huyết trong máu bằng laser.[6]

Trong điều trị hạ đường huyết trong máu, sử dụng tia laser bán dẫn công suất thấp bước sóng 650 nm chiếu xuyên vào động mạch làm cho sự chuyển hóa đường trong máu được cải thiện thông qua hiệu ứng quang hóa Theo đó, cải thiện vận chuyển oxy máu của tế bào hồng cầu; giảm độ nhớt, mỡ, áp suất thẩm thấu và nồng độ đường trong máu

Ngày đăng: 29/08/2017, 11:17

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bên cho thấy tác động của - Ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị bệnh đái tháo đường type 2
Hình b ên cho thấy tác động của (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w