Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngành kinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển và trở thành một lĩnh vực
giữ vị trí cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế của mỗi đất nước Trong thời đại
mới, khi các nền kinh tế đang tiến tới sự hội nhập và toàn cầu hoá Khi tiến bộ
khoa học phát triển hết sức nhanh chóng, vòng đời của các sản phẩm ngày càng
ngắn lại, các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và quốc tế không ngừng sự
tăng cường hợp tác để giành giật ưu thế trên thị trường, các hoạt động hợp tác
đầu tư, thúc đẩy thương mại, khuếch trương sản phẩm ngày càng trở nên quan
trọng và Hội chợ Triển lãm là một trong các lĩnh vực có điều kiện và phát huy
hiệu quả nhất cho mục tiêu này
Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam - Doanh nghiệp Nhà nước có bề
dày kinh nghiệm trong lĩnh vực tổ chức các dịch vụ hội chợ triển lãm trong nước
và quốc tế, trong những năm gần đây là một trong những đơn vị quốc doanh
hoạt động có hiệu quả và đang trên đà phát triển
Và cùng với xu hướng chung của các doanh nghiệp sản xuất, các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ cũng không ngừng phấn đấu tiết kiệm chi phí, hạ giá
thành sản phẩm Như vậy để quản lí có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh
doanh thì các doanh nghiệp đều phải sử dụng đồng thời hàng loạt các công cụ
quản lí khác nhau, trong đó kế toán được coi là một công cụ hữu hiệu, phục vụ
cho việc quản lí kinh tế cả về vĩ mô và vi mô Cơ chế thị trường tạo cho các
doanh nghiệp nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, thử thách, đòi hỏi các
doanh nghiệp phải thường xuyên quan tâm đến chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm
Là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh trình độ quản lí, sử dụng
vật tư, lao động, trình độ tổ chức công nghệ sản xuất sản phẩm nên giá thành sản
phẩm là cơ sở để đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp Việc hạch toán chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm không chỉ dừng
lại ở chỗ tính đúng, tính đủ chi phí trong giá thành mà còn phải tính đến việc
cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp Đây là một đòi hỏi khách quan
Trang 2của công tác quản lí Do đó việc nghiên cứu để hạch toán chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm cho hợp lí luôn là mối quan tâm của mọi doanh nghiệp
Xuất phát từ nhận thức đó, qua một thời gian thực tập tại Trung tâm Hội
chợ Triển lãm Việt Nam, được đối diện với thực trạng quản lí sản xuất kinh
doanh, em nhận thấy rõ vai trò và vị trí vô cùng quan trọng của kế toán tập hợp
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong công tác quản lí tại đơn vị Do
đó em lựa chọn đề tài "Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại
Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam " cho chuyên đề tốt nghiệp của mình
Nội dung chuyên đề này bao gồm 2 phần:
Phần thứ nhất : Thực trạng tổ chức công tác kế toán chi phí sản xuất
và tính giá thành tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam
Phần thứ hai : Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Trung tâm
Do chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn vì vậy bài viết còn nhiều thiếu
sót rất mong được sự góp ý của thầy cô và các anh chị
Trang 3
PHẦN THỨ I THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH
GIÁ THÀNH TẠI TRUNG TÂM HỘI CHỢ TRIỂN LÃM VIỆT NAM
I ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH CHUNG
1 Quá trình hình thành và phát triển
VEFAC là trung tâm Hội chợ triển lãm quốc gia Việt nam được thành lập
theo quyết định số 06 / HĐBT ngày 18 tháng 01 năm 1989 của Hội đồng Quản
trị, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) là một đơn vị trực thuộc Bộ Văn hoá
- Thông tin Hoạt động theo phương thức lấy thu bù chi, có con dấu và tài khoản
tiền Việt Nam và ngoại tệ tại ngân hàng
Trụ sở của Trung tâm tại : 148 đường Giảng võ - Quận Ba đình - Hà nội
Tên giao dịch quốc tế: Việt Nam Exhibition- Fair Centre
Tên viết tắt : VEFAC
Các giai đoạn phát triển:
1.1 Từ năm 1975 đến năm 1981
Khu triển lãm Giảng võ được nhà nước khởi công xây dựng từ năm 1962,
nhưng do chiến tranh nên sau ngày giải phóng miền Nam, Tổng cục thông tin
mới được nhận bàn giao và giao cho khu triển lãm Trung ương (thuộc Tổng cục
thông tin) quản lý và tổ chức hoạt động
Trong giai đoạn này hoạt động chủ yếu là tổ chức các cuộc triển lãm về
chính trị nhằm tuyên truyền biểu dương thắng lợi của dân tộc, động viên tài
năng sáng tạo trong lao động sản xuất và chiến đấu, khuyến khích động viên
nhân dân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng Chủ nghĩa xã hội và
bảo vệ Tổ quốc
1.2 Từ năm 1982 đến năm 1989
Đây là giai đoạn của các Hội chợ Triển lãm về thành tựu kinh tế kỹ thuật
toàn quốc theo quyết định số 33/HĐBT ngày 13 tháng 11 năm 1981 và chỉ thị bổ
xung số 125/HĐBT ngày 2tháng 6 năm 1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là
chính phủ ) về việc tổ chức triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt nam Nhà
Trang 4nước ta chủ trương "Xây dựng Trung tâm triển lãm Giảng Võ thành một Trung
tâm hoạt động kinh tế kỹ thuật thường xuyên, tổ chức định kỳ hàng năm các
cuộc Hội chợ triển lãm tổng hợp của cả nước nhằm tạo điều kiện cho các
nghành, các địa phương trong cả nước và khách quốc tế đến trưng bày, giao
dịch, ký kết hợp đồng kinh tế " (Trích chỉ thị 153/HĐBT)
Chính vì vậy, Trung tâm triển lãm Giảng Võ được đổi tên thành Trung
tâm triển lãm thành tựu kinh tế kỹ thuật Việt nam
1.3 Giai đoạn 1990 đến nay
Theo quyết định số 06/HĐBT ngày 18/1/1989 của Hội đồng Bộ trưởng,
trung tâm được mang tên "Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt nam" là một đơn vị
kinh doanh độc lập trực thuộc Bộ Văn hoá -Thông tin, hoạt động theo phương
thức hạch toán kinh doanh lấy thu bù chi và có trách nhiệm nộp các khoản thuế
cho ngân sách nhà nước
2 Đặc điểm chung về tổ chức bộ máy quản lý a- Sơ đồ bộ máy quản lý
Tổng giám đốc
Phó tổng giám đốc Phó tổng giám đốc
Phòng hội chợ triển lãm
Phòng dịch vụ hội chợ
triển lãm Hãng thiết kế dàn dựng
Văn phòng
Phòng Tài
chính-Kế toán
Hãng quảng cáo in ấn Phòng dịch vụ tổng hợp Phòng quản lý hạ tầng Phòng điện nước Phòng bảo vệ Chi nhánh tại thành
phố Hồ Chí Minh
Trang 5b- Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong Trung tâm Hội chợ
Triển lãm Việt Nam
Cho thuê văn phòng, ki ốt, cửa hàng
Tổ chức ký kết các hợp đồng biểu diễn văn hóa, văn nghệ
Trang 6Chịu trách nhiệm nhận quảng cáo, in ấn cho khách hàng trong và ngoài
triển lãm, in ấn các văn bản, giấy tờ, catalogue của cơ quan, quản lý khai thác
mạng thông tin Internet và phát hành tạp chí “Tiếp thị và Quảng cáo”
Phòng bảo vệ:
Đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ an toàn tài sản của Trung tâm trước, trong và sau hội chợ triển lãm
Đảm bảo an toàn hàng hóa cho khách tham dự hội chợ
3 Qui trình công nghệ sản xuất
Không giống với các xí nghiệp sản xuất thông thường, dịch vụ hội chợ
triển lãm là tổng thể các giao dịch trên thị trường hàng hóa có sẵn kết hợp với
nhu cầu tiêu dùng của khách hàng tạo nên nhu cầu tất yếu về các kênh thông tin
đối với các loại hàng hóa đó
Để có được loại dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu kể trên thì mối quan hệ
T- H- H’- T’ phải bắt đầu từ nhu cầu bán hàng của nhà
sản xuất muốn các sản phẩm của mình được người tiêu dùng biết đến
Thu thập thông tin để tổng hợp và sàng lọc các nhóm sản phẩm tiêu biểu
phù hợp, các nhà quản trị phải tính toán lên kế hoạch bước đầu cho một cuộc hội
chợ triển lãm các mặt hàng mà theo họ cả người tiêu dùng và các nhà sản xuất
đều quan tâm Các nhà quản trị ở đây thường là các chuyên gia trong lĩnh vực tài
chính để có thể tính toán một cách tương đối giữa chi phí bỏ ra và các khoản thu
cả về kinh tế lẫn các lợi ích khác có thể tạo ra
Sau khi cân đối về mặt lợi ích của cuộc hội chợ có thể đem lại, nhà quản
trị sẽ đưa ra quyết định tổ chức hay không tổ chức cuộc hội chợ đó Nếu quyết
định tổ chức hội chợ thì quá trình T H sẽ bắt đầu với việc thông tin
trên các phương tiện truyền thông đại chúng về kế hoạch tổ chức một cuộc hội
chợ mới về cả qui mô ngành nghề, các loại hàng hóa có mặt trong cuộc triển
lãm
Song song với quá trình thông tin quảng cáo, thì hoạt động Maketing đến
từng nhà sản xuất, các hãng phân phối là điều không thể thiếu Trong lĩnh vực
Trang 7kinh doanh dịch vụ hội chợ thì các nhóm khách hàng tiềm năng không cố định
theo nghĩa đen của nó mà sẽ thay đổi theo từng mùa hội chợ
Tiếp theo hoạt động Maketing thì nhiệm vụ của các phòng ban khác trong
trung tâm sẽ được triển khai Và mỗi một hoạt động đó có một qui trình công
nghệ riêng để tạo thành qui trình công nghệ khép kín riêng của hoạt động tổ
chức triển lãm :
Ví dụ như:
+ Qui trình công nghệ in ấn các planô, áp phích quảng cáo
+Qui trình công nghệ dàn dựng các gian hàng di động, các sân khấu ngoài
trời, các phòng triển lãm
Đến nay Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam đã tổ chức định kỳ hàng
năm cho các hội chợ:
Hội chợ quốc tế hàng công nghiệp từ năm 1993
Hội chợ xuân từ năm 1991
Hội chợ hàng tiêu dùng từ năm 1995
Hội chợ thời trang
Ngoài ra trung tâm còn phối hợp với các Bộ ngành, các tổ chức quốc tế
và trong nước tổ chức định kỳ hàng năm hoặc 2 năm 1 lần các cuộc hội chợ triển
lãm:
Hội chợ Thương mại quốc tế (EXPO) với VINEXAD
Triển lãm Viễn thông TELECOM
Hội chợ mùa thu
Triển lãm tuần lễ tin học
Sắp tới Trung tâm sẽ tổ chức cuộc Triển lãm "Nhãn hiệu có uy tín tại Việt
Nam" (6/2003) từ đây sẽ chọn ra các nhãn hiệu có uy tín cho các sản phẩm và
dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn cần thiết
Quy mô của các Hội chợ phụ thuộc chủ yếu vào chủ đề và nội dung của
nó Hiện nay Trung tâm có 4 khu nhà chính A1, A2, A3 và A9 với tổng diện tích
là 12000 m2 dùng để làm các khu trưng bày, các hội chợ Triển lãm định kỳ, tổng
Trang 8hợp thường có quy mô lớn như : Hội chợ Quốc tế hàng Công nghiệp, Hội chợ
xuân
Về chất lượng Hội chợ Triển lãm trung tâm được đánh giá là một trong
những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Hội chợ Triển lãm có chất lượng và uy tín
nhất tại Việt Nam dựa trên các chỉ tiêu : Cơ sở, vật chất, giá cả, chất lượng dàn
dựng gian hàng chất lượng các dịch vụ ngoại vi và phong cách tổ chức tiếp thị
4 Đặc điểm tổ chức bộ máy và hình thức sổ kế toán ở Trung tâm Hội
chợ Triển lãm Việt Nam
Hạch toán kế toán có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh Do vậy mỗi doanh nghiệp cần phải lựa chọn hình thức và bộ máy kế toán
phù hợp, phân công lao động kế toán hợp lý kết hợp giữa các bộ phận kế toán có
liên quan nhằm thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ kế toán Trung tâm Hội chợ
triển lãm Việt Nam là một doanh nghiệp hạch toán độc lập có tổ chức bộ máy kế
toán riêng, thực hiện công tác kế toán từ khâu lập chứng từ cho dến việc lập các
Báo cáo Tài chính Trung tâm áp dụng hình thức tổ chúc công tác kế toán tập
trung, có phòng Kế toán-Tài chính để tổng hợp thanh toán hạch toán về hoạt
động kinh doanh Từ năm 2000 Trung tâm đã triển khai ứng dụng kỹ thuật tin
học trong công tác kế toán Mọi chứng từ kế toán dù phát ở bộ phận nào cũng
đều tập trung về phòng kế toán dể xử lý
Trang 9a- Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:
Với mô hình kế toán tập trung còn gọi là kế toán một cấp Trung tâm Hội
chợ Triển lãm Việt Nam chỉ mở một bộ sổ kế toán, tổ chức một bộ máy kế toán
để thực hiện tất cả các giai đoạn hạch toán ở mọi phần hành kế toán Phòng kế
toán trung tâm của đơn vị sẽ thực hiện toàn bộ công tác kế toán từ thu nhận, ghi
sổ, xử lý thông tin trên hệ thống báo cáo phân tích và tổng hợp của đơn vị Các
đơn vị trực thuộc Trung tâm thì không mở sổ sách và hình thành bộ máy nhân sự
kế toán riêng; toàn bộ công việc ghi sổ lập báo cáo kế toán đều thực hiện ở
phòng kế toán trung tâm; các đơn vị trực thuộc chỉ thực hiện hạch toán ban đầu
theo chế độ báo cáo sổ
b- Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận trong bộ máy kế toán
.Trưởng phòng Kế toán (Kế toán trưởng): là người có chức năng tổ chức
, kiểm tra công tác kế toán ở đơn vị do mình phụ trách Với chức năng này, kế
toán trưởng là người giúp việc trong lĩnh vực chuyên môn kế toán, tài chính cho
Giám đốc điều hành Kế toán trưởng của Trung tâm do nhà nước bổ nhiệm giữ
Kế toán tiền lương và BHXH
Kế toán chi phí giá thành và TSCĐ
Thủ quĩ
Trang 10chức năng là giám sát viên kế toán- tài chính của nhà nước đặt tại doanh
nghiệp.Nhiệm vụ của kế toán trưởng là tổ chức bộ máy kế toán trên cơ sở xác
định đúng khối lượng công tác kế toán nhằm thực hiện hai chức năng cơ bản của
kế toán là : thông tin và kiểm tra hoạt động kinh doanh
.Phó phòng kế toán: là người chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Kế toán
trưởng Có nhiệm vụ phổ biến các kế hoạch, chương trình thực hiện công tác
chuyên môn trong bộ máy; là người ký duyệt một số hóa đơn chứng từ trong
nhiệm vụ quyền hạn của mình.Phó phòng kế toán có thể kiêm nhiệm kế toán
tổng hợp
.Kế toán tổng hợp: có trách nhiệm tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán để
lập báo cáo Tài chính vào cuối mỗi tháng, quý, năm để báo cáo lên cấp trên và
cơ quan quản lý chức năng của nhà nước
Kế toán tiền gửi và vật tư: theo dõi các khoản tiền gửi ở ngân hàng
thông qua các bản sao kê của ngân hàng kèm theo các giấy báo nợ, có sau đó đối
chiếu với các chừng từ gốc Đồng thời cũng theo dõi tình hình xuất nhập và tồn
kho nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
.Kế toán tiền mặt và công nợ: theo dõi việc thu chi tiền mặt, các khoản
phải thu, phải trả trong nội bộ và thanh toán với khách hàng, thanh toán với ngân
sách nhà nước
Kế toán tiền lương và BHXH: căn cứ vào Bảng chấm công để tính
lương cho cán bộ công nhân viên Trên cơ sở đó tính ra BHXH,BHYT và KPCĐ
Kế toán chi phí kinh doanh, tính giá thành và kế toán TSCĐ: phản ánh
kịp thời , đầy đủ chính xác các khoản chi phí thực tế phát sinh đối với từng hoạt
động kinh doanh cụ thể để làm cơ sở tính giá thành của từng loại sản phẩm dịch
vụ và theo dõi tình hình biến động của TSCĐ để lập Bảng đăng ký khấu hao
TSCĐ với Bộ Tài chính, sau đó dựa trên Bảng đăng ký khấu hao hàng Quý, kế
toán tính toán số khấu hao phải trích và lập Chứng từ ghi sổ để phản ánh số khấu
hao TSCĐ
Trang 11
Thủ qũy: Bảo quản và thực hiện việc thu chi tiền mặt và các chứng từ có
giá trị như tiền, vàng bạc, ngân phiếu
c- Hình thức sổ kế toán áp dụng tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm
Việt Nam
Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam sử dụng hình thức kế toán Chứng
từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức này : căn cứ trực tiếp để ghi sổ kế toán
tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ” Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+Ghi theo trình tự thời gian trên sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ +Ghi theo nội dung kinh tế trên sổ Cái
Chứng từ ghi sổ do kế toán lập trên cơ sở từng chứng từ gốc hoặc Bảng
tổng hợp các chứng từ gốc cùng loại, có cùng nội dung kinh tế
Chứng từ ghi sổ được đánh số liên tục trong từng tháng hoặc cả năm (theo
số thứ tự trong sổ đăng ký chứng từ ghi sổ ) và có chứng từ gốc đính kèm, phải
được kế toán trưởng ký duyệt trước khi ghi sổ kế toán
Các loại sổ sử dụng trong hình thức Chứng từ ghi sổ bao gồm:
+Chứng từ ghi sổ
+Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
+Sổ cái các tài khoản
+Sổ chi tiết: mở riêng cho từng tài khoản cần theo dõi chi tiết
Tuy nhiên trong thực tế áp dụng tại Trung tâm, các loại Chứng từ ghi sổ
không được ghi cho các Tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng vì để thuận lợi
trong việc áp dụng kế toán máy vào các nghiệp vụ thì ở Trung tâm Hội chợ
Triển lãm Việt Nam sử dụng luôn các sổ chi tiết và các chứng từ như:
Phiếu thu
Phiếu chi
Sổ phụ ngân hàng
Để thay Chứng từ ghi sổ trong việc vào máy không mất 2 lần cho một
nghiệp vụ và cũng không gặp phải các vấn đề như khử trùng
Các loại chứng từ kế toán thường sử dụng:
Trang 12+Phiếu thu
+Phiếu chi
+Giấy đề nghị tạm ứng và thanh toán tạm ứng
+Giấy đề nghị xuất vật tư và Phiếu xuất kho
+Hóa đơn GTGT, hóa đơn tiền điện nước, điện thoại
+Bảng thanh toán lương và Bảo hiểm xã hội
+Các chứng từ khác
_Phương pháp kế toán hàng tồn kho Trung tâm đăng ký áp dụng là
phương pháp kê khai thường xuyên
_Phương pháp hạch toán ngoại tệ là phương pháp giá hạch toán
-Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán
TRÌNH TỰ GHI SỔ THEO HÌNH THỨC CHỨNG TÙ GHI SỔ:
Trang 13Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
- Hệ thống tài khoản kế toán và Báo cáo tài chính
_Hệ thống tài khoản kế toán được áp dụng theo hệ thống tài khoản kế
toán thống nhất của Việt Nam ban hành theo Quyết định số 1141/TC/CĐKT
ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.(Các tài khoản chi tiết được thiết
lập riêng để thuận lợi cho quá trình hạch toán kế toán của Trung tâm nhưng vẫn
đảm bảo tính đúng đắn và thống nhất theo qui định)
BẢNG TỔNG HỢP CHI
TIẾT
BÁO CÁO KẾ TOÁN
Trang 14_Hệ thống báo cáo tài chính của Trung tâm được lập theo mẫu qui định
của Bộ Tài Chính (qui định tại quyết định số 1141/TC/CĐKT ngày 1/11/1995
của Bộ trưởng Bộ Tài chính) gồm các báo cáo sau:
+Bảng cân đối kế toán
+Báo cáo kết quả kinh doanh
+Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+Thuyết minh báo cáo tài chính
Các loại Báo cáo trên thường được lập theo từng quí
II TÌNH HÌNH THỨC TẾ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
TRUNG TÂM HỘI TRỢ TRIỂN LÃM VIỆT NAM
1 Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.1 Đối tượng hạch toán chi phí sản xuất:
Tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam do kinh doanh trong lĩnh vực
đặc thù là tổ chức hội chợ triển lãm nên việc xác định nơi phát sinh chi phí và
nơi chịu phí là không hoàn toàn đơn giản Trung tâm vừa sản xuất các ấn phẩm
phục vụ việc quảng cáo lại vừa in ấn các planô, áp phích phục vụ hội chợ Ngoài
ra việc dàn dựng các gian hàng triển lãm, sân khấu ngoài trời cũng đều khiến
việc xác định giới hạn tập hợp chi phí hay xác định đối tượng hạch toán chi phí
sản xuất được chi tiết rõ ràng là rất phức tạp
Qui trình sản xuất các ấn phẩm, planô, áp phích là một qui trình khép
kín, không có sản phẩm dở dang Do vậy Trung tâm xác định đối tượng tập hợp
chi phí sản xuất là theo từng loại sản phẩm Trong chuyên đề này ta quan tâm
chủ yếu đến việc tập hợp chi phí của các sản phẩm là các ấn phẩm quảng cáo,
tiếp thị phục vụ cho hội chợ
1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Để thực hiện việc sản xuất, kinh doanh của mình, Trung tâm phải bỏ ra
nhiều chi phí mà nội dung, mục đích, công dụng của từng loại là không giống
nhau Để thực hiện tốt công tác kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm, Trung tâm phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng
của chi phí, cụ thể như sau:
Trang 15+Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Nguyên vật liệu chính bao gồm: Băng rôn, áp phích, giấy bìa, mực in, bản
kẽm
Nguyên vật liệu phụ bao gồm: giẻ lau máy, dầu hoả, băng dính
+Chi phí nhân công trực tiếp: gồm lương chính, các khoản phụ cấp, các
khoản trích theo lương phát sinh trong kì của công nhân sản xuất
+Chi phí sản xuất chung: lương nhân viên quản lí , các khoản trích theo
lương, chi phí khấu hao máy móc thiết bị nhà xưởng, chi phí vật liệu, CCDC,
chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Việc phân loại này có tác dụng cung cấp số liệu cho công tác tính giá
thành sản phẩm, làm căn cứ cứ xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
1.3.Kế toán tập hợp chi phí sản xuất ở Trung tâm Hội chợ Triển lãm
Việt Nam
a.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
_Đặc điểm sử dụng nguyên vật liệu tại Trung tâm:
Nguyên vật liệu chính của Xưởng in ấn tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm
Việt Nam là giấy , giấy bao gồm, nhiều loại khác nhau như giấy VP, giấy báo
Nga, giấy trung quốc, giấy offic, giấy Bãi Bằng Giấy bìa như giấy VP, bìa
coche Ngoài ra tuy theo đặt hàng của khách mà Trung tâm sẽ khai thác ở
nhiều nguồn khách hàng khác nhau để sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách
hàng Ngoài giấy và bìa thì nguyên vật liệu chính bao gồm mực in và bản diazo
20 Bản diazo 20 phục vụ cho chế bản gồm nhiều loại Bản diazo 20 cho máy 16
trang loại 2 màu của Đức, Tiệp,bản diazo 20 cho máy 8 trang 2 màu mực in
cũng có rất nhiều loại: Mực in đen nội, mực in đen Đức, mực in màu Đức, mực
in màu Trung Quốc, Nhật Hiện nay chủ yếu dùng loại mực ngoại Vật liệu
phục vụ cho khâu hoàn thiện sử dụng nhiều loại khác nhau như: chỉ khâu tay,
chỉ khâu pêcô, chỉ nilanh, bột hồ, keo, thép đóng
Giá vật tư thực tế xuất kho được tính theo phương pháp thực tế đích danh
_Chứng từ sử dụng:
Phiếu xuất kho mẫu số 02 - VT
Trang 16Báo cáo kiểm kê vật tư tồn kho
Sổ sách sử dụng:
Sổ chi tiết: hạch toán chi tiết theo phương pháp thẻ song song
Thẻ kho: Về cơ bản giống mẫu số 06 - VT
Sổ chi tiết TK 152 được thiết kế theo đặc điểm hạch toán hàng tồn kho
của công ty là phương pháp giá thực tế đích danh
Trung tâm chỉ mở một sổ chi tiết TK 152 theo dõi tất cả các loại vật tư
mỗi loại vật tư được mở một trang riêng
_Qui trình hạch toán chi phí NVL trực tiếp:
Đối với những loại vật tư của khách hàng mang đến để gia công thì kế
toán không theo dõi về giá trị mà chỉ theo dõi về số lượng trên thẻ kho tại một
kho riêng Việc nhập, xuất , tồn kho chỉ theo dõi về số lượng, đến cuối kỳ sản
xuất kinh doanh sẽ thanh toán với khách hàng về vật tư này trên cơ sở số sản
phẩm bàn giao
Đối với những loại vật tư khác của nhà máy khi xuất, nhập được theo dõi
cả về số lượng và giá trị khi nhập vật liệu căn cứ vào”Biên bản kiểm nhiệm vật
tư “ được nhập khi nhập giao vật tư “Hoá đơn mua hàng” kế toán sẽ lập “Phiếu
nhập kho vật tư “ Các chứng từ này sẽ là căn cứ để kế toán vào sổ “Sổ chi tiết
vật liệu “ được mở chi tiết cho từng loại vật liệu theo dõi cả về số lượng và giá
trị định kỳ 5 đến 7 ngày vào bảng “Bảng tổng hợp nhập vật tư “Bảng tổng hợp
xuất vật tư” Hàng tháng vào ngày 25 xoá sổ chi tiết vật liêu Căn cứ số tồn kho
Trang 17trong sổ chi tiết vật liệu vào “Sổ tồn kho vật liệu “ chuyển cho kế toán tổng hợp
Cuối quý kế toán vật tư tính toán, tổng hợp số lượng và giá trị nhập, xuất, tồn
kho để lập báo cáo tổng hợp N-X-Tvật tư để đối chiếu với kế toán tổng hợp, đối
chiếu với kế toán theo dõi ngân hàng, tiền mặt khớp với những chứng từ ghi sổ
kế toán tổng hợp căn cứ chứng từ ghi sổ, sổ cái
Tại phòng in ấn thuộc Trung tâm, mọi nhu cầu sử dụng nguyên vật liệu
đều phải xuất phát từ nhiệm vụ sản xuất cụ thể, căn cứ vào kế hoạch sản xuất và
định mức sử dụng nguyên vật liệu Trên từng phiếu xuất kho đều ghi rõ mục
đích sử dụng cho tài liệu nào, số lượng, số tiền, địa điểm sử dụng cụ thể, những
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho sản xuất sản phẩm sẽ được kế toán tập hợp
trực tiếp cho từng đơn đặt hàng, cụ thể cho từng loại tài liệu Viêc hạch toán đầy
đủ, chính xác chi phí nguyên vật liệu trực tiếp đặc biệt quan trọng trong công tác
quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Tại Trung tâm giá vật liêu nhập kho được tính như sau:
Chi phí nguyên vật liệu chính như giấy in, bản dia 20, mực in Xuất
dùng trực tiếp cho sản xuất được kế toán phản ánh cụ thể chi tiết cho từng đối
tượng sử dụng
Nợ Tk 6271 : 733441751
Có TK152(1521) : 733441751
Chi phí nguyên vật liệu phụ xuất dùng trực tiếp cho sản xuất : bột hồ
keo, dây thép đóng ghim sách , ghim
Nợ TK 621 : 6445000
Có TK152(1522) : 6445000
Căn cứ vào các số liệu tập hợp được cuối tháng kế toán tổng hợp lập
“Bảng phân bổ nguyên vật liệu trực tiếp theo đối tượng sử dụng”
Cuối kỳ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được chuyển vào TK 154 “Chi
phí sản xuất kinh doanh dở dang” chi tiết theo đối tượng sử dụng
Giá thực tế vật = Giá mua (chưa + Chi phí thu mua
liệu nhập kho có thuế VAT) (vận chuyển, bôc dỡ)
Trang 18Thủ kho (đã ký)
Người nhận (đã ký)
Phụ trách đơn vị
(đã ký)
Trang 19Mẫu 02: Bảng tổng hợp xuất vật liệu chính (trích)
BẢNG TỔNG HỢP XUẤT VẬT LIỆU CHÍNH Trang số 8
tư
ĐV
T
Giá đơ
641
2
Số lượn
g
Thành tiền
Chế bản
PX máy
Mang
sang
731.534.15
2
146726
80
68240529
95
1.116.07
7
691.2
00
33.340.1
8
Ap
phích
Mực đỏ Nhật
00
91.253.500
91.253.5
00
Trang 2019
0
Sách Thị trường
Hộp carton 3 lớp
Cá
i
150
0
4.650.00
0
4.650
000
4.650.00
0 19
5
In Unicep
Giấy good free 70
Bản dia20 8 trang
Bả
GĐ
Bản dia20 8 trang
Bả
Bản dia20 8 trang
Bả
Bản dia20 8 trang
Bả
Trang 236
Kết chuyển chi phí
Vật liệu vào giá thành sản phẩm
Ở Trung tâm hội chợ triển lãm áp dụng hai hình thức trả lương cán bộ
công nhân viên bao gồm:
Tiền lương trả theo sản phẩm
Tiền lương trả theo thời gian
Trang 24Căn cứ vào số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên kế toán lập bảng thanh
toán tiền lương Căn cứ và bảng thanh toán tiền lương ké toán lập bảng tính và phân bổ tiền
lương và bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH, BHYT, KPCĐ được trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số quỹ tiền
lương của CBCNV thực tế phát sinh trong tháng
Tỷ lệ trích BHXH là 20% trong đó 15% do công ty nộp tính vào chi phí kinh doanh,
Bảng thanh toán tiền lương mẫu số 02 - LĐTL
Bảng thanh toán BHXH mẫu số 04 - LĐTL
Bảng thanh toán tiền thưởng mẫu số 05 - LĐTL
Phiếu xác nhận sản phẩm hoặc công việc hoàn thành mẫu số 06 - LĐTL
Để hạch toán số lượng lao động, trên cơ sở các chứng từ ban đầu về
tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, nâng bậc lương, thôi việc Bộ phận quản lý
lao động và tiền lương lập " Sổ danh sách lao động" Sổ này cho biết số lượng
Trang 25lao động hiện có trong trung tâm bao gồm, cả lao động dài hạn, tạm thời,
laođộng trực tiếp, gián tiếp Sổ này là cơ sở để tính lương phải trả và các chế độ
khác cho người lao động trong doanh nghiệp
Để hạch toán về thời gian lao động, tại mỗi phòng của Trung tâm, trưởng
phòng lập "Bảng chấm công" Bảng này theo dõi ngày công thực tế làm việc,
nghỉ việc, ngừng việc, nghỉ bảo hiểm xã hội , để có căn cứ tính trả lương, bảo
hiểm xã hội cho từng người trong Trung tâm Căn cứ vào "Bảng chấm công", kế
toán phần hành lập "Bảng lương" cho từng tổ sản xuất, từ "Bảng lương" của
từng tổ sản xuất, kế toán tổng hợp vào "Bảng thanh toán tiền lương" của toàn
trung tâm "Bảng thanh toán tiền lương" là chứng từ làm căn cứ thanh toán tiền
lương, phụ cấp cho người lao động, kiểm tra việc thanh toán tiền lương cho
người lao động và là căn cứ để thống kê về lao động
Đối với trường hợp nghỉ việc do ốm đau, tai nạn lao động, thai sản,kế
toán lập chứng từ cho nghỉ việc và ghi vào "Bảng chấm công"
Để hạch toán kết quả lao động, người giao việc cho từng bộ phận sản xuất
lập "Phiếu xác nhận sản phẩm hoàn thành", phiếu này được chuyển đến phòng
kế toán để tính lương thưởng Nếu kiểm tra, nghiệm thu phát hiện sản phẩm
hỏng, cán bộ kiểm tra lập "Phiếu báo hỏng" để làm căn cứ lập biên bản xử lý
Căn cứ vào các chứng từ gốc: Bảng thanh toán lương, bảng thanh toán
làm đêm, làm thêm giờ, kế toán tập hợp, phân loại chứng từ theo từng đối tượng
sử dụng Tính toán số tiền để ghi vào bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã
hội Số liệu trên bảng phân bổ số 1 là căn cứ để ghi vào sổ kế toán và được sử
dụng để tính giá thành sản phẩm
Từ các chứng từ gốc, kế toán ghi vào chứng từ ghi sổ theo từng nghiệp vụ
riêng biệt Chứng từ ghi sổ được đánh số hiệu theo trình tự thời gian Từ đây, kế
toán tổng hợp tiến hành ghi vào sổ Cái các tài khoản: TK334, TK 335, TK
338,TK 622, TK 154
Trang 26Ruột
Bài màu
Đơn giá trên
1 triệu trang thành phẩm
Số trang thành phẩm nhập trang
Tổng số tiền
Trong đó: Lương quản lý: 12,96% x 5.429.400 = 703.650 đồng
Quỹ lương công nhân :
Trang 27Căn cứ vào đơn giá 1 giờ kế toán tiền lương tính được lương của từng
công nhân trực tiếp sản xuất để lập “Bảng thanh toán lương” làm căn cứ trả
lương cho công nhân viên hàng tháng
Lương phải trả cho công nhân theo sản phẩm = số giờ mức thực hiện
được của công nhân đó x đơn giá 1 giờ mức của công nhân trực tiếp sản xuất
Theo quy định tỷ lệ trích BHXH, BHYT, KPCĐ là 25% Lương cơ bản
gần 15% hưu tuất, 5% BHXH, 3% BHYT, 2% KPCĐ ở Phòng in ấn Trung tâm
nộp cho cán bộ công nhân viên là 19%, còn 6% đóng góp của cán bộ công nhân
viên tự bỏ ra để nộp(khoản này được trừ trực tiếp vào lương)
Tài liệu tháng 6/2002
Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất là : 41.908.600
Vậy số phải trích nộp : 41.908.600 x 19% = 7.962.634đ
Trang 28Trong đó: BHXH 15% = 6.286.290 (đ)
BHYT 2% = 838.172 (đ) KPCĐ 2% = 838.172 (đ)
Cuối tháng kế toán tổng hợp phân bổ BHXH, BHYT, KPCĐ của công
nhân trực tiếp sản xuất vào giá thành sản phẩm theo định khoản
Trang 297.962.634
114.676
96.338.734
1.253.880
Cộng 87.376.100 7.962.634 96.338.734
Người nộp
(đã ký)
Kế toán trưởng (đã ký)
SỔ CÁI TÀI KHOẢN 622
1541 87.376.100
335 Trích BHXH, 338 7962.634
Trang 30BHYT, KPCĐ
336
Kết chuyển BHXH, BHYT, KPCĐ vào giá thành sản phẩm
Cộng phát sinh 95.338.734 95.338.734 Cộng luỹ kế 152.634.768 152.634.768
c Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất chung là những chi phí quản lý phục vụ
sản xuất và những chi phí ngoài hai khoản vật liệu trực tiếp và nhân công trực
tiếp phát sinh ở các phân xưởng dàn dựng và in ấn
Chi phí sản xuất chung ở Trung tâm bao gồm:
- Chi phí khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí về lương và các khoản trích theo lương của CBCNV
-
+ Chi phí khấu hao TSCĐ :
Đây là chi phí lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi phí của toàn Trung
tâm Với đặc thù hoạt động kinh doanh dịch vụ cho thuê các gian hàng cùng cơ
sở hạ tầng phục vụ triển lãm, hội thảo khiến cho chi phí sản xuất chung được
phân bổ cho dịch vụ hội chợ lớn hơn rất nhiều so với các sản phẩm in ấn Tuy
nhiên do các ấn phẩm được sản xuất ra để phục vụ cho các chương trình quảng
cáo, giới thiệu tới các doanh nghiệp và người tiêu dùng tham gia hội chợ Cho
nên việc trích và phân bổ khấu hao cho từng loại sản phẩm dịch vụ đặc biệt
được coi trọng
Tài sản cố định của Trung tâm đều là tài sản cố định hữu hình bao gồm:
Nhà xưởng: nhà xưởng Plexo, nhà kho, nhà làm việc
Máy móc thiết bị công tác, các bộ dàn dựng, thiết bị dàn dựng
Dụng cụ quản lý: máy điều hoà, máy chấm công, máy Photocopy
Chứng từ sử dụng:
Trang 31Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ
Sổ chi tiết TSCĐ được thiết kế bao gồm các cột sau: Ngày CT, Số CT,
Mã TSCĐ, Tên TSCĐ, Nguyên giá tăng, Nguyên giá giảm, Hao mòn luỹ kế
tăng, Hao mòn luỹ kế giảm
Phương pháp tính khấu hao công ty đang áp dụng là phương pháp khấu
hao theo đường thẳng Phương pháp này được tính tổng quát như sau:
Nguyên giá TSCĐ Mức trích KH hàng năm =
Thời gian sử dụng Mức trích KH hàng năm Mức trích KH hàng tháng =
12
Với Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam, toàn bộ khấu hao máy móc,
thiết bị, nhà xưởng, đường ống, phòng làm việc đều được tính vào chi phí sản
xuất chung.Theo quyết định 166, toàn bộ TSCĐ của Trung tâm được chia thành
: Máy móc thiết bị động lực, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải truyền dẫn,
thiết bị dụng cụ,gian hàng di động, sân khấu, nhà cửa vật kiến trúc Việc theo
dõi khấu hao toàn Trung tâm được phòng Kế toán thực hiện hàng tháng