1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhu cầu hỗ trợ việc làm của người khuyết tật trong độ tuổi lao động, nghiên cứu trường hợp tại xã đại tập và xã liên khê, huyện khoái châu, tỉnh hưng yên

123 327 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÊ PHƯƠNG THÚY NHU CẦU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ ĐẠI T

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ PHƯƠNG THÚY

NHU CẦU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI KHUYẾT

TẬT TRONG ĐỘ TUỔI LAO ĐỘNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI XÃ ĐẠI TẬP VÀ XÃ LIÊN KHÊ

- HUYỆN KHOÁI CHÂU - TỈNH HƯNG YÊN)

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu thật sự của bản thân tôi, được thực hiện bởi sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Như Trang

Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để có thể hoàn thành tốt khóa luận này, em xin chân thành gửi lời cảm

ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Như Trang, người đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện bài luận văn của mình

Xin cảm ơn cán bộ chính quyền, các ban ngành đoàn thể, người dân và đặc biệt là những Người khuyết tật hai xã Đại Tập và Liên Khê đã thu xếp thời gian cung cấp thông tin và hợp tác với tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được những góp ý của thầy

cô và các anh chị học viên

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Học viên thực hiện luận văn

Lê Phương Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ 4

A MỞ ĐẦU 6

1 Tính cấp thiết của đề tài 6

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 8

3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 9

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 17

4.1 Mục đích nghiên cứu 17

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 17

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 17

5.1 Đối tượng nghiên cứu 17

5.2 Khách thể nghiên cứu 17

5.3 Phạm vi nghiên cứu 17

6 Phương pháp nghiên cứu 17

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 17

6.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi 18

6.3 Phỏng vấn sâu 18

7 Bố cục của đề tài 19

B NỘI DUNG 20

CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NHU CẦU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA NKT 20

1.1 Một số vấn đề lý luận cơ bản về NKT, việc làm, độ tuổi lao động, nhu cầu việc làm, nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT, công tác xã hội, công tác xã hội với NKT 20 1.1.1 Người khuyết tật 20

1.1.2 Việc làm và độ tuổi lao động 21

1.1.3 Nhu cầu việc làm và nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT 22

1.1.4 Công tác xã hội và Công tác xã hội với Người khuyết tật 22

1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 24

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu 24

1.2.2 Lý thuyết hệ thống 28

1.2.3 Lý thuyết Hệ thống sinh thái (Ecology systems) 31

1.2.4 Lý thuyết về vai trò (Role theory) 33

1.3 Cơ sở khoa học về viê ̣c làm cho người khuyết tật 35

1.4 Cơ sở tâm lý, Kinh tế - văn hóa, xã hội 38

Trang 6

1.4.1 Cơ sở tâm lý 38

1.4.2 Cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội 39

1.5 Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu 40

1.5.1 Tỉnh Hưng Yên 40

1.5.2 Huyện Khoái Châu 42

CHƯƠNG 2 – THỰC TRẠNG NHU CẦU HỖ TRỢ VIỆC LÀM CỦA NKT TẠI ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 46

2.1 Đặc điểm nhân khẩu, xã hội của NKT tại địa bàn nghiên cứu 46

2.2 Thực trạng việc làm của NKT tại địa bàn nghiên cứu 52

2.3 Nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT 59

2.4 Mức độ đáp ứng với nhu cầu việc làm của NKT………66

2.5 Các yếu tố tác động đến nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT 71

2.5.1 Tình trạng gia đình của NKT 71

2.5.2 Điều kiện kinh tế của gia đình 75

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ HỖ TRỢ ĐỐI VỚI NKT TỪ KHÍA CẠNH CÔNG TÁC XÃ HỘI 80

3.1 Các rào cản và hạn chế chính với vấn đề việc làm của NKT 80

3.1.1 Định kiến của xã hội 80

3.1.2 Mức độ tham gia các hoạt động cộng đồng của NKT 83

3.2 Mong muốn của NKT về hỗ trợ việc làm 88

3.3 Đề xuất 1 số hỗ trợ dưới khía cạnh CTXH 95

3.3.1 Đảm bảo việc thực hiện pháp luật cho NKT 95

3.3.2 Vai trò của nhân viên CTXH trong việc hỗ trợ NKT 98

C KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106

1 KẾT LUẬN 106

2 KHUYẾN NGHỊ 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

PHỤ LỤC 112

Mã số phiếu 112

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 1 Số lượng NKT trong đô ̣ tuổi lao đô ̣ng tham gia nghiên cứu 46 Biểu đồ 1 Dạng khuyết tật của người tham gia nghiên cứu 46

Bảng 12 Nguyên nhân không hài lòng với công việc hiện tại 58

Bảng 15 Vấn đề tham gia đào tạo nghề của NKT trong năm qua 65 Bảng 16 Vấn đề tham gia đào tạo nghề của NKT trong năm qua phân

theo giới tính

65

Bảng 20 Vấn đề học nghề trước khi tìm việc của NKT phân theo giới tính 68 Bảng 21 Mối tương quan giữa tình trạng hôn nhân và nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT 72

Bảng 23 Tình trạng hôn nhân của NKT phân theo giới tính 74

Trang 9

Biểu đồ 2 Đánh giá mức kinh tế của gia đình NKT 75

Trang 10

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Người khuyết tật (NKT) là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ

phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao đô ̣ng , sinh hoa ̣t, học tập gặp khó khăn Do đó việc đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội đối với NKT là nghĩa vụ của gia đình, xã hội và nhà nước Là mắt xích quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, với truyền thống nhân đạo của dân tộc, NKT luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua Theo báo cáo của Bộ LĐ TB & XH, hiện nay, Việt Nam có khoảng 7,2 triệu NKT từ 5 tuổi trở lên, chiếm 7,8% dân số; NKT đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%; khoảng 58% NKT là nữ; 28,3% NKT là trẻ em; 10,2% NKT là người cao tuổi; khoảng 15% NKT thuộc hộ nghèo Phần lớn NKT đều không có thu nhập, do không có việc làm và chủ yếu sống bằng trợ cấp của xã hội hoă ̣c gia đình Đối với mỗi gia đình có NKT thì họ được coi là gánh nặng làm tăng sự khó khăn, vất vả của những người thân khi luôn cần có người chăm sóc, trợ giúp,…

NKT từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thông tin điện tử, thiết kế kỹ thuật, NKT được quan tâm dưới góc độ nhằm làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật

để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của họ bớt khó khăn hơn Trong các ngành

Xã hội học, Công tác xã hô ̣i (CTXH), NKT được hướng đến như những đối tượng yếu thế trong xã hội cần được hỗ trợ để hòa nhập cộng đồng Trong đó, nhu cầu hỗ trợ viê ̣c làm giúp NKT tạo ra nguồn sinh kế để đảm bảo cuộc sống của họ là một vấn đề cần thiết và đáng được quan tâm như câu châm ngôn Bác Hồ đã nói: “tàn mà không phế”

Đối với NKT, có việc làm giúp họ cảm thấy bản thân còn có ích cho gia đình và xã hội, góp phần hỗ trợ họ từng bước hoà nhập xã hội Những năm

Trang 11

cho NKT như ban hành thực thi nhiều chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng lao động là NKT, hỗ trợ cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, thành lập quỹ quốc gia về việc làm Đặc biệt từ năm 2006 ngành LĐ

TB &XH thường xuyên tổ chức các hội chợ việc làm, trong đó có khu vực dành riêng cho NKT, với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề, vì vậy NKT có nhiều cơ hội tiếp câ ̣n với việc làm hơn và số lượng có việc làm đã tăng lên hàng năm Bên cạnh đó, có nhiều tổ chức và cá nhân đã

có nhiều sáng kiến, nỗ lực tạo việc làm cho NKT như tổ chức VNAH (Hội bảo trợ người tàn tật Việt Nam), USAID và đặc biệt là mạng lưới các doanh nghiệp thúc đẩy hòa nhập với hơn 100 đơn vị đại diện cho cả 3 miền, Dự án:

“Hỗ trợ hòa nhập kinh tế xã hội và việc làm cho NKT” do Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ Tây Ban Nha thực hiện tại 6 tỉnh, thành Hà Nội, Hà Nam, Hưng Yên, Bình Thuận, Hải Dương và Lâm Đồng từ năm 2010 đến 2014 đã dạy nghề và tạo việc làm cho hàng nghìn lao động là NKT Tuy nhiên, trên thực tế, nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT là rất lớn và hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ, số NKT tìm được việc làm ổn định trong các doanh nghiệp lớn, các cơ quan, tổ chức hoặc các công việc đòi hỏi

kỹ năng, trình độ chuyên môn hầu như không đáng kể chủ yếu là tự tạo việc làm hoặc có việc làm không ổn định, làm các công việc tạm thời, lao động chân tay, làm việc trong các tổ chức, cơ sở mang tính nhân đạo, từ thiện

Vì vậy, các chính sách, chương trình hỗ trợ NKT chỉ mang tính bền vững khi giải quyết được tận gốc vấn đề hòa nhập xã hội bằng cách đáp ứng được nhu cầu việc làm ổn định, lâu dài phù hợp với khả năng và sở thích của

họ Việc này trên thực tế khá khó khăn đòi hỏi phải liên kết, huy động tất cả các nguồn lực để thực hiện Phải thay đổi nhận thức từ các cấp chính quyền, đến hệ thống dạy nghề, tạo việc làm, xóa bỏ các rào cản đối với cơ hội việc làm của NKT như định kiến xã hội, quan niệm chưa đúng về NKT, thái độ phân biệt, e ngại từ chính cộng đồng, doanh nghiệp cơ sở nơi NKT sinh sống nói chung đến nhận thức của gia đình và bản thân NKT nói riêng Đối với

Trang 12

người làm Công tác xã hội như chúng ta, NKT là một trong những đối tượng

mà chúng ta hướng tới thì cần xuất phát từ tinh thần trách nhiệm, suy nghĩ nghiêm túc với công việc đã lựa chọn và tình yêu thương giữa con người với con người để từ đó góp công sức nhỏ bé của mình làm cầu nối giúp thay đổi nhận thức từ cộng đồng đến gia đình và bản thân NKT, cũng như đóng góp trong việc hoàn thiện chính sách, pháp luật, các chương trình trợ giúp NKT

Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài: “Nhu cầu hỗ trợ việc làm của Người

khuyết tật trong độ tuổi lao động, nghiên cứu trường hợp tại xã Đại Tập và

xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên” làm luận văn tốt nghiệp

của mình

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Luận văn tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn về nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT trong độ tuổi lao động tại xã Đại Tập và xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Khảo sát và đánh giá được thực trạng nhu cầu việc làm và nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT tại địa bàn nghiên cứu Vì thế, luận văn có giá trị cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện khung pháp lý cũng như chính sách về việc làm cho NKT và khung lý thuyết của các nghiên cứu về NKT Từ đó góp phần tối ưu hóa các chính sách viê ̣c làm cho NKT phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng của ho ̣ đồng thời vừa phù hợp với thực tiễn xã hô ̣i để NKT có viê ̣c làm ổn định, lâu dài nhằm giảm bớt gánh

nặng cho gia đình và xã hội

Luận văn vận dụng chủ yếu phương pháp phân tích tài liệu, điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu là phù hợp với hướng nghiên cứu ứng dụng Luận văn kết hợp sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp với dữ liệu thứ cấp để giải quyết vấn đề nghiên cứu theo một logic khoa học Vì thế, hy vọng luận văn là tài liệu tham khảo về phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu cho sinh viên, học viên và các nhà quản lý quan tâm hướng nghiên cứu ứng dụng

Trang 13

3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

NKT và các vấn đề liên quan đến vấn đề viê ̣c làm cho NKT đã đư ợc nghiên cứu bởi khá nhi ều tác giả trong và ngoài nư ớc Chúng ta có th ể điểm qua một vài nghiên cứu sau đây:

Disability and social inclusion in Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan, 2011 (Khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ieland, Brenda Gannon and Brian

Nolan, 2011) Nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hòa nhập xã hội, trong nghiên cứu đã thu thập trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày Tác giả còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm của NKT Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT.[18]

Tác phẩm: “Những quyền của người khuyết tật” (Disability Right)

do Justin Healey làm chủ biên, Nhà xuất bản The Spliney, Sydney, Úc, năm

2005 Nội dung sách chủ yếu đưa ra các định nghĩa về NKT; Luật chống phân biệt NKT và cơ chế khiếu nại vi phạm; các vấn đề thực tiễn về NKT như: hệ thống chăm sóc cộng đồng; NKT tại nơi làm việc; doanh nghiệp với vấn đề tuyển dụng NKT; tiếp cận bình đẳng về internet cho NKT…Từ việc phân tích

đó, tác giả đưa ra nhận định cuối cùng rằng, NKT chiếm một bộ phận đáng kể trong dân số Úc, họ đòi hỏi việc loại bỏ những hình thức phân biệt đối xử trực tiếp và gián tiếp đối với việc tiếp cận những trợ giúp cơ bản, các dịch vụ và thừa nhận của xã hội [19]

Tài liệu hướng dẫn Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật, của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO,

2004) Hướng dẫn này thể hiện quan điểm nhìn nhận vấn đề về NKT như một

Trang 14

vấn đề về quyền Với mục đích phục vụ đối tượng là các nhà hoạch định chính sách và các nhà lập pháp, Hướng dẫn này được xây dựng nhằm hỗ trợ cải thiện tính hiệu quả của pháp luật của các quốc gia liên quan đến vấn đề đào tạo và việc làm cho NKT Hướng dẫn này có tác dụng như một công cụ

hỗ trợ tham vấn kỹ thuật và dành cho tất cả các quốc gia tham gia Hướng dẫn này đã mô tả và phân tích một chuỗi các biện pháp chính sách có thể áp dụng nhằm thực thi các luật và nhằm giải quyết vấn đề quyền của NKT trong lĩnh vực việc làm Hướng dẫn có thể được coi là một công cụ đánh giá các nhân tố của một chiến lược quốc gia về cơ hội bình đẳng là cơ sở cho thảo luận và phân tích kỹ hơn tại cấp quốc gia Hướng dẫn có thể được coi như một thước

đo nhằm đánh giá sự phù hợp của luật pháp và các biện pháp chính sách của mỗi nước trên cơ sở luật nhân quyền và luật lao động quốc tế [13]

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2011), Báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề và Tạo việc làm cho Người khuyết tật tại Việt Nam Báo cáo này cung cấp một

cách nhìn tổng thể về các tổ chức của NKT, các tổ chức đại diện cho NKT và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho NKT, đặc biệt tập trung vào các tổ chức của phụ nữ khuyết tật và các dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật Kết quả phân tích của báo cáo khảo sát này cho thấy tại Việt Nam NKT rất ít được đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm cũng như

về phát triển doanh nghiệp Chính phủ, nhiều tổ chức phi chính ph ủ và chính NKT đều nhận thấy NKT cần có các dịch vụ đào tạo riêng (ít nhất theo học các lớp đào tạo riêng cho NKT), các dịch vụ bố trí việc làm riêng và các kế hoạch và hoạt động phát triển kinh doanh riêng cho NKT Pháp luật về đào tạo nghề và việc làm của Việt Nam không nêu rõ trong các hoạt động chủ đạo, Chính phủ cũng chưa có chính sách khuyến khích đào tạo nghề hòa nhập bên ngoài Chính sách Giáo dục hòa nhập Tuy nhiên, tất cả các trung tâm trước đây đào tạo riêng cho NKT nay đều mở cửa đối với mọi sinh viên (trên thực tế các trung tâm này vẫn chủ yểu phục vụ NKT, trẻ mồ côi, cựu chiến

Trang 15

Ấn phẩm: “Người khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009” của Quỹ dân số Liên hợp quốc

(UNFPA), năm 2011 Tài liệu này nhằm đưa ra một bức tranh kinh tế - xã hội

sơ bộ về NKT ở Việt Nam dựa trên phân tích số liệu mẫu 15% của TĐTDS

2009 Các mục tiêu cụ thể bao gồm: Đưa ra một bức tranh chung về tỷ lệ NKT ở Việt Nam; Đưa ra một số đặc trưng nhân khẩu và kinh tế - xã hội cơ bản của NKT và so sánh với các đặc trưng của nhóm người không khuyết tật; Đưa ra các gợi ý chính sách có liên quan đến NKT dựa trên các kết quả phân tích Với ấn phẩm này, UNFPA mong muốn cung cấp những thông tin quý báu từ số liệu TĐTDS về những đặc trưng, xu hướng và những nguy cơ tổn thương của NKT Chúng tôi hy vọng ấn phẩm này cung cấp các thông tin hữu ích cho người đọc làm nền tảng cho việc đánh giá và giải quyết các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho NKT ở Việt Nam [10]

Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, do PGS.TS Nguyễn

Thị Kim Hoa chủ biên, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014 Tác giả đã khái quát các vấn đề cơ bản về NKT, luật pháp, chính sách và các công cụ hỗ trợ NKT Bên cạnh đó, tác giả đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết đối với nhân viên CTXH khi làm việc với NKT Về thực hành, tác giả trình bày các phương pháp làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình

Trang 16

các dạng tật thường gặp, nguyên nhân và các biện pháp phòng ngừa khuyết tật Thông tin về PHCNDVCĐ ở Việt Nam, giúp cho người đọc hiểu được một cách cơ bản về sự cần thiết, bản chất và sự phát triển của chương trình PHNCDVCĐ ở Việt Nam, việc thực hiện chương trình và những lợi ích mà NKT có được khi tham gia chương trình Phần 2: Nhận thức về khuyết tật Nội dung phần này giúp cho NKT và gia đình có được nhận thức đúng đắn về quyền của NKT, năng lực của NKT và những vấn đề liên quan giúp NKT hoà nhập tốt hơn trong cộng đồng như việc làm, vui chơi - giải trí cho NKT, vai trò của tổ chức của NKT…[17]

Cuốn "Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam" là

Báo cáo kết quả nghiên cứu về chi phí kinh tế của kỳ thị liên quan đến khuyết tật do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) thực hiện Đây là nghiên cứu định lượng đầu tiên đo lường về giá trị kinh tế của sống với khuyết tật và ảnh hưởng của sự kỳ thị về mặt kinh tế đối với hộ gia đình có NKT, được tiến hành tại 8 tỉnh/thành phố: Lạng Sơn, Thái Bình, Quảng Nam, Kon Tum, Đồng Nai, Vĩnh Long, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2011 Nghiên cứu nhận được sự hỗ trợ tài chính của Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc (AusAID) và sự hỗ trợ kỹ thuật từ Viện Dân số và Phát triển (PHAD), Đại học Y Hà Nội (HMU) và Trung tâm Khuyết tật và Phát triển (DRD) Điểm mới mẻ của chương trình nghiên cứu này là đã đưa ra được Phương pháp ước lượng những khoản chi phí tăng thêm do có liên quan đến khuyết tật và nhất

là liên quan đến vấn đề kỳ thị [16]

Năm 2009, Bộ LĐ TB & XH đã có báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện pháp lệnh về người tàn tật Trong báo cáo đã chỉ rõ về thực trạng NKT Theo ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu NKT chiếm khoảng 6% dân số, trong đó

có 1,1 triệu khuyết tật nặng chiếm 21,5% tổng số NKT Bao gồm 29% khuyết tật vận động, 17% tâm thần, 14% tật thị giác, 9% tật thính giác, 7% tật ngôn ngữ, 7% trí tuệ và 17% các dạng tật khác Tỷ lệ nam là NKT cao hơn nữ do

Trang 17

tích….Nguyên nhân gây khuyết tật có 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26%

do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Đời sống vật chất, tinh thần

của NKT còn nhiều khó khăn Có tới 80% NKT ở thành thị và 70% NKT ở

nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc

diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm); 24% ở

nhà tạm Những khó khăn này cản trở NKT tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục,

học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong

cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng Đồng thời báo cáo cũng nêu rõ các kết

quả thực hiện công tác chăm sóc NKT trên các lĩnh vực như: trợ cấp hàng

tháng đối với NKT, hộ gia đình nuôi dưỡng NKT, NKT có việc làm, số NKT

được tiếp cận với các công trình giao thông công cộng Từ đó đề ra những

giải pháp để giúp công tác thực hiện pháp lệnh người tàn tật được tốt hơn.[2]

Năm 2010, Nguyễn Ngọc Toản đã có nghiên cứu về đề tài: “Chính

sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam” Tác giả đã có viết

một phần về NKT Trong luận án, tác giả đã đưa ra cách hiểu mới về trợ giúp

xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực cho cá nhân, hộ gia đình, chịu

hậu quả thiên tai, chiến tranh mà đã mở rộng thành các hợp phần chính sách

là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên Mỗi hợp phần chính sách lại

bao gồm các chính sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội

thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội

hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ

giúp về học nghề Đồng thời trong bài viết cũng chỉ ra được số lượng NKT

(2008) trên cả nước và phạm vi phân bố NKT, dạng khuyết tật và số lượng

NKT cũng như nhu cầu của NKT và việc đáp ứng nhu cầu của NKT Kết quả

nghiên cứu phát hiện nhu cầu trợ giúp tương đối đông, tính chung 16,22% dân

số cần trợ giúp xã hội Các nhu cầu trợ giúp (đời sống, sức khỏe, giáo dục) là

khác nhau, tùy thuộc vào các nhóm đối tượng cụ thể Các công cụ chính sách

được quy định đồng bộ (bao gồm trợ cấp xã hội, trợ giúp về y tế, trợ giúp về

giáo dục Tính hiệu quả của chính sách ngày càng cao theo thời gian Tuy

Trang 18

nhiên tính hiệu lực, hiệu quả, tính công bằng và bền vững của chính sách còn chưa đảm bảo (mới bao phủ 1,45% dân số, 12,2% thuộc diện chưa hưởng chính sách, 32% đối tượng, 55% cán bộ chưa thực sự hài lòng với chính sách) Đồng thời dựa trên những kết quả thu được, tác giả cũng đã đưa ra định hướng, giải pháp hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam gồm:

+ Định hướng đổi mới chính sách: chuyển từ quan điểm chính sách nhân đạo sang chính sách bảo đảm thực hiện quyền cho đối tượng hưởng lợi, đồng thời phải đảm bảo sự tương đồng giữa các chính sách khác trên cơ sở phát triển kinh tế xã hội và cải cách hành chính

+ Các giải pháp cụ thể: Mở rộng đối tượng hưởng lợi nhằm bao phủ toàn bộ dân cư khó khăn, đề xuất mức chuẩn trợ cấp tối thiểu và các hệ số xác định mức trợ cấp đối với từng đối tượng cụ thể, đa dạng các hình thức chăm sóc, nghiên cứu xây dựng luật trợ giúp xã hội và hoàn thiện kế hoạch chính sách xã hội thường xuyên ở cộng đồng [11]

Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Người khuyết tật ở Việt Nam: sinh kế, việc làm và bảo trợ xã hội” diễn ra ngày 27/09/2007 do Trung tâm Nghiên cứu

Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu, Nhật Bản) tổ chức tại Trung tâm thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn bao gồm nhiều tham luận liên quan đến NKT 20 tham luận của các nhà khoa học, nhà hoạt động từ thiện,

xã hội trong và ngoài nước được trình bày tại hội thảo đều hướng vào vấn đề tìm giải pháp hỗ trợ hiệu quả cho NKT hòa nhập cộng đồng, đào tạo việc làm

và hỗ trợ việc làm ổn định đời sống có đóng góp cho xã hội, lý giải cho cách dùng khái niệm “NKT” thay thế cho khái niệm “người tàn tật” [12]

T.S Mai Thị Phương (2014), Đề tài “Vấn đề CTXH với NKT” Đề tài

đã nêu lên vai trò của CTXH đối với NKT trên tất cả các phương diện, đặc

Trang 19

trong công tác dạy nghề cho NKT ở nước ta Nội dung, chương trình, nghề đào tạo, hình thức đào tạo chưa hợp lý về kết cấu, quá nặng về lý thuyết, thiếu thực hành, chưa có những giáo trình và các thiết bị dạy nghề dành riêng cho NKT, đội ngũ giáo viên dạy nghề cho NKT còn yếu cả về kiến thức, kỹ năng

và nhận thức về các lĩnh vực sư phạm và quản lý Đồng thời việc thực hiện chính sách về việc làm với NKT chưa nghiêm, hoạt động kiểm tra giám sát chưa thường xuyên, vì vậy NKT chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận dạy nghề và việc làm [6]

Nghiên cứu của Bộ LĐ TB & XH với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề

và việc làm cho NKT của bộ thương binh lao động và xã hội (1993) Nghiên cứu này nói về việc xây dựng các chương trình, chính sách và thực hiện các chính sách cho NKT để NKT có thể tìm được việc làm cho chính mình NKT

sẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và sở thích của mình Qua quá trình tư vấn NKT tìm được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được một công việc phù hợp với bản thân mình [1]

Cuốn “Người khuyết tật ở Việt Nam, kết quả đi ều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai” do Viện nghiên cứu phát triển xã

hội ISDS nghiên cứu và công bố kết quả, được Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2008 và tái bản lần 1 có bổ sung sửa chữa vào năm 2009 Cuốn sách nêu lên những khái niệm cơ bản về NKT, những đặc điểm kinh tế -

xã hội của NKT như vấn đề nhân khẩu học, trình độ học vấn, việc làm, tình trạng khuyết tật; những khó khăn của NKT trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, trong tiếp cận dịch vụ y tế, việc làm, hôn nhân, trong tham gia hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin; sự kỳ thị và sự phân biệt đối xử; sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như của cộng đồng đối với NKT [15]

Cuốn sách “Vấn đề người khuyết tật qua s ự phản ánh c ủa báo chí hiện nay” của tác giả Vũ Thị Thu Ngà được nhà xuất bản Trường Đại học

Trang 20

Quốc Gia xuất bản năm 2008, hệ thống hóa những căn cứ khoa học và luật pháp về NKT, chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của xã hội đối với NKT Trên cơ sở khảo sát các báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, Nhân đạo và Đời sống, tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến 7/2008, nghiên cứu cho thấy rõ thực trạng tuyên truyền về NKT trên báo hiện nay Nghiên cứu những tác động của báo chí trong việc phản ánh về lĩnh vực NKT đối với công chúng để đưa ra một số định hướng, giải pháp xây dựng chuyên mục cố định, phân công nhóm phóng viên chuyên trách theo dõi, tạo dựng đội ngũ cộng tác viên, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan tổ chức của NKT nhằm nâng cao chất lượng phản ánh của báo chí về lĩnh vực này.[4]

Công ước của Liên hợp quốc về quyền của NKT (2006) cũng đã xác định được những quyền cơ bản của NKT, trong đó cũng đã nhấn mạnh đến các quyền về chăm sóc sức khỏe, học tập, việc làm, bảo đảm thu nhập và an sinh xã hội; đặc biệt công ước cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc chống phân biệt đối xử, bảo vệ phụ nữ và trẻ em khuyết tật Việt Nam cũng đã ký kết tham gia thực hiện công ước [5]

Qua nghiên cứu một số công trình nghiên cứu trước liên quan đến vấn

đề nghiên cứu của đề tài, tôi đã rút ra một số điều đạt được như sau:

Thứ nhất, các tác giả đã hệ thống lý luận khá đầy đủ về các vấn đề liên quan đến NKT

Thứ hai, các kết quả nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp sát với tình hình thực tế của địa bàn nghiên cứu

Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp tiếp cận vấn đề rất phù hợp Điều này giúp các kết quả nghiên cứu mang tính ứng dụng cao

Tuy nhiên, theo suy nghĩ của tôi các nghiên c ứu trước chưa tập trung nghiên cứu đến nhu cầu hỗ trợ c ủa NKT trong vấn đề việc làm Chính vì vậy

Trang 21

cầu hỗ trợ việc làm của NKT để từ đó đánh giá được một cách chính xác nhu cầu hỗ trợ viê ̣c là m tại địa bàn nghiên cứu nói riêng và các chính sách, chương trình viê ̣c làm nói chung đã đáp ứng được nhu cầu nguyện vọng của NKT hay chưa để từ đó đưa ra các kết luận và giải pháp hỗ trợ nhằm nâng cao hiệu quả vấn đề hỗ trợ việc làm cho NKT

4 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Đánh giá nhu cầu việc làm của NKT tại địa bàn nghiên cứu

- Tìm hiểu các yếu tố tác động đến nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT tại địa bàn nghiên cứu

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- NKT tại địa bàn nghiên cứu có nhu cầu hỗ trợ việc làm như thế nào?

- NKT đã hiện thực hóa các nhu cầu, nguyên vọng đó như thế nào?

- Tác động của cộng đồng, gia đình tới nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT

5 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là nhu cầu hỗ trợ việc làm của Người khuyết tật trong độ tuổi lao động tại xã Đại Tập và xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

5.2 Khách thể nghiên cứu

NKT trong độ tuổi lao động, đại diện gia đình, cán bộ chính sách 2 xã

và đại diện mô ̣t số doanh nghiê ̣p tại địa bàn nghiên cứu

5.3 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian: Năm 2016

Địa bàn: xã Đại Tập và xã Liên Khê, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp phân tích tài liệu

Trang 22

Phân tích định tính: Là tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gì được giải quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết Phân tích định lượng: Là cách thức phân nhóm các dấu hiệu và tìm ra những mối quan hệ nhân quả giữa các nhóm chỉ báo Phương pháp này được

sử dụng trong những trường hợp phải xử lý một lượng thông tin lớn

Yêu cầu đối với phương pháp phân tích tài liệu: Đòi hỏi phải phân tích

có hệ thống Phải phân loại, lựa chọn, khái quát, so sánh thông tin từ tài liệu

6.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Quy mô mẫu đã xác đi ̣nh số người cần được phỏng vấn để thu được các kết quả mang tính đại diện, phản ánh một cách chính xác nhất Tổng số mẫu được xem xét là t ổng số Người Khuyết tâ ̣t trong độ tuổi lao động tại 2 xã Đại Tập và Liên Khê Với cỡ mẫu này , tổng số người được phỏng vấn là 175 người Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi cung cấp các thông tin về nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT, nắm bắt những tâm tư, tình cảm, đời sống tinh thần cũng như vật chất c ủa NKT Sự tham gia của NKT với các hoa ̣t đô ̣ng cô ̣ng đồng, tác động của gia đình , cô ̣ng đồng với NKT và nhu cầu hỗ trợ viê ̣c làm của NKT

Bảng hỏi: Bảng hỏi có tổng số 30 câu hỏi được thiết kế với 3 phần: (A) Các thông tin chung, (B) Thông tin nhu cầu việc làm; (C) Thông tin về tham gia các hoa ̣t đô ̣ng xã hô ̣i Bảng hỏi được đính kèm trong Ph ụ lục Cuộc khảo sát nhận được sự hỗ trợ tích cực từ các cán bô ̣ Chữ thập đỏ xã, từ các trưởng thôn, là những người cung cấp danh sách NKT và dẫn đường

Thông tin từ các bảng hỏi đã được xử lý sơ bộ và được tổng hợp Tất cả những dữ liệu này được nhập vào phần mềm SPSS (phần mềm chuyên du ̣ng

để phân tích số liệu thống kê)

6.3 Phỏng vấn sâu

Thực hiện 16 cuộc phỏng vấn trên các đối tượng: 06 NKT, 04 đại diện gia

Trang 23

xã Quá trình phỏng vấn sâu cho phép chúng ta thu thập được những thông tin liên quan đến đời sống tâm lý của NKT, cuộc sống hiện tại của họ, những mong muốn, nhu cầu của họ trong tương lai, đồng thời xem xét các cơ sở kinh doanh trên đi ̣a bàn có sẵn sàng nhâ ̣n NKT vào làm viê ̣c, vừa da ̣y nghề vừa ta ̣o viê ̣c làm hay không, địa phương đã làm gì để hỗ trợ cho NKT ở hai xã Đại Tập

Chương 03 – Đề xuất một số hỗ trợ đối với NKT tại địa bàn nghiên cứu

từ khía cạnh CTXH

Trang 24

1.1.1 Người khuyết tật

Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ

thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao

đô ̣ng, sinh hoa ̣t, học tập gă ̣p khó khăn [4, điều 2]

Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể

chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào

xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác [19, điều 1]

Người khuyết tật là một người do khiếm khuyết hoặc các điều kiện/tình

trạng sức khoẻ mà bị GIẢM CHỨC NĂNG (hoạt động) và /hoặc HẠN CHẾ sự tham gia trong các mặt sinh hoạt, lao động, học tập, đời sống xã hội.[3, tr.10]

2 Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:

a) Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không

Trang 25

b) Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

c) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này [4, điều 3]

Dạng tật bao gồm:

Khuyết tật các giác quan: Khó khăn về nhìn, mù hoàn toàn, khó khăn khi nhìn vật quá gần, khó khăn khi nhìn vật quá xa, khó khăn khi phân biệt màu sắc, khó khăn khi nhìn vùng mờ hay tối, nhìn hình đôi, mất cảm giác (bệnh phong)

Khó khăn về nói, giao tiếp: Không thể nghe, không thể nói nhưng có thể hiểu (điếc câm hoàn toàn), có thể nghe, có thể hiểu nhưng không nói được (câm), chỉ nghe được một phần (điếc không hoàn toàn), khó khăn về nghe ở các mức độ khác nhau (điếc, nghễnh ngãng ), các dạng mất cảm giác khác Các dạng khuyết tật về nhận thức: Hội chứng Down, chậm phát triển trí tuệ Các dạng khuyết tật về tâm thần: Rối loạn hành vi, tự kỷ ở trẻ em, các bệnh tâm thần bao gồm cả tâm thần phân liệt

Các dạng khuyết tật khác, không thuộc các nhóm trên như khuyết tật do tình trạng bệnh mãn tính ở các cơ quan nội tạng như suy tim, suy thận, suy hô hấp

Đa khuyết tật: một ngưòi có từ 2 dạng khuyết tật trở lên như bại não ở trẻ em,liệt nửa người do tai biến mạch máu não ở người lớn, nhiễm độc Dioxin [3, tr.12]

1.1.2 Việc làm và độ tuổi lao động

Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm

Nguyên tắc về việc làm

1 Bảo đảm quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nơi làm việc

2 Bình đẳng về cơ hội viê ̣c làm và thu nhập

3 Bảo đảm làm viê ̣c trong điều kiê ̣n an toàn lao động, vệ sinh lao động

Độ tuổi lao động

Độ tuổi lao động là 15 - 60 tuổi đối với nam và 15 - 55 tuổi đối với nữ

Trang 26

1.1.3 Nhu cầu việc làm và nhu cầu hỗ trợ việc làm của NKT

Nội dung của nhu cầu việc làm bao gồm 5 thành tố:

- Có nhu cầu làm việc hay không?

- Làm công việc gì?

- Làm việc ở khu vực nào ?

+ Hành chính, doanh nghiệp là khu vực có quan hệ lao động

+ Tự tạo việc làm là khu vực không có quan hệ lao động

- Môi trường làm việc?

- Thu nhập như thế nào?

Nhu cầu hỗ trợ việc làm bao gồm:

- Đối với khu vực có quan hệ lao động có nhu cầu hỗ trợ về: dạy nghề, giới thiệu việc làm, phương tiện đi lại…

- Đối với khu vực không có quan hệ lao động, tự tạo việc làm có nhu cầu hỗ trợ về: vốn, kỹ năng, thị trường, đầu ra, quản lý sản xuất kinh doanh…

1.1.4 Công tác xã hội và Công tác xã hội với Người khuyết tật

Công tác xã hội

Theo Hiệp hội Quốc gia Nhân viên CTXH (NASW): CTXH là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996) CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999)

Theo Cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh, CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp Nó không phải là một hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ

tự giải quyết vấn đề của mình

Trang 27

Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy

sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người,

sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của

họ ngày càng thoải mái và dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ

Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn

đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một

xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống

an sinh xã hội tiên tiến

“CTXH chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong các mối quan hệ con người, tăng quyền lực và giải phóng người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các

lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ Quyền con người và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề CTXH”

Công tác xã hội với Người khuyết tật

CTXH với NKT là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp

đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc và trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội

Trang 28

1.2 Mô ̣t số lý thuyết ƣ́ng du ̣ng trong nghiên cƣ́u

1.2.1 Lý thuyết nhu cầu

Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mĩ đã xây dựng học thuyết phát triển về nhu cầu của con người vào những năm 50 của thế kỷ XX

Lý thuyết nhu cầu của Maslow cho rằng mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thỏa mãn trong mối tương quan với môi trường để con người có thể phát triển khả năng cao nhất của mình Thuyết nhu cầu của Maslow nêu ra 5 bậc thang Bậc thang thứ nhất đó là nhu cầu vật chất, bậc thang thứ hai là nhu cầu về sự an toàn, bậc thang thứ ba là nhu cầu được thừa nhận, được yêu thương và được chấp nhận, thứ tư là nhu cầu về tôn trọng và tự trọng Cuối cùng là nhu cầu về sự phát triển cá nhân Trong hệ thống thứ bậc của A Maslow, ông cho rằng mỗi nhu cầu của con người đều phụ thuộc vào nhu cầu trước Nếu như nhu cầu trước cá nhân không được đáp ứng sẽ gặp khó khăn trong nhu cao hơn

Maslow là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hệ thống nhu cầu của con người Tuy nhiên lý thuyết Maslow đưa ra cũng có một số hạn chế do sự tuyệt đối hóa nhu cầu của con người qua mỗi bậc thang của sự phát triển Không phải cứ phải thỏa mãn nhu cầu ở nấc thang trước thì con người mới thỏa mãn

và nảy sinh nhu cầu ở nấc thang trên Có những chuẩn mực xã hội hay khuôn mẫu xã hội dẫn dắt hành vi con người không bị điều khiển bởi các nhu cầu có tính tồn tại

Vào những năm 1970 nhu cầu của Maslow được điều chỉnh thành 7 bậc

và cuối cùng 8 bậc (năm 1990) Nhu cầu cơ bản: Nhu cầu về an toàn; Nhu cầu

về xã hội; Nhu cầu được quý trọng; Nhu cầu nhận thức; Nhu cầu thẩm mỹ; Nhu cầu thể hiện mình; Sự siêu nghiệm [13, tr.34] Tuy nhiên 5 bậc thang nhu cầu của Maslow vẫn được sử dụng phổ biến trong các hoạt động có liên quan đến nhu cầu của con người Trong mỗi người cũng đều tồn tại và mong muốn đạt tới 5 bậc thang của Maslow

Trang 29

Nhu cầu sinh lý

Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu

ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về tình dục

Là nhu cầu cơ bản nhất, nguyên thủy nhất, lâu dài nhất, rộng rãi nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được Đặc biệt là với trẻ em vì chúng phụ thuộc rất nhiều vào người lớn để được cung cấp đầy đủ các nhu cầu cơ bản này Ông quan niệm rằng, khi những nhu cầu này chưa được thoả mãn tới mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác của con người sẽ không thể tiến thêm nữa

Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh

An ninh và an toàn có nghĩa là một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người

Nội dung của nhu cầu an ninh: An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm

Trang 30

chúng ta có thể hiểu vì sao những người phạm pháp và vi phạm các quy tắc bị mọi người căm ghét vì đã xâm phạm vào nhu cầu an toàn của người khác

Ví dụ: nếu nhân viên CTXH làm việc với NKT về trí tuê ̣ thì phải xác định được rằng đa số NKT trí tuê ̣ đã bị “tắc” ở bậc nhu cầu này bởi những rủi

ro mà ho ̣ có thể phải đối diện nếu không có sự bảo vê ̣ , quan tâm của gia đình (lạm dụng tình dục, đi lang thang…) Họ không có khả năng kiểm soát hành

vi cũng như nhâ ̣n thức được các mối nguy hiểm đe do ̣a bản thân nên có thể gây nguy hiểm cho cô ̣ng đồng cũng như không tự bảo vê ̣ mình trước những mối đe do ̣a

Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận (tình yêu và sự chấp nhận)

Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận

Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo

sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau

Nội dung của nhu cầu này phong phú, tế nhị, phức tạp hơn Bao gồm các vấn đề tâm lý như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình yêu, tình bạn, tình thân ái là nội dung cao nhất của nhu cầu này Lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái là nội dung lý lưởng mà nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận luôn theo đuổi Nó thể hiện tầm quan trọng của tình cảm con người trong quá trình phát triển của nhân loại

Nhu cầu được tôn trọng

Nội dung của nhu cầu này gồm hai loại: Lòng tự trọng và được người khác tôn trọng

+ Lòng tự trọng bao gồm nguyện vọng muồn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành, tự biểu hiện và tự hoàn thiện

Trang 31

+ Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự,… Tôn trọng là được người khác coi trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách để làm tốt công việc được giao Do đó nhu cầu được tôn trọng là điều không thể thiếu đối với mỗi con người

Nhu cầu phát huy bản ngã

Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó

Nội dung nhu cầu bao gồm nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu,…) nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài,…), nhu cầu thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân

NKT cũng có những nhu cầu ăn, mặc, ở như chúng ta , họ cũng mong muốn được xã hội thừa nhận, muốn mọi người trong cộng đồng yêu thương, được mọi người tôn trọng mình, không phân biệt kỳ thị, đối xử, và mong muốn được tạo điều kiện phát triển toàn diện

NKT là một lực lượng lao động không nhỏ trong xã hội và họ đòi hỏi phải được bảo vệ bằng luật pháp để đảm bảo quyền bình đẳng tham gia vào các hoạt động của xã hội, trong đó có quyền bình đẳng về việc làm bền vững Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020 với mục tiêu “Hỗ trợ người khuyết tật phát huy khả năng của mình để đáp ứng nhu cầu bản thân; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng

và xã hội”

Ông Nguyễn Ngọc Toản, Phó Cục trưởng Cục Bảo trợ Xã hội, Bộ LĐ

TB & XH cho rằng, bảo đảm để NKT thực hiện quyền bình đẳng và tham gia cộng đồng xã hội, một trong những giải pháp là hướng tới trợ giúp NKT nâng cao năng lực tiếp cận việc làm, giải quyết vấn đề giảm nghèo Trong đó cần

Trang 32

trợ giúp trực tiếp đối với cá nhân và hộ gia đình NKT đảm bảo điều kiện tham gia vào thị trường lao động hoặc tự tạo việc làm tại chỗ

Có được việc làm bền vững là điều mong mỏi của NKT Đây là những khát vọng, quyền lợi, tiếng nói và sự thừa nhận để cộng đồng xã hội có sự công bằng và bình đẳng như nhau Nhiều NKT trước đây phải sống dựa vào gia đình, né tránh, mặc cảm với xã hội thì nay họ đã có việc làm, tự tin tham gia vào các hoạt động của cộng đồng và xã hội

Như vậy, những nhu cầu trên hoàn toàn chính đáng, hỗ trợ viê ̣c làm cho người NKT sẽ giúp họ tự chủ về kinh tế, họ có thể nuôi sống chính bản thân mình, được thể hiện và làm việc với năng lực của chính mình Từ đó họ có điều kiện nâng cao tay nghề và phát triển trong điều kiện tốt nhất Tạo điều kiện và cơ hội đào tạo nghề gắn với việc làm đối với NKT chính là sự thúc đẩy hành động nhằm “Hiện thực hóa quyền của người khuyết tật”, trong đó có quyền được có việc làm bền vững Cùng với sự vào cuộc của các cơ quan, tổ chức chính trị xã hội, bản thân NKT cần rèn luyện, cố gắng học tập để nâng cao kiến thức, tay nghề, tự tin góp phần phát triển kinh tế đất nước

1.2.2 Lý thuyết hệ thống

Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX

do nhà sinh học Ludvig VonBertalanffy khởi xướng Hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố đối với cùng loại hoặc cùng chức năng có quan hệ hoặc liên hệ với

nhau chặt chẽ làm thành một thể thống nhất (Từ điển tiếng Việt) Hệ thống là

một tập hợp các thành tố được sắp xếp có trật tự và liên hệ với nhau để hoạt

động thống nhất (Định nghĩa của “Lý thuyết công tác xã hội hiện đại”) Một

hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của hệ thống lớn hơn Tiểu hệ thống là hệ thống thứ cấp hoặc hệ thống hỗ trợ Các tiểu hệ thống được phân biệt với nhau bởi các ranh giới là một bộ phận của hệ thống lớn và mỗi cá nhân được coi như là một hệ thống Trạng thái của một

hệ thống được xác định bởi 5 đặc trưng:

Trang 33

Trạng thái ổn định: Hệ thống tự duy trì sự ổn định của nó trong quá

trình tiếp nhận thông tin ở đầu vào và sử dụng thông tin

Trạng thái điều hòa hay cân bằng: Là khả năng duy trì bản chất cơ bản

của một hệ thống với các hệ thống khác mặc dù có sự thay đổi nhất định do những tác động bên ngoài nhưng bản chất của hệ thống không bị thay đổi

Trạng thái sự khác biệt: Sự khác biệt ở đây được hiểu theo một số khía

cạnh như sau: Thứ nhất là sự khác biệt nhất định giữa các tiểu hệ thống trong

1 hệ thống (mặc dù các tiểu hệ thống vận hành thống nhất trong một hệ thống) Thứ hai khác biệt giữa các hệ thống với nhau Thứ ba sự khác biệt của một hệ thống hay các tiểu hệ thống trong những thời gian khác nhau, do chúng luôn luôn vận hành, biến đổi theo thời gian dưới những tác động từ ngoài vào

Trạng thái tổng hòa giữa các hệ thống và các tiểu hệ thống với nhau:

Nhấn mạnh đến tiểu hệ thống, hay các yếu tố nó kết hợp vận hành thống nhất như thế nào có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau như thế nào, chứ không phải là sự gộp lại đơn thuần mà không có sự liên kết ảnh hưởng hữu cơ

Trạng thái trao đổi: Do sự liên kết hữu cơ ảnh hưởng qua lại nên một

phần của hệ thống này thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác trong hệ thống khác Chúng có mối liên quan tác động qua lại lẫn nhau theo nhiều chiều

Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực như tin học, sinh học, kinh tế, xã hội học Một hệ thống được định nghĩa là một tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu

tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó đều tác động lên những yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là một bộ phận của một đại hệ thống Có những hệ thống khép kín, không trao đổi với hệ thống xung quanh

Hệ thống bao gồm các tiểu hệ thống và các thành phần Hệ thống các phức tạp thì tổng hợp các tiểu hệ thống và các thành phần càng đa dạng

Hệ thống không chính thức hay hệ thống tự nhiên như gia đình, bạn bè,

Trang 34

đồng nghiệp

Đối với mỗi chúng ta khi sinh ra và lớn lên thì gia đình luôn là yếu tố quan tro ̣ng nhất đă ̣c biê ̣t với NKT thì gia đình là yếu tố không thể thiếu , những người thân trong gia đình là người trực tiếp giúp đỡ NKT trong cuô ̣c sống, sinh hoa ̣t hàng ngày thâ ̣m chí là những người thay NKT thực hiê ̣n mô ̣t số chức năng mà bản thân NKT không thực hiê ̣n đư ợc Vì vậy gia đình là hệ thống có ảnh hưởng lớn nhất đến NKT Nếu gia đình của NKT thực hiê ̣n tốt chức năng của mình NKT sẽ có cơ hô ̣i được tiếp câ ̣n với các h ệ thống bên ngoài khác, sẽ có sự hòa nhâ ̣p tốt với các hê ̣ thống chính thức như cộng đồng,

tổ chức công cộng Và nếu cộng đồng đó có cái nhìn nhận tích cực về NKT thì nhu cầu hỗ trợ viê ̣c làm của NKT được quan tâm và hỗ trợ

Hệ thống xã hội như trường học, bệnh viện: Đối với NKT khi được tiếp câ ̣n với các hê ̣ t hống xã hô ̣i như trường ho ̣c, bê ̣nh viên thì viê ̣c phát triển bản thân của họ sẽ có cơ hội tốt để thực hiê ̣n NKT được đến trường sẽ không những được học tập, tiếp thu kiến thức mà họ còn được giao tiếp với giáo viên, nhân viên, bạn bè, các tình nguyện viên Chính nhờ có hệ thống trường học mà nhiều NKT có cơ hội đến với nhiều tổ chức công cộng mà trước đó

họ không biết đến Nhờ học tập nhiều NKT đến được với các doanh nghiệp NKT được đến với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễn phí được lắp những dụng cụ trợ giúp cho sinh hoạt và làm việc

Ba hệ thống trên đều có sự tương tác qua lại và tác động trực tiếp đến nhu cầu hỗ trợ viê ̣c làm của NKT Hiểu được sự ảnh hưởng của các hệ thống trên không những giúp NKT hòa nhâ ̣p xã hô ̣i mà còn hỗ trợ việc làm cho NKT để tự nuôi sống bản thân , ổn định cuộc sống NKT là nhóm đối tượng yếu thế dễ bị tổn thương nhất trong xã hội nên ít nhiều sẽ có sự phụ thuộc và cần sự che chở, bao bọc của các nhóm hệ thống trên NKT chia sẻ những tâm

tư, nguyện vọng, tình cảm, những câu chuyện riêng của mình đối với những

hệ thống phi chính thức Hệ thống chính thức cho họ được làm việc như

Trang 35

tàn nhưng không phế, vẫn có thể làm việc như những người bình thường khác Hệ thống xã hội là những dịch vụ chăm sóc cho NKT về mặt sức khỏe, trau dồi kiến thức cho NKT…Lý thuyết hệ thống vô cùng quan trọng trong việc giúp đỡ NKT, con người bình thường khi sống trong một hệ thống nhất định đã rất khó khăn rồi huống chi là đối với NKT, họ cần hơn người bình thường gấp nhiều lần, họ không thể sống mà thiếu nhóm hệ thống nào cả Đảm bảo cung cấp đầy đủ hệ thống cho NKT là vô cùng quan trọng, có như vậy mới đảm bảo vấn đề an sinh xã hội cho họ

1.2.3 Lý thuyết Hệ thống sinh thái (Ecology systems)

Hệ thống sinh thái gồm hai ý tưởng: Môi trường sinh thái của cá nhân khi cá nhân đó đang cố gắng để thích nghi với môi trường xung quanh; hệ thống khi nhìn vào mối tương quan của những bộ phận khác nhau Ta phối hợp hai chữ này thành hệ thống sinh thái (Ecology systems)

Cá nhân gắn chặt với gia đình, gia đình với cộng đồng, có những cá nhân rất mạnh có thể lay chuyển cả một hệ thống lớn Hành vi con người rất phức tạp, không có một yếu tố nào duy nhất giải thích về hành vi con người Chúng ta phải cố gắng kết hợp các lý thuyết về cá nhân, gia đình, nhóm, xã hội và lý thuyết về thế giới để hiểu về con người theo hệ thống sinh thái

Gia đình có ranh giới, chúng ta cũng có ranh giới, bất cứ hệ thống nào cũng có ranh giới, chúng ta nghĩ đến sự tương tác trong hệ thống để hiểu con người Để hiểu một người bạn nào đó, chúng ta phải hiểu thế giới rộng hơn, phải hiểu gia đình người đó, nhóm bạn cũng làm việc, cộng đồng mà bạn đó đang tương tác Hệ thống sinh thái của mỗi cá nhân đều độc đáo

Trong một hệ thống, ta quan tâm đến tổng thể nhiều hơn sự cộng lại của các bộ phận Mọi hệ thống có nhiều bộ phận, gia đình là thành phần của cộng đồng

Chúng ta luôn luôn quan tâm đến hành vi, cấu trúc, văn hóa, diễn biến của hệ thống

Trang 36

1 Hành vi: có khi gọi là năng lượng mang tính tâm lý (thức ăn là năng lượng, sự nâng đỡ về tình cảm là năng lượng ), hành vi là cách sử dụng năng lượng của mình, ví dụ tôi đang trình bày

2 Cấu trúc (kết cấu): Bất cứ hệ thống nào cũng có một bộ phận hay hệ thống bộ phận như trong cơ thể con người có nhiều hệ thống cơ cấu cũng

có nghĩa là những ranh giới, nếu nghiên cứu về gia đình trước tiên phải biết

về thành phần trong gia đình, những thành phần đó không bắt buộc là những

gì hiện hữu mà có thể là những thành phần về tâm lý

3 Văn hóa (Culture) Bất cứ hệ thống nào cũng đều mang nét văn hóa riêng của nó Trong hệ thống, hành vi văn hoá được thể hiện như thế nào?

Văn hóa gia đình rất quan trọng để định hình một cá nhân, chúng ta không thể hiểu hết văn hoá gia đình đã ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào

4 Diễn biến của hệ thống:

Bất cứ một hệ thống nào cũng thay đổi theo thời gian nhưng bất kỳ trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ được trạng thái tương đối ổn định Không

có một cơ cấu nào tồn tại như vậy mãi

Đối với NKT, hệ thống sinh thái của họ chính là gia đình, gia đình điều chỉnh hành vi của NKT, nếu mọi người trong gia đình có thái độ quan tâm chăm sóc đầy đủ đến NKT, tạo cho họ có cảm giác an toàn, hạnh phúc trong

hệ thống sinh thái là gia đình thì họ sẽ có những sự phát triển tích cực trong việc điều chỉnh hành vi cho NKT, NKT khi nhận được những tình cảm yêu thương của các thành viên khác họ sẽ trở nên rất chân thành, cởi mở, hành vi

sẽ tích cực Ngược lại, nếu bất cứ thành viên nào trong gia đình có những biểu hiện coi khinh, lên án, chỉ trích mỗi khi NKT làm không đúng về một việc gì đó sẽ vô tình tạo sự tổn thương cho NKT, họ sẽ tự nhìn nhận mình là kém cỏi, không làm được việc gì, vô dụng đến một việc nhỏ có ích cho gia đình cũng không làm được, dẫn đến những suy nghĩ tiêu cực về bản thân Trong nhiều trường hợp, họ còn có những suy nghĩ nguy hiểm đến bản thân,

Trang 37

tin tưởng những thành viên trong hệ thống sinh thái Việc xây dựng văn hóa gia đình là một điều cần thiết mà mỗi hệ thống sinh thái có NKT cần phải có, văn hóa gia đình là thước đo để chứng tỏ cho xã hội rằng gia đình đó có một

hệ thống vô cùng nguyên tắc, yêu thương nhau, có trên dưới… NKT cũng sẽ hòa nhập cùng nền văn hóa gia đình đó Họ thấy được mình là thành viên trong gia đình, có sự tác động, chi phối đối với các thành viên khác trong gia đình Nền văn hóa gia đình luôn phải thay đổi, cập nhật để phù hợp với sự phát triển của các thành viên trong gia đình, nếu nền văn hóa không thay đổi khi mà xã hội ngày càng phát triển thì sẽ chậm lại so với sự tiến bộ với các hệ thống sinh thái khác

1.2.4 Lý thuyết về vai trò (Role theory)

Mỗi người chúng ta đều có nhiều vai trò mà chúng ta đảm nhận trong cuộc sống Giống như những diễn viên trên sân khấu, họ phải đóng nhiều vai cùng một lúc

Thí dụ: Các bạn khi ở lớp học thì đóng vai trò là học viên nhưng đến khi về đến gia đình thì các bạn lại đóng một vai trò khác

Mong đợi về vai trò (Expectation): Đó là cách xã hội qui định, qui ước

về vai trò, về điều mong đợi mà vai trò đó thực hiện Trong cùng một môi trường văn hóa thì mọi người có cùng một số mong đợi, những điều qui ước dành cho từng vai trò

Thể hiện vai trò (Role performance): Đó là cách con người thể hiện vai trò của mình như thế nào

Ý thức về vai trò (Role conception) đó là suy nghĩ của tôi về những gì các bạn mong đợi ở tôi

Sự linh động về vai trò (Fexibility) Tôi cởi mở để thay đổi vai trò của tôi

Sự mơ hồ về vai trò (Role ambiguity) Thí dụ một người có vấn đề vì

họ mơ hồ về vai trò, về những điều mà họ đảm nhận

Sự mâu thuẫn về vai trò (Role conflict) Thí dụ Con tôi muốn khác,

Trang 38

chồng tôi muốn khác nên tôi không thể hoàn thành vai trò cùng một lúc Tôi muốn làm một người mẹ tốt, một người vợ tốt nhưng tôi không làm được nên tôi bỏ luôn

Khi có mâu thuẫn về vai trò thì có vài phương cách để giải quyết: Phương cách 1: lờ đi hay trốn tránh

Phương cách 2: dung hoà

Phương cách 3: tránh đi không làm gì hết

Phương cách 4: từ bỏ vai trò của mình luôn

Tính không liên tục của vai trò:

Áp lực về vai trò (Role strain): Thí dụ trong một gia đình, người cha phải đi xa cùng một lúc người mẹ phải đóng cả hai vai, thí dụ người mẹ bị

ốm không thể chăm sóc cho con cái

Theo số liệu của Liên hợp quốc (UN), hiện nay trên toàn cầu có hơn 600 triệu người khuyết tật và cuộc sống hằng ngày của 25% dân số toàn cầu có liên quan với người khuyết tật ở mặt này hay mặt khác Số lượng NKT chiếm một phần không nhỏ trong xã hội, họ cũng chủ động vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng đã cho thấy vai trò của NKT là vô cùng quan trọng

Thứ nhất, Đối với nhà nước và xã hội, số lượng NKT chiếm một tỉ lệ

không nhỏ trong xã hội, đóng góp một lực lượng lao động khá lớn Hầu hết NKT vẫn tham gia tích cực vào việc học tập văn hóa và các hoạt động xã hội Cộng đồng quốc tế cũng công nhận những giá trị đóng góp và tiềm năng

to lớn của NKT trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia Ngoại trừ những NKT nặng không còn khả năng lao động, còn lại hầu hết NKT vẫn tham gia hoạt động kinh tế, xã hội và họ đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình phát triển của nhân loài NKT cũng tích cực tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học, văn hoá thể thao và các hoạt động xã hội khác Với sự trợ giúp của gia đình, cộng đồng, xã hội và nhà nước nhiều người khuyết tật cũng đã gặt hái được những thành công trong công việc,

Trang 39

khuyết tật khu vực và thế giới được tổ chức thường niên 5 năm một lần

Thứ hai, Đối với gia đình và bản thân NKT, NKT cũng là một bộ phận

của gia đình, xã hội Họ đã nhận thức được vị trí của mình và có trách nhiệm trong việc tham gia vào các hoạt động của gia đình, thúc đẩy chính họ tự tin hơn tham gia vào các hoạt động xã hội, góp phần công sức của mình vào sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia

1.3 Cơ sở khoa học về viê ̣c làm cho người khuyết tật

Các văn bản pháp lý về viê ̣c làm cho người khuyết tật

Việc làm cho người khuyết tật được Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đặc biệt quan tâm UN quy định: các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của người khuyết tật, bằng cách thực thi những bước phù hợp, bao gồm cả các biện pháp luật pháp (…) [19] Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) hướng dẫn thúc đẩy cơ hội việc làm bình đẳng cho NKT không bao gồm việc ngăn cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của

Người khuyết tật

Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2012 khẳng định: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là NKT, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người

sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là NKT vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật” [5, Khoản 1 Điều 176] Quyền làm việc của lao động khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho NKT tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân

Thứ hai, quy định về chính sách học nghề và việc làm cho người khuyết tật

Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ - CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật đã có những quy định chi tiết về dạy nghề và việc làm đối với NKT Theo đó, Nhà

Trang 40

nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho NKT được lựa chọn, tư vấn và học nghề, làm việc theo khả năng, sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp,

cá nhân, không được từ chối tuyển dụng những người lao động khuyết tật có

đủ tiêu chuẩn…[4]

Thứ ba, quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh

Học nghề và việc làm cho NKT luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm Bộ luật Lao động tại khoản 2 Điều 176 quy định: “Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng lao động là NKT” Đối với cơ sở dạy nghề,

tổ chức dạy nghề cho NKT thì phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho NKT và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật ; cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là NKT được hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho NKT; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ

lê ̣ lao đô ̣ng là NKT, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh nghiệp [6] Đây là những quy định ưu đãi góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ

sở sản xuất kinh doanh có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, cải thiện môi trường làm việc để NKT tiếp cận với công việc

Thứ tư, quy định về quỹ việc làm cho NKT

Với mục đích giúp đỡ NKT học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho NKT; hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhận NKT vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quy định về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho NKT

là một vấn đề quan trọng và cần thiết Luật Người khuyết tật năm 2010, tại Điều 10 quy định về quỹ trợ giúp NKT Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ

Ngày đăng: 29/08/2017, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Vũ Thị Thu Ngà (2008), Vấn đề NKT người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay, NXB ĐH Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề NKT người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thu Ngà
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia
Năm: 2008
7. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2010), Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Người khuyết tật số 51/2010/QH12
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Năm: 2010
10. Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2011), Người khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật ở Việt Nam – Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009
Tác giả: Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA)
Năm: 2011
15. Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2009), Người khuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người khuyết tật ở Việt Nam: Kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai
Tác giả: Viện nghiên cứu phát triển xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
Năm: 2009
17. Nguyễn Thị Xuyên và Trần Quý Tường (2008), Hướng dẫn Người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Xuyên và Trần Quý Tường
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2008
18. Brenda Gannon and Brian Nolan (2011), Disability and social inclusion in Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disability and social inclusion in Ireland
Tác giả: Brenda Gannon, Brian Nolan
Năm: 2011
19. Justin Healey (2005) “Những quyền của người khuyết tật” (Disability Right), Nhà xuất bản The Spliney, Sydney, Úc Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những quyền của người khuyết tật”
Nhà XB: Nhà xuất bản The Spliney
1. Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (1993), Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh lao động và xã hội Khác
2. Bộ lao động thương binh xã hội (2009), Báo cáo tổng kết về 10 năm thực hiện pháp lệnh về người tàn tật Khác
3. Nguyễn Thị Kim Hoa (2014), Giáo trình Công tác xã hội với người khuyết tật, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Khác
5. Liên hợp quốc (2006), Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật Khác
8. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Luật Việc làm số 38/2013/QH13 Khác
9. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 Khác
11. Nguyễn Ngọc Toản (2010), Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam Khác
12. Trung tâm Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc Gia Hà Nội) phối hợp với Trung tâm hợp tác Quốc Tế (Đại học Osaka và Đại học Ochanomizu Khác
13. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (2004), Hướng tới cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật thông qua hệ thống pháp luật Khác
14. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO, 2011), Báo cáo khảo sát về Đào tạo nghề và Tạo việc làm cho người Khuyết tật tại Việt Nam Khác
16. Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (ISDS) (2011), Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và kỳ thị ở Việt Nam Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w