Chính từ thực tế đó mà nên tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên” nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ YẾN HOA
VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GIÁO DỤC
GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
(Nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
NGUYỄN THỊ YẾN HOA
VAI TRÒ CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GIÁO DỤC
GIỚI TÍNH CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
(Nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội – 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài: Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên (Nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội) là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân
tôi, không sao chép của bất cứ ai Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn
do tôi tự tìm hiểu, phân tích và thu thập số liệu một cách trung thực và khách quan Các kết quả này chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Học viên
Nguyễn Thị Yến Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn Thạc sỹ của tôi được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các quý thầy cô, các bạn và gia đình
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới:
Các thầy cô giáo trong Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền đạt cho tôi có những tri thức và tạo điều kiện giúp đỡ để tôi có thể hoàn thiện đề tài này, đặc biệt là Thầy giáo hướng dẫn GS TS Hoàng Bá Thịnh Nhờ sự chỉ dẫn nhiệt tình, tận tâm hướng dẫn của thầy mà tôi có thể lựa chọn được một đề tài phù hợp với khả năng của mình, từ đó có cái nhìn sâu hơn trong vấn đề nghiên cứu khoa học
Tôi cũng gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo UBND thị trấn Trâu Quỳ, các bác tổ trưởng tổ dân phố Chính Trung, An Đào, Cửu Việt, Kiên Thành, An Lạc và các thầy cô, các em học sinh trường THCS thị trấn Trâu Quỳ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập thông tin cho nghiên cứu của mình
Mặc dù có nhiều cố gắng, song bản thân tôi vẫn còn một số hạn chế
về kiến thức và kinh nghiệm, nên luận văn còn có nhiều thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ quý thầy cô giáo và các bạn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Người thực hiện
Học viên Nguyễn Thị Yến Hoa
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Hướng nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính 3
2.2 Hướng nghiên cứu về vai trò giáo dục của gia đình: 5
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
3.1 Ý nghĩa lý luận 8
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 8
4.1 Mục đích nghiên cứu 8
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: 9
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 9
5.1 Đối tượng nghiên cứu 9
5.2 Khách thể nghiên cứu: 9
5.3 Phạm vi nghiên cứu 9
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu nghiên cứu: 9
6.1 Câu hỏi nghiên cứu 9
6.2 Giả thuyết nghiên cứu 10
7 Phương pháp nghiên cứu 10
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu: 10
Trang 67.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: 11
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu: 13
8 Khung lý thuyết 14
NỘI DUNG 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
1.1 Khái niệm công cụ của đề tài 15
1.1.1 Khái niệm vai trò: 15
1.1.2 Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình 15
1.1.3 Khái niệm vị thành niên 17
1.1.4 Khái niệm GDGT 18
1.2 Lý thuyết áp dụng 19
1.2.1 Lý thuyết vai trò 19
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội 20
1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý 22
1.3 Vai trò của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên 23
1.3.1 Trong gia đình 23
1.3.2 Trong nhà trường 26
1.3.3 Xã hội 28
1.4 Những nguyên nhân và tác h ại khi trẻ vị thành niên thiếu kiến thức về giáo du ̣c giới tính 29
1.4.1 Nguyên nhân 29
1.4.2 Tác hại 30
1.5 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 31
CHƯƠNG II NHẬN THỨC, THÁI ĐỘ, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GDGT CHO TRẺ VỊ THÀNH NIÊN TẠI THỊ TRẤN TRÂU QUỲ, HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI 35
Trang 72.1 Nhận thức của cha mẹ với việc GDGT cho con cái ở độ tuổi vị
thành niên 35
2.1.1 Đánh giá của cha mẹ về tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con cái: 35
2.1.2 Đánh giá của cha mẹ về môi trường GDGT cho con: 36
2.1.3 Nhận thức của cha mẹ về độ tuổi GDGT 40
2.2 Nội dung GDGT cho con cái: 43
2.2.1 Nội dung GDGT 43
2.2.2 Nguồn tài liệu cha mẹ tìm hiểu những kiến thức về GDGT 46
2.3 Phương pháp, thái độ cha mẹ khi GDGT cho con: 48
2.3.1 Thái độ của cha mẹ khi GDGT cho con 48
2.3.2 Phương pháp giáo dục giới tính 49
2.4 Những khó khăn trong việc GDGT của các bậc cha mẹ 52
2.5 Đánh giá của trẻ VTN về vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính 59
2.5.1 Đánh giá của trẻ vị thành niên về môi trường GDGT: 59
2.5.2 Đánh giá của trẻ VTN về nội dung GDGT trong gia đình: 61
2.5.3 Đánh giá của trẻ VTN về thái độ của cha mẹ trong việc GDGT: 62
2.5.4 Đánh giá của trẻ vị thành niên về phương pháp GDGT của cha mẹ 64
PHẦN III: KẾT LUẬN 66
KHUYẾN NGHỊ 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 74
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tỷ lệ tuổi của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến 11 Bảng 2: Tỷ lệ giới tính của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến 12 Bảng 3: Tỷ lệ nghề nghiệp của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến 12 Bảng 4: Tỷ lệ trình độ học vấn của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến 12 Bảng 5: Tỷ lệ giới tính của trẻ vị thành niên trả lời phiếu ý kiến 13 Bảng 6: Tỷ lệ học lực của trẻ vị thành niên trả lời phiếu ý kiến 13 Bảng 7: Đánh giá của cha mẹ về tầm quan trọng của việc GDGT cho con 35 Bảng 8: Nội dung GDGT mà cha mẹ dạy cho con 43 Bảng 9 : Nguồn tài liệu cha mẹ tìm hiểu những kiến thức về GDGT 47 Bảng 10: Những khó khăn của cha mẹ trong việc GDGT cho trẻ VTN 58 Bảng 11 Đánh giá của trẻ VTN về phương pháp GDGT của cha mẹ 65
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Đánh giá của cha mẹ về môi trường GDGT cho con cái 37
Biểu đồ 2: Nhận thức của cha mẹ về độ tuổi GDGT cho con cái 41
Biểu đồ 3: Sự khác biệt về nội dung GDGT giữa cha và mẹ 45
Biểu đồ 4: Thái độ của cha mẹ trong việc GDGT cho con cái 48
Biểu đồ 5: Phương pháp GDGT 49
Biểu đồ 6: Sự quan tâm của cha mẹ đến việc GDGT cho con theo giới tính 52
Biểu đồ 7: Thắc mắc về giới tính của trẻ vị thành niên theo giới tính 54
Biểu đồ 8: Đánh giá của trẻ VTN theo giới tính về người chia sẻ với các em nhiều nhất về giới tính 60
Biểu đồ 9: So sánh đánh giá của cha mẹ và con cái về thái độ GDGT của cha mẹ 62
Trang 11dù vậy, so với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam vẫn là nước có độ tuổi quan
hệ tình dục muộn hơn nhưng tỉ lệ nạo phá thai lại thuộc hàng cao nhất trên thế giới Theo thống kê của Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em, năm 2010, cả nước có 470.000 ca phá thai, trong đó có hơn 9.000 ca là vị thành niên Đến năm 2015, trong tổng số gần 280.000 ca phá thai, có khoảng hơn 5.500 ca phá thai ở tuổi
vị thành niên thực hiện ở hệ thống công, chưa kể các cơ sở y tế tư nhân Cũng trong năm 2015, trong tổng số các ca đẻ thì có hơn 42.000 ca là vị thành niên, chiếm hơn 3,5% Theo Bác sĩ Phạm Thanh Hải, BV Từ Dũ Hồ Chí Minh:
“Trẻ vị thành niên có tỷ lệ phá thai cao là do các em đã quan hệ tình dục quá sớm nhưng lại mù mờ về kiến thức sức khỏe sinh sản (hơn 90% trẻ vị thành niên không biết độ tuổi có thai phù hợp, 61% thì không biết về thời điểm dễ mang thai nhất, cũng như 50% không biết về các biện pháp tránh thai ) Qua
đó có thể phản ánh thực tế hiện nay giới trẻ Việt Nam đang thiếu nghiêm trọng những kiến thức cơ bản về tình dục và sức khỏe sinh sản Vậy nguyên nhân là do đâu?
Từ trước tới nay theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, giới tính, tình dục, sức khỏe sinh sản là những vấn đề nhạy cảm vì vậy ít khi được
đề cấp đến một cách thẳng thắn, công khai Những năm trở lại đây, quan niệm
Trang 12công khai hơn trước Tuy nhiên khái niệm giáo dục giới tính ở Việt Nam vẫn
là một khái niệm xa lạ và mơ hồ với nhiều người
Ở nhà trường, những giờ học về giáo dục giới tính ở các trường học còn rất ít, hoặc có thì cũng chỉ được lồng ghép vào các môn học như sinh học, giáo dục công dân, kiến thức cung cấp cho người học là không nhiều, thiếu hệ thống và chưa phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi nên chưa đem lại hiệu quả như mong muốn Còn trong gia đình, hầu hết các bậc cha mẹ vẫn rất ngại khi trao đổi với con cái mình về những vấn đề này với suy nghĩ đây là vấn đề “của người lớn” hoặc “không vẽ đường cho hươu chạy” Nhưng với tâm lý tò mò, muốn khám phá, muốn khẳng định mình của tuổi mới lớn các em vẫn sẽ tìm hiểu những vấn đề này qua những kênh thông tin khác như: sách báo, internet, bạn bè,…những kiến thức này có thể là đúng nhưng cũng có rất nhiều thông tin sai lệch Đặc biệt trong thời đại bùng nổ internet như hiện nay, trẻ có thể
dễ dàng tìm được ngay những clip, thông tin không lành mạnh để thỏa chí tò
mò, khám phá của tuổi mới lớn Khi trẻ không được giáo dục, cung cấp kiến thức một cách chính thống, không được định hướng đúng đắn về giới tính và tình dục, các em dễ dàng làm theo những gì mình được xem, được đọc và hậu quả là những câu chuyện đáng buồn, những hiện tượng nhức nhối thời gian gần đây Cần phải thẳng thắn nhìn nhận một cách đúng đắn về cách giáo dục cho trẻ em Việt Nam về giới tính, tình dục và sức khỏe sinh sản Phải thấy rằng đây là những kiến thức, kỹ năng hết sức cần thiết cho trẻ vị thành niên Không phải nhà trường, các phương tiện truyền thông mà cha mẹ mới là người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên Cha mẹ phải là người thầy để chỉ dẫn, định hướng một cách đúng đắn về giới tính, tình dục cho các em, và cũng là những người bạn để lắng nghe những tâm tư, tình cảm, những thắc mắc của các em và cùng các em giải đáp, tháo gỡ kịp thời
Trang 13Thị trấn Trâu Quỳ huyện Gia Lâm là khu vực đông dân cư, khá phức tạp, đa phần là những người làm nghề phi nông nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau trong đó chủ yếu là công chức, buôn bán, dịch vụ và đi làm công nhân Như vậy, nghề nghiệp của người dân trong xã cũng hết sức đa dạng, nên đặc điểm nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ có thể ảnh hưởng đến việc giáo dục con cái, trong đó có việc giáo dục giới tính cho con ở độ tuổi vị
thành niên Chính từ thực tế đó mà nên tôi lựa chọn đề tài: “Vai trò của cha
mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên”
(nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội) để
tìm hiểu về nhận thức cũng như cách thức giáo dục giới tính cho con cái trong các gia đình tại địa bàn, tác động của việc giáo dục giới tính trong gia đình tới nhận thức, tâm lý, hành vi giới của trẻ em nơi đây từ đó đưa ra một số khuyến nghị để nâng cao vai trò của gia đình đối với vấn đề này
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Hướng nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính
- Giáo trình xã hội học về giới của tác giả Hoàng Bá Thịnh đã đề
cập đầy đủ các khái niệm về giới tính, để phân biệt giữa khái niệm giới và giới tính, đề cập về các vấn đề sinh lí căn bản nhất của con người, để thấy sự khác nhau giữa cơ thể nam và nữ về mặt gen, mặt sinh học, thấy được những điều khác biệt giữa hai giới tính Từ sự khác biệt đó để giải thích sự khác nhau về vai trò xã hội và hành vi xã hội của hai giới tính, từ đó có thể thấy được cách giáo dục giới tính giữa hai giới cũng cần có sự khác biệt để phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của mỗi giới [10]
- Tác giả Nguyễn Võ Kỹ Anh trong nghiên cứu “Giáo dục giới tính -
Phòng chống tệ nạn mại dâm” đưa ra các khái niệm về giới tính, các vấn đề
liên quan đến giới tính và sức khỏe, sự phát triển thể chất ở tuổi VTN thay đổi
về tâm sinh lí, hình thành nhân cách, các đặc điểm và những yếu tố ảnh hưởng
Trang 14nhận đựơc sự quan tâm và thật sự cần thiết hiện nay nhất là đối với các bậc cha mẹ vì họ cần chuẩn bị kĩ những kiến thức về giới tính để GDGT cho con cái, điều này theo tác giả sẽ làm đẩy và phòng chống tệ nạn mại dâm.[1]
- Nghiên cứu “ Yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ liên quan đến quan hệ tình dục ở vị thành niên: nghiên cứu dọc tại Chí Linh, Hải Dương” của
Nguyễn Văn Nghị, Vũ Mạnh Lợi, Lê Cự Linh, Nguyễn Thanh Long( NXB Viện
xã hội học – Viện khoa học xã hội Việt Nam ) đề cập đến giai đoạn bắt đầu
tuổi VTN và các yếu tố tác động đến giai đoạn này, các đặc điểm của tuổi vị thành niên và những ảnh hưởng từ bạn bè đồng lứa về các vấn đề tình dục và sức khỏe sinh sản Qua nghiên cứu đã đưa ra được các kết quả về số liệu định lượng để so sánh sự hiểu biết và phân tích các yếu tố liên quan với hành vi đã từng quan hệ tình dục ở VTN theo nhóm tuổi, nơi ở, điều kiện kinh tế, giới tính nam nữ So sánh giữa những trẻ được sự quan tâm của cha mẹ và những trẻ không nhận được sự quan tâm ở tuổi VTN thì sẽ có những hiểu biết về GDGT ra sao và tránh được việc QHTD khi đang ở độ tuổi dậy thì, tránh được các hậu quả do QHTD gây ra Các kết quả nghiên cứu về định tính để biết được ý kiến, thông tin về những yếu tố quan trọng tác động tới hành vi QHTD ở VTN, những thông tin về các môi trường trẻ VTN học được GDGT như từ gia đình, nhà trường, các phương tiện truyền thông đại chúng Ngoài ra còn đưa ra được kết luận về nhận thức của VTN trong GDGT gồm những nội dung gì, các chương trình giáo dục, truyền thông, tư vấn tác động như thế nào đến vấn đề QHTD, SKSS và GDGT cho VTN và nhận thức của các bậc cha
mẹ về các vấn đề đó.[16]
- Nghiên cứu “Giáo dục giới tính cho học sinh THCS Hà Nội phù
hợp với tuổi dậy thì hiện nay” [9]của hai tác giả Mai Văn Hưng và Nguyễn Thị Thu Huyền lại đề cập đến việc giáo dục giới tính trong nhà trường Tác
giả đưa ra thực trạng GDGT trong nhà trường vừa thiếu về nội dung và yếu về phương pháp, cách thức truyền tải cho học sinh vì vậy chưa đem lại hiệu quả
Trang 15trong GDGT Bản thân nhiều giáo viên cũng bối rối về phương pháp trong giảng dạy vì vậy còn tránh né hay giảng giải chưa đầy đủ những kiến thức về GDGT tới học sinh Hai kênh giáo dục chính thức có ảnh hưởng lớn nhất tới trẻ là nhà trường và gia đình, nếu gia đình né tránh, nhà trường không dạy thì
ai sẽ là người GDGT cho trẻ VTN Các tác giả cũng đưa ra khuyến nghị để đem lại hiệu quả GDGT cho học sinh THCS cần có sự kết hợp giữa gia đình
và nhà trường với các chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản
- Trong bài viết “Gia đình với giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành
niên”, tác giả Hoàng Bá Thịnh đã đề cập đến mối quan hệ giữa cha mẹ và con
liên quan đến vấn đề giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ VTN Những số liệu trong bài viết được lấy từ nghiên cứu cơ bản của dự án
“Nâng cao nhận thức về giới và những vấn đề sức khỏe sinh sản cho các gia đình nông thông Việt Nam” Nghiên cứu được thực hiện với mẫu khảo sát là
800 ông bố, bà mẹ có con trong độ tuổi VTN thuộc 4 xã Quý Sơn (Lục Ngạn, Bắc Giang), Yên Hồng (Ý Yên, Nam Định), Xuân Thọ 1 (Sông Cầu, Phú Yên), và Hưng Long (Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh) Tác giả đã chỉ
ra cha mẹ có nhu cầu rất lớn về nâng cao kiến thức, kỹ năng GDGT cho con
vì cha mẹ rất quan tâm nhưng gặp nhiều khó khăn trong GDGT cho con Nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về nội dung giáo dục giới tính giữa trẻ nam và trẻ nữ và trẻ em nữ có xu hướng trao đổi nhiều hơn với cha mẹ về vấn
đề này Ngoài ra nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giữa các vùng miền về nhu cầu GDGT của trẻ hay sự quan tâm, cách thức trao đổi giữa cha
mẹ và con cái Qua đó tác giả cũng đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GDGT trong gia đình.[12]
2.2 Hướng nghiên cứu về vai trò giáo dục của gia đình:
- Giáo trình XHH gia đình của Mai Huy Bích (NXB đại học quốc gia
Hà Nội ) và bài báo “Gia đình việt Nam với chức năng giáo dục trong bối
Trang 16năng của gia đình và vai trò to lớn của cha mẹ trong quan hệ với con cái Một
số chức năng, vai trò cụ thể như là chăm sóc, xã hội hóa - giáo dục dạy dỗ, bảo vệ, định hướng trong đó vai trò giáo dục là quan trọng nhất và được đặt lên hàng đầu Được nhắc đến nhiều nhất trong nội dung giáo dục của gia đình
là đạo đức và cách sống làm người, các kỹ năng sống,…việc giáo dục về vấn
đề giới tính cho con cái của cha mẹ trong gia đình cũng là một trong những nội dung dạy cho con các kỹ năng sống Tác giả đã đưa ra được một số kết quả nghiên cứu về những thách thức đối với gia đình trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay nhất là trong việc giáo dục Do tác động nhiều mặt của xã hội mở cửa, tốc độ phát triển tâm - sinh lí của trẻ hiện nay diễn ra nhanh mà một số cha mẹ không có thời gian gần gũi, chăm sóc con cái hoặc chưa đủ kiến thức, nhận thức, phương pháp phù hợp để kịp thời quản lí, giáo dục và định hướng phát triển đối với trẻ vị thành niên khi các em đang có nhiều thay đổi lớn.[4]
- Bài viết “Kiểu loại gia đình và giáo dục trẻ em trong gia đình ở Hà
Nội hiện nay” (Nguyễn Chí Dũng- Tạp chí XHH số 2/2006) là những nhận
định được rút ra từ kết quả nghiên cứu xã hội học: Ảnh hưởng của cơ cấu gia đình tới việc giáo dục trẻ em trong gia đình do Viện Xã hội học tiến hành
nghiên cứu trường tại 316 hộ tại Hà Nội Nghiên cứu đã chỉ ra sự tác động của kiểu loại gia đình ( cụ thể là gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng) tới nhu cầu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức giáo dục, kết quả giáo dục trong các gia đình tại Hà Nội Từ đó nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một số biện pháp tăng cường hiệu quả giáo dục gia đình trong giai đoạn hiện nay.[5]
- Bài báo “Vai trò của gia đình trong giáo dục giới tính” của Quang
Huy đề cập việc GDGT hiện nay là rất quan trọng, và hiện nay nhận thức của
trẻ vị thành niên về giới tính và tình dục có thể bị lệch lạc bởi những thông tin chệch đối tượng thậm chí sai hướng từ nhiều nguồn khác nhau Kết quả
Trang 17nghiên cứu cho thấy cha mẹ là người có ảnh hưởng nhất đối với trẻ có thể cung cấp thông tin và giúp cho trẻ cảm thấy thoải mái và hiểu biết hơn về vấn
đề tính dục Tuy nhiên các bậc cha mẹ thường không đề cập hoặc rất ít khi thảo luận với con cái về việc giáo dục giới tính và cho rằng trường học phải đảm nhận vấn đề GDGT cho con trẻ Cha mẹ cần chuẩn bị những kiến thức về vấn đề GDGT và sử dụng những kinh nghiệm của bản thân, chủ động nói chuyện với con và luôn lắng nghe những quan điểm, suy nghĩ của trẻ Nội dung cần cung cấp trong những lần trò chuyện là: trách nhiệm đối với vấn đề tình dục, cảm xúc và các mối quan hệ…và những điều cha mẹ cần tránh khi trao đổi với con về vấn đề GDGT.[22]
- Bài báo: “ Cha mẹ với việc giáo dục giới tính trong gia dình” của
Thạc sĩ Đào Thị Vân Anh- TT Nghiên cứu GD phổ thông trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí nói lên vai trò của gia đình trong bước đầu của thời kì
GDGT khi mà vấn đề GDGT ở nhà trường vẫn còn đang tranh luận nên được giáo dục như thế nào, cho nên phải đẩy mạnh vai trò của gia đình trong việc GDGT nhất là vai trò của cha mẹ vì cha mẹ là người đầu tiên phát hiện được
sự trưởng thành về mặt sinh lí của con Khi con bước vào tuổi dậy thì cần có
sự giải thích, dìu dắt của cha mẹ để có được những hiểu biết về GT một cách đúng đắn nhất Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã đạt được một số kết quả như: đưa ra những giải pháp, các cách tiếp cận của cha mẹ với con cái về vấn
đề GDGT để đạt hiệu quả cao, các phương pháp mà cha mẹ giáo dục GT cho con Những cách thức để các nội dung trong việc GDGT được đề cập nhiều hơn và thật sự đạt hiệu quả cao cần có sự truyền đạt thông tin hai chiều thường xuyên giữa cha mẹ và con cái.[23]
Qua những tài liệu tham khảo nhóm đã tìm đọc, có thể thấy vấn đề về giáo dục giới tính cho trẻ VTN được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và cũng có nhiều hướng nghiên khác nhau, tuy nhiên các nghiên cứu thường
Trang 18việc tìm hiểu việc giáo dục giới tính cho trẻ VTN tại các gia đình ở các khu vực như thị trấn, thị xã, nơi có lối sống, đặc điểm kinh tế được coi là giao thoa giữa nông thôn và đô thị Chính những đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến
nhận thức và việc GDGT cho trẻ VTN Chính vì thế đề tài nghiên cứu: “Vai
trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên”(Nghiên
cứu trường hợp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội) muốn đi sâu
khai thác nhận thức, thái độ, phương pháp giáo dục giới tính của các bậc cha
mẹ khi GDGT cho trẻ VTN ở các gia đình, đồng thời qua đánh giá khách quan từ phía trẻ VTN nói về việc GTGT cho các em trong gia đình ở thị trấn Trâu Quỳ sẽ thấy rõ hơn vai trò của cha mẹ đối với việc GTGT cho trẻ vị
cho những lý thuyết đó
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần phác họa những vai trò của các bậc cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu đến vấn đề này
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Trang 194.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Mô tả thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong gia đình: về nhận thức, nội dung giáo dục, thái độ, phương pháp giáo dục của cha
mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong các gia đình tại thị
trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Phân tích, đánh giá vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên tại thị trấn Trâu Quỳ,
5.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu: khách thể nghiên cứu chính của đề tài là cha mẹ trong gia đình tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội Tuy nhiên để đánh giá vai trò của cha mẹ một cách khách quan tôi lựa chọn thêm khách thể nghiên cứu là trẻ vị thành niên
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Tìm hiểu vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới
tính cho trẻ vị thành niên tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Phạm vi không gian: Thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Phạm vi thời gian: Từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2016
6 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu nghiên cứu:
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
Nhận thức của các bậc cha mẹ về việc giáo dục giới tính cho con cái
trong độ tuổi vị thành niên như thế nào?
Cha mẹ thường dạy nội dung gì về giới tính cho các em ở độ tuổi vị
thành niên?
Trang 20 Thái độ và phương pháp giáo dục giới tính của các bậc cha mẹ khi giáo
dục cho con cái mình như thế nào?
Khó khăn, thuận lợi của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị
thành niên là gì?
Đánh giá của trẻ vị thành niên về việc giáo dục giới tính của cha mẹ như thế nào? Có giống với nhận định từ phía cha mẹ hay không?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
Các bậc cha mẹ ở thị trấn Trâu Quỳ ngày càng quan tâm hơn và nhận thấy vai trò quan trọng của việc giáo dục giới tính cho con cái
Nội dung giáo dục giới tính của cha mẹ dạy cho trẻ VTN chủ yếu là vấn đề phát triển sinh lý ở cơ thể khi đến tuổi dậy thì mà ít đề cập đến những biến đổi về tâm lý của các em cũng như những nguy cơ bị xâm hại, quan hệ tình dục hay khả năng mang thai ở tuổi này
Nhiều bậc cha mẹ vẫn cảm thấy e ngại khi trao đổi vấn đề này đối với con, chủ yếu các bậc phụ huynh lựa chọn phương pháp mua sách báo cho con tự tìm hiểu
Cha mẹ còn thiếu kiến thức, kỹ năng khi trao đổi, giáo dục giới tính cho trẻ VTN, tâm lý e ngại, coi đây vẫn là vấn đề nhạy cảm khiến cha
mẹ chưa chủ động hay tự tin trao đổi, trò chuyện với trẻ
Trẻ VTN cho rằng cha mẹ chưa thực sự quan tâm hay giáo dục giới tính cho các em, chủ yếu các kiến thức các em học được là tự tìm hiểu hay học hỏi từ bạn bè Các em mong muốn cha mẹ sẽ quan tâm, chia sẻ
và cởi mở hơn khi trao đổi với các em về những vấn đề này
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp phân tích tài liệu:
Tiến hành thu thập và phân tích tài liệu phù hợp với mục tiêu của cuộc
nghiên cứu
Trang 21Một số tài liệu dùng để phân tích là: sách chuyên ngành, sách tham khảo, báo, tạp chí, những bài viết, các trang web có liên với tới vấn đề giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên và vai trò giáo dục của cha mẹ đối với trẻ
vị thành niên Bên cạnh đó có một số báo cáo của địa phương trong những năm gần đây
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Đề tài chỉ nhấn mạnh đến vai trò của cha mẹ đến việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên tuy nhiên ở mỗi độ tuổi cha mẹ cần có nội dung, phương pháp giáo dục khác nhau, vì vậy để làm rõ phương pháp, nội dung giáo dục giới tính cho trẻ VTN đề tài lựa chọn nhóm cha mẹ có con đang học lớp 8 và lớp 9 trên địa bàn Trong 200 mẫu cha mẹ được lựa chọn đều có cả con trai và con gái, qua đó so sánh nội dung, phương pháp giaó dục giới tính có sự khác biệt theo giới hay không?
Ngoài ra, để đánh giá khách quan việc GDGT của cha mẹ tôi có lựa chọn 100 mẫu đối tượng trẻ vị thành niên độ tuổi 14-15 nhằm thu thập thông tin về môi trường GDGT quan trọng đối với các em, nội dung GDGT, phương pháp, thái độ GDGT của cha mẹ
* Cơ cấu mẫu điều tra
Bảng 1: Tỷ lệ tuổi của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến
Trang 22Bảng 2: Tỷ lệ giới tính của các bậc cha mẹ trả lời phiếu ý kiến
Trang 23Bảng 5: Tỷ lệ giới tính của trẻ vị thành niên trả lời phiếu ý kiến
vi sai lệch về giới tính và tình dục (mang thai ngoài ý muốn…),
- 10 phỏng vấn sâu đối với trẻ vị thành niên độ tuổi 14-15 (5 phỏng vấn đối với trẻ VTN nam, 5 đối với nữ): để thực hiện việc đánh giá khách quan vai trò của cha mẹ trong việc giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên cũng như mong muốn của trẻ vị thành về cha mẹ trong việc giáo dục về giới tính 7.4 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Số lượng bảng hỏi phát ra là 300 bảng hỏi, số lượng bảng hỏi thu về và làm sạch là 200 bảng hỏi (đối tượng cha mẹ), 100 bảng hỏi (đối tượng VTN)
Trang 24Thông tin thu về được xử lý trên máy tính bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 16.0 for Window
8 Khung lý thuyết
NỘI DUNG GIÁO
DỤC GIỚI TÍNH
PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
- Trao đổi trực tiếp
- Mua sách báo, tạp chí cho con đọc
- Hướng dẫn cụ thể
- Tránh né
THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN CỦA CHA MẸ TRONG VIỆC GDGT CHO CON
- Thiếu phương pháp, kỹ năng,
- Tâm lý e ngại
- Trình độ hạn chế
Trang 25NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1 Khái niệm vai trò:
Khái niệm vai trò xã hội bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu Mỗi cá nhân là một diễn viên và mỗi vai trò là một kịch bản Gắn vỡi mỗi kịch bản, diễn viễn sẽ phải hành động, ứng xử cho phù hợp với vai diễn trong kịch bản đó Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về vai trò nhưng theo
quan điểm của các nhà xã hội học :“Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực,
hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định” [6]
Vai trò xã hội được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy
đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ
xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội
Như vậy khái niệm vai trò trong đề tài nghiên cứu được nhấn mạnh vào hành vi, nghĩa vụ, chuẩn mực của mỗi người trong gia đình( cụ thể là cha mẹ) khi gắn với vị thế của mình trong gia đình
1.1.2 Khái niệm gia đình và chức năng của gia đình
* Khái niệm gia đình
Gia đình là một khái niệm quen thuộc song rất khó để có thể định nghĩa một cách chính xác và thống nhất.Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu và chỉ có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp với gia đình
Trang 26Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau như:
“Gia đình là một cộng đồng người sống chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ giáo dục”[6]
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái
Đó là sự liên kết ít nhất của hai người dựa trên cở sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi.( Theo Gia đình học- Đặng Cảnh Khanh,
Lê Thị Quý- NXB Chính trị, hành chính Hà Nội năm 2009)[15]
=> Khái niệm gia đình được sử dụng trong đề tài nghiên cứu được hiểu
như một nhóm xã hội có các thành viên gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, cùng chung sống và gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi, đặc biệt xem xét mối quan hệ trong gia đình hạt nhân(có cha mẹ và con cái) để thấy và vai trò của cha mẹ với con cái
* Chức năng của gia đình
Để thực hiện vai trò của mình đối với xã hội và các thành viên của nó , gia đình phải thực hiện những chức năng nhất định Chức năng của gia đình là phương thức biểu hiện hoạt động sống của gia đình và các thành viên Gia đình được sinh ra, tồn tại và phát triển với sứ mệnh đảm đương những chức năng đặc biệt mà tự nhiên và xã hội giao cho Có rất nhiều quan điểm khác nhau về chức năng của gia đình:
Theo Talcott Parsons gia đình có 2 chức năng cơ bản: xã hội hóa sơ
cấp đối với trẻ em và ổn định nhân cách người lớn
Theo Geogre Murdock gia đình thực hiện 4 chức năng: tính dục, tái
sản xuất, kinh tế và giáo dục
Hiện nay, ở Việt Nam thường nhắc đến 5 chức năng cơ bản của gia đình đó là: chức năng sinh sản( tái sản xuất), chức năng kinh tế, chức năng
Trang 27giáo dục( xã hội hóa),chức năng thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tâm lý của các thành viên trong gia đình, chức năng chăm sóc người già và trẻ em Trong đó chức năng giáo dục là một chức năng quan trọng của gia đình mà xã hội(nhà trường, các tổ chức quần chúng,…) không thể thay thế được[15] Trong các chức năng của gia đình, đề tài chủ yếu tìm hiểu về chức năng giáo dục bao gồm về nhân cách, các kĩ năng sống, các kiến thức trong đó có cả kiến thức, kĩ năng về GDGT
1.1.3 Khái niệm vị thành niên
Thuật ngữ Adolescent (vị thành niên) được đưa ra vào năm 1904 theo
đề xuất của nhà tâm lý học G.Stanley Hal, nhằm để chỉ một thời kỳ quá độ từ trẻ con chuyển thành người lớn Nó cũng được quan niệm đồng nghĩa với tuổi đang lớn hoặc đang trưởng thành
Vị thành niên là một trong những khái niệm được hiểu một cách đa nghĩa và dễ gây tranh luận nhiều cả về nội hàm lẫn ngôn từ của nó trong tư duy xã hội học Tuỳ thuộc vào vị trí tiếp cận, góc nhìn cũng như chức năng, nhiệm vụ của mỗi chuyên ngành mà vị thành niên lại được giải thích theo một cách thức riêng
Vị thành niên là một khái niệm mà hiện nay vẫn chưa được thống nhất Một số quan điểm về tuổi vị thành niên như sau:
Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO ) lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi
Ở Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi Thanh niên là từ
19 - 24 tuổi Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới
16 tuổi Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi[16]
Trang 28Sử dụng khái niệm vị thành niên trong đề tài nghiên cứu xác định đúng đối tượng nghiên cứu (cha mẹ có con cái trong độ tuổi vị thành niên và trẻ vị thành niên)
1.1.4 Khái niệm GDGT
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, giáo dục giới tính là một bộ phận hữu cơ của giáo dục đời sống gia đình, giúp thế hệ trẻ có những hiểu biết cơ bản về các đặc điểm giới tính, về quá trình sinh sản ở ngưởi, về các bệnh lý lây lan qua đường tình dục, ý thức đánh giá đúng đắn về hành vi của mình trong các mối quan hệ với người khác giới, xây dựng tình bạn, tình yêu thực sự để chuẩn bị tâm lý về mặt tâm lý và thực tiễn cho cuộc sống vợ chồng hạnh phúc
Theo định nghĩa của ngành y tế Việt Nam về giáo dục giới tính như
sau:
“Giáo dục giới tính là một thuật ngữ rộng miêu tả việc giáo dục về giải phẫu sinh dục, sinh sản, quan hệ tình dục, sức khoẻ sinh sản, các quan hệ tình cảm, quyền sinh sản và các trách nhiệm, tránh thai, và các khía cạnh khác của thái độ tình dục loài người”
Tóm lại, nội dung giáo dục giới tính bao gồm những nội dung cơ bản sau
Những tri thức về tâm sinh lý người như: kinh nguyệt, phát triển cơ thể, kiến thức về tình dục, sức khoẻ sinh sản, các bệnh lý tình dục,…
Những đặc điểm giới tính về đạo đức: tác phong tư thế và phẩm chất đạo đức theo giới tính riêng, những vấn đề pháp luật liên quan đến cuộc sống giới tính và gia đình (luật hôn nhân gia đình, luật phòng chống bạo hành gia đình, bình đảng giới,…)
Những quan hệ với bạn khác giới và tình yêu nam nữ
Những vấn đề về hôn nhân và đời sống gia đình[18]
Trang 29Do nội dung giáo dục giới tính khá rộng nên trong phạm vi đề tài tập trung vào vai trò giáo dục giới tính của cha mẹ cho trẻ vị thành niên, khái niệm giáo dục giới tính đề tài sử dụng tập trung vào hai nội dung cơ bản là: những tri thức về tâm sinh lý người và nội dung về quan hệ với bạn khác giới
và tình yêu nam nữ
Sử dụng khái niệm giáo dục giới tính trong đề tài nghiên cứu để biết được các nội dung GDGT mà cha mẹ cần giáo dục cho trẻ vị thành niên là gì? Qua đó cũng đánh giá được những kiến thức về GDGT của cha mẹ dạy cho trẻ VTN như thế nào?
1.2 Lý thuyết áp dụng
1.2.1 Lý thuyết vai trò
Vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở vị thế xã hội tương ứng Vai trò là mô hình hành vi được xác lâp một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định để thực hiện quyền và nghĩa
vụ tương ứng với các vị thế đó
Những đòi hỏi, mong đợi của xã hội dành cho vai trò cá nhân được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Để cá nhân thực hiện tốt vai trò của mình , các đòi hỏi, chuẩn mực do xã hội đặt ra phải rõ ràng, đồng thời cá nhân luôn phải học hỏi về các vai trò thông qua quá trình xã hội
Trong quá trình xã hội hóa cá nhân thì gia đình là môi trường vi mô có vai trò quan trọng nhất trong quá trình xã hội hóa ban đầu Xã hội hóa cả gia đình diễn ra trong suốt cuộc đời của con người với tư cách là một quá trình liên tục
Trong mỗi gia đình đều có một tiểu văn hóa, được xây dựng trên nền tảng văn hóa chung nhưng với những đặc thù riêng của từng gia đình, được quy định bởi nền giáo dục gia đình, truyền thống, lối sống gia đình,…đó là nền tảng cơ bản cho định hướng giá trị trong cuộc sống của mỗi cá nhân Tùy vào lứa tuổi
Trang 30là định hướng giá trị liên quan đến đạo đức như: lễ phép, chăm chỉ, ngoan ngoãn Đến giai đoạn trưởng thành, cá nhân phát triển bản sắc cái tôi, hình thành những kinh nghiệm sống xã hội ổn định, chuẩn bị bước vào nhóm làm việc, những tổ chức xã hội hay cộng đồng mới Ở giai đoạn này, xã hội hóa sơ cấp đã được hình thành đã đình giúp cá nhân đã trưởng thành trả lời 3 câu hỏi: (1) Làm nghề gì để kiếm sống (định hướng nghề nghiệp), (2) theo lối sống nào (định hướng giá trị)
và (3) yêu ai (định hướng hôn nhân) Trong đó vai trò định hướng nghề nghiệp của cha mẹ có ý nghĩa rất lớn đến sự phát triển trí tuệ và sự nghiệp sau này của mỗi cá nhân Do đó, mỗi bậc cha mẹ phải làm đúng vai trò của mình trong việc giúp đỡ con cái học tập, tạo dựng cho con một bước khởi đầu vững chắc.[8]
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu của mình tôi muốn xem xét vai trò giáo dục và định hướng nghề nghiệp của cha mẹ đối với con cái dựa trên các chuẩn mực, nền tảng, đặc thù văn hóa giá đình và của cộng động nơi
cá nhân sinh sống
1.2.2 Lý thuyết hành động xã hội
Lý thuyết xã hội học về hành động xã hội có nguồn gốc từ V.Pareto M.Weber, F.Znaniecki, G.Mead, T.Parsons và nhiều nhà xã hội học khác Những lý thuyết này đều coi hành động xã hội là cốt lõi của mối quan hệ giữa con người và xã hội, đồng thời là cơ sở của đời sống xã hội của con người Hành động xã hội thường được gắn với các chủ thể hành động là các cá nhân Hành động xã hội được Weber định nghĩa một cách tổng quát là hành động được chủ thể gán cho một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác và vì vậy được định hướng cho người khác, trong đường lối, quá trình của nó Ông nhấn mạnh đến động cơ thúc đẩy trong kí ức của chủ thể là “nguyên nhân” của hành động
Hành động xã hội là một bộ phận cấu thành trong hoạt động sống của cá nhân Hành động xã hội bị quy định bởi hàng loạt các yếu tố như: lợi ích, nhu cầu, định hướng giá trị của chủ thể hành động
Trang 31Hành động xã hội gồm 4 loại:
- Hành động duy lý công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc tính toán lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả nhất
- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nằm ở những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những hành động duy lý
- Hành động cảm tính: là hành động do các trạng thái, xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc xem xét phân tích mối quan hệ giữa công cụ và phương tiện và mục đích hành động
- Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ theo những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán truyền từ đời này sang đời khác
- Cấu trúc của hành động xã hội
(1) Động cơ và mục đích của hành động sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể,
tham gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động
(2) Chủ thể hành động: Chủ thể hành động có thể là các cá nhân, các nhóm,
cộng đồng xã hội hay toàn thể xã hội
(3 )Hoàn cảnh hoặc môi trường của hành động: Đó chính là những điều kiện
về thời gian, không gian vật chất và tinh thần của hành động Hành động đó diễn ra lúc nào? ở thời điểm nào? trong bối cảnh xã hội như thế nào? Bối cảnh
xã hội ở đây được hiểu là tất cả những gì xung quanh có ảnh hưởng đến hành động Tuỳ theo hoàn cảnh hành động, các chủ thể hành động sẽ lựa chọn phương án tối ưu nhất đối với họ [8]
Giữa các thành tố trong cấu trúc của hành động xã hội có mối liên quan hữu
cơ với nhau Mối quan hệ này được biểu diễn trên mô hình sau:
Trang 32Như vậy, với vận dụng lý thuyết hành động xã hội vào nghiên cứu sẽ giúp phân tích và tìm hiểu nhận thức cũng như mô tả thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ vị thành niên trong các gia đình, việc lựa chọn phương pháp cũng như nội dung giáo dục giới tính của các bậc cha mẹ
1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hành vi hợp lý
Homans đã đưa ra mô hình lựa chọn duy lý của hành vi cá nhân trên cơ
sở những nguyên tắc cơ bản đã được khái quát thành định đề Ông đưa ra một
số định đề cơ bản trong lý thuyết của mình: Phần thưởng, kích thích, giá trị, duy lý, giá trị suy giảm, mong đợi Dựa vào những định đề đã nêu, Homans
đã đưa ra quy tắc liên quan đến phần thưởng của họ tương xứng với việc đầu
tư của họ
Định đề phần thưởng: đối với tất cả các hành động của con người, hành động nào càng thường xuyên được khen thưởng thì càng có khả năng lặp lại Định đề kích thích: nếu một nhóm kích thích nào trước đây đã từng khiến cho hành động nào đấy được khen thưởng thì một nhóm mới càng giống kích thích đó bao nhiêu thì càng có khả năng làm cho hành động tương
tự trước đây được lặp lại bấy nhiêu
Định đề giá trị: kết quả của hành động có giá trị cao đối thủ với chủ thể bao nhiêu thì chủ thể đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó bấy nhiêu
Và khi mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng bỏ nhiều “chi phí” vật chất và tinh thần để đạt được nó
Định đề duy lý: Cá nhân sẽ lựa chọn hành động nào mà giá trị của kết quả hành động đó và khả năng đạt được kết quả đó là lớn nhất
Hoàn cảnh
phương tiện Mục đích
Trang 33Định đề giá trị suy giảm: càng thường xuyên nhận được một phần thưởng nào đó bao nhiêu thì giá trị của nó càng giảm đi bấy nhiêu đối với chủ thể hành động
Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không hài lòng [8]
1.3 Vai trò của giáo dục giới tính đối với trẻ vị thành niên
1.3.1 Trong gia đình
Chúng ta đã biết, gia đình là môi trường xã hội hoá đầu tiên của con người, trong đó bố mẹ là những người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến sự phát triển nhân cách của con cái Cách cư xử giữa bố - mẹ là bài học sớm nhất đối với trẻ về cách ứng xử giới tính giữa một người nam và một người nữ Trẻ
sẽ tiếp thu dần dần những kiến thức giới tính từ chính gia đình mình Từ đó dần theo năm tháng hình thành những hành vi, thái đô ̣ mang tính chất giới nam hay nữ được mọi người và xã hội chấp nhận
Gia đình được tạo lập trên cơ sở hôn nhân và huyết thống, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình là quan hệ ruột thịt, tin cậy và yêu thương Mọi người tác đô ̣ng qua lại với nhau bằng tình cảm, những liên hệ tình cảm qua lại giữa các thành viên trong gia đình có sức mạnh thuyết phục trong quá trình hình thành ý thức, thói quen hành vi đúng đắn mà không ai có thể làm thay được, đă ̣c biệt trong lĩnh vực hết sức tế nhị là giáo dục giới tính Nếu không
có sự gần gũi tin cậy lẫn nhau của những người thân trong gia đình thì trẻ sẽ không giải bày những băn khoăn thắc mắc có tính thầm kín để cha mẹ giải đáp kịp thời, tránh cho trẻ những hiểu lầm, có thể dẫn đến nguy hiểm Nhờ sự giao tiếp thường xuyên với các em mà cha mẹ có thể phát hiện kịp thời đỡ những biểu hiện giới tính của con cái, để giúp đỡ hay tư vấn, đảm bảo sự phát triển giới tính đúng hướng cho con em
Trang 34Cha mẹ là người thầy đầu tiên về nét nữ tính, nam tính về mẫu người đàn ông, đàn bà và quan hệ qua lại giữa hai giới Cha mẹ có thể trở thành tấm gương giáo dục giới tính sinh đô ̣ng đối với trẻ trong quan hệ hàng ngày Trẻ
có thể học được từ cha mẹ hình mẫu quan hệ khác giới mang tính đa ̣o đức, văn hóa cao về tình bạn, tình yêu, sự bình đẳng tôn trọng lẫn nhau, quan hệ yêu thương trách nhiệm trong quan hệ vợ chồng và cả vai trò, chức năng làm
mẹ, làm cha trong từng tình huống cụ thể của cuộc sống gia đình Không chỉ bằng tấm gương của mình, ở các gia đình có cả con trai và con gái, cha mẹ cần phải tổ chức quan hệ mang ý nghĩa giáo dục giới tính giữa anh trai và em gái, hoặc chị gái em trai trong cuộc sống gia đình Ngoài ra trong các yếu tố liên quan đến việc giáo dục giới tính cho con trẻ yếu tố gia đình là yếu tố quan trọng nhất và hơn nữa phần lớn thời gian con trẻ luôn luôn gắn với gia đình Cha mẹ có ảnh hưởng rất lớn tới trẻ, những cư xử được hình thành trong trẻ khi các em nhìn vào cử chỉ như âu yếm, thân mật của cha mẹ sẽ dần tạo ra cho trẻ thói quen như trẻ đã thấy, quan điểm về tình dục, giới tính cũng dần hình thành trong trẻ từ rất sớm và có thể theo trẻ đến lúc trưởng thành
Dù cho những hệ thống trường học các cấp, giáo dục giới tính ở trường trung học, có giới thiệu cho các em về vấn đề giới tính nhưng vẫn đang ở mức
độ sơ khai là giới thiệu cơ thể con người thì cha mẹ vẫn đang là môi trường tốt nhất để con cái học hỏi về hoạt động giới tính tình dục Đây chính là một trong những trách nhiệm quan trọng của bậc làm cha làm mẹ
Gia đình là nơi có những nền tảng vẫn chắc làm cho trẻ tin tưởng hơn
cả vì theo các trẻ thì cha mẹ luôn đúng là người gần gũi thân thiết nhất từ đó
có thể dễ dàng bày tỏ điều thầm kín nhất đó chính là vấn đề giáo dục giới tính.gia đình chính là cơ quan quan trọng nhât là người thầy đầu tiên giúp con trẻ biết về vấn đề giới tính
Thái đô ̣ tích cực của cha mẹ sẽ giúp trẻ tránh được sai lầm Hướng dẫn, giải thích, chứ không răn đe, kết tội hay lẩn tránh Nên biết, một khi thắc mắc
Trang 35chưa được giải tỏa thì trẻ sẽ tự đi tìm nguồn thông tin khác (sách báo, tranh ảnh, bạn bè) và những nguồn thông tin này có thể thiếu chính xác và không lành mạnh Dần dần, trẻ không còn tin tưởng ở cha mẹ nữa, trở nên khép kín
và phạm sai lầm một cách đáng tiếc Người lớn nên ứng dụng thực tế để ứng
xử và đi ̣nh hướng cho trẻ thay vì phải lệ thuộc vào phong tục tập quán truyền thống Tạo cho trẻ những thói quen lành mạnh, rút tỉa kiến thức từ gia đình mình để đủ tự tin vượt qua giai đoạn khó khăn ở tuổi dậy thì.[18]
* Hiện nay các bậc cha mẹ thường có hai hướng suy nghĩ:
- Một là các bậc phụ huynh để con trẻ tự tìm hiểu khi đến tuổi dậy thì Họ
nghĩ rằng con mình còn quá nhỏ, chúng vẫn là những đứa trẻ chưa hiểu biết
gì nhiều Do vậy họ chưa bao giờ họ nghĩ đến việc phải trao đổi với con những câu chuyện về tình yêu - giới tính Họ nghĩ rằng con mình chưa cần biết và đến độ tuổi nó tự khắc sẽ biết theo bản năng, có lẽ chính cái suy nghĩ
có phần chủ quan làm không ít bậc phụ huynh té ngửa khi con mình mang bầu, hay phạm tội hiếp dâm trẻ em
- Hai là các bậc phụ huynh thay vì tâm sự, chỉ bảo cho con cái thì lại cấm đoán các em Do không có phương pháp giáo dục con trẻ một cách đúng đắn nên các bậc cha mẹ này thường đưa ra các quy định ngầm hay thẳng thừng cấm đoán con trẻ Cha mẹ không hề giải thích rằng tại sao lại cấm các
em như vậy trong khi các em đang ở lứa tuổi cần biết, tính hiếu kì trong các
em rất lớn Vậy nên càng cấm các em càng tò mò và muốn tìm hiểu Nhưng
các em chỉ tìm hiểu một cách lén lút từ các trang mạng, báo lá cải…[21]
Do vậy, vai trò của cha mẹ trong việc GDGT cho con cái lại càng cực
kỳ quan trọng Ở trong gia đình cha mẹ chính là nhân tố quan trọng giúp cho con cái phát triển những ý thức đầu đời về giới tính - tình dục trong giai đoạn hiện nay Việc GDGT của cha mẹ đối với con cái trong gia đình được thể hiện qua các vai trò cụ thể sau:
Trang 36đó có cha mẹ trong quá trình nói chuyện với con cái những vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục thì không nên nói vòng vo mà đi thẳng vào vấn đề tuy nhiên yếu tố tế nhị cũng cần phải có trong mối quan hệ của con cái và cha mẹ
- Một trong những vai trò nữa của cha mẹ trong việc GDGT cho con cái là vai trò là người đồng hành Nếu cha mẹ biết cánh chia sẻ những thắc mắc của con cái trong quá trình phát triển thì sẽ giúp trẻ nâng cao năng lực và sức mạnh bản thân, có thái đô ̣ và hành vi đúng mực, đă ̣c biệt là khả năng tự chịu trách nhiệm trước hành vi tình dục của bản thân Đồng thời giúp cho trẻ đứng vững bằng những kiến thức và hiểu biết của chính mình trước khi lập gia đình
Cha mẹ cần tạo môi trường tích cực để từ đó con cái có niềm tin tưởng vào gia đình, cha mẹ không những phải hiểu tâm lý của trẻ, thường xuyên tâm
sự những chuyện khó nói về tình dục, tuổi mới lớn, tình yêu nam nữ để tương tác lại với con cái thì trẻ mới dễ dàng nghe theo lời khuyên nhủ của mình chứ không đi theo càm tính của tuổi mới lớn
Quá trình giáo dục giới tính được thực hiện đồng bộ trong từng gia đình chắc chắn sẽ giảm thiểu những nguy cơ về an toàn tình dục, tai biến về việc sinh sản và đă ̣c biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục, đă ̣c biệt là đa ̣i dịch HIV – AIDS sẽ giảm đi đáng kể, tạo nên một xã hội ổn định
và văn minh Không những thế gia đình cần phối hợp chặt chẽ với nhà trường, các đoàn thể để các em có một môi trường lành mạnh và cha mẹ có một kiến thức giới tính vững chắc để giúp trẻ có cái nhìn đúng về vấn đề giới.[21]
1.3.2 Trong nhà trường
GDGT trong trường học là một hình thức quan trọng và hiệu quả nhằm nâng cao kiến thức, thái đô ̣ và hành vi cho thanh thiếu niên Có một sự đồng thuận rộng rãi đối với giáo dục chính quy là nên bao gồm các hoạt đô ̣ng GDGT
Tính hiệu quả của các chương trình GDGT ở trường học bao gồm các nội dung như: tập trung vào việc giảm thiểu các hành vi rủi ro, dựa vào nền
Trang 37tảng lý thuyết để giải thích những lựa chọn tình dục và hành vi của con người; liên tục tăng cường thông báo về hành vi tình dục, cung cấp những thông tin chính xác về các rủi ro liên quan đến hoạt đô ̣ng tình dục, tránh thai, mang bầu, sinh đẻ hoặc các cách thức từ chối quan hệ tình dục
Không chỉ dừng lại ở đó, chương trình GDGT ở trường còn cung cấp cho VTN cách đối phó với bạn bè và các áp lực xã hội khác khi các em gặp rủi ro trong quan hệ tình dục; cung cấp các cơ hội để giao tiếp trực tiếp, các
kỹ năng thương lượng và đưa ra quyết đi ̣nh
Chương trình sử dụng các phương pháp tiếp cận dạy và học sao cho phù hợp với đô ̣ tuổi, kinh nghiệm và nền văn hóa của các em; sáng tạo ra các hình thức GDGT mới có hiệu quả hơn
GDGT trong nhà trường khác ở gia đình, vì nó chỉ diễn ra trong một khoảng thời gian Và nhà trường cũng không phải là nơi lúc nào cũng có các vấn đề liên quan đến giới tính, tình dục của VTN
Trường học dựa trên các chương trình giáo dục đă ̣c trưng, có ưu thế trong việc cung cấp thông tin và cơ hội để phát triển các kỹ năng và chọn lọc thái đô ̣ rõ rệt theo phong cách trang trọng hơn thông qua các bài học trong chương trình giảng dạy
Do một số nguyên nhân khác quan và chủ quan từ việc giáo dục của nhà trường như: GDGT cho học sinh đang bị bỏ ngỏ Những người làm công việc giáo dục vẫn cứ loay hoay mãi về nội dung, cách thức đưa giáo dục giới tính vào chương trình chính khóa hay ngoại khóa Thêm một trở ngại khác, nhiều giáo viên dạy môn này chưa qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn Ngoài
ra cũng có nhiều ý kiến trái chiều rằng: “Có nên giảng dạy hay không giáo dục giới tính trong nhà trường” vì họ thấy giáo dục giới tính sớm cho các em giống như con dao hai lưỡi, vừa có mặt lợi vừa có mặt hại như các em được tiếp cận sớm về giới tính một cách đúng đắn và hiểu sâu hơn nhưng cũng có
Trang 38thuyết và thực tế nên cũng dẫn tới nhiều tình trạng trẻ em bị lợi dụng từ sự tò
mò, ngây thơ đó sẽ gậy ra nhiều hậu quả nghiêm trọng
Tóm lại, việc giáo dục giới tính cho trẻ trong giai đoạn hiện nay không chỉ là nhiệm vụ của cha mẹ, mà còn là sự giáo dục tổng hợp từ gia đình, nhà trường và ngoài xã hội Có như vậy mới tạo nên sự giáo dục liên hoàn trong lĩnh vực GDGT và tình dục cho trẻ nói riêng và góp phần trang bị kiến thức
về kỹ năng sống nói chung cho trẻ trong giai đoạn hội nhập.[21]
1.3.3 Xã hội
Gia đình và nhà trường là nơi có điều kiện giáo dục tốt nhất… Tuy nhiên, các tổ chức xã hội cũng mang lại sự hỗ trợ không nhỏ cho quá trình thay đổi nhận thức của mọi người về giáo dục giới tính theo phương thức thẩm thấu từ ngoài vào trong.Do xã hội ngày càng đổi mới, lành mạnh, đời sống người dân bớt cơ cực, nỗi lo về cơm ăn, áo mặc cho con trẻ không còn là mối lo thường trực nữa Người dân có điều kiện để chăm chút con hơn với các loại đồ ăn bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe Chính vì vậy trẻ em hiện nay phát triển nhanh về cả thể chất, tâm sinh lý và tinh thần.Trẻ chắc chắn sẽ bỡ ngỡ trước những thay đổi về hình thể của bản thân hay bạn bè Tuy nhiên, những thay đổi về tâm sinh lý, kiến thức giới tính lại ít được nhà trường cũng như các bậc phụ huynh quan tâm cung cấp cho các em
Những nơi công cộng như công viên, bãi cỏ, bờ hồ… người lớn cũng
đã và đang thể hiện tình cảm thân mật ở mọi lúc mọi nơi một cách quá mức gây cho trẻ em những tò mò và học đòi một cách tự nhiên khi nhìn thấy những hình ảnh đó Đây chính là những nguyên nhân thiết yếu của việc giáo dục giới tính cho trẻ trong độ tuổi vị thành niên Đây là nguồn ảnh hưởng mạnh mẽ có tác dụng thay đổi điều chỉnh lại từng cá nhân, nhóm xã hội theo
sự phát triển hợp lý của xã hội đó là nhìn nhận về giáo dục giới tính một cách tích cực và khoa học hơn
Trang 39Do vậy cần xây dựng nhiều chương trình, sự kiện về giáo dục giới tính nhằm thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp để tác động đến thái độ của mọi
người đối với giáo dục giới tính một cách tích cực hơn.[21]
1.4 Những nguyên nhân và tác hại khi trẻ vị thành niên thiếu kiến thức về giáo du ̣c giới tính
1.4.1 Nguyên nhân
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên chủ yếu là do:
1 Sự thiếu hiểu biết về tình yêu và hôn nhân Các em hoc không được trang bị những kiến thức về giáo dục giới tính Do vậy các em thiếu bản lĩnh khi bước vào đời sống yêu đương Các sách báo về tình yêu lan tràn, nhưng nhiều sách lại chạy theo thị hiếu tầm thường, không phù hợp với đô ̣ tuổi của các em
2 Các tệ nạn xã hội phức tạp ngày càng gia tăng, các quán cà phê đèn
mờ bia ôm, các loại thuốc lắc, kích thích xuất hiện khắp mọi nơi
3 Ảnh hưởng của nhiều qua điểm sống mới du nhập từ nước ngoài: Tình yêu tự do, tình dục tự do, tình dục trước hôn nhân Những quan điểm trên ảnh hưởng mạnh đến giới trẻ, làm các em thêm tò mò, bị kích thích, muốn thử nghiệm Trong khi đó các em lại không được trang bị đầy đủ về tri thức lẫn kinh nghiệm trong giáo dục giới tính nên khó làm chủ bản thân
4 Xã hội và các bậc cha mẹ chưa quan tâm nhiều đến việc giáo dục các
em học sinh về lĩnh vực này Do điều kiện của mỗi gia đình khác nhau nên chưa để ý nhiều trong giáo dục cho con cái về giới tính
5 Nhận thức sai lầm về giáo dục giới tính, giáo dục tình yêu Có nhiều người còn cho rằng giáo dục giới tính là giáo dục tình dục, là vẽ đường cho hươu chạy Chương trình giáo dục giới tính chưa thực hiện một cách thống nhất trong trường học
6 Cha mẹ còn e ngại về việc giải đáp thắc mắc cho con cái và một phần
Trang 40kinh nghiệm của bản thân chứ không theo một tiến trình logic nào hết Do vậy trẻ phải tự tìm hiểu từ các nguồn khác nhau mà trong khi trẻ không biết được nguồn đó có đúng hay là không mà cứ nghe theo
7 Do đời sống một số gia đình ở Việt Nam hiện nay còn gặp khó khăn, nên nhiều bậc phụ huynh không có nhiều thời gian quan tâm, chăm sóc, giáo dục ý thức pháp luật căn bản nhất là pháp luật về giới tính – tình dục – hôn nhân và gia đình cho con trẻ Từ đó, dẫn đến tình trạng trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật như quan hệ tình dục với trẻ em… Tất cả cũng chỉ vì hạn chế
về kiến thức pháp luật
Ngoài ra chúng ta chưa có một đô ̣i ngũ cán bộ, giáo viên có trình đô ̣ tri thức khoa học về lĩnh vực giới tính để làm công tác giáo dục cho họ Tư liệu khoa học, giáo trình, sách báo về lĩnh vực này một cách hệ thống khoa học nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này còn chưa sâu rộng, các trang Wep đen, đồi trụy tràn lan khiến các em khó khăn khi chọn lọc các thông tin phù hợp với từng giai đoạn phát triển mà mình cần tìm hiểu tới.[21]
Ngày nay tình trạng các em yêu sớm, yêu đương mù quán, nếp sống sinh hoạt nam nữ trụy lạc một số em yêu kiểu tự do, tình yêu không cần hôn nhân, sống gấp, sống thử những biểu hiện trên đây là kết quả của sự nhận thức sai