1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam tỉnh bắc giang

121 386 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 2,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, “Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang” tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2015

Người cam đoan

Nguyễn Đức Công

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp, “Giải pháp phát

triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang” tôi đã nhận

được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, các đồng chí cán bộ cơ sở, nhân dân địa phương, gia đình và bạn bè

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – TS Nguyễn Thị Hải Ninh người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo tôi trong quá trình làm luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Lục Nam và các Cơ quan, Ban ngành của huyện, các hộ gia đình và các cơ sở dịch vụ đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập dữ liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Trường Đại Học Lâm Nghiệp, Khoa kinh tế quản trị và Phòng Sau Đại Học , và các thầy cô đã trực tiếp giảng dậy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu, cùng toàn thể gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành

đề tài tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Nguyễn Đức Công

Trang 3

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

Trang iii

Trang phụ bìa iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Vài nét về nông thôn Việt Nam 4

1.1.2 Du lịch nông thôn 7

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch nông thôn 13

1.1.4 Khu vực có khả năng phát triển du lịch nông thôn 16

1.1.5 Những bên liên quan tham gia vào du lịch nông thôn 16

1.2 Cơ sở thực tiến về phát triển du lịch nông thôn 18

1.2.1 Sự phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới 18

1.2.2 Tại Việt Nam 21

1.2.3 Những kinh nghiệm để phát triển du lịch nông thôn cho Bắc Giang 25

1.2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 26

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện lục nam – tỉnh Bắc Giang 28

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 28

Trang 4

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32

2.1.3 Đánh giá chung về các tiềm năng của huyện Lục Nam 38

2.2 Phương pháp nghiên cứu 39

2.2.1 Khung logic nghiên cứu 39

2.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát và mẫu điều tra 41

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 41

2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 41

2.2.5 Phương pháp SWOT 42

2.2.6 Phương pháp chuyên gia 42

2.2.7 Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng trong luận văn 42

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 45

3.1 Thực trạng về tình hình phát triển du lịch nông thôn trên địa bàn huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang 45

3.1.1 Tài nguyên du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam 45

3.1.2 Đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại Lục Nam 68

3.1.3 Thực trạng khai thác hoạt động du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam 69

3.1.4 Khảo sát ý kiến của cộng đồng dân cư và khách du lịch 78

3.1.5 Đánh giá thực trạng phát của du lịch nông thôn ở Lục Nam 86

3.1.6 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về các tiềm năng du lịch nông thôn của Lục Nam 87

3.2 Đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch nông thôn ở huyện lục nam – tỉnh bắc giang 89

3.2.1 Định hướng chung để phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam 89

3.2.2 Một số giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam 90

KẾT LUẬN 98 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Lục Nam qua 3 năm 2012

2.2 Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Lục Nam giai đoạn

3.1 Số lượng khách du lịch và doanh thu du lịch của huyện Lục Nam 69

3.3 Một số tiêu chí thể hiện của du khách về DLNT Lục Nam 80

3.4 Mức độ sẵn sàng tham gia hoạt động du lịch nông thôn của người

3.5 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về tiềm năng du lịch

Trang 7

3.7 Hội thi dệt thổ cẩm ở bản Khe Nghè- Lục Sơn-Lục Nam 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

2.1 Biểu đồ giá trị sản xuất các ngành kinh tế trên địa bàn huyện

3.4 Nguồn nhận biết về Lục Nam của du khách 79

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam ta đang trên đà phát triển, qua nhiều năm cải cách, mở cửa nền kinh tế, Đảng và Chính Phủ đã đưa đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực Nhưng nổi bật nhất có thể nói đến là trong lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn, từ một quốc gia phải xin viện trợ về lương thực đến một nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới, từ một nước đói nghèo bậc nhất Châu Á thì nay cả thế giới phải lấy làm bài học về xóa đói giảm nghèo…

Ngày nay khi mức sống của con người ngày càng nâng cao cùng với đó thì nhu cầu của con người cũng không ngừng vận động đặc biệt là nhu cầu về du lịch ngày càng đa dạng và phong phú Du lịch là một ngành kinh tế quan trọng với nhiều nước trên thế giới trong đó có nước ta, sự phát triển của du lịch góp phần nâng cao

và cải thiện đời sống cho người dân bởi vậy làm sao để phát triển du lịch là một trong những vấn đề rất được quan tâm Để thu hút được khách du lịch thì cần tạo ra

sự độc đáo và những điều mới lạ do đó ngành du lịch luôn phải làm mới mình bằng cách cải thiện sửa chữa, tu bổ lại các điểm đến có sẵn đồng thời khai thác những điểm du lịch mới Du lịch nông thôn trên thế giới đang ngày càng phát triển mạnh

mẽ, đóng vai trò tích cực vào nền kinh tế cũng như xóa đói giảm nghèo, nâng cao cải thiện đời sống cho người dân tại nông thôn và được khách du lịch rất yêu thích, nhưng tại Việt Nam loại hình này là một loại hình du lịch mới, đang được khai thác phát triển tại một số địa phương và rất hấp dẫn với khách du lịch đặc biệt du khách quốc tế

Lục Nam là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang, mặc dù trong những năm qua công nghiệp cũng có đôi chút phát triển nhưng cũng chỉ lác đác vài nhà máy, công ty, công xưởng, nền kinh tế của Huyện còn nhiều khó khăn, chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp, nông thôn là chính Song với vị trí địa lý của Lục Nam là một vùng bán sơn địa với một địa hình đồi núi đan xen, cánh cung Đông Triều phía Tây Yên Tử ôm ấp dải Huyền Đinh, dòng sông Lục hiền hòa chảy như dải lụa mềm qua những xóm thôn trù phú Hình sông thế núi ấy đã mang lại cho Lục Nam những

Trang 10

thắng cảnh đẹp nguyên sơ cùng với nền văn hóa kết tinh qua nhiều thời đại mà dấu tích còn lưu đã làm nên những giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa, cộng với lòng mến khách và giàu tình cảm của bà con làng trên xóm dưới sẽ trở thành tiềm năng cho phát triển du lịch nông thôn tại nơi đây.Phát triển du lịch nông thôn sẽ tạo thêm nhiều việc làm, giải quyết vấn đề môi trường cải thiện đời sống người dân

Xuất phát từ những thực tiễn trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng, tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và hướng phát triển mô hình du lịch nông thôn nhằm có thể triển khai và đem lại lợi ích thiết thực cho nông thôn Lục Nam nói riêng và kinh tế của Huyện nói chung

bộ mặt nông nghiệp nông thôn Lục Nam giàu đẹp và văn minh

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phát triển du lịch nông thôn của Lục Nam,

+ Tiềm năng phát triển du lịch nông thôn ở Lục Nam – Bắc Giang

+ Thực trạng hoạt động du lịch nông thôn ở Lục Nam – Bắc Giang

Trang 11

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu thực trạng, tiềm

năng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam - tỉnh Bắc Giang

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu trên địa bàn huyện Lục nam, tỉnh

Bắc Giang

- Phạm vi vể thời gian: Dựa trên các tài liệu và số liệu được thu thập từ năm

2012 tới năm 2014, thời gian điều tra từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2015

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch nông thôn

- Hiện trạng và tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang

- Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức về các tiềm năng phát triển du lịch nông thôn tại huyện Lục Nam – tỉnh Bắc Giang

- Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy khai thác tối đa những tiềm năng của địa phương vào phát triển mô hình du lịch nông thôn góp phần cải thiện bộ mặt nông nghiệp nông thôn Lục Nam giàu đẹp và văn minh

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN

DU LỊCH NÔNG THÔN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Vài nét về nông thôn Việt Nam

Ở Việt Nam, tính đến năm 2014 dân số đạt gần 90,5 triệu người, trong đó có 66.9% dân số sống ở vùng nông thôn, diện tích đất nông nghiệp chiếm khoảng 81% diện tích lãnh thổ Việt Nam Chính vì thế, cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội Người dân Việt Nam dù sống khắp nơi trên thế giới vẫn giữ được nhiều nét đặc biệt của nông thôn Việt Nam

Nông nghiệp là hoạt động chính của kinh tế nông thôn, chiếm 68% tổng giá trị sản phẩm ở nông thôn Nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất gạo hiện nay đang đóng góp nhiều cho xuất khẩu Tuy nhiên, thu nhập bình quân của người nông dân vẫn còn rất thấp Các ngành dịch vụ tương đối yếu ở nông thôn do khó khăn trong vận chuyển và nhu cầu của địa phương thấp

Làng quê Việt Nam ngày nay tuy đã có nhiều thay đổi nhưng nhiều làng vẫn giữ được những nét truyền thống lâu đời Nhắc đến làng quê Bắc Bộ là ta nhớ ngay đến hình ảnh của luỹ tre, đình làng, cây đa, cổng làng Những hình ảnh đó đã in đậm trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam

Bất kỳ một làng quê nào trên đất nước Việt Nam cũng có một ngôi đình Từ bao đời nay, đình làng là hình ảnh thân quen, gắn bó với tâm hồn của mọi người dân Việt, là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói và mọi thay đổi trong đời sống xã hội của làng quê Việt Nam qua bao thế kỷ Kiến trúc đình làng mang đậm dấu ấn văn hoá, độc đáo và tiêu biểu cho kiến trúc điêu khắc Việt truyền thống Từ xưa đến nay, người dân Việt Nam vẫn thường gọi chung là đình chùa, nhưng trên thực tế, đình và chùa không cùng một ý thức văn hoá Chùa là nơi thờ Phật, ít nhiều có ảnh hưởng văn hoá Phật giáo đến từ Ấn Độ, Trung Hoa; còn đình là của cộng đồng làng

xã Việt Nam, là nơi để thờ Thành Hoàng làng và những người có công với dân, cứu nước, giữ nước hoặc giúp dân nghề nghiệp sinh sống Đình là biểu hiện sinh hoạt

Trang 13

của người Việt Nam, nơi cân bằng phép tắc của cuộc sống cộng đồng, nơi khai diễn những nét tài năng, tư duy của dân làng Vào những ngày lễ, tết, dân làng lại thắp hương tế lễ cầu mong Thành Hoàng làng và trời đất cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu Đây là lòng tri ân, trọng nghĩa, trọng tài, “uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam Tất cả những tín ngưỡng ấy, các thế hệ dân Việt Nam tiếp nối tạo thành một nền văn hoá hỗn hợp, đa dạng, có mặt nhiều thành phần tôn giáo khiến cho đình trở thành một tập thể siêu thần, thành một sức mạnh vô hình, tạo một niềm tin, một niềm hy vọng, một sức mạnh vô hình của làng xã cộng đồng Việt Nam Theo quan niệm kiến trúc, đình là một công trình kiến trúc công cộng, rộng mở chào đón bất kỳ người con nào của đất Việt Với ý nghĩa như thế, đình làng Việt Nam chính là nơi không phân biệt giàu sang nghèo hèn, là nơi thể hiện rõ nhất văn hoá hiện thực của đời sống nhân dân Nói về đường nét, đình là nơi hội tụ những

mô típ trang trí tuyệt hảo, gồm nhiều xu hướng: hiện thực, cách điệu, cách điệu và

đồ hoạ Sân đình là nơi tổ chức hội làng, trong hội làng dân làng thường diễn Hèm Theo từ điển Tiếng Việt, Hèm có nghĩa là trò diễn lại sinh hoạt sự tích của vị thần thờ trong làng, những điều kiêng kỵ của thần… Việc Việt hoá, dân dã hoá vị

“Thành Hoàng” bằng cách triều đình “tấn phong” cho các thần linh của thôn xã chức Thành Hoàng làng đã góp phần thúc đẩy ngôi đình dần chiếm địa vị trung tâm sinh hoạt trong xã hội nông thôn Việt Nam để tới nay đình được coi là biểu tượng quê hương Nhìn chung văn hoá đình Việt Nam có tính hoàn toàn độc lập của một cộng đồng xã hội biết tổng hợp dung hoà mọi nền văn hoá khác thành một nét văn hoá riêng nhằm phục vụ an ninh cho dân tộc mình, trong đó yếu tố chủ yếu vẫn là thờ cúng những người có công với xã, người anh hùng dựng lập nước và bảo vệ đất nước

Từ bao đời nay, người Việt cũng coi cây đa như một biểu tượng của làng quê truyền thống Ý nghĩa biểu tượng đầu tiên của cây đa là sự trường tồn, sức sống dẻo dai Không phải ngẫu nhiên mà những bậc cao niên, những người đã có nhiều thành tựu ở một lĩnh vực nào đó thường được đồng nghiệp và xã hội coi là "cây đa, cây đề", biểu tượng cho sức làm việc quên mình, dẻo dai, cho sự tích lũy kiến thức phong phú

Trang 14

Cũng với ý nghĩa trường tồn ấy, cây đa xuất hiện trong ca dao như một nhân chứng của thời gian, chứng kiến những sự đổi thay của con người, của đất trời, đôi khi là cả một vòng đời người

Trǎm nǎm dầu lỗi hẹn hò Cây đa bến cũ con đò khác đưa Cây đa cũ, bến đò xưa

Bộ hành có nghĩa nắng mưa cũng chờ Hầu như làng quê truyền thống ở Bắc Bộ nào cũng có những cây đa cổ thụ thường ở đầu làng, cuối làng, giữa làng và ở bên cạnh các di tích Cuộc sống sinh hoạt của làng diễn ra sôi động xung quanh gốc đa Với người dân quê, gốc đa là nơi bình đẳng nhất, không có sự phân biệt ngôi thứ Gốc đa là nơi trẻ nhỏ nô đùa, thỏa thích nhặt búp, hái lá, chơi những trò chơi dân gian Gốc đa cũng là nơi dân làng ngồi nghỉ chân sau những giờ lao động mệt nhọc, trước khi về làng hoặc đi khỏi làng Gốc đa còn là nơi hẹn hò của trai gái trong làng Không chỉ có vậy, cây đa làng Việt còn là biểu tượng tâm linh của con người

Cây đa xanh tốt tỏa bóng làm cho các di tích trở nên linh thiêng hơn, con người khi bước đến di tích cũng cảm thấy được thư thái hòa đồng hơn với thiên nhiên Cây đa được coi là nơi ngự trị của các thần linh dân dã và các linh hồn bơ vơ Cây đa nào càng già cỗi, càng xù xì, rậm rạp thì càng gắn bó với thần linh Gốc đa ở các di tích thường được dân chúng thắp hương chung để tỏ lòng tôn kính các vị thần linh dân dã hoặc cầu cho những linh hồn bơ vơ về nương nhờ lộc Phật không đi lang thang quấy nhiễu dân làng

Như vậy, cây đa luôn là biểu tượng đẹp với hầu hết các ý nghĩa chuẩn mực của biểu tượng: vừa hiện hữu, vừa tiềm ẩn, huyền bí, vừa mang hơi thở cuộc sống, vừa mang đậm yếu tố tâm linh Phải chǎng chính sự kết hợp này đã tạo nên biểu tượng cây đa có sức sống bền lâu trong vǎn học dân gian, vǎn thơ bác học và trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam

Ở những làng quê Việt Nam, đặc trưng với những cây đa, bến nước, con đò, hay với những cánh cổng làng đơn sơ cổ kính Mỗi cái cổng làng đều có một nét

Trang 15

văn hoá riêng, tùy theo đặc điểm làng đó Có làng giàu, có làng khoa bảng, có làng nghề tất cả những cái hay cái đẹp đều được các vị túc nho viết thành câu đối khắc trước cổng Những cánh cổng ấy thường được gọi với cái tên làng, và tên làng được lấy theo đặc trưng của làng đó, hay một sự kiện, một di tích lịch sử Ví dụ: làng lụa Vạn Phúc Ở mỗi làng thường chỉ để một hoặc hai lối ra vào và cổng làng thường được dựng ở đây để làm ranh giới giữa các làng Đối với những người xa quê đã lâu, khi về quê hương, còn cách khoảng 2, 3km là đã có thể nhìn thấy vòm cây đa

và biết rằng mình đã sắp sửa về đến làng Nhưng về tới gần hơn, qua cổng làng mới chính thức bước vào mảnh đất chôn rau cắt rốn của mình, và coi như đã về tới nhà mình vì người trong làng thường đối xử với nhau như trong một gia đình Cổng làng thường thấy nhiều ở các tỉnh Hà Bắc, Hà Tây, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình…, chủ yếu là những vùng trồng lúa và có văn hoá làng xã Đối với mỗi người dân Việt Nam, cổng làng đã trở nên rất thân thuộc Cổng làng thường là nơi hẹn hò của các đôi trai gái Và với mỗi người con gái khi về làm dâu, bước qua cổng làng về nhà chồng, trở thành một thành viên trong cộng đồng dân cư của làng Với niềm tin, suy nghĩ giữ làng tức là giữ nước, cổng làng là nơi đã chứng kiến biết bao thế hệ thanh niên đã không tiếc hi sinh than mình để gìn giữ cánh cổng làng Cánh cổng làng là

bộ mặt những làng quê Bắc bộ ngày nay đã biến đổi nhiều trước làn sóng đô thị hóa

ồ ạt Những cánh cổng làng có vẻ như không còn phù hợp với những con đường bê tông mở rộng Nhưng trong một góc tâm thức nào đó của mỗi người dân, cổng làng vẫn tồn tại như một biểu tượng thân thuộc và là đặc trưng của mỗi làng quê, làng nghề của miền đồng bằng bắc bộ Hơn nữa, cổng làng là một trong những biểu tượng văn hoá, bản sắc văn hoá của làng quê ở châu thổ Bắc bộ Việt Nam

1.1.2 Du lịch nông thôn

1.1.2.1 Sự ra đời của du lịch nông thôn

Khái niệm du lịch nông thôn đã manh nha cùng với sự hình thành của ngành đường sắt ở Châu Âu Tuy nhiên, mãi đến những năm đầu của thập niên 80 thế kỷ

XX, du lịch nông thôn mới được xem là một loại hình du lịch và được phổ biến ở hầu hết các quốc gia ở Châu Âu như Pháp, Hung-ga-ri, Bun-ga-ri, Hà Lan, Đan

Trang 16

Mạch, Thuỵ Điển… Lúc bấy giờ khái niệm du lịch nông thôn được quan niệm tương đồng với các loại hình du lịch nông trại, du lịch di sản, du lịch xanh, du lịch nhà nghỉ ở nông thôn… Sự khác biệt về du lịch nông thôn ở các quốc gia đang phát triển và quốc gia phát triển là ở chỗ: Tại các quốc gia đang phát triển, người ta xem

du lịch nông thôn là đa dạng hoá thu nhập từ nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc, văn hoá truyền thống và bảo vệ môi trường Vì vậy, du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng Còn ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo chiều sâu mà nguyên nhân chính là do các khu vực nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại

Do những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, nên hình thức du lịch nông thôn cũng khác nhau theo từng vùng, quốc gia, lãnh thổ Chẳng hạn, ở Ô-xtrây-li-a, du lịch nông thôn chủ yếu tại các trang trại lớn; ở Nhật Bản, hình thức du lịch chủ yếu là các nhà nghỉ thân thiện ở nông thôn; ở Hàn Quốc, du lịch nông thôn được tổ chức theo các trang trại nhỏ; ở Đài Loan, du lịch nông thôn được tổ chức theo nhóm sở thích của cộng đồng; Trung Quốc và Ấn Độ là những quốc gia có nhiều làng nên du lịch nông thôn được tổ chức theo quy mô làng Phát triển du lịch nông thôn sẽ góp phần bảo tồn di sản và bảo vệ môi trường; giảm đói nghèo thông qua phát triển kinh tế nông thôn, phát triển ngành, nghề; giúp phát triển du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác; giáo dục, huấn luyện và tăng cường kỹ năng cho cộng đồng; tạo việc làm cho phụ nữ và góp phần tiệu thụ các sản phẩm địa phương

1.1.2.2 Khái niệm và các loại hình của du lịch nông thôn

a) Định nghĩa về du lịch nông thôn

Theo từ điển du lịch (Encyclopedia of tourism, 2000, Routledge, trang 515) thì du lịch nông thôn (Rural tourism) được giải thích như sau:

514-Du lịch nông thôn: là loại hình khai thác các vùng nông thôn như một nguồn tài nguyên và đáp ứng nhu cầu của cư dân đô thị trong việc tìm kiếm không gian yên tĩnh và giải trí ngoài trời hơn là chỉ liên quan đến thiên nhiên Du lịch nông

Trang 17

thôn bao gồm các chuyến thăm vườn quốc gia và công viên công cộng, du lịch di sản trong khu vực nông thôn, các chuyến đi tham quan danh lam thắng cảnh và thưởng thức cảnh quan nông thôn, và du lịch nông nghiệp Nói chung, khu vực nông thôn hấp dẫn nhất đối với khách du lịch là những vùng ven khu nông nghiệp, thường là vùng dân cư thưa thớt, vùng biệt lập hoặc những vùng cao, miền núi ít được biết đến Du lịch nông thôn cung cấp một nguồn thu nhập thêm, đặc biệt là cho phụ nữ, và đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ suy giảm dân số nông thôn Đầu tư du lịch nông thôn có thể bảo tồn các công trình lịch sử, và các hoạt động truyền thống như lễ hội làng có thể được phục hồi thông qua sự quan tâm của khách du lịch

Các công trình bỏ hoang trong các ngôi làng xuống cấp hoặc đang có dấu hiệu xuống cấp có thể được phục dựng để trở thành ngôi nhà thứ hai cho cư dân đô thị Sự phát triển đó mang lại sự thịnh vượng mới cho các vùng nông thôn nghèo, nhưng cũng có thể phá hủy các đặc trưng cảnh quan mà ban đầu thu hút khách du lịch Việc gia tăng sự hiện diện của người dân đô thị đô thay đổi tính chất xã hội của các làng, lưu lượng dày đặc của xe ô tô và các đoàn khách gây ra ùn tắc giao thông trên các tuyến đường làng chật hẹp và cản trở sự di chuyển của gia súc Ô nhiễm giao thông, vật nuôi thả rông, sự thiếu kiểm soát du khách ra vào có thể gây tổn thương vật nuôi và cây trồng Sự trùng hợp của mùa vụ nông nghiệp và du lịch cũng dễ dẫn đến xung đột về nguồn nhân lực Vì vậy, cán cân giữa chi phí và lợi ích

từ du lịch nông thôn không phải lúc nào cũng mang đến kết quả tích cực, nhưng tại một số vùng nông thôn, du lịch được xem là một hoạt động hiển nhiên

Một trong những định nghĩa phổ biến nhất về du lịch nông thôn được nhiều học giả trích dẫn là của tác giả Bernard Lane (1994) đúc kết trong bài viết “Du lịch nông thôn là gì?” đăng trên tạp chí Du lịch Bền vững, quyển 2, số 1-2, tại trang 14 Theo đó, du lịch nông thôn với hình thức thuần túy nhất là loại hình du lịch:

(1) Được diễn ra ở những khu vực nông thôn;

(2) Thiết thực cho nông thôn – hoạt động dựa trên những đặc điểm tiêu biểu của những khu vực nông thôn với quy mô kinh doanh nhỏ, không gian mở, được

Trang 18

tiếp xúc trực tiếp và hòa mình vào thế giới thiên nhiên, những di sản văn hóa, xã hội

và văn hóa truyền thống ở làng xã

(3) Có quy mô nông thôn – bao gồm các công trình xây dựng cũng như quy

mô khu định cư thường có quy mô nhỏ (thôn, bản)

(4) Dựa trên đặc điểm, yếu tố truyền thống, phát triển chậm và được tổ chức chặt chẽ, gắn kết với các hộ dân địa phương Được phát triển và quản lý chủ yếu bởi địa phương phục vụ lợi ích lâu dài của dân cư trong làng xã

(5) Với nhiều loại hình, thể hiện đặc tính đa dạng về môi trường, kinh tế, lịch

sử, địa điểm của mỗi nông thôn

Như vậy, có thể nói du lịch nông thôn là loại hình du lịch trong đó nông nghiệp, sinh hoạt, nghề truyền thống, cảnh quan, vốn chưa được xem là tài nguyên du lịch, giờ được sử dụng như những tài nguyên du lịch dành cho du khách tiếp xúc, trải nghiệm với đời sống nông thôn Việc này phụ thuộc vào phương pháp phát triển nhưng có nghĩa là tất cả mọi nông thôn đều có khả năng trở thành điểm đến du lịch Trong tâm trí mỗi người ắt sẽ xuất hiện hình ảnh du lịch thực tế của những người thành thị chưa từng tiếp xúc với cuộc sống nông thôn bình thường đến trải nghiệm nông nghiệp, ăn những thức ăn tươi ngon từ các loại rau do mình hái, hoặc ngồi nghe người dân nói về đời sống nông thôn Đối với người dân nông thôn thì đó chỉ là cuộc sống và sinh hoạt thường ngày, nhưng chỉ cần thêm vào một chút dịch vụ giá trị gia tăng nào đó cho phù hợp với du lịch thì có thể làm thành điều hấp dẫn thú vị cho du khách và cư dân thành phố Thêm vào đó, nhờ có du lịch mà nhu cầu về nông nghiệp tăng lên, các giá trị văn hóa có hướng kế thừa, nên có thể nói du lịch nông thôn giúp cho việc gia tăng thu nhập (Sơ đồ 1.1) Nói cách khác, du lịch nông thôn là cơ hội mở rộng kinh doanh ở khu vực nông thôn đó thông qua du lịch Mặt khác, một khi du lịch phát triển thành công tại địa phương thì cũng có thể phát sinh các vấn đề thay đổi về mặt xã hội và môi trường ở địa phương đó Vì thế, cần phải cân nhắc từ phương diện xã hội và môi trường khi phát triển du lịch nông thôn

Có thể tóm tắt về khái niệm du lịch nông thôn như sau:

- Tất cả các yếu tố nông thôn (đời sống, nghề truyền thống, cảnh quan v.v) đều có thể trở thành tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn du khách

Trang 19

- Là hướng sinh kế mới cho vùng nông thôn

- Có thể tạo công ăn việc làm mới cho phụ nữ và những người trẻ khác

- Có thể phát triển bằng cách kết hợp hài hòa tài nguyên khu vực nông thôn (nông nghiệp và nghề truyền thống, di sản văn hóa v.v) với du lịch

- Nhờ có sự kết hợp như thế mà có hướng kế thừa nghề truyền thống cũng như các di sản văn hóa

- Được quản lý, khai thác và thực hiện chủ yếu bởi người dân địa phương

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm du lịch nông thôn b) Loại hình du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn (Rural Tourism) cụ thể gồm những loại nào? Loại hình du lịch nông thôn rất đa dạng do tài nguyên trong các khu vực nông thôn rất phong phú

Ví dụ, có thể kể các loại hình du lịch ở một số khu vực trên cơ sở vận dụng đặc trưng ở từng khu vực nông thôn đó, sẽ có Du lịch di sản văn hóa (Heritage tourism);

Du lịch văn hóa (Cultural tourism); Du lịch làng nghề truyền thống (Craft tourism);

Du lịch cộng đồng (Community based tourism); Du lịch sinh thái (Eco-tourism); Du lịch nông sinh học (Agro-tourism) v.v Điều quan trọng trong phát triển du lịch nông thôn là vận dụng tính đặc sắc có ở từng nông thôn đó Một số loại hình du lịch nông thôn được thể hiện qua bảng 1.1

Tạo hướng kinh doanh mới cho nông thôn, Taọ sinh kế cho cộng đồng

Chương trình du lịch nông thôn Trải nghiệm đời sống, nghề truyền thống, nông nghiệp, bán sản vật

Trang 20

Bảng 1.1: Một số loại hình du lịch nông thôn

Thăm thú và học tập về các di tích lịch sử, thăm các nhà cổ, lưu trú, ẩm thực tại nhà hàng nông gia, hướng dẫn viên địa phương hướng dẫn du khách đi thăm làng v.v

Du lịch văn hóa

(Cultural tourism)

Du lịch sử dụng các đặc trưng văn hóa, nghi lễ, nghệ thuật truyền thống và văn hóa phi vật thể độc đáo của làng

Tham quan các buổi trình diễn nghệ thuật truyền thống, tour tham quan nguồn gốc văn hóa truyền thống, tham quan và trải nghiệm các nghi lễ v.v

Trải nghiệm nghề truyền thống, giao lưu với nghệ nhân, mua các sản phẩm nghề truyền thống, tham gia tour đi tham quan nguồn gốc các sản phẩm nghề truyền thống v.v

Trải nghiệm và giao lưu liên quan đến nghề truyền thống, nghề nghiệp do người dân sinh sống trong làng kinh doanh, tour tiếp xúc đời sống nông thôn, tour vận dụng môi trường tự nhiên trong làng v.v

Tour khám phá môi trường thiên nhiên như sông nước, phong cảnh, thăm và dùng thử tại các

cơ sở chế biến trái cây…

Du lịch nông sinh

học

(Agro tourism)

Du lịch có các hoạt động nghề và cuộc sống tại các nông thôn

Các chương trình trải nghiệm, học tập về nông nghiệp, dùng thử nông sản, giao lưu với người dân làm nông nghiệpv.v

Du lịch dân tộc

thiểu số

(Ethno-tourism)

Du lịch vận dụng đời sống và văn hóa của các dân tộc thiểu số

Lý giải đời sống của người dân tộc thiểu số, trải nghiệm văn hóa dân tộc, tham gia các buổi trình diễn, âm nhạc của người dân tộc thiểu số

(Nguồn: Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thông Việt Nam – năm 2014)

Trang 21

c) Loại dịch vụ trong du lịch nông thôn

Du lịch nông thôn đòi hỏi tạo ra các dịch vụ trên cơ sở sử dụng các tài nguyên du lịch có ở nông thôn đó Các loại dịch vụ du lịch nông thôn đang được thực hiện tại Việt Nam bao gồm:

1Nhà hàng nông gia: là dịch vụ ẩm thực tại nhà người dân sử dụng rau và các loại thực phẩm lấy tại nông thôn

2 Dịch vụ Homestay: là dịch vụ lưu trú tại nhà người dân, trải nghiệm chính cuộc sống của họ

3 Trải nghiệm, mua sắm với nghề truyền thống: Quảng diễn cho du khách xem các nghề thủ công truyền thống như nghề gốm, các loại hình nghệ thuật dân gian v.v còn lưu lại tại làng, cung cấp dịch vụ trải nghiệm hoặc bán cho du khách hàng lưu niệm

4 Trải nghiệm nông nghiệp: Dịch vụ trải nghiệm khi tham gia các hoạt động nông nghiệp

5 Tour bơi thuyền, đi xe đạp: Là dịch vụ sử dụng cảnh quan của làng (như sông nước, cảnh quan thiên nhiên) để làm hấp dẫn du khách

6 Tham quan, trải nghiệm các lễ tế, màn trình diễn truyền thống: Hát múa tại các lễ hội, tổ chức các buổi trình diễn truyền thống

7 Giao lưu với người dân địa phương - hướng dẫn viên địa phương: Là hoạt động giao lưu hoặc giới thiệu về làng cho du khách bởi chính người dân địa phương

8 Tái hiện lịch sử và văn hóa: Là dịch vụ viếng thăm và nghe giải thích các tài nguyên văn hóa và các kiến tạo vật còn lưu giữ lại từ xưa

9 Các dịch vụ khác: Là các dịch vụ sử dụng tài nguyên du lịch và tài nguyên con người khác cần lưu giữ tại địa phương

1.1.3 Cơ sở lý luận về phát triển du lịch nông thôn

 Theo Th.S Bùi Thị Lan Hương: “Phát triển du lịch nông thôn là phát triển theo hướng mở rộng và khai thác các mối liên kết giữa các loại hình du lịch ở địa phương nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích của tổ chức làm du lịch và lợi ích của cộng đồng địa phương, có sự tham gia của cộng đồng và quan tâm chỉ đạo của

Trang 22

chính quyền địa phương nhằm góp phần phát triển nông thôn của địa phương theo định hướng bền vững ”

Như vậy, khi phát triển du lịch nông thôn cần lưu ý các vấn đề sau:

 1.Mở rộng khai thác mối liên kết giữa các loại hình du lịch của địa phương

 2 Hài hòa lợi ích của cộng đồng địa phương và tổ chức làm du lịch

 3 Sự tham gia của người dân địa phương là yếu tố không thể thiếu

 4 Sự quan tâm chỉ đạo của chính quyền địa phương

 5 Định hướng phát triển bền vững

1.1.3.1 Xác định giai đoạn của chu kỳ phát triển du lịch nông thôn

Để bắt đầu phát triển du lịch nông thôn tại một khu vực, theo các

chuyên gia trong lĩnh vực du lịch, cần tiến hành những xem xét đánh giá tổng quan để xác định xem khu vực đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ phát triển Việc đánh giá này dựa trên lí thuyết về chu kỳ phát triển của một điểm du lịch

thông thường, cụ thể theo giáo sư R.W Butler trong bài “The concept of a tourism area life cycle of evolution: Implecation of management of resources”

đăng trên tạp chí Nhà địa lý Canada thì chu kỳ phát triển du lịch của một

điểm trải qua 6 giai đoạn Cụ thể là giai đoạn tìm hiểu (Exploration), giai

đoạn tham gia (Involvement), giai đoạn phát triển (Developpement), giai đoạn hoàn chỉnh (Consolidation), thời kỳ đình trệ (Stagnation), thời kỳ suy thoái (Decline) và thời kỳ tái sinh (Rejuvenation)

Trong Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn ở Việt Nam, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa chu kỳ phát triển du lịch theo lý thuyết của

giáo sư R.W Butler như sau:

Trang 23

2 Giai đoạn tham

gia

Involvement

Số lượng du khách tăng, thường thì đến 1 con số kỳ vọng nhất định nào đó thì một bộ phận người dân sẽ tham gia Một vài cơ sở dành cho du khách sẽ được trang

bị Các chiến dịch quảng bá cho du khách sẽ được thực hiện Có thể nhìn thấy được sự thay đổi trong đời sống của người dân

4 Giai đoạn hoàn

chỉnh

Consolidation

Tỉ lệ tăng du lịch giảm, nhưng lượng tổng thể vẫn tiếp tục tăng Du khách sẽ nhiều hơn cư dân Thành phần chủ đạo của kinh tế khu vực gắn liền với du lịch Đầu tư bên ngoài về trang bị cơ sở vật chất để có thể tiếp nhận số lượng lớn du khách cũng sẽ tăng lên

6 Thời kỳ suy thoái,

thời kỳ tái sinh

Decline,

Rejuvenation

Không còn sức cạnh tranh với các điểm du lịch mới nữa, lượng du khách cũng giảm Lúc này cần phát hiện lại các giá trị du lịch mới để tái sinh: 1 Cần sáng tạo để tăng sự hấp dẫn, 2 Khai thác tài nguyên du lịch mới v.v

Trang 24

1.1.4 Khu vực có khả năng phát triển du lịch nông thôn

(1) Tính độc đáo của tài nguyên khu vực nông thôn

Tài nguyên du lịch khu vực nông thôn bao gồm nhiều dạng, lại có nhiều loại nông thôn Ở nông thôn, khu vực nào có càng nhiều tài nguyên nổi bật so với các địa phương khác thì khả năng hình thành điểm đến du lịch càng cao Ngoài ra, từng tài nguyên du lịch đơn lẻ thì không đủ mạnh, vì thế có nhiều phương pháp giúp kết hợp với các tài nguyên du lịch đơn lẻ với nhau để tăng nét hấp dẫn của điểm đến du lịch nông thôn

(2) Điều kiện vị trí - tính thuận tiện trong đi lại

Du lịch nông thôn không đơn giản chỉ là chuẩn bị các chương trình du lịch

mà bằng cách nào đó cần phải lôi kéo được du khách đến nữa Điều kiện quan trọng

là vị trí và cách tiếp cận Tiêu chuẩn xác định vị trí sẽ là cự ly từ thành phố chính,

cự ly từ điểm du lịch quan trọng, tính thuận tiện trong giao thông, có hay không đối với phương tiện giao thông công cộng v.v

(3) Tính cạnh tranh trên thị trường

Khi đã đầy đủ các điều kiện về chất lượng tài nguyên du lịch, điều kiện vị

trí-đi lại như nói trên thì tính cạnh tranh trên thị trường sẽ được nâng cao Ngược lại, nếu trường hợp cả đôi bên đều yếu thì cần nâng cao giá trị, chất lượng của sản phẩm

du lịch bằng nhiều phương pháp như phát triển sản phẩm du lịch (sức hấp dẫn), nâng cao độ thân thiện, hiếu khách của người dân v.v Về sản phẩm du lịch (sức hấp dẫn), giả sử nông thôn có điều kiện tiếp cận không tốt, nhưng có những điều mà chỉ

ở điểm đến đó mới có thể xem được, có thể trải nghiệm được, thì sản phẩm đó vẫn

có thể bán được

1.1.5 Những bên liên quan tham gia vào du lịch nông thôn

(1) Các cơ quan quản lý hành chính

Các cơ quan hành chính ở Trung ương có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Du lịch, các cơ quan như Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch; ở địa

phương có Sở Văn hóa thể thao và du lịch các tỉnh; ở cấp huyện có các phòng phụ trách Văn hóa Du lịch; ở cấp xã thì UBND đóng vai trò quan trọng Đối với các địa

Trang 25

phương có văn phòng quản lý các Di sản Văn hóa và Du lịch, có các vị trí liên quan đến văn hóa trực tiếp thì các cơ quan, bộ phận này cũng đóng vai trò quan trọng (2) Các doanh nghiệp tư nhân

Gần đây, vai trò của các công ty tư nhân trong phát triển du lịch ngày càng được nâng cao Đến nay, đã có những điển hình về hình thành điểm đến du lịch nhờ vào vốn của các công ty tư nhân, và sự hỗ trợ của họ vào phát triển du lịch nông thôn cũng được kỳ vọng rất nhiều

Ví dụ, có nhiều trường hợp mà các công ty du lịch, trên quan điểm khai thác thị trường, đã tư vấn cho cộng đồng và các cơ quan hành chính địa phương, đã đầu

tư các cơ sở vật chất quy mô nhỏ (nhà vệ sinh v.v) cho hộ dân họ có kế hoạch gửi khách Cũng có nhiều công ty du lịch khác đã hợp tác phát triển các dịch vụ du lịch, đào tạo hướng dẫn viên địa phương (thuyết minh viên du lịch) v.v

(3) Cộng đồng dân cư nông thôn

Tại các khu vực nông thôn, các tổ chức có sức gắn kết trong cộng đồng như hội phụ nữ, hợp tác xã nông nghiệp, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh, các nhóm ngành nghề và các hộ dân v.v đều hỗ trợ cho du lịch Các hộ dân độc lập thì có thể tham gia cung cấp dịch vụ du lịch gia đình như cung cấp dịch vụ ẩm thực hay tiếp nhận lưu trú tại nhà mình v.v Cộng đồng nông thôn thì cung cấp dịch vụ theo nhóm ngành nghề trong các nghề truyền thống, các tổ chức quần chúng sẵn có trong xã hội nông thôn như hội phụ nữ, hội nông dân v.v cũng có thể tham gia làm dịch vụ

du lịch Tuy nhiên, khi phát triển du lịch tại các vùng nông thôn thì những người dân trước nay chưa làm du lịch sẽ cung cấp dịch vụ, nên đa số các trường hợp cần

có hợp tác đào tạo kỹ thuật chuyên môn thông qua các chương trình tập huấn

(4) Các cơ quan đào tạo nhân lực

Chúng ta kỳ vọng vào sự hỗ trợ phát triển du lịch nông thôn của khoa du lịch của các trường đại học, các trường nghiệp vụ du lịch, cao đẳng du lịch trực thuộc

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thông qua việc thực hiện tập huấn kỹ thuật, các chương trình huấn luyện kỹ năng đón tiếp, phục vụ khác, tính hiếu khách v.v cho cộng đồng tham gia du lịch

Trang 26

(5) Các cơ quan truyền thông

Việc giới thiệu khu vực nông thôn trên truyền hình, báo chí hay mạng Internet sẽ khơi sâu sự hiểu biết của khán thính giả bình thường đối với khu vực nông thôn đó, có hiệu quả mời gọi du khách đến cho các nông thôn nơi phát triển du lịch Do đó, cần tăng cường giới thiệu du lịch nông thôn trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với các cơ quan truyền thông để gia tăng hiệu quả mời gọi du khách

(6) Khách du lịch

Thật không quá khi nói chính du khách là người quyết định nhất đến việc phát triển du lịch nông thôn Tự thân việc du khách tham quan các điểm du lịch nông thôn lý giải rằng văn hóa và phong cách sống nông thôn, trải nghiệm sự khác biệt trong văn hóa đã đem lại động cơ cho cộng đồng địa phương đó làm du lịch Gần đây, có trường hợp du lịch được đánh giá thông qua những lời truyền miệng của du khách đăng trên Internet và mạng xã hội về những điểm du lịch họ đã tham quan Từ đó, có thể cho rằng du khách cũng trở thành một thành phần quyết định tạo nên du lịch nông thôn

(7) Các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch

Các chuyên gia người Việt Nam có chuyên môn trong lĩnh vực du lịch, các nhà tư vấn, các cơ quan hỗ trợ quốc tế, các tổ chức phi chính phủ quốc tế v.v cũng hợp tác phát triển du lịch nông thôn Các chuyên gia có thể tham mưu về phát triển

du lịch nông thôn hoặc tiến hành dự án phát triển du lịch nông thôn Các chuyên gia này có kinh nghiệm từ nhiều địa phương vì vậy cần đề nghị họ giới thiệu mô hình thành công ở các địa phương khác hoặc xin họ lời khuyên về công việc phát triển du lịch tại địa phương mình

1.2 Cơ sở thực tiến về phát triển du lịch nông thôn

1.2.1 Sự phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới

Du lịch nông thôn có trước du lịch sinh thái, nhưng du lịch nông thôn ít được biết đến, vì đó chỉ là nguồn thu nhập thêm của các trang trại, còn du lịch sinh thái phát triển mạnh đến mức trở thành một hiện tượng của ngành du lịch Theo Giáo trình “Nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch” của TS Đinh Thị Vân Chi thì:

Trang 27

“Nhu cầu luôn vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Khi nhu cầu hiện có được đáp ứng, sẽ hình thành nhu cầu mới để con người vươn tới Và khi nhu cầu mới được đáp ứng, lại xuất hiện nhu cầu mới nữa… Ngay cùng một nhu cầu thì đòi hỏi với mức độ đáp ứng nó cũng có xu hướng nâng cao dần” Có lẽ bởi nhu cầu muốn được khám phá mà ngày nay càng nhiều loại hình du lịch xuất hiện Sự căng thẳng của nhịp sống hiện đại làm nảy sinh nhu cầu thư giãn, giải trí để cân bằng tinh thần: Nhịp sống đô thị hiện đại quá gấp gáp, công việc căng thẳng, gây nên nhiều áp lực cho con người bởi vậy khi đi du lịch giúp họ giải tỏa căng thẳng, lấy lại được tinh thần, tăng thêm hứng thú để chuẩn bị cho tuần làm việc mới Cũng bởi vậy mà

du lịch nông thôn rất hấp dẫn và được các du khách ưa thích đặc biệt là du khách nước ngoài Chính vì vậy, ngày nay du lịch nông thôn đang rất phát triển ở nhiều nước trên thế giới như Pháp, Anh, Mỹ, Hàn Quốc hay Trung Quốc…

Du lịch nông thôn tại Trung Quốc: Ở Trung Quốc, từ năm 1990, chính phủ

đã tuyên bố một chương trình du lịch nông thôn nhằm mục đích chống đói nghèo tại một số tỉnh như Vân Nam, Quảng Đông Các điểm du lịch tại những khu vực nông thôn rộng lớn của Trung Quốc hàng năm tiếp đón 300 triệu khách du lịch, đạt doanh thu 40 tỉ NDT (5,13 tỉ USD) Theo các số liệu chính thức của Tổng cục Du lịch Trung Quốc, 30 điểm du lịch nông thôn quanh Thượng Hải đã đón 3,91 triệu khách

du lịch trong năm 2006, tăng 86% so với năm 2005; hàng năm có khoảng 60 triệu

du khách từ khu vực thành thị chọn đến các vùng nông thôn trong “3 tuần nghỉ vàng” vào tháng 5, tháng 10 và thời gian diễn ra Lễ hội Mùa xuân Và tại tỉnh Quảng Tây tính đến cuối năm 2009 đã có hơn 300 điểm kinh doanh du lịch nông thôn mang tính thường xuyên; hơn 500 điểm “Nông Gia Lạc” (Vui nông gia); xây dựng 192 điểm mô hình sư phạm du lịch nông nghiệp và phân bố trên khắp 14 thành phố với hơn 80 huyện (thành phố, quận), trong đó có 34 điểm mô hình sư phạm du lịch nông nghiệp cấp quốc gia, là tỉnh có số lượng mô hình sư phạm du lịch nông nghiệp đứng thứ 9 trong cả nước và đứng thứ 2 trong số các tỉnh (khu tự trị) ở miền tây Trung Quốc

Tại Mỹ: Người dân ngày càng ưa chuộng những chuyến du lịch đồng quê Có

trang trại đã thu hút hơn 1,4 triệu khách/năm, đạt lợi nhuận 10 triệu USD/năm Rất

Trang 28

nhiều nông dân đã chuyển đổi trang trại thành nơi vui chơi giải trí hấp dẫn Để giúp những nông dân muốn chuyển sang kinh doanh du lịch đồng quê, một số bang của

Mỹ đã thành lập các văn phòng du lịch đồng quê

Tại Nhật: Từ năm 1995, Bộ Nông Lâm Thủy sản đã thiết lập chương trình

nhà nghỉ nông thôn trên khắp đất nước Các nhà nghỉ nông thôn này chủ yếu do các nông hộ cá thể hay dựa vào trang trại Du khách được phục vụ các dịch vụ ăn nghỉ tại nhà nghỉ nông thôn hoặc tham gia các hoạt động hàng ngày ở đây như trồng trọt, gặt hái, câu cá…

(Trích trong bài “Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay” của T.S Bùi Xuân Nhàn đăng trên tạp chí Cộng Sản,)

Tại Hàn Quốc: Du lịch nông thôn bắt đầu vào năm 1984 từ một dự án của

chính phủ nhằm tăng thu nhập cho nông dân Nhiều làng quê Hàn Quốc trước đây vốn nghèo nàn, nhờ chương trình này mà bộ mặt thay đổi hẳn, thu nhập của nông dân tăng lên đáng kể Buraemi là một ngôi làng ở ngoại ô thủ đô Seoul Giống như đại đa số mô hình làng ở Hàn Quốc, Bumeri chỉ có 28 hộ dân,70 nhân khẩu, do sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thấp Buraemi đã tìm được lối thoát cho mình bằng cách mở dịch vụ du lịch trải nghiệm cho cư dân thành phố muốn tìm một không gian sống và nghỉ để thoát khỏi sức ép

đô thị Năm 2008, cả làng đón 21.000 khách du lịch từ thành phố, thu về 500.000 USD Tạm tính trong trường hợp nguồn thu đổ hết vào các gia đình, 28 hộ dân Buraemi mỗi hộ thu được thêm hơn 17.800 USD Làng Dareng-I với 58 hộ dân, dân

số 158 người cũng thu được 400.000 USD từ dịch vụ du lịch làng thu hút gần 20 vạn khách cùng trong năm đó Dareng-I và Buraemi là 2 trong tổng số 141 làng mà

Cơ quan Phát triển Nông thôn Hàn Quốc (RDA) thực hiện thí điểm thông qua dự án khám phá làng nông thôn truyền thống Mục đích là lôi kéo người dân thành phố về khám phá cuộc sống nông thôn

(Trích bài “Phát triển du lịch nông thôn điểm nhìn từ Hàn Quốc: du lịch làng “cứu” nông thôn” trên trang www.baomoi.com)

Ngoài ra du lịch nông thôn phát triển ở hầu hết các nước trên thế giới như: Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Lat-vi-a, Tây Ban Nha, In-đô-nê-xi-a, Nê-pan, Ấn Độ, Thái

Trang 29

Lan Du lịch nông thôn đã phát triển mạnh ở nhiều nước trên thế giới và đem lại một phần thu nhập lớn cho người dân ở nông thôn góp phần cải thiện đời sống, tăng thu nhập, giảm bớt tình trạng thất nghiệp tại nông thôn giảm bớt sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị và đặc biệt góp phần cải thiện môi trường Theo kết quả khảo sát năm 2007 của thành viên Hiệp hội điều hành du lịch Mỹ ( USTOA – US Tour Operators Association) cho thấy: “xu hướng nổi bật là du khách lựa chọn kiểu du lịch thân thiện với môi trường và du lịch văn hóa Gần 9/10 người cho biết sẽ lựa chọn sản phẩm du lịch mang đậm bản sắc văn hóa địa phương, bảo

vệ môi trường tự nhiên và họ sẵn sàng trả thêm 10% chi phí chuyến đi để giúp môi trường và nền văn hóa địa phương không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi các hoạt động

du lịch” Điều này cho thấy các loại hình du lịch nông thôn, du lịch sinh thái, du lịch bền vững sẽ ngày càng phát triển và được ưa chuộng trên thế giới

1.2.2 Tại Việt Nam

Ở nước ta hiện nay, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc đến trong các văn bản pháp lý mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông thôn:

Với phong cảnh thiên nhiên đẹp, địa hình đa dạng gồm đồi, sông suối, biển đảo, hang động, hệ động, thực vật phong phú, vùng nông thôn với những làng quê

cổ kính vùng Bắc Bộ, những nét văn hoá truyền thống đặc sắc, những vùng đất có lịch sử hình thành lâu đời, nơi lưu giữ nhiều di tích lịch sử và truyền thống văn hoá tập tục của người xưa, những cánh đồng bát ngát, phì nhiêu ở Nam Bộ… là những điều kiện để nước ta phát triển du lịch nông thôn

Người Việt Nam nhân hậu, thuỷ chung, yêu chuộng hoà bình và giàu lòng mến khách cùng với đôi bàn tay khéo léo, trí thông minh, nhạy bén và giàu lòng quả cảm

đã làm nên những nét văn hoá truyền thống đặc sắc Việt Nam từ chính tâm hồn mộc mạc ấy của mình

Một tiềm lực đáng kể ở nhiều vùng nông thôn là truyền thống làm hàng thủ công, như sản xuất đồ gốm sứ, hàng dệt, đồng, da, sơn mài, mây tre, nón… Các mặt hàng này tuy có tiềm năng phát triển nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức

Trang 30

Du lịch đã được thiết lập như là một nguồn thu nhập và là công việc đáng kể ở một vài vùng nông thôn cụ thể Du lịch có tiềm năng mang lại lợi ích trên phạm vi rộng hơn nếu được phát triển một cách bền vững

Ở Việt Nam, du lịch nông thôn đã xuất hiện ở Sa-Pa (Lào Cai), Khánh Hoà,

Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ nhưng mới chỉ dưới dạng những hoạt động mang dáng dấp du lịch nông thôn, rất lẻ tẻ

 Du lịch nông thôn tại Làng rau Trà Quế - Quảng Nam:

Trà Quế là làng rau đã hơn 500 tuổi nằm bên dòng sông Đế Võng thơ mộng thuộc xã Cẩm Hà Trồng rau đã trở thành một thứ nghề “gia truyền” và quả thật ở làng quê này chưa bao giờ người nông dân để cho đất “nghỉ” Rau Trà Quế không chỉ có vị thơm, ngon mà còn đẹp và không sử dụng các loại thuốc tăng trưởng nên rất đảm bảo an toàn thực phẩm Và có lẽ cũng chính vậy mà nơi đây thu hút nhiều khách du lịch quốc tế, mỗi năm, làng rau này đón hơn 2.000 khách du lịch quốc tế

và hàng chục đoàn khách tham quan, học tập mô hình làm rau sạch đến từ nhiều địa phương trong cả nước Tới đây du khách mặc những bộ quần áo nông dân và cùng xắn tay áo để làm “nông dân”: cùng ủ rong để làm phân hữu cơ, cuốc đất tơi, đánh luống thẳng, đâm lỗ, trỉa hạt, trồng rau, bón phân hay tưới nước bằng xoa… mỗi người chọn một dụng cụ lao động tùy thích Những “nông dân” này còn được thưởng thức nhiều món ăn chế biến từ các loại rau xanh Trà Quế và nhiều đặc sản của Quảng Nam như bánh đập, bánh vạc, hến trộn, tôm hữu, mì Quảng, cao lầu Hội An Thậm chí, chủ nhà chiều lòng khách khi mắc võng hoặc kê chõng tre ngoài vườn cho khách nghỉ ngơi, trong không gian tĩnh lặng của làng quê

 Du lịch nông thôn tại An Giang:

An Giang là một trong 3 tỉnh được thí nghiệm dự án “Nâng cao năng lực du lịch nông nghiệp cho Hội Nông dân Việt Nam” do tổ chức quốc tế Hà Lan tài trợ với tổng kinh phí 390.000 Euro Sau 3 năm thực hiện loại hình này đã làm cho du khách đến tham quan rất hào hứng và thích thú Tại An Giang 2 xã Mỹ Hòa Hưng thành phố Long Xuyên và Văn Giáo, huyện Tịnh Biên được chọn thực hiện và bước đầu đã tổ chức các tour cho 20 đoàn, với hơn 300 khách tham quan và các hộ dân

Trang 31

cũng tự đón tiếp hơn 3.000 lượt khách tham quan và giải trí, ăn uống tại vườn nhà mình

Tuy nhiên, sau 3 năm triển khai dự án thì cũng đã bộc lộ những hạn chế Trong đó, việc triển khai nghiên cứu đánh giá nhu cầu thị trường du lịch nông nghiệp tại tỉnh còn chậm và kết quả chưa cao Bên cạnh đó, chưa có quy hoạch cụ thể tại từng địa phương để phát triển du lịch nông thôn, chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên

du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này Từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hóa của địa phương Mặt khác, lĩnh vực hoạt động văn hóa cổ truyền, khôi phục và phát triển những ngành nghề thủ công ở địa phương chưa được hỗ trợ, đầu tư nhiều

 Du lịch nông thôn tại Sơn La

Được sự tư vấn và giúp đỡ của Tổ chức phát triển Hà Lan, Sở Du lịch và Thương Mại tỉnh Sơn La đã tổ chức chuyến khảo sát loại hình du lịch nông nghiệp gồm tại các điểm du lịch thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La Mộc Châu là huyện nổi tiếng với các sản phẩm từ sữa bò, chè và nơi đây có rất nhiều thắng cảnh đẹp cùng với nhiều nhóm dân tộc thiểu số như Thái, Dao, Mông… tạo nên một nét đặc sắc thu hút du khách quốc tế Đến đây du khách được tham gia vào các hoạt động sản xuất của người dân và các lễ hội của những đồng bào dân tộc, cuộc sống sinh hoạt và những điều khác biệt của dân bản và cùng giao lưu và ca hát với bà con dân tộc Những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam phát triển đa dạng các loại hình

du lịch, nhưng du lịch nông thôn chưa phát triển bởi các lý do sau:

 Chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du lịch nông thôn, cụ thể là chưa có khung lý thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch này

 Du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực

 Phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững Trong khi đó, người

Trang 32

nông dân ở nông thôn vẫn đứng bên lề các quá trình vận động của ngành du lịch, những hoạt động du lịch chỉ mới mang lợi cho Nhà nước và khu vực tự nhiên

 Chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp uỷ, chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hoá của địa phương

 Nông dân là những người đưa di sản sinh thái và văn hoá của mình tham gia hoạt động du lịch nông thôn, nhưng trong thực tế lại thu được rất ít lợi từ hoạt động này

 Nhân lực phục vụ du lịch vừa thừa, vừa thiếu Các công ty du lịch và khách sạn thiếu lực lượng hướng dẫn viên cho khách quốc tế giỏi nghiệp vụ và ngoại ngữ, nhưng lại thừa lao động phổ thông không qua đào tạo

 Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường sá, cung cấp nước tưới, tiêu, cung cấp điện và thông tin của khu vực hạ tầng còn yếu kém

Khi tham gia các tour về nông thôn ở Việt Nam, ban đầu, nhiều du khách có ấn tượng tốt nhưng rất ít người có ý định quay trở lại lần thứ hai Vì Một trong những điều khiến họ không muốn quay lại là tình trạng giao thông ở nước ta quá tệ Điển hình như, từ TP Hồ Chí Minh xuống các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có con đường độc đạo là Quốc lộ 1A nên chuyện kẹt xe, kẹt phà xảy ra thường xuyên khiến tốc độ của xe thực tế chỉ còn 30 - 40km/giờ Việc thiếu đường giao thông kết nối giữa các tỉnh làm cho khách phải đi lại quá nhiều lần trên cùng một tuyến đường, nên rất khó thu hút họ đến được các tỉnh xa mất cả ngày đường như Bạc Liêu, Cà Mau Ngoài đường bộ, không thể không nói tới giao thông đường thủy là thế mạnh của vùng sông nước Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng tìm được chuyến tàu cao tốc chạy ổn định cũng không phải dễ Ngoài đường bộ, đường thủy, chúng ta còn có đường hàng không nhưng đường hàng không thì chỉ có những chuyến bay nhỏ đến

Cà Mau, Rạch Giá và đảo Phú Quốc, trong khi sân bay Cần Thơ (Trà Nóc) mới chuẩn bị đưa vào sử dụng

Trang 33

 Các tỉnh ở nước ta rất thiếu các tour riêng biệt, nhưng lại thừa những sản phẩm trùng lắp Ví dụ như một tuor du lịch nông thôn miền Tây Nam bộ, khách đến Tiền Giang đã vào thăm vườn, ngồi ăn trái cây hái sẵn, nghe đờn ca tài tử, thì sang Vĩnh Long, Cần Thơ hay đi Sóc Trăng cũng vẫn thấy các món này Cách làm đơn điệu, thiếu sức hấp dẫn và không có điểm nhấn khiến các tour du lịch nông thôn không thể thuyết phục khách du lịch ở lại lâu hơn

 Dịch vụ du lịch ở nông thôn vẫn còn ít lại không đạt tiêu chuẩn về chất lượng Cơ sở lưu trú ở các làng quê đa phần có chất lượng trung bình, không có các khu nghỉ dưỡng cao cấp nên ít khi đón được khách sang ở lâu, có rất ít các loại hình vui chơi giải trí đặc sắc

Có thể khẳng định, du lịch nông thôn phát triển chậm, chắc chắn không phải vì thiếu tài nguyên, cũng chưa hẳn vì thiếu tiền, mà là thiếu cách làm phù hợp với cái khách cần Lượng khách biết và đặt tuor du lịch nông thôn rất ít Một phần do chưa được phổ biến quảng cáo rộng rãi, phần khác do điều kiện của nước ta chưa đủ, dù

là nước nông nghiệp nhiều tiềm năng

1.2.3 Những kinh nghiệm để phát triển du lịch nông thôn cho Bắc Giang

Một là, khi phát triển loại hình du lịch nông thôn tại Bắc Giang, cần có các

nghiên cứu cơ bản về từng vùng nông thôn trong kế hoạch phát triển của tỉnh

Hai là, xác định rõ nội dung chủ yếu để khai thác tài nguyên du lịch trên địa

bàn nông thôn là phát triển du lịch sinh thái, du lịch văn hóa với phương thức đa dạng hóa chủ thể tham gia

Ba là, hoàn thiện quy hoạch du lịch cho từng địa phương và tăng cường quản

lý để thực hiện các quy hoạch đã được phê chuẩn, tránh tình trạng làm cho du lịch nông thôn kém tính bền vững

Bốn là, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật và sản

phẩm du lịch làm cho các làng trở nên dễ tiếp xúc hơn và tạo thuận lợi trong liên kết giữa các làng, các khu vực trong thu hút khách du lịch

Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ du lịch, mở các lớp

cho cán bộ chính quyền các địa phương nâng cao nhận thức về phát triển du lịch; xây dựng các quy ước của các làng trong khai thác du lịch

Trang 34

Sáu là, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch, đưa

chương trình đào tạo phát triển du lịch nông thôn vào các cơ sở đào tạo

Bảy là, tăng cường mở rộng thị trường và tuyên truyền quảng bá cho các

chương trình du lịch nông thôn

1.2.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

Từ năm 2001, Tổ chức Phát triển quốc tế của Hà Lan phối hợp với sở du lịch của một số tỉnh thực hiện Chương trình Du lịch bền vững vì người nghèo và Sa pa (Lào Cai) là điểm được lựa chọn làm thí điểm Tại Thừa Thiên - Huế, Tổ chức Phát triển quốc tế của Hà Lan phối hợp với Sở Du lịch của tỉnh đề ra nhiều chương trình thiết thực và cụ thể với những nội dung chính: nâng cao nhận thức về du lịch bền vững; xóa đói, giảm nghèo; quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương; xây dựng mô hình du lịch cộng đồng và quan hệ hợp tác giữa các bên liên đới trong du lịch Với chương trình này, Tổ chức Phát triển quốc tế của Hà Lan hỗ trợ tư vấn kỹ thuật cho các đối tác cấp tỉnh, huyện và cộng đồng để xây dựng mô hình du lịch bền vững, góp phần bảo tồn môi trường, văn hóa và phát triển sinh kế cho người nghèo Mô hình thí điểm tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn khá nghèo nàn ở miền núi của tỉnh đã thu hút trên 30 đoàn khách quốc tế đến mua các sản phẩm du lịch của địa phương Từ năm 1986 tại Long Hồ (Vĩnh Long) đã xây dựng được mô hình du lịch sinh thái ở nông thôn khá hiệu quả, mô hình đầu tiên từ ngôi nhà ba gian truyền thống của Nam Bộ gắn liền với sông nước, kênh rạch, miệt vườn Hiện nay mô hình này đã được nhân rộng lên 21 điểm du lịch miệt vườn, thu hút khá đông khách du lịch trong và ngoài nước Tuy nhiên, các mô hình này vẫn còn thiếu sự quan tâm hỗ trợ của chính quyền địa phương

Trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản, trong năm 2013 Tổng cục Du lịch đã giao Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch phối hợp cùng Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) biên tập và xuất bản cuốn “Cẩm nang thực tiễn phát triển

du lịch nông thôn Việt Nam” trên cơ sở đúc rút kết quả thực hiện các dự án hỗ trợ phát triển du lịch của Nhật Bản tại các vùng quê Việt Nam: Đường Lâm (Hà Nội), Phước Tích và Thanh Toàn (Thừa Thiên Huế), Hồng Phong (Hải Dương), Đông

Trang 35

Hòa Hiệp (Tiền Giang), Tabhing (Quảng Nam) và 3 làng nghề Phù Lãng, Đình Tổ

và Hòa Long (Bắc Ninh)

Hiện nay, ở nước ta, khái niệm du lịch nông thôn vẫn chưa được nhắc tới trong các văn bản pháp lý, mặc dù nước ta có tiềm năng lớn để phát triển du lịch nông thôn Đã có một số đề tài nghiên cứu về phát triển du lịch nông thôn tại Lào Cai, tỉnh Thái Bình, vùng đồng bằng sông Cửu Long Như tác giả Huỳnh Lê Ái

Linh với đề tài “Phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng”, tác giả Nguyễn Thị Bích Huyền với đề tài tương tự “Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình” Các đề

tài này đều nêu được những mặt được, chưa được, những khó khăn, thuận lợi trong phát triển du lịch nông thôn tại địa điểm nghiên cứu Tuy nhiên, điểm chung giữa các đề tài đều đưa ra được những lý do mà du lịch nông thôn chưa phát triển như:

- Chưa có quy hoạch cụ thể cho từng địa phương để phát triển du lịch nông thôn, cụ thể là chưa có một khung lý thuyết chung cho các khái niệm về loại hình du lịch này

- Du lịch phát triển, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của nó Sự phát triển của du lịch đã tác động đến đời sống con người, thiên nhiên và môi trường ở nông thôn về cả hai hướng tích cực lẫn tiêu cực, mà phần nhiều là tiêu cực

- Phát triển du lịch chưa gắn kết với địa phương nên các tài nguyên thiên nhiên được ngành du lịch khai thác chưa hiệu quả và bền vững

- Chưa có sự chuẩn bị tốt về nhận thức cho cấp ủy, chính quyền các cấp và người dân địa phương có tài nguyên du lịch nông thôn để họ sẵn sàng tham gia hoạt động này, từ đó giảm bớt được những tệ nạn thường gặp như chèo kéo khách, cung ứng sản phẩm và dịch vụ kém chất lượng, dần làm mất đi bản sắc văn hóa của địa phương

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện lục nam – tỉnh Bắc Giang

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Lục Nam là huyện miền núi, nằm phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, được thành lập theo Nghị định số 24-TTg ngày 21-1-1957 của Thủ tướng chính phủ, trên cơ sở chia tách hai huyện Lục Ngạn và Sơn Động thành ba

huyện Sơn Động, Lục Ngạn và Lục Nam

Lục Nam nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 27km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 70 km về phía Đông Bắc Toạ độ địa lý nằm trong khoảng 21011’ đến 21027’ vĩ độ Bắc, 106018’đến 106041’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp huyện Lục Ngạn, huyện Lạng Giang, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn Phía Nam giáp huyện Chí Linh (Hải Dương) và huyện Đông Triều (Quảng Ninh) Phía Tây giáp huyện Yên Dũng (Bắc Giang) Phía Đông giáp huyện Sơn Động Bản đồ hành chính huyện Lục Nam được thể hiện qua hình 2.1

Với diện tích 597km2, nằm cách Hà Nội 70km, có quốc lộ 31, 37, đường tỉnh

293, 295, đường Sắt Kép - Hạ Long chạy qua, mạng lưới giao thông tương đối phát triển đã tạo cho Lục Nam có nhiều lợi thế về phát triển du lịch, liên kết tạo các tuor

du lịch lên kết với các địa bàn khác trong và ngoài tỉnh, thủ đô Hà Nội và cả nước

Trang 37

Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Lục Nam

2.1.1.2 Địa hình, đất đai

Huyện Lục Nam có địa hình đồi núi thấp xen lẫn những cánh đồng bằng phẳng, nghiêng dần từ Đông Bắc, Đông và Đông Nam sang phía Tây Độ cao trung bình 300m so với mặt nước biển và đước chia thành 3 vùng chính:

- Vùng miền núi: Nằm về phía Đông Nam của huyện, bao gồm 10 xã: Bình Sơn, Lục Sơn, Trường Giang, Vô Tranh, Đông Hưng, Nghĩa Phương, Trường Giang, Đông Phú, Tam Dị, Huyền Sơn, chiếm 66% diện tích toàn huyện, đất đai trong vùng chủ yếu là đồi núi có độ dốc từ 8-250, trong vùng có thế mạnh là phát triển cây lâm nghiệp và cây ăn quả, từ đó tạo ra các sản phẩm du lịch nông thôn mới

lạ hấp dẫn

- Vùng đồng bằng: Bao gồm 10 xã, thị trấn trung tâm của huyện, gồm: Tiên Hưng, Thị trấn Lục Nam, Thị trấn Đồi Ngô, Chu Điện, Bảo Đài, Thanh Lâm, Phương Sơn, Cương Sơn, Bảo Sơn, Tiên Nha, chiếm 20% diện tích đất tự nhiên,

Trang 38

vùng có độ dốc từ 8 – 150 Là vùng tập trung nhiều các nhà hàng, khách sạn thuận lợi cho việc nghỉ ngơi lưu trú của du khách

- Vùng chiêm trũng: Bao gồm 07 xã: Khám Lạng, Bắc Lũng, Vũ Xá, Cẩm

Lý, Đan Hội, Yên Sơn, Lan Mẫu còn lại chiếm 14% diện tích đất tự nhiên Thế mạnh du lịch nông thôn của vùng là các hoạt động mò cua bắt cá, cất vó tôm,

2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết, thủy văn

Huyện Lục Nam nằm ở vùng núi phía Đông Bắc và chịu ảnh hưởng của cánh cung Đông Triều, do đó mang khí hậu nhiệt đới gió mùa Khí hậu ở đây chia thành hai mùa rõ rệt đó là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau

- Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,370C, mùa hè nhiệt độ trung bình 33

-340C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 (38 - 390C) Mùa đông nhiệt độ trung bình 16 -

10 đến tháng 3 năm sau, lượng mưa ít Số ngày mưa trung bình 127 ngày/năm

- Độ ẩm không khí: Trung bình năm là 81,9%, cao nhất 94,7%, thấp nhất 69,1% Lục Nam chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có một số hiện tượng thời tiết đặc biệt làm ảnh hưởng không tốt tới nhiều hoạt động du lịch

2.1.1.4 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai

Đất đai có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc gia, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là thành phần quan trọng của môi trường sống Trong sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thiếu, tuỳ vào điều kiện và đặc điểm tự nhiên của từng vùng mà nó trở thành thế mạnh của vùng đó Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất xã hội, hầu hết các hoạt động của sản xuất nông nghiệp diễn ra trên đất

Trang 39

Theo số liêu thống kê đất đai hàng năm được thể hiện qua bảng 2.1 cho chúng ta thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 59.816,55ha trong đó, đất nông nghiệp là 47.818,68ha, chiếm 79,94 % tổng diện tích đất tự nhiên, đất phi nông nghiệp là 10.886,05ha, chiếm 18,2%, đất chưa sử dụng là 1.111,82ha chiếm 1,86%

Với diện tích đất nông nghiệp là 47.818,68ha, trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 21.958,79ha, đất lâm nghiệp là 25.215,34ha, đất nuôi trồng thủy sản là 630,73ha

2.1.1.5 Tài nguyên du lịch

- Tài nguyên du lịch thiên nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên được cấu thành bời các yếu tố như địa hình khí hậu nguồn nước, đất đai, sinh vật đã tạo cho Lục Nam một số nguồn lợi để phát triển du lịch Các yếu tố đó kết hợp với nhau để có các khu du lịch như Suối Mỡ, Vực Rêu, suối Nước Vàng và khu bảo tồn Tây Yên Tử (khu rừng nguyên sinh), hồ suối Nứa… đã thu hút được nhiều khách đến thăm quan

Bên cạnh những thuận lợi, ưu thế cho việc phát triển du lịch Lục Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn về điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Các điều kiện thời tiết bất lợi như gió mùa đông bắc, sương muối, gió nồm… đã gây không ít khó chịu cho con người Vì vậy, đây cũng là nguyên nhân khiến du khách ngại đến Lục Nam vào khoảng thời gian diễn ra hiện tượng thời tiết này, làm cho du lịch ở Lục Nam có tính mùa vụ Nhưng nhìn chung Lục Nam là huyện có khá nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên du lịch tự nhiên để phục vụ cho việc khai thác phát triển ngành du lịch nông thôn

- Tài nguyên du lịch nhân văn:

Lục Nam còn có nhiều tiềm năng về du lịch nhân văn Từ xa xưa khi dân Việt đã sinh sống và cư trú tại huyện Lục Nam, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Lục Nam hôm nay đã tạo dựng được cho quê hương mình một nét truyền thống văn hoá mang đậm chất văn hoá Năm 2014, toàn huyện có 46.654 gia đình văn hoá; 254 làng văn hoá cấp huyện; trong đó có 50 làng văn hoá cấp tỉnh, 03 xã

Trang 40

đạt chuẩn văn hoá nông thôn mới Thiết chế văn hóa ở cơ sở tiếp tục được tăng cường; toàn huyện có 268 nhà văn hóa thôn, bản; 19 nhà văn hóa xã Trên 28% dân

số thường xuyên luyện tập thể dục thể thao Văn nghệ quần chúng ngày càng phát triển, bản sắc văn hóa dân tộc được gìn giữ và phát huy Hiện nay trên địa bàn huyện còn hơn 263 di tích văn hoá, có 81 di tích đã được công nhận (14 di tích cấp quốc gia,

67 di tích cấp tỉnh), trong đó có nhiều ngôi chùa, ngôi đình cổ có giá trị văn hoá kiến trúc, ẩn chứa nhiều giá trị kiến trúc, lịch sử, như đình chùa Sàn, Chùa Chản, Chùa Suối Mỡ… Không chỉ vậy, Bên cạnh đó nhiều nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa của đồng bào trong huyện được giữ gìn, bảo tồn và khôi phụ Đến với Lục Nam du khách còn được đắm mình trong những đêm hội hát sli, lượn, soong hao của dân tộc Nùng; hát Then của dân tộc Tày; hát Sình ca của dân tộc Cao Lan; hát Soong cô của dân tộc Sán dìu, Đến nay, toàn huyện có 182 câu lạc bộ (CLB), tổ, đội văn nghệ các loại, trong đó có 02 CLB hát Soong cô của đồng bào dân tộc Sán Dìu, 02 CLB chèo, 01 CLB thơ, 01 CLB hát văn hầu đồng.1 CLB hát sịnh ca của đồng bào dân tộc Cao Lan Mỗi dân tộc sinh sống ở Lục Nam đều có những sắc thái riêng biệt nhưng lại được kết hợp với nhau một cách hợp lý tạo nên một lợi thế để khai thác nguồn tài nguyên nhân văn trong phát triển lịch nông thôn

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân số, lao động

Dân số và lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng của quá trình sản xuất,

là nguồn lực tác động trực tiếp đến quá trình phát triển kinh tế

Tình hình dân số và lao động của huyện được thể hiện qua bảng 2.2 Qua bảng 2.2 cho chúng ta thấy: Tổng dân số của huyện tính đến hết năm 2014 là 201.365 người, tăng 0,51% so với năm 2013 (tương ứng với 1.026 người) Bình quân qua 3 năm, dân số của huyện tăng 0,39 % Lao động nông nghiệp liên tục giảm (bình quân trong 3 năm giảm 2,37%/năm) và số lao động phi nông nghiệp liên tục tăng nhanh (bình quân trong 3 năm tăng 19,57 %/năm) Tuy nhiên, số lao động trong nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ khá cao là 84,8 % trong cơ cấu lao động năm

2014

Ngày đăng: 29/08/2017, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernard Lane (1994), “Du lịch nông thôn là gì”?, tạp chí Du lịch Bền vững, quyển 2, số 1-2, tại trang 14, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch nông thôn là gì
Tác giả: Bernard Lane
Nhà XB: tạp chí Du lịch Bền vững
Năm: 1994
2. Đinh Thị Vân Chi (2004), Nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch, nhà xuất bản văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu của du khách trong quá trình du lịch
Tác giả: Đinh Thị Vân Chi
Nhà XB: nhà xuất bản văn hóa
Năm: 2004
3. Cục thống kê tỉnh Bắc Giang (2014), chi cục thống kê huyện Lục Nam, Niên giám thống kê 2014, tháng 6 năm 2015, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2014
Tác giả: Cục thống kê tỉnh Bắc Giang, chi cục thống kê huyện Lục Nam
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2014
4. Lê Đức Cương (2005), “Du lịch xanh ở xứ sở vải thiều”, tạp chí du lịch Bắc Giang, tháng 3/ 2005, tr45, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch xanh ở xứ sở vải thiều
Tác giả: Lê Đức Cương
Nhà XB: tạp chí du lịch Bắc Giang
Năm: 2005
5. Nguyễn Thị Bích Huyền (2012), Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình, Luận văn tốt nghiệp, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Huyền
Nhà XB: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Năm: 2012
6. Huyện ủy Lục Nam (6/2015 ), báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XX trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khoá XX trình Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2015- 2020
Tác giả: Huyện ủy Lục Nam
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2015
7. Huyện ủy Lục Nam, (7/2015), báo cáo kết quả thực hiện 04 chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm và kế hoạch phát triển nâng cao chất lượng đào tạo nghề giai đoạn 2011 – 2015, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo kết quả thực hiện 04 chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm và kế hoạch phát triển nâng cao chất lượng đào tạo nghề giai đoạn 2011 – 2015
Tác giả: Huyện ủy Lục Nam
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2015
8. Huỳnh Lê Ái Linh (2012), Phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Nông Lâm, Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch nông thôn ở tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Huỳnh Lê Ái Linh
Nhà XB: Đại học Nông Lâm
Năm: 2012
9. Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Đình Hòa (3/2015), Giáo trình Marketing du lịch, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Marketing du lịch
Nhà XB: NXB Đại học Kinh tế quốc dân
10. Bùi Xuân Nhàn (2009), “Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay”, tạp chí Cộng Sản 14/9/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Phát triển du lịch nông thôn ở nước ta hiện nay"”, tạp chí Cộng Sản 14/9/2009
Tác giả: Bùi Xuân Nhàn
Năm: 2009
11. Ngô Kiều Oanh, (2008), Mô hình du lịch nông nghiệp là một lối thoát cho chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Viện khoa học công nghệ Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình du lịch nông nghiệp là một lối thoát cho chính sách nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ngô Kiều Oanh
Năm: 2008
12. Võ Quế (2006), Du lịch cộng đồng - Lý Thuyết và Vận Dụng, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, phát hành 10/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch cộng đồng - Lý Thuyết và Vận Dụng
Tác giả: Võ Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2006
13. Hà Văn Siêu (2013), Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam, NXB Viện Nghiên cứu Phát Triển Du lịch, Tổng cục Du lịch Việt Nam - Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA)- 12/2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang thực tiễn phát triển du lịch nông thôn Việt Nam
Tác giả: Hà Văn Siêu
Nhà XB: NXB Viện Nghiên cứu Phát Triển Du lịch
Năm: 2013
14. Sở văn hóa thể thao và du lịch Bắc Giang (2015), Non nước Bắc Giang, NXB Văn hóa dân tộc, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Bắc Giang
Tác giả: Sở văn hóa thể thao và du lịch Bắc Giang
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2015
15. Lê Anh Tuấn (2008), Du lịch nông thôn định hướng phát triển ở Việt Nam, Báo du lịch Việt Nam, Số 2, tr. 32-33,71, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch nông thôn định hướng phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Lê Anh Tuấn
Nhà XB: Báo du lịch Việt Nam
Năm: 2008
16. Tài liệu tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập huyện Lục Nam 1957-1997 (1997), 40 Năm trên quê hương Sông Lục – Núi Huyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập huyện Lục Nam 1957-1997
Nhà XB: 40 Năm trên quê hương Sông Lục – Núi Huyền
Năm: 1997
17. UBND huyện Lục Nam, Ban quản lý khu du lịch Suối Mỡ (2014), báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2015. Số: 21/BC – BQL, Bắc Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2014, phương hướng, nhiệm vụ công tác năm 2015
Tác giả: UBND huyện Lục Nam, Ban quản lý khu du lịch Suối Mỡ
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2014
18. UBND huyện Lục Nam, Ban quản lý khu du lịch Suối Mỡ (2015), báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác 9 tháng đầu năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ công tác những tháng còn lại. Số: 18/BC - BQL, Bắc Giang.Website Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác 9 tháng đầu năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ công tác những tháng còn lại
Tác giả: UBND huyện Lục Nam, Ban quản lý khu du lịch Suối Mỡ
Nhà XB: Bắc Giang
Năm: 2015

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ khái niệm du lịch nông thôn  b) Loại hình du lịch nông thôn - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ khái niệm du lịch nông thôn b) Loại hình du lịch nông thôn (Trang 19)
Hình 2.1: Bản đồ hành chính huyện Lục Nam - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Lục Nam (Trang 37)
Bảng 2.1: Tình hình dân số và lao động của huyện Lục Nam qua 3 năm 2012 – 2014 - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Bảng 2.1 Tình hình dân số và lao động của huyện Lục Nam qua 3 năm 2012 – 2014 (Trang 41)
Bảng 2.2: Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Lục Nam giai đoạn 2012-2014 - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Bảng 2.2 Kết quả sản xuất các ngành kinh tế của huyện Lục Nam giai đoạn 2012-2014 (Trang 45)
Hình 3.1: Đồi dứa Bảo Sơn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.1 Đồi dứa Bảo Sơn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Trang 56)
Hình 3.2: Dòng suối Mỡ huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.2 Dòng suối Mỡ huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Trang 58)
Hình 3.3: Suối Nước Vàng huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.3 Suối Nước Vàng huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang (Trang 59)
Hình 3.4: Đình Sàn - di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc             Qua cổng đình, bên phải là chùa Sàn, đi thẳng vào là Tòa Đại đình 3 gian 2 - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.4 Đình Sàn - di tích kiến trúc nghệ thuật đặc sắc Qua cổng đình, bên phải là chùa Sàn, đi thẳng vào là Tòa Đại đình 3 gian 2 (Trang 64)
Hình 3.5: Di tích cấp quốc gia đình Sàn  Với vị trí và cảnh quan hấp dẫn, giao thông thuận lợi, đặc biệt là nghệ thuật  kiến trúc đã khiến đình – chùa Sàn trở thành nơi danh lam cổ tự của vùng quê sông  Lục, núi Huyền – một điểm đáng được quan tâm lui tới - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.5 Di tích cấp quốc gia đình Sàn Với vị trí và cảnh quan hấp dẫn, giao thông thuận lợi, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc đã khiến đình – chùa Sàn trở thành nơi danh lam cổ tự của vùng quê sông Lục, núi Huyền – một điểm đáng được quan tâm lui tới (Trang 65)
Hình 3.6: Lễ hội đền Suối Mỡ   Làng  Dùm  có  ngôi  đình  to  cách  đền  hơn  1  km  về  phía  đông - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.6 Lễ hội đền Suối Mỡ Làng Dùm có ngôi đình to cách đền hơn 1 km về phía đông (Trang 66)
Hình 3.7: Hội thi dệt thổ cẩm ở bản Khe Nghè- Lục Sơn-Lục Nam - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.7 Hội thi dệt thổ cẩm ở bản Khe Nghè- Lục Sơn-Lục Nam (Trang 72)
Hình 3.8: Trang trại chăn nuôi vịt trời   Nơi “Trời cho vịt” là Hồ Cây Đa thuộc thôn Đoàn Tùng xã Đông Phú huyện  Lục  Nam tỉnh  Bắc  Giang,  hồ  rộng  mênh  mông,  xung  quanh  là  những  khu  đồi  cây  cối um tùm xanh tốt - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.8 Trang trại chăn nuôi vịt trời Nơi “Trời cho vịt” là Hồ Cây Đa thuộc thôn Đoàn Tùng xã Đông Phú huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang, hồ rộng mênh mông, xung quanh là những khu đồi cây cối um tùm xanh tốt (Trang 74)
Hình 3.9: Trứng kiến  Khi những đợt mưa dài kết thúc là lúc loài kiến bước vào thời kỳ làm tổ và  sinh sản, những "tòa lâu đài” kiến có màu đen, to bằng chiếc mũ cối nằm chót vót  trên  ngọn  cây  được  người  dân  gom  để  lấy  trứng - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Hình 3.9 Trứng kiến Khi những đợt mưa dài kết thúc là lúc loài kiến bước vào thời kỳ làm tổ và sinh sản, những "tòa lâu đài” kiến có màu đen, to bằng chiếc mũ cối nằm chót vót trên ngọn cây được người dân gom để lấy trứng (Trang 75)
Bảng 3.2: Cơ sở ăn uống và lưu trú - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Bảng 3.2 Cơ sở ăn uống và lưu trú (Trang 82)
Bảng 3.3: Một số tiêu chí thể hiện của du khách về DLNT Lục Nam - Giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại huyện lục nam   tỉnh bắc giang
Bảng 3.3 Một số tiêu chí thể hiện của du khách về DLNT Lục Nam (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w