1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

11 675 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 261,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp của sinh viên mới ra trường:...3 1/ Công tác đào tạo và hướng nghiệp cho sinh viên còn nhiều hạn chế...3 2/ Sinh viên không thực sự có khả năng,

Trang 1

Đề tài :

THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP

CỦA SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG

GVHD : Th.S NGUYỄN THANH MINH

Trang 2

M C L C ỤC LỤC ỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

I Thực trạng việc làm của người lao động có trình độ cao: 2

II Nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp của sinh viên mới ra trường: 3

1/ Công tác đào tạo và hướng nghiệp cho sinh viên còn nhiều hạn chế 3

2/ Sinh viên không thực sự có khả năng, thiếu kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm 3

3/ Định hướng không rõ ràng, chọn ngành nghề theo chiều hướng dư luận mà không phải theo sở thích và năng lực bản thân 3

4/ Sinh viên bị động, thiếu kỹ năng khi đi xin việc 4

5/ Cạnh tranh trong thị trường việc làm quá lớn 4

6/ Trình độ ngoại ngữ và tin học chưa cao 4

III Những ảnh hưởng của vấn đề thất nghiệp: 4

IV Hướng giải quyết vấn đề thất nghiệp cho những sinh viên mới ra trường: 5

KẾT LUẬN 7

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Từ lâu, sinh viên tốt nghiệp ra trường và bài toán việc làm đã không còn là câu chuyện riêng của bản thân người trong cuộc mà đã trở thành một vấn nạn chung làm đau đầu các chuyên gia, các nhà quản lý và cả xã hội Vấn đề việc làm luôn là gánh nặng của sinh viên sau những năm miệt mài đèn sách và đã trở thành một vấn nạn chung của xã hội

Hiện nay, nghịch lý là bộ phận người lao động được đào tạo có trình độ chuyên môn kĩ thuật cao thì có tỷ lệ thất nghiệp qua hằng năm ngày càng tăng, thậm chí có những tình huống người có bằng cử nhân, thạc sĩ phải “giấu” bằng đi làm công nhân Làn sống toàn cầu hóa ngày càng lan rộng, chúng ta không chỉ cạnh trạnh với nguồn lao động trong nước mà còn cạnh trạnh với nguồn lao động quốc tế Sự phát triển của khoa học kĩ thuật còn mang tới sự cạnh tranh khốc liệt giữa con người với máy móc, robot Nhiều bạn sinh viên ra trường để tránh khỏi cơn bão thất nghiệp phải chấp nhận làm trái ngành nghề mình được đào tạo, không đáp ứng với trình độ đã được đào tạo và nguyện vọng của bản thân Cử nhân thất nghiệp, hay kiếm sống bằng những công việc trái ngành nghề là sự lãng phí công sức, tiền bạc của gia đình và bản thân họ mà đó còn là sự lãng phí chất xám, tài năng của cả xã hội

Đây là một vấn đề cần được quan tâm và có những hướng giải quyết đúng đắn,

kịp thời Chính vì thế, chúng em quyết định baó cáo đề tài: “Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường” nhằm làm rõ thực trạng hiện tại, nguyên nhân, những

ảnh hưởng và đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng trên



Trang 4

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

I Thực trạng việc làm của người lao động có trình độ cao:

Trong Q2/2016, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ 3 tháng trở lên đứng ở mức 14,60% Đáng chú ý là mức độ thất nghiệp thanh niên tăng dần theo trình độ chuyên môn kỹ thuật đạt được, nghĩa là những thanh niên

có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì tình trạng thất nghiệp của họ càng cần được lưu tâm hơn Ví dụ như tỷ lệ thất nghiệp thanh niên trình độ cao đẳng và đại học trở lên hiện lần lượt là khoảng 13,77% và 20,72% Trong khi tỷ lệ này là thấp hơn đáng

kể cho nhóm thanh niên có trình độ sơ cấp hoặc trung cấp (chỉ khoảng 6,27% và 11,60%) (Hình 2) Điều này có thể do thanh niên có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao (cao đẳng, đại học và trên đại học) tuổi từ 20 đến 24, vừa tốt nghiệp, chưa có đủ kinh nghiệm nên khó khăn trong tìm việc làm trình độ phù hợp

Hình 2 Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ

3 tháng trở lên theo trình độ đào tạo, Quý II/2016

(Nguồn: Tổng cục thống kê)

Thông tin được công bố tại hội thảo "Đổi mới công tác đào tạo nhân lực cho các khu công nghiệp và khu chế xuất ở Việt Nam" diễn ra sáng 26/5/2016 tại TP.HCM Ông Bùi Thế Đức, phó trưởng Ban tuyên giáo Trung ương cho biết, chỉ trong Q1/2016, có 225.000 người trình độ từ cử nhân trở lên thất nghiệp Đây là một con số đáng báo động cho thấy số người lao động có trình độ cao không tìm được việc làm đang ngày một tăng cao

Cùng quan ngại về tình hình trên, đài truyền hình Việt Nam VTV cho hay: Tại

Việt Nam hiện nay, cứ 100 người thất nghiệp thì trong đó có tới gần 18 người là cử nhân và thạc sĩ VTV có cuộc trao đổi với PSG.TS.Vũ Quang Thọ - Viện trưởng Viện Công nhân - Công đoàn đánh giá, đây là hiện tượng chỉ có ở thị trường lao động Việt Nam: “Ở Việt Nam hiện nay, tỷ lệ người lao động trình độ bậc cao đang tăng lên tạo

ra bất cập trong thị trường lao động Cần phân tích khả năng hấp thụ của thị trường Việt Nam đối với lao động đã qua đào tạo Việc áp tỷ lệ đào tạo bậc cao khoảng 25-30% ở các nước phát triển vào thị trường Việt Nam là không đúng” – ông Vũ Quang Thọ khẳng định

[2]

Trình độ CMKT Toàn quốc

Đại học trở lên 20.7%

Trang 5

Thêm một nghịch lý khác, theo báo Đài Tiếng nói Việt Nam VOV: Hội thảo khoa học Quốc gia đào tạo giáo viên (GV) tại các trường đại học đa ngành, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay vừa công bố, tính đến năm 2020, dự kiến Việt Nam

sẽ thừa khoảng 70.100 sinh viên sư phạm tốt nghiệp (41.000 GV cấp Tiểu học, 12.200 cấp THCS và 16.900 cấp THPT) Một con số khiến ai nhìn vào cũng cảm thấy giật mình, lo ngại cho số phận sinh viên không thể tìm được việc làm sau khi ra trường và gánh nặng của xã hội Mặc dù, từ năm 2013 đến nay, Bộ GD&ĐT yêu cầu mỗi năm phải giảm 10% chỉ tiêu tuyển sinh ngành sư phạm Tuy nhiên, sau 2 năm, mỗi năm, cả nước vẫn có khoảng 4.000 sinh viên ra trường không có việc làm

Trang 6

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

II Nguyên nhân gây ra tình trạng thất nghiệp của sinh viên mới ra trường:

1/ Công tác đào tạo và hướng nghiệp cho sinh viên còn nhiều hạn chế

Hệ thống giáo dục đang đào tạo những ngành nghề và kỹ năng nhà trường có chứ không đào tạo ngành nghề xã hội cần Trong khi đó, thị trường lao động vẫn luôn

“khát” nhân sự, đặc biệt ở nhóm có chuyên môn cao và thợ kỹ thuật lành nghề Chỉ tiêu đào tạo, các ngành học, quá trình dạy và học chưa gắn với thực tiễn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, dẫn đến đào tạo thừa sinh viên các ngành học mà xã hội cần ít và ngược lại

Bên cạnh đó, các trang thiết bị hỗ trợ cho việc học tập cũng như việc tư vấn định hướng nghề nghiệp ở một số trường bị hạn chế dẫn đến các bạn trẻ thiếu thông tin và khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm

2/ Sinh viên không thực sự có khả năng, thiếu kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm

Xã hội phát triển, nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng, tiêu chí tuyển nhân sự của các nhà tuyển dụng cũng ngày càng cao, đòi hỏi các bạn phải trang bị đầy đủ về mọi mặt, đặc biệt là kỹ năng mềm Đa số các bạn sinh viên ra trường đều thiếu về kỹ năng mềm do trong quá trình học ở giảng đường, các bạn thường chỉ chú tâm vào chuyên môn ngành, hoặc tốn thời gian cho những trò giải trí mà không trang bị tốt cho mình các kỹ năng mềm Vì thế các bạn đổ xô đi học bằng này bằng kia mà không hề biết rằng ngoài những yêu cầu trên, các chủ doanh nghiệp nhất là công ty nước ngoài luôn chú trọng đến là những kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức công việc, tư duy trong mọi tình huống, giải quyết nhanh những khó khăn, vướng mắc

3/ Định hướng không rõ ràng, chọn ngành nghề theo chiều hướng dư luận mà không phải theo sở thích và năng lực bản thân.

Nhiều sinh viên không có định hướng rõ ràng về ngành nghề trước khi lựa chọn trường Đại học hoặc Cao đẳng dẫn đến xác định sai ngành học Ở Việt Nam, đa số việc chọn nghề của sinh viên phụ thuộc rất nhiều vào quyết định của các bậc phụ huynh Với tâm lý luôn muốn bảo vệ, che chở con, các bậc cha mẹ thường thiên về những ngành “an toàn”, mang lại danh tiếng như kĩ sư, bác sĩ,… Mặt khác, nhiều bạn trẻ cũng chạy theo xu hướng thị trường, lựa chọn những ngành nghề “hot” để theo kịp bạn bè chứ không thực sự vì đam mê và đúng sở trường Do đó dẫn đến việc lựa chọn chuyên ngành trở nên khó khăn và cũng làm cho không ít bạn phải chuyển trường, chuyển ngành khi đang học trên giảng đường, điều này vừa tốn tiền bạc, thời gian và công sức

[4]

Trang 7

4/ Sinh viên bị động, thiếu kỹ năng khi đi xin việc

Sinh viên thường có thói quen học theo lối mòn, chờ đợi kiến thức từ giảng viên đưa xuống mà không chủ động tìm tòi, học hỏi, lười tìm kiếm thông tin chuẩn bị cho môn học cũng như áp dụng những gì đã học vào thực tiễn cuộc sống Với cách học này, sinh viên dễ rơi vào tình trạng thụ động, không những không nắm được kiến thức mà còn quen với tính cách lười nhác, thiếu chủ động trong tất cả các công việc và

sẽ không có nhà tuyển dụng nào lại muốn bỏ tiền ra để mời một nhân viên máy móc, lười nhác và không có tinh thần cầu tiến trong công việc về làm

Ngoài ra còn là tâm lý kén chọn, quá kỳ vọng nhiều vào tấm bằng đại học mà mình đang có Tâm lý “kén cá chọn canh”, ngại làm những việc nhỏ bé, thậm chí là lặt vặt Dẫn đến hiện nay diễn ra một nghịch lý hết sức phổ biến tại các trung tâm là lao động phổ thông và công nhân dễ tìm việc hoặc tìm được những công việc có thu nhập cao Trong khi đó, lao động có trình độ đại học, cao đẳng lại khó xin việc hơn

5/ Cạnh tranh trong thị trường việc làm quá lớn

Hằng năm, có hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp ra trường, trong đó, cùng một ngành cũng có hàng trăm sinh viên cần việc làm, đó là chưa kể đến đã có sẵn nguồn nhân lực trong thị trường lao động, trong khi chỉ tiêu tuyển dụng của các công ty lại

có giới hạn dẫn đến hàng loạt sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm trái ngành Bên cạnh đó, thực tế hiện nay các nhà tuyển dụng có xu hướng tuyển những người có kinh nghiệm trong khi sinh viên mới ra trường lại không có được điều đó

6/ Trình độ ngoại ngữ và tin học chưa cao

Ngày nay, đất nước càng ngày càng phát triển, khoa học công nghệ phát triển không ngừng và hội nhập là điều tất yếu Do đó, ngoại ngữ được xem như tấm vé thông hành và tin học được xem như là điều kiện cần trong hầu hết tất cả các ngành nghề hiện đại Thực tế, các sinh viên đều được học tiếng anh cũng như tin học ở trường nhưng do thái độ không chủ động học tập cũng như không áp dụng thực tế và thường xuyên sử dụng dẫn đến đa số sinh viên ra trường thiếu kỹ năng tiếng anh và tin học

Trang 8

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

III Những ảnh hưởng của vấn đề thất nghiệp:

Thất nghiệp là một vần đề nan giải của nền kinh tế thị trường cho dù quốc gia

đó có trình độ phát triển kém hay cao Trước hết là thất nghiệp giáng một đòn rất mạnh vào tâm lý và đời sống mọi người từ đó ảnh hưởng mãnh liệt đối với xã hội Thất nghiệp dễ gây tâm lý chán nản, bi quan, xung đột gia đình, nhiễm các thói hư tật xấu làm trầm trọng thêm các tệ nạn xã hội như: rượu chè, cờ bạc, trộm cắp, cướp của, gây bất ổn xã hội Thất nghiệp đồng nghĩa với không có khả năng hoặc khả năng chi trả kém cho các khoản chi phí sinh hoạt chăm sóc sức khỏe giáo dục dẫn đến chất lượng cuộc sống thấp

Thất nghiệp làm kinh tế kém phát triển, dẫn đến nhu cầu xã hội giảm, hàng hóa dịch vụ không có người tiêu dung, cơ hội kinh doanh ít ỏi, nguồn thu từ thuế giảm Bên cạnh đó nhà nước phải bỏ ra một khoản lớn chi phí an sinh xã hội, trợ cấp như bảo hiểm thất nghiệp, mở các lớp đào tạo dạy nghề,… dẫn đến ngân sách hạn hẹp không thể mở rộng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế Ngoài ra thất nghiệp còn gây sức ép lên người lao động buộc họ phải chấp nhận điều kiện môi trường làm việc với lương và đãi ngộ thấp, lựa chọn công việc không phù hợp với sở thích trình độ bản thân, hạn chế cơ hội thăng tiến

[6]

Trang 9

IV Hướng giải quyết vấn đề thất nghiệp cho những sinh viên mới ra trường:

1/ Đối với các tổ chức đào taọ, các cơ quan chức năng và xã hội:

a/ Nâng cao chất lượng nguồn lao động, dễ vào khó ra

Việc quan trọng nhất là nâng cao chất lượng sinh viên tốt nghiệp, trọng chất lượng chứ không phải số lượng Cần hạn chế và hết sức cân nhắc trong việc mở thêm các trường đại học, cao đẳng, thay vào đó là tập trung đào tạo chuyên sâu trong các trường nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội Có như thế sinh viên đào tạo ra mới chất lượng

và sau khi ra trường, sinh viên sẽ dễ tìm được việc làm phù hợp hơn

b/ Thiết lập cơ chế phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo

và người học

Thiết lập cơ chế phối hợp giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo và người học trong việc nắm bắt nhu cầu sử dụng, đặt hàng đào tạo cung ứng nguồn lao động cho xã hội Đây là một vấn đề quan trọng và hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay Sự phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở đào tạo

và người lao động sẽ là chìa khóa then chốt giải quyết triệt để vấn đề trên

c/ Cải cách giáo dục

Tiến hành hiệu quả các dự án hỗ trợ đào tạo giảng viên; xây dựng cơ chế xác định chỉ tiêu tuyển sinh đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học hàng năm trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động, năng lực đào tạo và tỷ lệ người học tốt nghiệp có việc làm của cơ sở đào tạo; chỉ đạo các cơ sở đào tạo đầu tư nâng cao điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, hợp tác với đơn vị sử dụng lao động để xây dựng chương trình đào tạo cân đối giữa lý thuyết và thực hành, xây dựng chuẩn đầu ra, hỗ trợ sinh viên thực tập và đánh giá sinh viên tốt nghiệp theo yêu cầu của thị trường lao động

Trang 10

Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường

2/ Đối với sinh viên:

a/ Chọn nghề phù hợp:

Điều quan trọng nhất khi chọn một ngành học hay một nghề không phải là nghề đó thu nhập cao hay nhiều tiềm năng hơn nghề khác mà chính là bạn có thật sự yêu thích đam mê ngành/nghề đó hay không? Khi chọn ngành/nghề thì đừng chịu ảnh hưởng của bất kì ai mà hãy lắng nghe, lựa chọn theo con tim của mình Chính sự đam

mê và nhiệt huyết âý là nguồn động lực để giúp bạn kiên trì, phấn đấu trong nghề đã chọn

b/ Đặt mục tiêu:

Để đạt được hoài bão trong bất kì việc gì, bạn cần xác định mục tiêu cho từng giai đoạn, từng năm và từng tháng Mục tiêu của bạn cần hết sức cụ thể và phải xây dựng lộ trình rõ ràng thì mới có thể đạt được

c/ Thực tập để có thêm nhiều kinh nghiệm trong công việc:

Các cơ hội thực tập ở các công ty, doanh nghiệp giúp cho sinh viên hình dung được công việc mình sẽ làm sau khi tốt nghiệp Thay vì làm thêm một việc gì đó ngoài chuyên môn, bạn nên tìm cho mình những cơ hội thực tập ở lĩnh vực đang theo học

Đó là cơ hội để chúng ta học hỏi kinh nghiệm

d/ Đầu tư cho việc học ngoại ngữ:

Thời đại mở cửa, hòa nhập với thế giới bên ngoài bạn cần có thêm ít nhất một ngoại ngữ Đó là một lợi thế rất lớn cho bạn khi đi xin việc, học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu tinh hoa, văn hóa của các nước trên thế giới

e/ Nâng cao kĩ năng mềm:

Việc tham gia các hoạt động xã hội, các câu lạc bộ hoặc đi làm thêm sẽ giúp bạn có thêm những kĩ năng về giao tiếp, ứng xử, cách sắp xếp, quản lý thời gian, tư duy trong mọi tình huống, giải quyết nhanh những khó khăn, vướng mắc

f/ Chủ động tìm việc:

Trong thị trường việc làm ngày càng khốc liệt như hiện nay thì các công ty, cơ quan và doanh nghiệp luôn đề cao tính năng động, cạnh tranh lành mạnh của các ứng viên Tận dụng tối đa những mối quan hệ, đồng thời xây dựng, tạo thêm những mối quan hệ mới, bạn sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn Hãy thể hiện sự khác biệt của bạn

để nhà tuyển dụng thấy vì sao nên chọn bạn giữa người ứng tuyển

[8]

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ - Thực trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi ra trường
Hình 2. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w