1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng học phí và nguồn tài chính giáo dục đại học của một số nước trên thế giới

16 234 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 30,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂNBÀI TẬP MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG Đề tài: Thực trạng học phí và nguồn tài chính giáo dục đại học của một số nước trên thế giới... Theo bạn, việc tăng học phí ở

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

BÀI TẬP MÔN KINH TẾ CÔNG CỘNG

Đề tài: Thực trạng học phí và nguồn tài chính giáo dục đại học

của một số nước trên thế giới.

Trang 2

Theo bạn, việc tăng học phí ở một số trường đại học công lập hiện nay ở Việt nam ảnh hưởng như thế nào tới tính công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học? Có gợi ý giải pháp gì cho vấn đề này.

pg 2

Trang 3

Mục lục

Phần 1: Thực trạng học phí và nguồn tài chính giáo dục đại học của một số nước trên thế giới.

1 Thực trạng học phí của một số nước trên thế giới (chủ yếu

là các nước phát triển)

2 Nguồn tài chính giáo dục đại học

Phần 2: Việc tăng học phí ở một số trường đại học công lập hiện nay ở Việt nam ảnh hưởng tới tính công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học

1 Học phí của một số trường đại học công lập ở Việt Nam

2 Nguyên nhân tăng học phí

3 Tính công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học ở Việt Nam

4 Tác động của việc tăng học phí đến sinh viên, gia đình

Phần 3: Gợi ý, giải pháp

Trang 4

Phần 1 : Thực trạng học phí và nguồn tài chính giáo dục đại học của một số nước trên thế giới

pg 4

Trang 5

1 Thực trạng học phí của một số trường đại học trên thế giới:

- Học phí của các trường đại học trên thế giới có sự khác nhau Mức học phí cũng khác nhau giữa các ngành học trong trường hay giữa các trường

- Ở các nước phát triển, học phí ở các trường đại học là rất cao Đặc biệt là các trường thuộc top đầu thế giới

VD: đại học Harvard có mức học phí là 59,550 USD/năm (1,3 tỷ VND/năm), đại học Stanford là 43,331 USD/năm (gần 1

tỷ VND/năm), đại học Quốc gia Australia là 27,000 USD/năm (gần 600 triệu VND/ năm)

- Học phí của các trường đại học tư thục cao hơn học phí của các trường công

VD: Viện Công nghệ California có mức học phí khoảng 45,846 USD/năm(khoảng 1 tỷ VND/năm), đại học Chicago là 50,997 USD/năm (hơn 1 tỷ VND/năm), đại học California có mức học phí là 13,510 USD/năm.(khoảng 300 triệuVND/năm)

- Một số trường đại học công lập thu học phí khác nhau giữa từng đối tượng sinh viên,tuy nhiên các trường tư thục thu học phí như nhau giữa các sinh viên

VD: Đại học Oxford thu học phí đối với sinh viên Anh

là 9000 bảng Anh (khoảng 11,800 USD/năm), thu từ 15,300 đến 22,500 USD/năm (400 triêu - 500 triệuVND/năm) đối với sinh viên các nước khác; đại học Cambrigde thu học phí đối với sinh viên Anh và các nước thuộc EU khoảng 9000 bảng Anh, sinh viên các nước ngoài EU từ 23,198 đến 35,310 USD/năm ( 500 đến 800 triệu VND/năm)

Trang 6

- Với các trường đại học nằm ở top sau, mức học phí không cao bằng các trường đại học top đầu, nhưng cũng dao động trong khoảng từ 3,000 đến 20,000 USD/năm (khoảng 66 triệu đến gần

500 triệu VND/năm)

- Ngoài ra một số trường đại học ở các nước Châu Âu như Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Na Uy, Tây Ban Nha, thu học phí thấp hoặc không thu phí đối với sinh viên

- Nói chung, hầu hết các trường đại học trên thế giới đều thu học phí cao Đặc biệt là những trường có danh tiếng Việc thu học phí cao cũng đi cùng với chất lượng đào tạo và điều kiện học tập tốt hơn Sinh viên ra trường có thể tìm được công việc ổn định

- Dù với mức học phí cao nhưng sinh viên có thể tìm các nguồn

hỗ trợ tài chính từ các chương trình học bổng một phần, toàn phần của trường hay của bang, của chính phủ hay từ các quỹ học bổng, quỹ thiện nguyện từ các tổ chức hoặc vay từ quỹ của nhà nước

pg 6

Trang 7

2 Nguồn tài chính của các trường đại học trên thế giới:

Để duy trì hoạt động thì nguồn thu tài chính là hết sức quan trọng Hiện nay, các cơ sở giáo dục ở các nước trên thế giới nhận hỗ trợ tài chính từ các nguồn khác nhau,bao gồm:

- Kinh phí nhà nước phân bổ cho hoạt động, đặc biệt là giảng dạy và nghiên cứu khoa học Với các trường công lập trên thế giới, nguồn thu này chiếm khoảng 80-90% tổng nguồn thu tài chính của trường Tuy nhiên, nguồn thu này không ổn định và thường bị cắt giảm do ngân sách nhà nước có hạn

- Kinh phí phân bổ cho nghiên cứu hoặc hỗ trợ cho các dự án nghiên cứu từ các nguồn khác nhau

- Học phí và các loại phí khác thu được từ sinh viên trong nước

và sinh viên nước ngoài

- Nguồn thu từ các hợp đồng nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, hợp đồng đào tạo, dịch vụ tư vấn, bản quyền, cho thuê bằng sáng chế, xuất bản sách,

- Thu từ các hoạt động dịch vụ trong khuôn viên nhà trường phục vụ giảng viên, sinh viên và cộng đồng VD như thu chi phí

ăn ở ký túc đối với sinh viên, chi phí chăm sóc y tế ở trường,

- Nguồn thu từ hiến tặng, nhận tài trợ, quà biếu từ các cựu sinh viên của trường và các quỹ thiện nguyện

Ở một số trường tư thục, ngân sách của nhà nước, liên bang gần như không có

Trang 8

Ngoài nguồn thu từ các khoản trên, các trường tư thục còn thực hiện các chiến lược kinh doanh, đầu tư để đảm bảo cho tổng nguồn thu được ổn định

VD, Đại học Harvard bên cạnh việc thu học phí từ các sinh viên giàu có và các khoản tài trợ cho trường, Harvard còn có Harvard Business Publishing, cơ quan chủ quản của tạp chí kinh doanh Harvard Business Review Tạp chí này kiếm tiền bằng cách tung ra hàng loạt các nghiên cứu chuyên sâu từ cách kiếm tiềm của Lady Gaga, chuyện kinh doanh của Manchester United hay bán sản phẩm Case Study, mang lại doanh thu hàng tỉ USD mỗi năm Harvard cũng thực hiện nhiều khoản đầu tư sinh lời thông qua công ty Harvard Management Company vào các lĩnh vực như cổ phiếu, tài sản có thu nhập cố định, bất động sản…

- Nguồn thu của các trường đại học để chi trả cho các khoản chi thường xuyên Đó là các hoạt động giảng dạy đào tạo, nghiên cứu khoa học, các dịch vụ của

nhà trường, quỹ học bổng dành cho sinh viên và các khoản chi không thường xuyên đến từ hoạt động xây dựng, cải tạo trường

pg 8

Trang 9

Phần 2:Việc tăng học phí ở một số trường đại học công lập hiện nay ở Việt nam ảnh hưởng tới tính công bằng trong tiếp cận giáo dục đại học:

Trang 10

1 Học phí của một số trường đại học:

Học phí năm 2015-2016 tăng cao ở nhiều trường đại học, đặc biệt là các trường có tiếng như trường Kinh tế Quốc dân, Ngoại thương, Bưu chính viễn thông Điều này đã gây xôn xao dư luận một thời gian dài

Sau đây là số tiền 1 tín chỉ mà sinh viên phải đóng ở một số trường đại học của nước ta hiện nay:

pg 10

Trang 11

2 Nguyên nhân tăng học phí:

trì hoạt động của các trường ĐH Tuy nhiên,hầu hết các trường đại học trong nước có ngân quỹ hạn hẹp, không đủ để duy trì hoạt động của trường

+ Một số trường đại học được chính phủ cho phép tự chủ về tài chính, tự chủ về thu và chi

sinh viên nghèo đạt thành tích xuất sắc trong học tập khi mà nhà trường không có đủ nguồn lực

đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất khi mà ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục chỉ có hạn và không ổn định

Trang 12

3 Việc tăng học phí ảnh hưởng tới tính công bằng trong

tiếp cận giáo dục đại học:

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp cận ĐH của học sinh, như trình độ học vấn, nguồn thông tin, động cơ theo học, nền tảng văn hóa của gia đình và trình độ giáo dục của cha mẹ trong đó có quan niệm về giới, đặc điểm vùng miền, môi trường

xã hội, và khả năng tài chính của gia đình

Ở đây nhóm xem xét đến yếu tố khả năng tài chính

Để đánh giá mức độ công bằng trong cơ hội tiếp cận ĐH, có nhiều chỉ số khác nhau chẳng hạn tỉ lệ sinh viên nữ trên tổng số (GPI), tỉ lệ sinh viên ở mỗi nhóm thu nhập khác nhau, có hoàn cảnh kinh tế- xã hội khác nhau trên dân số (EEI), v.v Một chỉ số

có tính chất tổng hợp là chỉ số tiếp cận giáo dục (EAI) xác định bằng tỉ lệ nhập học trên dân số, tỉ lệ sinh viên nữ trên số người học, tỉ lệ hoàn thành bậc học, và chỉ số công bằng, với trọng số 25:10:25:40 (Usher and Cervenan 2005)

Theo kết quả tổng điều tra mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê năm 2012[1] thì hiện đang có mức khác biệt rất cao trong khả năng tiếp cận ĐH giữa các nhóm thu nhập khác nhau

ở Việt Nam: Số người có bằng đại học trong độ tuổi 25-34 chỉ chiếm 0,4% trong nhóm thu nhập thấp nhất, trái lại, con số này ở nhóm thu nhập cao nhất là 20,1% So với, hai con số này của năm 2006 là 0,2 và 14,1 ta có thể thấy cả hai nhóm đều tăng, và tuy khoảng cách có được thu hẹp lại, cũng vẫn còn rất xa

Thêm nữa, xét riêng chỉ số công bằng giáo dục (EEI – phản ánh khả năng có được bằng ĐH trong các nhóm dân số khác nhau), thì con số này trong cả nước là 37,76%, kém xa so với các nước

pg 12

Trang 13

phát triển như Hà Lan, Anh, Canada, Mỹ lần lượt là 67%, 64%, 63%, 57% Quan trọng hơn, xét cụ thể theo các nhóm thu nhập khác nhau, thì ở ngũ phân vị thu nhập thấp nhất khả năng này hầu như bằng không Với nhóm thu nhập trung bình thấp chỉ số này là 31,61; và với nhóm thu nhập cao nhất là 60,66 Đó chính

là lý do nhóm cho rằng hiện nay phần lớn sinh viên không thuộc những gia đình nằm trong tầng lớp thu nhập thấp nhất

Thống kê trên cho chúng ta thấy mối tương quan giữa thu nhập

và trình độ học vấn, nhưng không nói lên quan hệ nhân quả Nó cho chúng ta biết là trong nhóm người giàu thì có nhiều người

có bằng ĐH hơn, nhưng điều này không có nghĩa là những người đang đi học ĐH phần lớn là người giàu Nói các khác, mặc dù tỉ lệ người giàu có bằng đại học cao hơn, nhưng phần lớn người học ĐH hiện nay vẫn là từ những gia đình không giàu, thậm chí theo quan sát của nhiều người, hầu hết sinh viên trong các trường ĐH ở Việt Nam là từ gia đình có thu nhập thấp hoặc trung bình, chỉ một thiểu số là từ gia đình khá giả Những người giàu thực sự thì con cái đã đi học ở nước ngoài, hoặc ít ra là những trường tư học phí rất cao trong nước Do đó việc tăng học phí, sẽ ảnh hưởng lớn đến rất nhiều sinh viên (và rộng ra là rất nhiều gia đình) Nếu chúng ta tính đến một thực tế là, càng nghèo, thì người dân càng tha thiết cho con vào ĐH để mong thoát khỏi cuộc sống lầm than, thì sẽ thấy không ít gia đình đã phải bán nhà cửa, ruộng vườn, vay mượn để con cái theo đuổi việc học

Rất tiếc là chúng ta không có số liệu thống kê cả nước để biết tỉ

lệ sinh viên từ các nhóm gia đình thu nhập khác nhau cụ thể như thế nào Con số này vô cùng quan trọng để biết rằng, khi học phí

Trang 14

tăng, thì có bao nhiêu phần trăm sẽ được nhận học bổng, và bao nhiêu sẽ phải bỏ học

Có một thực tế là khả năng chi trả của người dân rất có giới hạn

Về mặt tài chính, có hai lý do trực tiếp dẫn đến hiện trạng khả năng theo đuổi ĐH rất thấp trong nhóm thu nhập thấp Một là chi phí theo học ĐH trường công hiện chiếm 96,89% tổng thu nhập của một gia đình thu nhập thấp (dưới 5 triệu đồng/tháng), còn nếu học trường tư thì chiếm đến 122,12% Trong lúc đó, với gia đình thu nhập trên 10 triệu đồng/tháng thì chi phí học trường công chỉ chiếm 23,51% và trường tư là 32,67% Nếu tính riêng học phí, thì học phí trường công chiếm 16,77% tổng thu nhập của gia đình thu nhập thấp, trường tư chiếm 40,70%

Rõ ràng khả năng chi trả là một rào cản đáng kể Tuy nhiên, lý

do thứ hai mới thật là quan trọng và đáng chú ý: tương quan giữa chi phí và lợi ích Hiển nhiên là đối với mọi gia đình, chi phí theo học đại học là một khoản đầu tư cho tương lai Vậy khoản đầu tư này mang lại lợi ích gì so với chi phí sẽ phải bỏ ra? Tổng cục Thống kê có một báo cáo phân tích mối tương quan giữa thu nhập và học vấn dựa trên số liệu điều tra năm 2009, tuy nhiên báo cáo này không cho biết cụ thể tỉ lệ hoàn vốn của học vấn ĐH Một nghiên cứu của Nguyễn Xuân Thành năm 2006 cho biết suất sinh lợi của việc học thêm một năm ở phổ thông trung học là 11,43% Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Phạm

Lê Thông năm 2011 về ảnh hưởng của trình độ học vấn đối với thu nhập, dựa trên số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2008 đã cho biết rằng tầm quan trọng của học vấn đối với thu nhập ngày càng được khẳng định trong kinh tế thị trường, nhưng so với các nước phát triển thì suất sinh lợi ở Việt Nam thấp hơn nhiều

pg 14

Trang 15

4 Tác động của việc tăng học phí tới sinh viên và gia đình.

- Sinh viên phải đi làm thêm kiếm tiền trang trải học phí, gây ra một số ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, tinh thần học tập của sinh viên VD thời gian dành cho việc học ít đi, thiếu ngủ dẫn đến ngủ gật trên lớp, thậm chí là thường xuyên nghỉ hoc

- Gia tăng áp lực cho gia đình, bố mẹ phải làm việc vất vả hơn

để kiếm tiền nuôi con ăn học Có một số gia đình, bố mẹ phải đi làm ăn xa mới có tiền đóng học phí cho con

Trang 16

Phần 3:Gợi ý, giải pháp:

Khi các trường đại học tăng học phí lên cao, để sinh viên có thể tiếp cận với GDĐH thì nhóm xin gợi ý những giải pháp sau:

- Đối với sinh viên, nhà nước đã có những chính sách hỗ trợ vay vốn, mức trần vay vốn hiện nay là khoảng 5,5 triệu/ kỳ Tuy nhiên, với mức tăng học phí như hiện nay thì ngân hàng chính sách cần phải nâng mức trần cho sinh viên vay lên, để sinh viên

có thể chi trả cho mức tăng học phí

- Tăng mức hỗ trợ cho những sinh viên thuộc diện chính sách,

hộ nghèo

- Các trường đại học cần phải đa dạng hoá nguồn thu cho ngân quỹ của trường và giảm bớt phụ thuộc vào ngân sách nhà nước thông qua các hoạt động đầu tư, hợp tác, kinh doanh (kể cả cho thuê tài sản, đất, cơ sở vật chất) hay nghiên cứu khoa học của nhà trường Kêu gọi đầu tư từ các doanh nghiệp và các cựu sinh viên thành đạt trong trường, từ các tổ chức giáo dục trong nước

và thế giới

- Trường cần xây dựng quỹ học bổng lớn hơn từ việc tăng học phí để hỗ trợ học bổng giúp các học sinh xuất sắc theo học

pg 16

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w