1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

11 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 85,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn: là toàn bộ hoạt động vật chất, đối tượng – cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người với nội dung là chinh phục và cải biến các khách thể tự nhiên, xã hội

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA LÀM VI C NHÓM 9 Ệ

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Trang 2

MỞ BÀI

Những vấn đề triết học như lý luận thực tiễn, vai trò của thực tiễn đối với nhận thức luôn là cơ sở và phương hướng tôn chỉ cho hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triền xã hội Nếu xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn con người có thể có được những cách giải quyết phù hợp các vấn đề do cuộc sống đặt

ra Sau đây nhóm chúng em xin tìm hiểu về vấn đề: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức

Trang 3

I Khái niệm thực tiễn và nhận thức

I.1 Vấn đề thực tiễn.

I.1.1 Khái niệm thực tiễn.

Thực tiễn: là toàn bộ hoạt động vật chất, đối tượng – cảm tính, có mục đích,

có tính lịch sử - xã hội của con người với nội dung là chinh phục và cải biến các khách thể tự nhiên, xã hội và cấu thành cơ sở phổ biến, động lực phát triển của xã hội, của nhận thức con người

Thực tiễn có những đặc trưng sau:

- Thực tiễn là hoạt động của con người, nó là một quan hệ chủ thể - khách thể Bản chất của hoạt động thực tiễn là sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể Trong đó, cả chủ thể và khách thể đều là những đối tượng vật chất Ở đó, chủ thể tác động chủ động, có mục đích vào khách thể và biến đổi khách thể cho phù hợp với yêu cầu của mình, quá trình này không chỉ biến đổi khách thể mà biến đổi cả bản thân chủ thể

- Thực tiễn là hoạt động khách quan, cảm tính, hoạt động vật chất phổ biến Thực tiễn là hoạt động biến đổi hiện thực

- Thực tiễn là hoạt động căn bản, nền tảng của mọi hoạt động của con người

và xã hội

- Thực tiễn là hoạt động có tính lịch sử - xã hội: Tính lịch sử nghĩa là trong các giai đoạn lịch sử khác nhau thì hoạt động thực tiễn, cải tạo tự nhiên xã hội cũng khác nhau Tính xã hội nghĩa là hoạt động thực tiễn không phải hoạt động cá nhân đơn lẻ, tách rồi, mà phải gắn với cộng đồng, gắn với xã hội

1.1.2 Những hình thức thực tiễn cơ bản.

Theo lĩnh vực hoạt động có thể phân chia thực tiễn thành các hình thức:

Sản xuất vật chất: là hoạt động tạo ra các điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và

phát triển của xã hội Đây là hình thức cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định, chi phối các hoạt động còn lại

Hoạt động biến đổi xã hội: là hình thức cao nhất của hoạt động vật chất gồm

đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh cho hoà bình làm cho

xã hội ngày càng tiến bộ

Trang 4

Thực nghiệm khoa học: là hình thức đặc biệt của hoạt động nhận thức Đó là

hoạt động được diễn ra trong những điều kiện do con người đặt ra (điều kiện nhân tạo)

Trong ba hình thức này, sản xuất vật chất là hoạt động sớm nhất, quan trọng nhất, quyết định các hình thức khác; các hình thức còn lại cũng có ảnh hưởng quan trọng tới sản xuất vật chất

Trang 5

I.2 Vấn đề nhận thức.

1.2.1.Khái niệm nhận thức

Nhận thức: Theo quan điểm chủ nghĩa duy vật, nhận thức là quá trình phản

ánh thế giới hiện thực khách quan, trong đó có con người và cho rằng con người có khả năng nhận thức được thế giới khách quan

1.2.2.Các giai đoạn của nhận thức

Nhận thức cảm tính: là giai đoạn nhận thức được tạo nên do sự tiếp xúc trực

tiếp của các cơ quan cảm giác với sự vật, hiện tượng, đem lại cho con người hiểu biết về các đặc điểm bên ngoài của chúng

Ví dụ: Thông qua các giác quan (thị giác, khứu giác, vị giác) con người nhìn thấy quả quýt màu vàng, hình tròn, mùi thơm, vị ngọt

Nhận thức lí tính: là giai đoạn nhận thức tiếp theo, dựa trên các tài liệu do

nhận thức cảm tính đem lại, nhờ các thao tác của tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hoá tìm ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng

Ví dụ: Thông qua các thao tác tư duy có thể biết được lượng đường, lượng vitamin C trong quýt, biết được ăn quýt tốt cho sức khoẻ

Hai giai đoạn của quá trình nhận thức gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau trong quá trình nhận thức, nhằm phản ánh đúng đắn, đầy đủ các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan

1.2.3.Các nguyên tắc của nhận thức

Thứ nhất, thừa nhận thế giới vật chất khách thế giới khách quan, độc lập với ý

thức con người

Thứ hai, thừa nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người Nhận

thức là sự phản ảnh thế giới hiện thực khách quan vào bộ óc con người, nên không

có gì là không nhận thức được, chỉ có cái chưa nhận thức được

Thứ ba, nhận thức là quá trình biện chứng tích cực, tự giác, sáng tạo từ chưa

biết tới biết, biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất ngày càng sâu sắc hơn Đây là nguyên tắc cơ bản nhất, là nguyên tắc nền tảng của nhận thức

Thứ tư, thực tiễn là cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là động lực,

mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý

Trang 6

II Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.

2.1 Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức.

Thực tiễn thể hiện vai trò là cơ sở, động lực của nhận thức ở chỗ:

Thứ nhất, con người có nhu cầu tất yếu khác quan là giải thích và cải tạo thế

giới, điều này buộc con người phải tác động vào các sự vật, hiện tượng bằng hoạt đồng thực tiễn của mình Sự tác động đó làm cho sự vật, hiện tượng bộc lộ thuộc tính, tính chất, quy luật, mối quan hệ khác nhau giữa chúng Trên cơ sở đó, con

người có hiểu biết về chúng Như vậy, thực tiễn đã cung cấp “vật liệu, tài liệu”

cho nhận thức, giúp cho nhận thức năm bắt được bản chất, các quy luật vận động

và phát triển của thế giới Trên cơ sở đó hình thành nên các học thuyết khoa học

Ví dụ, việc đo được ruộng đất trong chế độ chiếm hữu nô lê ở Hy Lạp cổ đại

là cơ sở cho định lý toán học của Talét, Pitago hay các nhà toán học khác ra đời

Thứ hai, thực tiễn cũng là nơi rèn luyện giác quan của con người, từ đó giác

quan của con người ngày càng hoàn thiện hơn Việc rèn luyện các giác quan là cơ

sở cho chủ thể nhận thức thế giới khách quan hiệu quả hơn, năng lực tư duy logic ngày càng được phát triển

Ví dụ: Thông qua sản xuất, lao động cải tạo thế giới, những cơ quan cảm giác như thính giác, thị giác hay các giác quan khác của cơ thể được rèn luyện trở nên nhạy bén hơn với các kích thích đến từ thế giới khách quan

Thứ ba, thực tiễn còn là cơ sở tạo ra công cụ, máy móc, dụng cụ, các thiết bị

khác nhằm hỗ trợ con người nhân thức hiệu quả hơn Các phương tiện ngày càng hiện đại kéo theo nhận thức ngày càng hiện quả và chính xác

Ví dụ: Kính hiển vi, kính thiên văn, máy siêu âm, máy vi tính đều được sản xuất chế tạo trong hoạt động sản xuất vật chất – một hình thức cơ bản của thực tiễn Các thiết bị này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà khoa học để nghiên cứu về các hành tinh, vũ trụ, các ngành khoa học khác nhau Nhờ những thiết bị hỗ trợ này

mà con người đã nhận thức sự vật, hiện tượng đúng đắn hơn, khái quát lý luận tốt hơn Trên cơ sở đó thúc đẩy nhận thức phát triển

Thứ tư, thực tiễn luôn đặt ra nhu cầu, nhiệm vụ đòi hỏi nhận thức phải trả

lời Lịch sử đã chỉ ra rằng, các phát minh khoa học cũng như nhận thức nói chung

Trang 7

đều phát sinh từ thực tiễn luôn phát triển của con người, được xác định bởi nhu cầu của thực tiễn sống còn của con người

Ví dụ: Dịch bệnh Ebola xuất hiện đã đặt ra cho các nhà khoa học nhiệm vụ nghiên cứu tìm kiếm phương thuốc chữa trị đồng thời tìm ra cách thức phòng chống dịch bệnh lây lan hiệu quả Nói cách khác, chính thực tiễn là người đưa ra vấn đề cho nhận thức phải giải quyết và trên cơ sở đó thúc đẩy thức phát triển

Trang 8

2.2 Thực tiễn là mục đích của nhận thức.

Các tri thức khoa học chỉ có giá trị khi nó được vận dụng vào thực tiễn Nếu nhận thức không vì thực tiễn mà vì cá nhân, vì chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa

thành tích thì nhận thức sẽ mất phương hướng, thẩm chí phải trả giá Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã từng nói: “Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn thì chỉ là lý luận suông”.

Thực tiễn đóng vai trò là mục đích của nhận thức thể hiện ở chỗ: Nhận thức

bị chi phối bởi nhu cầu vật chất, tinh thần của con người Do vậy, mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân tri thức, mà là vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn để cải tạo hiện thực khách quan, đáp ứng các nhu cầu đó Những tri thức, kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa đích thực khi được vận dụng vào thực tiễn (vào sản xuất vật chất, vào cải tạo chính trị - xã hội, vào thực nghiệm khoa học) phục vụ con người Nói cách khác, chính thực tiễn là tiêu chuẩn đánh giá giá trị của tri thức – kết quả của nhận thức

Trang 9

2.3.Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra tri thức, là tiêu chuẩn của chân lý.

Chân lý là những tri thức của con người phù hợp với hiện thực khách quan, đã được thực tiển kiểm nghiệm

Thực tiễn chẳng những là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức mà nó còn đóng vai trò là tiêu chuẩn của chân lý, kiểm tra tính chân lý của qúa trình nhận thức

Điều này có nghĩa là thực tiễn là thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được trong nhận thức Đồng thời, thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức Triết học Mác-Lênin khẳng định: Chỉ có

thực tiễn mới là tiêu chuẩn của chân lý, vì “thực tiễn cao hơn nhận thức”, nó vừa

có “tính hiện thực trực tiếp”, lại vừa có “tính phổ biến” Người ta không thể lấy

nhận thức để kiểm tra nhận thức được, không thể lấy nhận thức này làm chuẩn để kiểm tra nhận thức khác Và cũng không thể lấy lợi ích là tiêu chuẩn chân lý vì trong xã hội, nhất là xã hội có giai cấp đối kháng, thì lợi ích của giai cấp là khác nhau thậm chí trái ngược nhau Cái lợi của giai cấp này, có thể là cái hại của giai cấp khác Vậy, chỉ có thực tiễn mới là tiêu chuẩn thực sự duy nhất của chân lý Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý vừa có tính tuyệt đối vừa có tính tương đối Tính tuyệt đối là ở chỗ: Thực tiễn là duy nhất làm tiêu chuẩn chân lý, ngoài

nó ra không có cái nào khác có thể làm tiêu chuẩn cho chân lý được Còn tính tương đối là ở chỗ: Thực tiễn ngay một lúc không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ được cái sai một cách tức thì Bởi nhận thức ra đời từ thực tiễn nhưng lại diễn ra ở từng người, từng thế hệ với những điều kiện chủ quan, khách quan khác nhau nên có thể dẫn tới sai lầm Hơn nữa bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển liên tục Thực tiễn hôm qua khác thực tiễn hôm nay Nên nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ thành chân lý vĩnh viễn, bất biến

Mác đã từng khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà

là một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”

Trang 10

Như vậy, thực tiễn chẳng những là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố

đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức phải luôn luôn hướng tới để thể nghiệm tính đúng đắn của mình

Nhấn mạnh vai trò đó, Lê-nin đã viết: “Quan điểm về đời sống, thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”

Trang 11

Kết Bài

Từ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, lý luận đòi hỏi chúng ta phải quán triệt quan điểm thực tiễn Việc nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn, dựa trên cơ sở thực tiễn, đi sâu vào thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn Nghiên cứu lý luận phải liên hệ thực tiễn, học phải đi đôi với hành Do vậy, lý luận và thực tiễn luôn phải thống nhất với nhau và trở thành nguyên tắc tối cao của hoạt động con người

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w