53 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ .... Thực trạng thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Đỗ Đình Sáng
THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nô ̣i – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
Đỗ Đình Sáng
THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÀNH ĐÔ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Nguyễn Hữu Thụ
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa trên kết quả khảo sát thực tế Các số liệu, trích dẫn đều
có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả luận văn
Đỗ Đình Sáng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới những người
đã giúp đỡ tôi Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Hữu Thụ Thầy đã hướng dẫn tận tình từ khi hình thành ý tưởng, triển khai thu thập tài liệu và viết kết quả nghiên cứu thành bản hoàn chỉnh Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy, cô trong khoa Tâm lý học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đã dạy tôi những tri thức khoa học từ khi tôi là học viên và tạo điều kiện cho tôi bảo vệ đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Phòng Quản lý sinh viên và thanh tra giáo dục, Trung tâm khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục, các giảng viên và các em sinh viên Trường Đại học Thành Đô đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn
Và cuối cùng là gia đình và bạn bè chính là nguồn động viên tinh thần quan trọng giúp tôi hoàn thành Luận văn này
Tôi sẽ luôn ghi nhớ và cảm kích trước sự giúp đỡ của mọi người trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu sau này
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Giả thuyết khoa học 4
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG, THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN 6
1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề thích ứng và thích ứng với hoạt động học tập 6
1.1 Nghiên cứu về thích ứng ở nước ngoài 6
1.2 Nghiên cứu về thích ứng ở Việt Nam 10
2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 15
2.1 Thích ứng 15
2.2 Thích ứng với hoạt động học tập 19
2.3 Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên 22
2.4 Các mặt biểu hiện sự thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên 30
2.5 Các yếu tố tác động đến thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên 35
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 39
Trang 62.2 Tổ chức nghiên cứu 43
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
Tiểu kết Chương 2 53
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
THÀNH ĐÔ 54
3.1 Thực trạng thích ứng chung của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ 54
3.1.1 Mức độ thích ứng chung 54
3.1.2 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện của thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô 56
3.2 Tích hợp kết quả nghiên cứu về thích ứng của sinh viên với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ thông qua 5 hành động học tập cơ bản 57
3.3 Thực trạng thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ qua các mặt biểu hiện cụ thể 59
3.4 Các yếu tố tác động đến thích ứng của sinh viên Trường đại học Thành Đô với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ 83
3.5 Một số biện pháp Tâm lý – Giáo dục nhằm nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ cho sinh viên Đại học Thành Đô 86
3.6 Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Đại học Thành Đô qua phân tích một số trường hợp điển hình 89
Tiểu kết chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Kiến nghị 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Đặc điểm về khách thể nghiên cứu 41 Bảng 3.1 Mức độ thích ứng chung của SV Trường Đại học Thành Đô 54 với hoạt động học tập theo HCTC 54 Bảng 3.2: Thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô thể hiện qua nhận thức về bản chất của HCTC 60 Bảng 3.3 Hành động thích ứng với xây dựng kế hoạch học tập thể hiện qua mặt nhận thức 62 Bảng 3.4: Hành động thích ứng với đăng ký môn học thể hiện qua mặt nhận thức 64 Bảng 3.5 Hành động thích ứng với học lý thuyết trên lớp thể hiện qua mặt nhận thức 65 Bảng 3.6: Hành động thích ứng với làm việc nhóm thể hiện qua mặt nhận thức 67 Bảng 3.7 Hành động thích ứng với tự học, tự nghiên cứu thể hiện qua mặt nhận thức 68 Bảng 3.8: Thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với việc xây dựng kế hoạch học tập thể hiện qua thái độ 70 Bảng 3.9: Thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với việc đăng ký môn học thể hiện qua thái độ 71 Bảng 3.10: Thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với việc học lý thuyết trên lớp thể hiện qua thái độ 72 Bảng 3.11 Thích ứng của sinh viên Đại học Thành Đô với làm việc nhóm thể hiện qua thái độ 73 Bảng 3.12 Thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô với hành động tự học thể hiện qua thái độ 74 Bảng 3.13 Thích ứng của sinh viên thể hiện qua kết quả của việc xây dựng kế hoạch học tập 76 Bảng 3.14 Thích ứng của sinh viên thể hiện qua kết quả của việc đăng kí môn học 77
Trang 9Bảng 3.15 Thích ứng của sinh viên thể hiện qua kết quả của việc học lý thuyết trên lớp 79 Bảng 3.16 Thích ứng của sinh viên thể hiện qua kết quảcủa việc tự học, tự nghiên cứu 80 Bảng 3.17 Thích ứng của sinh viên thể hiện qua kết quả làm việc nhóm 82 Bảng 3.18 Tác động của yếu tố chủ quan đến sự thích ứng của sinh viên Trường Đại học Thành Đô 83 Bảng 3.19 Tác động của yếu tố khách quan đến sự thích ứng của SV 85
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH
Biểu đồ 3.1 Tích hợp kết quả nghiên cứu về thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ thông qua 5 hành động học tập cơ bản 58 Hình 3.1 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện của thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV Trường Đại học Thành Đô 56
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thích ứng có vai trò rất quan trọng, giúp con người tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình Để có thể tồn tại và phát triển trong xã hội, để hình thành và phát triển nhân cách của mình, con người phải không ngừng hoạt động Muốn thực hiện tốt một hoạt động, con người phải có
sự thâm nhập vào điều kiện của hoạt động, trong đó mặt tâm lí với việc hình thành, phát triển những cấu tạo tâm lí cần thiết và mặt hành vi với việc hình thành những phương thức hành vi mới, nhằm đảm bảo cho hành vi và hoạt động của cá nhân phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của hoạt động - nghĩa là phải thích ứng với hoạt động Có thể nói, hiệu quả, chất lượng hoạt động, hoàn thiện nhân cách con người phụ thuộc trực tiếp vào mức độ thích ứng của cá nhân con người trong hoạt động Hoạt động học tập (HĐHT) là một hoạt động trọng tâm, hoạt động quan trọng nhất của sinh viên (SV), đồng thời HĐHT theo học chế tín chỉ (HCTC) là một phương thức đào tạo mềm dẻo, có nhiều ưu điểm đòi hỏi tính tự giác, tích cực, chủ động học tập ở
SV rất cao
Thế giới đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học, nơi SV có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn Chính vì vậy các nhà giáo dục, khoa học chuyên môn và quản lý giáo dục đại học (GDĐH) đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để SV có thể tiếp thu càng nhiều kiến thức càng tốt Với mục tiêu đó,
một hệ thống gọi là: “Hệ thống chuyển đổi tín chỉ” (Học chế tín chỉ) được xây dựng
và phát triển ở nhiều nước trên thế giới
Hiện nay ở nước ta đào tạo theo HCTC là một trong bảy bước đi quan trọng trong lộ trình đổi mới GDĐH giai đoạn 2006 – 2020 [2]
Chính vì vậy, thực hiện Quyết định số 43/2007/QĐ – BGD&ĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT, Trường Đại học Thành Đô đã triển khai áp dụng quy chế đào tạo Đại học (ĐH) và Cao đẳng (CĐ) hệ chính quy theo HCTC từ năm 2009 Sau thời gian triển khai, SV Trường ĐH Thành Đô bước đầu
Trang 12được trang bị những hiểu biết và làm quen với HCTC - một phương thức đào tạo có nhiều ưu điểm được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng [4]
Bên cạnh nhiều mặt tích cực do chương trình đào tạo mang lại, cũng đã nảy sinh một số bất cập Kết quả học tập của SV chưa cao so với các khóa học theo chương trình đào tạo niên chế trước đây Trên thực tế tính chủ động, tích cực của SV Trường ĐH Thành Đô nhìn chung còn thấp Họ chưa quen làm việc độc lập, chưa có thói quen coi những giờ tự học, những buổi chuẩn bị bài là một phần của môn học Nhiều SV của nhà trường chưa biết đăng kí môn học chính khóa đặc biệt là thời gian, cách thức đăng kí những học phần phải học lại, thi lại hoặc học cải thiện dẫn tới SV không kịp trả nợ môn để tốt nghiệp ra trường đúng thời gian đào tạo [34]
Chúng tôi nhận thấy nghiên cứu khả năng thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV Trường ĐH Thành Đô chưa có công trình nào nên vấn đề này cần được nghiên cứu để có cơ sở khoa học góp phần nâng cao sự thích ứng của SV
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn: “Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô” làm luận
văn nghiên cứu cho mình, với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng của GDĐH ở Trường ĐH Thành Đô
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận thích ứng, thực trạng, biểu hiện, mức độ và các yếu tố tác động đến sự thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV Trường ĐH Thành Đô Trên
cơ sở đó đề xuất một số biện pháp Tâm lý – Giáo dục nhằm giúp SV thích ứng tốt
hơn với HĐHT theo HCTC
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ thích ứng và các mặt biểu hiện sự thích ứng của SV Trường ĐH Thành Đô với hoạt động học tập theo HCTC
Trang 133.2 Khách thể nghiên cứu
230 khách thể là SV của Trường ĐH Thành Đô đang học năm thứ hai và năm
thứ ba tại trường
GV và cán bộ quản lý của Trường ĐH Thành Đô: 07 GV và 03 cán bộ quản
lí của trường mà chúng tôi tiến hành điều tra
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có những nhiệm vụ sau:
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận về sự thích ứng với hoạt động học tập theo HCTC của
SV Trường ĐH Thành Đô
4.2 Điều tra, đánh giá thực trạng mức độ và biểu hiện thích ứng, các yếu tố ảnh hưởng (chủ quan và khách quan) đến thực trạng thích ứng của SV với HĐHT theo HCTC
4.3 Đưa ra một số biện pháp Tâm lý – Giáo dục nhằm giúp cho SV nhanh chóng thích ứng và thích ứng tốt với HĐHT theo HCTC
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
SV năm thứ hai và năm thứ ba đang học tập tại Trường ĐH Thành Đô
5.2 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV Trường ĐH Thành Đô
sẽ có rất nhiều nội dung, nhưng trong khuôn khổ đề tài này chúng tôi nghiên cứu biểu hiện và mức độ thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV Trường ĐH Thành
Đô qua nhận thức, thái độ, hành động thông qua nhận thức về bản chất đào tạo theo HCTC và 5 hành động học tập cơ bản sau: xây dựng kế hoạch học tập; đăng
kí môn học; học lý thuyết trên lớp; làm việc nhóm; tự học, tự nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản
Tìm đọc, phân tích, tổng hợp những tài liệu lý luận, thực tiễn có liên quan nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn
Trang 146.2 Phương pháp quan sát
Tiến hành quan sát hoạt động của GV, SV qua các hoạt động giảng dạy và học tập, các hoạt động khác để tìm hiểu rõ thích ứng của SV
6.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket)
Là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu, khẳng định tính khách quan của
đề tài
6.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng để lấy dẫn chứng thực tiễn sâu sắc, sinh động cho đề tài Tiến hành trao đổi với SV và một số GV đang giảng dạy và quản lý tại trường để có ý kiến đánh giá của mọi người về thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV
6.5 Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, nhằm chính xác hóa các khái niệm, các chỉ số đánh giá, các biện pháp nâng cao khả năng thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV
6.6 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Lựa chọn 01 SV có mức độ thích ứng tốt, kết quả học tập tốt với HĐHT theo HCTC và 01 SV có mức độ thích ứng kém, kết quả học tập kém
6.7 Phương pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng phần mềm thống kê toán học
Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS để xử lý và phân tích các số liệu thu được từ các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng trong đề tài
7 Giả thuyết khoa học
Phần lớn SV Trường ĐH Thành Đô thích ứng với HĐHT theo HCTC ở mức
độ trung bình Mức độ thích ứng biểu hiện không đồng đều ở các hành động học tập
cơ bản như: xây dựng kế hoạch học tập; đăng kí môn học; học lý thuyết trên lớp; làm việc nhóm; tự học, tự nghiên cứu Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng với HĐHT theo HCTC bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, trong đó yếu tố chủ quan là ảnh hưởng nhiều nhất như: hứng thú học tập, thói quen học tập…Có thể nâng cao khả năng thích ứng với HĐHT theo HCTC cho SV Trường
Trang 15ĐH Thành Đô bằng cách nâng cao nhận thức, thái độ, hướng dẫn các hành động học tập theo HCTC cho SV
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm: Mở đầu; Chương 1: Cơ sở lý luận về thích ứng, thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên; Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn; Kết luận; Kiến nghị; Tài liệu tham khảo; Phụ lục
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÍCH ỨNG, THÍCH ỨNG VỚI HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ CỦA SINH VIÊN
1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề thích ứng và thích ứng với hoạt động học tập
Đến nay, vấn đề thích ứng và thích ứng với HĐHT là một trong những vấn
đề hết sức quan trọng trong Tâm lý học (TLH) vì thế đã thu hút được sự quan tâm của các nhà TLH trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nhiều khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau Chúng tôi khái quát lại có các hướng sau:
1.1 Nghiên cứu về thích ứng ở nước ngoài
Việc nghiên cứu về thích ứng có thể được chia thành ba hướng nghiên cứu chính như sau:
1.1.1 Hướng thứ nhất nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp
Năm 2005, Các tác giả Peter Creed, Tracy Fallon, Michelle Hood thuộc
trường ĐH Griffith Australia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa
thích ứng nghề và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ” Họ đã tiến hành nghiên
cứu 245 SV năm thứ nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề,
xu hướng về nghề… Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: Thích ứng nghề có mối quan
hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đầu tiên (Kế hoạch xây dựng nghề, khám phá nghề, xu hướng nghề, sự quyết định nghề…) Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác [48] Tác giả Rottinghaus, Day và Borgen năm 2005, trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước Đề cập đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và năng lực của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề mỗi cá nhân phải đối mặt, khả
năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về nghề nghiệp [dẫn theo 49, tr 3-24]
Trang 17Năm 2008, trong cẩm nang Tâm lý học do Carwright & Cooper S.C biên soạn được ấn hành tại ĐH Oxford, Hesketh B & Griffin B biên soạn chương:
“Selection and training for work adjustment and adaptability” (Sự lựa chọn và đào
tạo đối với thích ứng công việc) Trong chương này, các tác giả đề cập đến việc lựa chọn và đào tạo nghề phải chú ý tới khả năng thích nghi của con người và yêu cầu của xã hội [47]
Khái quát những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy các tác giả đã đề cập đến khái niệm chung về thích ứng, thích ứng nghề của SV và người lao động Các yếu
tố chủ quan, khách quan và những chỉ số đặc trưng cho thích ứng nghề nhiệp Nhìn chung các tác giả đều cho rằng thích ứng nghề nghiệp là quá trình nhận thức và hành động, từ đó nảy sinh tình cảm đối với nghề Còn thiếu các công trình nghiên cứu cụ thể về mức độ thích ứng với HĐHT của SV
1.1.2 Hướng thứ hai nghiên cứu thích ứng với môi trường văn hóa mới, thích ứng xã hội
Có thể nói nghiên cứu thích ứng văn hóa chiếm một mảng lớn trong hệ thống các nghiên cứu về thích ứng Điều này xuất phát từ thực tiễn xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai là sự di cư của con người Cùng với sự di chuyển dân cư đến một môi trường mới là hàng loạt các vấn đề xã hội lẫn vấn đề tâm lý cá nhân nảy sinh do thiếu thích ứng văn hóa Những nghiên cứu này được thực hiện với nhiều nội dung khác nhau, với những nhóm dân cư khác nhau
Một số nhà tâm lý học khác hướng sự chú ý vào vấn đề sức khỏe tinh thần khi con người chuyển sang môi trường xã hội mới, nền văn hóa mới
Năm 1999, Chritabel Zhang trong đề tài “Valuing cultural diversty in
student learning: the academic adjustment experiences of international Chinese student” (Đánh giá sự đa dạng văn hóa trong hoạt động học của sinh viên: Sự thích
ứng học tập của sinh viên Trung Quốc ở nước ngoài) đã nghiên cứu sự thích ứng học tập của SV Trung Quốc đang du học tại Australia chỉ ra rằng những yếu tố chính ảnh hưởng tới sự thích ứng với môi trường văn hóa mới ở nước ngoài khi tham gia học tập là ngôn ngữ, phương pháp dạy học, văn hóa bản địa, bản chất mối
Trang 18quan hệ tương tác giữa người học với người học khi xây dựng nền tảng cho bậc học cao hơn [51]
Kết luận trên có ý nghĩa khoa học giúp các nhà quản lý giáo dục tổ chức tốt các lớp học có nhiều thành phần học sinh thuộc nhiều quốc gia, nền văn hóa dân tộc
Năm 2002, “Acadmic incident reports since summer 2002 worldwide &
country statistical report” (Các báo cáo về khó khăn trong học tập dựa trên báo cáo
thống kê trong nước và trên thế giới mùa hè năm 2002) của trường ĐH Mexico Stale cho thấy 169 SV của trường đã từng theo học các chương trình hội nhập tại nước ngoài đều đã từng gặp các vấn đề khó khăn trong thích ứng học tập ở nước ngoài Những khó khăn đó là môi trường văn hóa – xã hội mới ở nước ngoài, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của SV, chương trình giáo dục khác biệt, thời khóa biểu không phù hợp và việc đăng kí thi cử, việc tổ chức khóa học, việc đánh giá học tập, phương pháp giảng dạy của GV [44]
Những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới với những chuẩn mực mới và việc không thích ứng với nó sẽ gây ra những khó khăn nhất định trong đời sống và các hoạt động của con người
Arbona, Consuelo, Bullington, Robin, Pisseco, Stewart, Poyrazly, Senel
nghiên cứu “Adjustment issues of Turkish College students studying in the United
States” (Các vấn đề thích ứng của SV Thổ Nhĩ Kì du học tại Mỹ) trên 79 SV Thổ
Nhĩ Kì đang học tập tại Mỹ về sự thích ứng với môi trường văn hóa, hoạt động học tập và cuộc sống tại trường Các tác giả kết luận: Những SV sử dụng tiếng Anh tốt hơn thì thích ứng tốt hơn, SV nhận học bổng của chính phủ Thổ Nhĩ Kì thích ứng tốt hơn SV không có học bổng của chính phủ trong HĐHT, trong cuộc sống và môi trường văn hóa tại trường [45]
Như vậy, những nghiên cứu đa dạng trên cho thấy những khía cạnh khác nhau của đời sống tâm lý con người khi chuyển sang một môi trường văn hóa mới với những chuẩn mực mới Những nghiên cứu về thích ứng trên đã thoát khỏi ảnh
Trang 19hưởng của lý luận thích nghi sinh học, chỉ ra được bản chất hoạt động, nền văn hóa
- xã hội, tác động đến sự thích ứng của con người
1.1.3 Hướng nghiên cứu thứ ba thích ứng với hoạt động học tập
Năm 1990, B.P Allen (Mỹ) ở ĐH Tổng hợp California (Mỹ) đã tiếp cận vấn
đề thích ứng học tập của SV thông qua hệ thống tác động hình thành các kỹ năng học tập ở trường ĐH Theo tác giả, điều kiện cơ bản của sự thích ứng học tập của
SV là hình thành ở họ các nhóm kỹ năng: 1/Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân; 2/ Kỹ năng hình thành các HĐHT và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập); 3/Kỹ năng làm chủ các cảm xúc tiêu cực để vượt qua khó khăn trong học tập, thi cử; 4/ Kỹ năng chủ động luyện tập và hình thành các thói quen hành vi mang tính nghề nghiệp Theo cách hiểu này, sự thích ứng (không thích ứng) của SV được giải thích là do SV có (hay thiếu) một số kỹ năng nào đó, mà ít chú ý đến khía cạnh tổ chức trong hệ thống giáo dục của nhà trường
độ tiêu cực với trường học và các nhiệm vụ của trường Tỉ lệ bỏ học giữa chừng ở
HS nam bị ghét bỏ cao hơn nhiều các nhóm HS nam khác Những trẻ bị bạn bè hắt hủi là những em có thể gây rắc rối ở trường khi lớn lên, vì vậy cần quan tâm đặc biệt tới những em này [50, tr207-221]
Như vậy, vấn đề thích ứng với HĐHT đã được các nhà tâm lý học nước ngoài quan tâm nghiên cứu, các công trình này đã góp phần khái quát và xây dựng những nét cơ bản nhất về vấn đề thích ứng với HĐHT Các nghiên cứu trên cũng chỉ ra có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thích ứng với HĐHT của SV Mỗi nghiên cứu đều nêu một đến hai yếu tố ảnh hưởng cùng với sự phân tích sâu sắc những ảnh hưởng của các yếu tố đó trên những trường hợp cụ thể Đây chính là những đóng
Trang 20góp rất lớn để các nhà giáo dục và bản thân người học rút ra những cách thức góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
1.2 Nghiên cứu về thích ứng ở Việt Nam
Ở nước ta vấn đề thích ứng trong TLH luôn được quan tâm nghiên cứu trên các nhóm khách thể khác nhau Do vậy, những nghiên cứu về thích ứng trong các lĩnh vực rất đa dạng và phong phú như: thích ứng nghề nghiệp, thích ứng với HĐHT của SV, HS phổ thông, HS tiểu học và gần đây đã có một số nghiên cứu về thích ứng với đào tạo tín chỉ của SV Chúng tôi có thể phân thành các nhóm nghiên cứu sau:
1.2.1 Hướng thứ nhất nghiên cứu thích ứng nghề nghiệp
Các công trình nghiên cứu theo hướng này thường tập trung vào khía cạnh thích ứng tâm lý đối với một nghề nghiệp của những SV hoặc GV mới ra trường bắt đầu bước vào nghề hoặc sự thích ứng với một quy trình sản xuất mới Theo hướng nghiên cứu này có thể kể đến một số công trình sau:
Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị về thích ứng nghề, đặc biệt với tác phẩm “Thích ứng sư phạm”, tác giả đã đưa ra các khái niệm thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các nội dung về hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho SV sư phạm, hình thành khả năng thích ứng về tay nghề trong quá trình đào tạo cho SV sư phạm: thích ứng với quy trình lên lớp; thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với công tác chủ nhiệm lớp, thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục Bên cạnh đó tác giả đề ra một số giải pháp giúp SV ĐH thích ứng với nghề sư phạm [15]
Năm 2010, tác giả Lê Thị Minh Loan đã nghiên cứu về: “Mức độ thích ứng
nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp” Theo tác giả thì thích ứng nghề
nghiệp là quá trình thích ứng hai mặt: Một mặt là sự thích ứng của người lao động với vị thế nghề nghiệp của mình, với các điều kiện, đòi hỏi của môi trường kĩ thuật, với bản thân hoạt động nghề nghiệp; mặt khác là sự thích ứng của họ với những đặc trưng nhân cách và nghề nghiệp Việc đạt được trạng thái thích ứng cao, không
chỉ làm cho hoạt động nghề nghiệp có hiệu quả, mà còn tạo điều kiện phát triển
Trang 21nghề nghiệp và nhân cách của cán bộ Đề tài cũng chỉ ra rằng thích ứng nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp gắn liền với sự thích ứng với điều kiện lao động, thích ứng với yêu cầu về năng lực chuyên môn, thích ứng với nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, thích ứng với việc đánh giá hiệu quả thực hiện công việc tại nơi làm việc Trên cơ sở này, tác giả đã xây dựng được bộ công cụ và tiêu chí phục
vụ việc đánh giá mức độ thích ứng nghề nghiệp của SV sau tốt nghiệp [21]
Năm 2016, tác giả Dương Thị Nga nghiên cứu: “Năng lực thích ứng nghề
của sinh viên sư phạm – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” Tác giả đưa ra khái
niệm về thích ứng như sau: “Thích ứng là quá trình biến đổi đời sống tâm lý và hệ thống hành vi cá nhân để đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của những điều kiện sống mới và hoạt động mới Nhờ sự thích ứng chủ thể hình thành những cấu tạo tâm
lý mới, thậm chí trong những điều kiện nhất định có thể cải biến lại chính môi
Như vậy, vấn đề thích ứng nghề nghiệp ở Việt Nam đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung trong các luận án, luận văn và chủ yếu nghiên cứu trên khía cạnh thực tiễn
1.2.2 Hướng thứ hai nghiên cứu sự thích ứng với môi trường văn hóa mới, thích ứng xã hội
Ở Việt Nam có ít các công trình nghiên cứu theo hướng này Trong số các công trình nghiên cứu đã được công bố, chúng tôi thấy nổi lên các công trình nghiên cứu sau:
Trang 22Công trình nghiên cứu tập trung vào khía cạnh thích ứng tâm lý với cuộc
sống mới, môi trường văn hóa mới ở cuộc sống đó của tác giả Lã Văn Mến: “Tìm
hiểu sự thích ứng với đời sống tập thể của sinh viên năm thứ nhất” (1987) Trong
công trình nghiên cứu, tác giả cho rằng sự thích ứng với cuộc sống mới của SV năm thứ nhất diễn ra rất chậm chạp và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan như điều kiện sống thấp kém, điều kiện sinh hoạt còn khó khăn, nội quy, quy chế không chặt chẽ [Dẫn theo 13, tr32]
Tác giả Lâm Như Tạng với công trình nghiên cứu về “Sự thích ứng trong
quá trình hội nhập quốc tế” đã đề cập đến khía cạnh thích ứng xã hội của những
người đến công tác, học tập, giao lưu quốc tế ở các quốc gia khác nhau Trên thực
tế, mỗi quốc gia có hệ thống ngôn ngữ, phong tục tập quán, lối sống, văn hóa khác nhau, điều đó đòi hỏi người nhập cư cần phải có sự hiểu biết để biến đổi hành vi tương ứng cho phù hợp Theo ông thì thích ứng xã hội, thích ứng với cuộc sống mới
có thể hiểu như là sự “hội nhập” – hội nhập vào cuộc sống mới, vào môi trường mới Theo ông thì đây chính là khả năng mà con người cần rèn luyện để thích ứng (hội nhập) khi cuộc sống thay đổi Để có thể hòa nhập tốt với cộng đồng, cá nhân cần phải học tập cách thích ứng tốt với các khía cạnh như sau:
- Học tập để thích ứng với ngôn ngữ quốc gia
- Học tập để thích ứng với phong tục tập quán và văn hóa mới
- Học tập và tuân theo pháp luật, quy định của địa phương…
- Phải tự thích ứng với hoàn cảnh sống mới để mọi cộng đồng khác trong xã hội chấp nhận mình mà không gây rối loạn nếp sinh hoạt của người khác
Ông cho rằng, muốn sự thích ứng diễn ra được tốt nhất thì phải có sự thích ứng từ hai phía: Phía người mới đến phải thích ứng với môi trường sống mới và người bản địa phải thích ứng với sự thay đổi cuộc sống khi có người khác đến Đây
là điều kiện tối cần thiết, là cơ sở tạo ra sự thông hiểu, đồng cảm lẫn nhau giữa người bản địa và người di cư đến, là nền tảng của sự ổn định trong xã hội có nhiều biến động phức tạp trong thời kì hội nhập [Dẫn theo 13, tr 32-33]
Trang 23Năm 2012, tác giả Nguyễn Văn Hồng với luận án tiến sĩ: “Nghiên cứu sự
thích ứng với điều kiện sống mới của dân di cư vùng thủy điện Sơn La” Tác giả cho
rằng sự thích ứng với điều kiện về lao động sản xuất, phát triển kinh tế là sự thống nhất giữa sự thích ứng về mặt nhận thức về điều kiện lao động sản xuất, thái độ biểu hiện của mỗi cá nhân đối với sự thay đổi về điều kiện sản xuất đó và hành vi khắc phục khó khăn để ổn định cuộc sống Trong đó, biểu hiện về hành vi là nhân tố quan trọng và là thước đo cuối cùng đánh giá mức độ thích ứng của cá nhân với những thay đổi trong điều kiện sản xuất, lao động đã có nhiều thay đổi so với môi trường sống trước đây Từ đó tác giả đưa ra kiến nghị đối với công tác di dân tái định cư trong các dự án thủy điện cần nắm vững nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng, phong tục tập quán và lối sống của cộng đồng các dân tộc Công tác di dân phải dựa trên nền tảng văn hóa của người dân tái định cư, không áp đặt duy ý chí lên cuộc sống của họ Cần chú trọng xây dựng các mối quan hệ xã hội, tổ chức giao lưu văn hóa, kết cố người tái định cư với người bản địa để tạo ra không khí thoải mái, gắn
bó trong môi trường văn hóa mới giữa họ với nhau [13]
1.2.3 Hướng thứ ba nghiên cứu thích ứng với hoạt động học tập
Hướng nghiên cứu này tập trung vào nghiên cứu sự thích ứng của HS và SV với HĐHT nói chung và thích ứng với HĐHT theo HCTC nói riêng
Năm 2000, trong luận án tiến sĩ: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của
học sinh lớp 1” tác giả Phan Quốc Lâm cho rằng: Sự thích ứng với HĐHT của học
sinh lớp 1 chịu sự tác động của nhiều yếu tố: Sự phát triển trí tuệ, hoàn cảnh gia đình, giới tính Trình độ phát triển trí tuệ của HS, sự chuẩn bị về mặt tâm lý cho
HĐHT và tác động của giáo viên Có thể nâng cao mức độ thích ứng với HĐHT của
HS lớp 1 bằng cách tác động đến nhận thức và tác động tâm lý – sư phạm của người giáo viên trong quá trình dạy học Trước hết cần nâng cao hiểu biết của giáo viên lớp 1 về ý nghĩ của vấn đề, đặc điểm và vai trò của bước chuyển lớn xảy ra ở trẻ lần đầu tiên đến trường, những biện pháp giúp trẻ thích ứng tốt với môi trường nhà trường và đặc điểm của HĐHT Ngoài ra, cần chú ý hình thành ở trẻ những
Trang 24hành vi, ứng xử phù hợp với HĐHT Kết quả nghiên cứu là những cơ sở khoa học
để tổ chức tốt hoạt động dạy và học ở HS lớp 1 trường tiểu học đạt hiệu quả [20]
Năm 2002, tác giả Lê Ngọc Lan: “Nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động
học của sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội” và khẳng định: Thích ứng là một cấu
trúc tâm lý gồm hai yếu tố: nắm được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng được những yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; hình thành những cấu tạo tâm
lý mới tạo nên tính chủ thể của hành vi và hoạt động Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau giúp SV điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có, hình thành
hệ thống, thái độ, hành vi mới phù hợp với môi trường đã thay đổi Thích ứng với cuộc sống và hoạt động ở môi trường mới có nhiều yêu cầu mới cao hơn là một quá trình lâu dài; tốc độ và kết quả của quá trình đó phụ thuộc rất nhiều vào sự nỗ lực, ý thức và khả năng của mỗi SV Từ đó, tác giả đưa ra kiến nghị cần xây dựng cho SV phương pháp học mới phù hợp với chương trình, nội dung học tập mới để giúp họ thích ứng tốt hơn với việc học tập ở trường ĐH [19]
Năm 2004, tác giả Trần Thị Minh Đức đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu về sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất ĐHQG Hà Nội với môi trường đại học Đề tài này
đã chỉ ra thực trạng thích ứng của SV năm thứ nhất Đại học Quốc gia Hà Nội khi phải thay đổi môi trường sống và học tập, thay đổi phương pháp học tập của SV và chỉ ra: Thích ứng là một quá trình hòa nhập tích cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lý [8]
Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Út Sáu với Luận án tiến sĩ: “Thích ứng với
hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Đại học Thái Nguyên” Tác giả
đã quan niệm: “Thích ứng là thay đổi một cách tích cực và chủ động về mặt nhận thức, thái độ và hành động của chủ thể nhằm đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động để
tiến hành hoạt động có hiệu quả” Luận án đã phân tích, làm sáng tỏ thêm một số
khái niệm cơ bản như: thích ứng với HĐHT theo HCTC Đặc biệt, luận án đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của HĐHT theo HCTC và sự khác biệt với HĐHT theo niên chế làm căn cứ đưa ra các đặc trưng, yêu cầu nổi bật trong HĐHT theo HCTC của
SV ĐH Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng khái niệm thích ứng với HĐHT theo
Trang 25HCTC; chỉ ra biểu hiện thích ứng của SV ĐH Thái Nguyên với HĐHT theo HCTC trên các mặt: nhận thức, thái độ và hành động [31]
Tóm lại, có nhiều đề tài quan tâm nghiên cứu vấn đề thích ứng và thích ứng với HĐHT Nhưng chúng ta thấy rằng có sự khác biệt giữa các công trình nghiên cứu của các nhà TLH Việt Nam với các nhà TLH nước ngoài khi nghiên cứu sự thích ứng với hoạt động học tập của SV đó là: các nhà TLH Việt Nam nghiên cứu thích ứng học tập đồng thời nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng học tập để từ đó đưa ra các biện pháp tác động phù hợp Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được các mức độ thích ứng, biểu hiện của từng mức độ thích ứng đối với HĐHT của SV và đều nhằm tìm ra các biện pháp đẩy nhanh quá trình thích ứng Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về sự thích ứng tâm lý với HĐHT theo HCTC của SV các trường ĐH ngoài công lập còn rất hạn chế
Vì thế, chúng tôi tập trung nghiên cứu đề tài: “Thích ứng với hoạt động học
tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô”
2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
2.1 Thích ứng
2.1.1 Khái niệm thích ứng
Khái niệm “thích nghi”, “thích ứng” (gốc tiếng Latinh là “Adapto”, gốc Tiếng Anh là “Adaptation” và tiếng Pháp là “Adapter” Dịch sang tiếng Việt là
“thích nghi” hay “thích ứng” Trong tiếng Anh, động từ “adapt” hay danh từ
“adaptation” có nghĩa là thích ứng Thích ứng vốn là một phạm trù cơ bản của sinh vật học (Charles Darwin) sau đó được sử dụng rộng rãi trong TLH và Xã hội học… Trong TLH, có nhiều quan điểm về thích ứng nhưng trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi nghiên cứu quan điểm của nhà TLH duy vật biện chứng và các nhà TLH Việt Nam về thích ứng theo 02 quan điểm: Quan điểm đồng nhất thích ứng với thích nghi và quan điểm phân biệt thích ứng với thích nghi
- Quan điểm đồng nhất thích ứng với thích nghi:
Trang 26+ Theo tác giả E.A Andreeva “Thích ứng” được hiểu như “một thích nghi
đặc biệt của cá nhân vào những điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào những điều kiện đó một cách không gượng ép” [dẫn theo 31, tr 20]
+ A V Pêtrôvxki không dùng thuật ngữ thích ứng mà dùng thuật ngữ thích nghi khi nghiên cứu sự hòa nhập của cá nhân vào cấu trúc nhóm như sau: “Thích nghi là thuật ngữ được dùng theo hai nghĩa Thứ nhất, với tư cách là sự hòa nhập bên trong và bên ngoài của cá nhân với nhóm Thứ hai, với tư cách là sự hòa hợp thuần túy bên ngoài với nhóm trong khi vẫn có sự bất đồng bên trong với lập trường
của nhóm” [29]
Như vậy, theo quan điểm của các nhà Tâm lý học Xô Viết thích ứng là quá trình thích nghi của con người trước sự biến đổi của môi trường và các dạng hoạt động Các quan điểm này đã thống nhất khái niệm thích ứng với thích nghi nên chưa thấy được tính tích cực, chủ động của chủ thể trước những biến đổi của môi trường xung quanh
- Quan điểm phân biệt thích ứng với thích nghi:
+ A.N Lêônchiev đã khẳng định: “Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích
nghi theo đúng nghĩa của nó là các quá trình tiếp thu, lĩnh hội ở chỗ thích nghi là quá trình thich nghi sinh vật, là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài, năng lực của cơ thể, là hành vi loài của cơ thể Còn quá trình tiếp thu, lĩnh hội thì khác: đó
là quá trình mang lại kết quả là cá thể tái tạo lại năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử” [dẫn theo 31, tr 20]
A.N Lêônchiev đã làm rõ sự khác nhau giữa thích nghi sinh học và sự thích ứng tâm lý người và đặt nền móng cho việc nghiên cứu hiện tượng này cả về lý luận
và thực tiễn
+ Theo E.A Andreeva: “Thích ứng có nghĩa rất gần với thích nghi, tự học, tự
tổ chức, song không nên quy nó về một trong những ý nghĩa nói trên” Cần hiểu thích ứng là thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện sống mới, là sự xâm nhập của cá nhân vào những điều kiện sống đó một cách không gượng ép và có thể xem
Trang 27thích ứng là một quá trình xây dựng chế độ hoạt động tối ưu và có mục đích của cá nhân Như vậy thích ứng nhấn mạnh vai trò chủ thể của cá nhân với môi trường [1]
+ Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên của nhà xuất bản Khoa học Xã hội viết: “thích nghi là có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh, môi trường mới, thích nghi với các nếp sinh hoạt mới”, còn thích ứng là những thay đổi cho phù hợp với những điều kiện mới, yêu cầu mới, lối làm việc thích ứng với tình hình mới (như thích nghi)” [30]
+ Theo cuốn Từ điển TLH của Viện TLH của tác giả Vũ Dũng chủ biên, xuất
bản năm 2008, “Thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi của môi
trường” Còn thích nghi: là sự thích nghi về cấu tạo và chức năng của cơ thể bao gồm cả các cơ quan và tế bào của nó đối với điều kiện của môi trường Thích nghi
xã hội: 1 Quá trình thích nghi tích cực của cá nhân với các điều kiện của môi trường xã hội mới 2 Kết quả của quá trình trên Nội dung tâm lý – xã hội của thích nghi xã hội là gần gữi về mục đích và các định hướng giá trị của nhóm với mỗi thành viên, ý thức cá nhân về các tiêu chuẩn, truyền thống và văn hóa tinh thần trong nhóm, sự hòa nhập của người đó vào cấu trúc, vai trò của nhóm [7]
Trong TLH, khái niệm thích ứng được bắt nguồn từ khái niệm thích nghi trong sinh vật học, vì thế xét về mặt hình thức, cách hiểu đồng nhất thích ứng với thích nghi là hợp lý Tuy nhiên xét về mặt bản chất, thích ứng lại là một quá trình tâm lý phức tạp nhiều mặt, nó không đơn giản chỉ là quá trình biến đổi một cách thụ động theo hoàn cảnh sống mà còn bao hàm cả tính tích cực, chủ động của chủ thể nhằm cải tạo bản thân và hoàn cảnh, tạo ra sự phù hợp tối ưu để đạt hiệu quả cao trong hoạt động Qua sự phân tích ở trên, theo chúng tôi: Thích ứng và thích nghi là hai khái niệm có tính đồng nhất tương đối, chúng đều là hệ thống phản ứng của chủ thể nhằm cân bằng với điều kiện thay đổi của môi trường Tuy nhiên hai khái niệm này không đồng nhất với nhau vì khái niệm thích nghi thiên về sinh học, người ta thường không nhấn mạnh đến tính tích cực, chủ động của cá thể trước sự thay đổi của môi trường
Vì vậy, chúng tôi đưa ra khái niệm thích ứng của đề tài như sau:
Trang 28Thích ứng (thích ứng tâm lý) là một quá trình con người tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với những yêu cầu của các hành động nhằm đạt được mục đích hoạt động với hiệu quả cao
Sự thích ứng tâm lý của con người hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp, dưới sự tác động của các yếu tố bên trong: trình độ phát triển, lịch sử cá thể, vốn kinh nghiệm, nhu cầu, động cơ… và những yếu tố bên ngoài: loại hoạt động giao tiếp, những điều kiện sống và hoạt động mà cá nhân tham gia Sự thích ứng tâm lý có vai trò rất to lớn đối với con người Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo
sự cân bằng của con người với môi trường xã hội, cho sự thành công trong điều kiện sống và hoạt động mới
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của thích ứng
Thứ nhất: Thích ứng là quá trình tích cực, chủ động của chủ thể trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, với các hoạt động có những yêu cầu mới Quá trình tích cực, chủ động đó là:
- Tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ và hành động
- Chủ động trong nhận thức, thái độ và hành động, phù hợp với phương thức
và yêu cầu mới của hành động
- Sự tích cực, chủ động này phù hợp với điều kiện môi trường hoạt động mà đối tượng hướng tới và đạt kết quả cao
Thứ hai: Thích ứng chỉ nảy sinh khi chủ thể thay đổi môi trường sống mới hoặc tiến hành các hoạt động với những yêu cầu mới, muốn vậy chủ thể phải có sự thay đổi cấu trúc tâm lý bên trong để điều chỉnh, hình thành hành động mới cho phù hợp với yêu cầu mới
Thứ ba: Kết quả của sự thích ứng là chủ thể hình thành cấu tạo tâm lý mới bao gồm nhận thức, thái độ và hành động nhằm đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động hoặc môi trường mới
Thứ tư: Thích ứng có ba hình thức, thể hiện ở ba cấp độ sau:
- Thích ứng sinh lý là hình thức thích ứng đầu tiên, xuất hiện ở động vật có
hệ thần kinh, có đặc trưng là cơ thể có khả năng phản ứng tự động trước những tác
Trang 29động trực tiếp của môi trường bên ngoài Cơ chế của thích ứng là những phản xạ không điều kiện Sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường là quan hệ trực tiếp
- Thích ứng tâm lý là hình thức thích ứng cao hơn thích ứng sinh lý Đặc
trưng của hình thức này là cơ thể có khả năng đáp ứng lại những kích thích có tính chất tín hiệu từ môi trường Cơ chế của thích ứng tâm lý là những phản xạ có điều kiện Hệ thần kinh với chức năng và cơ chế hoạt động của nó đã giúp cơ thể định hướng, điều chỉnh hoạt động với những biến đổi của môi trường Nhờ có thích ứng tâm lý, cơ thể có thể tồn tại và phát triển tốt hơn trước môi trường luôn biến động
- Thích ứng tâm lý – xã hội là hình thức cao nhất chỉ có ở người Đặc trưng
của sự thích ứng này là con người sống trong môi trường văn hóa xã hội, tiếp nhận
và hòa nhập các giá trị xã hội, có khả năng đáp ứng các yêu cầu cầu xã hội Như vậy, sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường ở trình độ này là sự cân bằng tích cực, chủ động Cơ chế của sự thích ứng tâm lý - xã hội là quá trình con người tham gia vào các mối quan hệ xã hội, hoạt động và giao tiếp
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “thích ứng” được hiểu theo nghĩa thích ứng tâm lý – xã hội mang đặc trưng người của nền văn hóa, xã hội loài người
2.2 Thích ứng với hoạt động học tập
2.2.1 Khái niệm hoạt động học tập của sinh viên
Trước hết cần phân biệt hai khái niệm "học" và "hoạt động học"
Theo khái niệm chung nhất, học là quá trình lĩnh hội các kinh nghiệm xã hội lịch sử loài người và người ta phân ra 2 hoạt động học khác nhau
+ Hoạt động học không chủ định
+ Hoạt động học có chủ định
Như vậy, hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những phương thức hành vi nhất định Chỉ có thông qua hoạt động học có chủ định, chủ thể mới hình thành cho mình những tri thức khoa học cũng như cấu trúc tâm lý tương ứng của hoạt động tâm lý và sự phát triển toàn diện nhân cách
Trang 30- A.N Lêônchiev xem quá trình học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở hình thức tâm lý bên ngoài và bên trong của hoạt động đó
- N.V.Cudơmina coi học tập là loại hoạt động nhận thức cơ bản của SV được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy Trong quá trình đó, việc nắm vững nội dung cơ bản các thông tin mà thiếu nó thì không thể tiến hành được một hoạt động nghề nghiệp tương lai
Như vậy có nhiều tác giả đã nghiên cứu khái niệm HĐHT, nhưng chúng tôi
thống nhất sử dụng khái niệm HĐHT của tác giả Nguyễn Quang Uẩn: “Hoạt động
học là loại hoạt động theo phương thức nhà trường, do người học thực hiện dưới sự hướng dẫn của người lớn (giáo viên) nhằm lĩnh hội những tri thức, khái niệm khoa học và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, làm phát triển trí tuệ và năng lực con người để giải quyết các nhiệm vụ do cuộc sống đặt ra” [41].
Mặc dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn nhưng các tác giả trên đều xem xét HĐHT hoặc có liên quan tới nhận thức hay liên quan tới tư duy và liên quan đến nghề nghiệp Mỗi định nghĩa đều đề cập tới một khía cạnh của hoạt động học theo quan điểm của tác giả nhưng tựu trung lại hoạt động học là hoạt động có mục đích
tự giác, có ý thức về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là quá trình tư duy
HĐHT của SV cũng mang những dấu hiệu bản chất như đã nêu trên Từ đó,
chúng tôi định nghĩa HĐHT của SV như sau: “Hoạt động học tập ở đại học là một
loại hoạt động có mục đích có ý thức để chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ Những đặc trưng cho hoạt động này là sự căng thẳng mạnh mẽ về trí tuệ”
Có thể nêu ra một số đặc điểm trong HĐHT của SV như sau:
- SV học tập nhằm lĩnh hội các tri thức, hệ thống khái niệm khoa học, những
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển những phẩm chất nhân cách của người chuyên gia tương lai HĐHT của họ gắn liền với hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động nghề nghiệp của người chuyên gia
Trang 31- HĐHT của SV diễn ra với nhịp độ căng thẳng về trí tuệ Bản chất hoạt động nhận thức của người SV trong các trường ĐH, CĐ là đi sâu, tìm hiểu những môn học, chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, quy luật của các khoa học đó, cùng với mục đích trở thành chuyên gia trong các lĩnh vực nhất định HĐHT của SV diễn ra có kế hoạch, có mục đích, có nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo theo một thời gian, cách thức chặt chẽ nhưng không đồng thời quá khép kín mà lại có tính mở rộng theo năng lực nhận thức, sở trường của SV [22]
- HĐHT của SV mang tính tự lập, độc lập, sáng tạo cao Do vậy, điều quan trọng nhất là phương pháp học tập của SV phải phù hợp với từng chuyên ngành mà
SV theo học Không tìm được phương pháp học tập tốt, SV không thể đạt được kết quả học tập như ý muốn bởi hàm lượng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà SV phải lĩnh hội được trong quá trình học tập là rất lớn, đa dạng [17]
2.2.2 Thích ứng với hoạt động học tập
Về khái niệm thích ứng với hoạt động học tập của SV cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
A.V Petrovxki và các đồng nghiệp xem thích ứng với hoạt động học của SV
là một quá trình phức hợp, nhiều mặt và diễn ra nhiều cấp độ như sự thích ứng của người học đối với hệ thống học tập mới, đối với sự thay đổi chế độ làm việc và nghỉ ngơi, đối với việc hòa nhập trong tập thể mới
Theo Hoàng Trần Doãn thì thích ứng học tập là một quá trình thích nghi đặc biệt của cá nhân đối với điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào điều kiện mới một cách thuần thục và chính trong quá trình đó, con người không thụ động mà được bộc lộ trong quá trình hoạt động có đối tượng như một chủ thể động Bởi vậy
để đạt kết quả cao, người học phải điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp với môi trường, hoàn cảnh và đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ mà HĐHT đặt ra [6]
Như vậy, các tác giả trên đã nhấn mạnh vào tính tích cực và chủ động của người học Đây cũng là yêu cầu quan trọng với việc đổi mới phương pháp học tập theo HCTC của SV hiện nay
Trang 32Theo chúng tôi: Thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên là quá trình
chủ động, tích cực thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của bản thân để đáp ứng với những yêu cầu của các hành động để tiến hành hoạt động học tập có kết quả
Có thể nêu ra biểu hiện của thích ứng qua nhận thức về bản chất của đào tạo theo HCTC và 5 hành động học tập cơ bản sau: Xây dựng kế hoạch học tập; đăng kí môn học; học lý thuyết trên lớp; thảo luận, làm việc nhóm; tự học, tự nghiên cứu
2.3 Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
2.3.1 Tín chỉ
Theo tác giả James Quann (Đại học Quốc gia Washington): Tín chỉ học tập
là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm:
+ Thời gian lên lớp (Contac hour)
+ Thời gian ở phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khoá biểu (Tuor hour)
+ Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài (Self study hour)…
Đối với các môn học lý thuyết, 1 giờ tín chỉ là một giờ học trên lớp (với 2 giờ chuẩn bị ở nhà) trong một tuần và kéo dài trong 1 học kỳ 15 tuần; các môn học ở Studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ/tuần (với 1 giờ chuẩn bị ở nhà) đối với việc tự nghiên cứu, ít nhất là 3 giờ làm việc trong 1 tuần [37]
Trong khuôn khổ đề tài luận văn này chúng tôi sử dụng khái niệm tín chỉ
được cụ thể hóa tại khoản 3, điều 3 của Quy chế 43/2007/QĐ-BGDĐT: “Tín chỉ là
đơn vị được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết học thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 - 90 giờ thực tập tại cơ sở; 45 - 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ
án khoá luận tốt nghiệp Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm để tiếp thu được một tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” [3, tr6]
Trang 33Vậy có thể hiểu: Học chế tín chỉ là một học chế mềm dẻo, tăng cường tính
chủ động, tự học, tự nghiên cứu phát triển tư duy sáng tạo của sinh viên Nhà trường, giảng viên tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho sinh viên tích lũy kiến thức, kỹ năng, đồng thời học chế tín chỉ cũng quản lý chặt chẽ quá trình học tập của từng sinh viên để đảm bảo chất lượng đào tạo
2.3.2 Khái niệm hoạt động học tập theo học chế tín chỉ
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau do đó các nhà TLH đã đưa ra khá nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động học:
Theo tiếp cận hoạt động, các nhà TLH cho rằng có sự khác nhau về chất giữa
cơ cấu học ở người và động vật Ở con người hoạt động học là hoạt động đặc thù được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới Hoạt động học muốn đạt kết quả cao, người học phải biết cách học nghĩa là phải có những tri thức về chính bản thân hoạt động học Ở động vật học là quá trình thích nghi mạnh mẽ đối với những điều kiện sống cụ thể trên cơ sở thay đổi kinh nghiệm sống bẩm sinh loài
Theo Phạm Minh Hạc: “Hoạt động nhận thức nói chung, hoạt động học tập
nói riêng thể hiện rõ rệt tính chủ thể Mọi người phải tự mình bắt não mình làm việc, lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm… vào đầu mình, biến vốn liếng chung của loài người thành phẩm chất và năng lực của bản thân” [12, tr.461]
Mặc dù vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong quan niệm về hoạt động học nhưng các tác giả trên đều cho rằng HĐHT là hoạt động có mục đích, tự giác đòi hỏi tính tích cực, chủ động của người học trong quá trình nhận thức, tư duy Hoạt động học của SV là hoạt động diễn ra ở trường ĐH, do SV thực hiện dưới sự hướng dẫn của GV nhằm đào tạo đội ngũ chuyên gia có nhân cách toàn diện đáp ứng yêu cầu của xã hội HĐHT của SV có thể diễn ra theo các phương thức đào tạo khác nhau, trong đó có phương thức đào tạo theo HCTC
Theo chúng tôi, khái niệm HĐHT theo HCTC được hiểu như sau:
“HĐHT theo HCTC là hoạt động của SV tự tổ chức, điều khiển, điều chỉnh
hoạt động học của bản thân một cách tích cực, chủ động dưới sự tổ chức, điều
Trang 34khiển, điều chỉnh của giáo viên nhằm lĩnh hội hệ thống tri thức, thái độ hình thành hành động học tập tương ứng để đạt được văn bằng, chứng chỉ sau khi đã tích lũy
đủ số tín chỉ theo quy định của nội dung, chương trình đào tạo ở trường ĐH đối với các văn bằng, chứng chỉ đó”
Như vậy, bản chất của đào tạo theo HCTC là quá trình cá nhân hóa việc học tập trong điều kiện giáo dục ĐH cho số đông người vì phương thức đào tạo theo HCTC có những điểm khác biệt nổi bật sau: Về khối lượng kiến thức tích lũy: theo môđun gắn với đơn vị là tín chỉ, đa dạng hóa hình thức tích lũy tín chỉ Về phương thức tổ chức quá trình giảng dạy: Theo kế hoạch và tiến độ của từng SV với đơn vị học vụ là học kì, bản thân người học được lựa chọn chương trình và quy trình học phù hợp với khả năng và điều kiện riêng của bản thân; HĐHT theo HCTC đòi hỏi tính chủ động, tích cực cao ở SV, quá trình dạy học coi trọng hoạt động tự học của
SV dưới sự tổ chức, dẫn dắt, điều khiển của người thầy
2.3.3 Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô
2.3.3.1 Sinh viên và các đặc điểm của Sinh viên
a Sinh viên
Thuật ngữ: “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “student” có nghĩa là
người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm và khai thác tri thức Nó dùng
nghĩa tương đương với “Student” trong tiếng Anh, “etudiant” trong tiếng Pháp để
chỉ những người theo học ở bậc ĐH, CĐ và được phân biệt với trẻ em đang học ở
trường phổ thông là các học sinh “learner”
SV là những người đang chuẩn bị cho một hoạt động mang lại lợi ích vật chất hay tinh thần của xã hội Các HĐHT, nghiên cứu khoa học, sản xuất hay hoạt động xã hội của họ đều phục vụ cho việc chuẩn bị tốt nhất cho hoạt động mang tính nghề nghiệp của mình sau khi kết thúc quá trình học trong các trường nghề Đa số
SV thuộc lứa tuổi từ 18 đến 25, một số ít có tuổi đời thấp hoặc cao hơn tuổi thanh niên [24]
Theo chúng tôi: SV là người học tập tại các trường ĐH, CĐ Ở đó, họ
được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc
Trang 35sau này của họ Một đặc trưng quan trọng của hoạt động học tập tại trường cao đẳng, đại học là sinh viên phải tự giác học tập, chủ động, độc lập, hợp tác trong quá trình học tập
Nhóm xã hội đặc biệt này có nguồn gốc bổ sung cho đội ngũ tri thức hoạt động học tập được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng có ích cho xã hội Hoạt động chủ đạo của SV trong các trường ĐH, CĐ là học tập và nghiên cứu khoa học [33]
Tóm lại, SV là những người trẻ tuổi, là thanh niên với sức khỏe dồi dào, yêu thích và luôn khám phá những điều mới lạ, có kinh nghiệm sống, vốn kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức thuộc lĩnh vực chuyên ngành làm nền tảng Tuy nhiên
về tính cách họ vẫn còn sự xốc nổi và bồng bột, thiếu kiên nhẫn, chín chắn do đó gặp khó khăn khi thực hiện kế hoạch lâu dài hoặc khi đối mặt với nhiệm vụ mới Chính vì vậy, chúng tôi nghiên cứu thích ứng của SV với HĐHT theo HCTC là việc làm rất cần thiết [31]
b Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên
- Sự phát triển nhận thức của SV: Hoạt động học tập của SV mang tính chất nghiên cứu khoa học theo hướng chuyên ngành đòi hỏi sự nỗ lực, ý chí cao, căng thẳng về trí tuệ và phối hợp nhiều thao tác tư duy Vốn hiểu biết của SV rất phong phú và sâu sắc Tính độc lập, chủ động, sáng tạo trong nhận thức là phẩm chất tâm
lý đặc trưng của thanh niên SV Năng lực nhận thức của SV cũng phát triển ở mức
độ cao và đa dạng, bên cạnh đó SV còn tham gia rất nhiều hoạt động: Chính trị - xã hội, Đoàn thanh niên, Hội SV…Do đó vị thế xã hội của SV được nâng cao, là lực lượng rất quan trọng của xã hội [24]
Môi trường hoạt động của SV: bao gồm cả môi trường học tập (trong các trường ĐH, CĐ) và môi trường sinh hoạt (Đời sống tập thể), môi trường xã hội với
sự xuất hiện của nhiều hoạt động mối quan hệ mới khác về chất so với giai đoạn là học sinh THPT, vì vậy đòi hỏi SV phải nhanh chóng thích ứng nắm được các phương thức hoạt động, cách ứng xử tuân theo quy tắc chẩn mực để thâm nhập thích ứng với môi trường mới [22]
Trang 36- Động cơ học tập của SV: Đây chính là nội dung tâm lý của HĐHT Động
cơ học tập của SV bị chi phối bởi nhiều yếu tố chủ quan và khách quan
Các yếu tố chủ quan chi phối động cơ học tập của SV chính là những yếu tố tâm lý như: Động cơ thành đạt, nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, niềm tin, lý tưởng Các yếu tố khách quan chi phối động cơ học tập của SV như: Yêu cầu của gia đình,
xã hội, điều kiện cụ thể của HĐHT, phương pháp giảng dạy của GV cũng lôi cuốn
và chi phối khá mạnh đến động cơ học tập của SV
- Sự phát triển nhân cách của SV: Quá trình phát triển nhân cách của SV diễn
ra theo xu hướng cơ bản là xây dựng, hoàn thiện, phát triển xu hướng nghề nghiệp…Một trong những phẩm chất nhân cách quan trọng nhất của SV là tự đánh giá Tự đánh giá ở SV còn là một hoạt động nhận thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể, đó là quá trình thu thập thông tin, xử lý và điều chỉnh thông tin về chính mình, từ đó tự điều chỉnh thái độ, hành vi của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Chính vì vậy tự đánh giá của SV vừa có ý nghĩa tự
ý thức, vừa có ý nghĩa tự giáo dục [39]
- Sự phát triển tự ý thức của SV: Ở cấp độ tự ý thức con người nhận thức, tỏ thái độ có chủ tâm và dự kiến trước hành vi của mình, làm cho hành vi trở nên có ý thức Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức Ở SV, tự ý thức là trình độ phát triển cao của ý thức, giúp họ có hiểu biết cao về thái độ, hành vi và các cử chỉ của bản thân Tự ý thức của SV thể hiện qua khả năng tự điều chỉnh nhận thức, thái độ
và hành động của mình phù hợp với quá trình học tập và lĩnh hội tri thức [24]
- Định hướng giá trị của SV: là một trong những lĩnh vực rất quan trọng đối với đời sống tâm lý của SV Định hướng giá trị là những giá trị được SV nhận thức,
ý thức và đánh giá cao, có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh thái độ, hành vi, lối sống của chủ thể nhằm vươn tới những giá trị đó
- Đời sống tình cảm của SV: Thời kì SV là thời kì phát triển mạnh nhất về tình cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức và tình cảm thẩm mỹ Những tình cảm này biểu hiện rất phong phú trong quá trình học tập và đời sống của họ [Dẫn theo 31, tr36]
Trang 37Như vậy, SV là những người trẻ, khỏe, là tầng lớp tri thức tương lai của xã hội Khi bước lên học tập ở môi trường ĐH có sự khác biệt cơ bản so với học tập ở bậc phổ thông do vậy, SV sẽ gặp nhiều khó khăn để thích ứng được với môi trường học tập mới Phải sau một thời gian học tập ở trường ĐH, đa số SV thích ứng khá nhanh với môi trường xã hội mới nhưng lại khó khăn khi thích nghi với những yêu cầu học tập mới có tính chất nghiên cứu khoa học và nghề nghiệp Mức độ thích ứng này có ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến thành công trong học tập của họ Chính
vì vậy, chúng tôi rất quan tâm nghiên cứu thích ứng của SV với HĐHT theo HCTC
Theo chúng tôi, ngoài những đặc điểm chung của SV nói trên thì SV Trường
ĐH Thành Đô có những đặc điểm riêng như sau:
- SV Trường ĐH Thành Đô đa phần là những thí sinh thi không đỗ vào các trường ĐH công lập, hằng năm thí sinh nhập học vào nhà trường là những thí sinh
đỗ theo nguyện vọng 2, nguyện vọng 3 Vì vậy, điểm chuẩn cho tất cả các ngành nghề đào tạo của trường lấy bằng điểm sàn của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định Nhìn chung đầu vào hàng năm của SV nhà trường thấp, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thích ứng của SV với HĐHT theo HCTC Thực tế cho thấy SV Trường ĐH Thành Đô còn thụ động trong các HĐHT như việc đăng kí môn học cho học kì mới, mặc dù mỗi SV đã được cấp mã số riêng, tài khoản riêng để truy cập vào hệ thống phần mềm quản lý đào tạo của nhà trường, nhưng có khá nhiều SV quên tài khoản và mật khẩu truy cập vì chủ quan Đặc biệt là SV chưa chủ động, tích cực tìm kiếm tài liệu học tập phục vụ cho quá trình học của bản thân, việc đăng
kí học lại, thi lại, trả nợ các môn bị điểm F còn bị động; đăng kí học cải thiện còn hạn chế
- Phần lớn SV xuất phát từ các gia đình có thu nhập trung bình trở lên học phí của SV nhà trường thường cao hơn gấp đôi các trường công lập, khả năng chi trả học phí là khá lớn Mức thu học phí theo học kì của nhà trường từ năm học 2015 – 2016 đối với ngành Dược học là 450.000 đồng/tín chỉ, đối với các ngành đào tạo còn lại là 210.000 đồng/ tín chỉ [34]
Trường ĐH Thành Đô là một trong những trường ĐH tư thục đầu tiên
Trang 38được thành lập, không giống như các trường khác có nhiều cơ sở hoặc phải đi thuê, mượn địa điểm, nhà trường có trụ sở duy nhất tại xã Kim Chung, huyện Hoài Đức,
TP Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho SV Với đặc thù SV trường ĐH tư thục
là đầu vào thấp, điểm trúng tuyển hằng năm chỉ lấy bằng mức điểm sàn quy định, vài năm gần đây trường luôn gặp khó khăn về nguồn tuyển sinh nên khả năng thích ứng của SV nhà trường diễn ra chậm hơn
Hình thức đào tạo theo HCTC đòi hỏi sự chủ động, tích cực, ở SV cao hơn Nhưng thực tế cho thấy, tính tích cực, chủ động trong học tập của SV Trường Đại học Thành Đô còn thấp Tình trạng SV thi lại, học lại các môn đặc biệt là những môn khoa học cơ bản tăng lên Theo thống kê của Phòng đào tạo, tình trạng SV nợ môn, không tốt nghiệp theo đúng thời hạn tăng lên qua các năm khi nhà trường
chuyển sang đào tạo theo HCTC Theo yêu cầu của HCTC:“Đối với những học
phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm để tiếp thu được một tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân” Vì vậy, để phục vụ HĐHT của SV nhà
trường đã tách phòng học liệu từ tầng 7 nhà B xuống tầng 3 nhà C, cạnh giảng đường để thuận tiện cho SV Nhưng thống kê của Trung tâm thông tin thư viện cho thấy số lượt SV vào Phòng học liệu tìm giáo trình đọc và nghiên cứu tài liệu vẫn hạn chế
Điểm khác biệt trong đào tạo tín chỉ của Trường ĐH Thành Đô là SV của trường được đăng kí thi lại 1 lần với những học phần SV thi lần đầu không đạt SV thường nhầm khi đăng kí trực tuyến học lại nên thành công nợ học phí SV mà quy định của nhà trường là viết đơn đăng kí và đăng kí trực tiếp với Phòng đào tạo và nộp lệ phí thi lại tại Phòng kế toán [34]
Tóm lại, với SV Trường ĐH Thành Đô, đào tạo theo HCTC sẽ gây ra những khó khăn nhất định cho họ bởi sự mới mẻ Nghiên cứu thực trạng thích ứng và tìm
ra giải pháp cho thực trạng trên là một việc làm cần thiết
2.3.3.2 Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô
Trang 39a Khái niệm thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Thành Đô
Từ những kết quả nghiên cứu về thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV
theo chúng tôi: Thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
là sự tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của sinh viên phù hợp với những yêu cầu của các hành động: (Xây dựng kế hoạch học tập; đăng kí môn học; học lý thuyết trên lớp; thảo luận, làm việc nhóm; tự học, tự nghiên cứu) nhằm đạt kết quả học tập tốt nhất
Đặc trưng cơ bản nhất của học tập theo phương thức đào tạo theo HCTC là quá trình dạy học lấy người học làm trung tâm, trao quyền chủ động, tự quyết cho
SV, vì vậy đòi hỏi SV phải chủ động, tích cực và tự giác ở mức độ cao Đây vừa là
cơ hội, vừa là thách thức với SV Để đảm bảo yêu cầu đào tạo, SV phải chủ động thay đổi nhận thức, thái độ, hành động đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động, nghĩa là SV phải thích ứng, phải biết điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp với môi trường, hoàn cảnh
và đáp ứng được các yêu cầu, nhiệm vụ mà HĐHT đặt ra [36]
b Đặc điểm thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
Thích ứng của SV với HĐHT theo HCTC có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất: Thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV là sự thay đổi tâm lý một cách tích cực, chủ động của SV khi tham gia HĐHT theo HCTC Để hình thành, phát triển khả năng học tập theo HCTC, SV phải thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của nhà trường, tham gia tích cực vào các hoạt động và các khóa học ngắn hạn nhằm lĩnh hội kiến thức mới, điều chỉnh các HĐHT Chủ động hỏi các thầy cô, cố vấn học tập, anh, chị khóa trước về phương thức học tập theo HCTC để thích ứng tốt hơn và không thụ động trước những yêu cầu mới của chương trình đào tạo theo HCTC [10]
Thứ hai: Thích ứng với HĐHT theo HCTC nảy sinh trước những yêu cầu, nhiệm vụ của HĐHT theo HCTC Khi yêu cầu, nhiệm vụ học tập đặt ra, điều kiện, phương thức học tập thay đổi đòi hỏi SV phải tích cực, chủ động thay đổi bản thân
để hình thành phương thức hành động phù hợp và đạt kết quả trong học tập Học tập
Trang 40theo HCTC, SV phải biết tự lập kế hoạch học tập; tự đăng ký môn học; tự học, tự nghiên cứu… mà trước đây, ở bậc học dưới SV chưa được tiếp cận Như vậy, để đáp ứng yêu cầu ở bậc ĐH, đảm bảo đủ số tín chỉ, có kết quả tốt thì SV phải thích ứng với các hành động trên
Thứ ba: Kết quả thích ứng là chủ thể tích cực, chủ động trong nhận thức, thái
độ và hành động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của HĐHT theo HCTC
Để SV đảm bảo tiến trình ra trường, đạt kết quả tốt, thì bản thân SV phải tích cực, chủ động từ nhận thức đến thái độ và hành động Học tập theo HCTC đòi hỏi SV phải xây dựng cho mình được kế hoạch học tập, đăng ký đủ số tín chỉ theo khung chương trình đào tạo, biết thảo luận, làm việc nhóm, hình thành khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự đánh giá…SV nên tìm hiểu thông qua các anh, chị khóa trước, thầy
cô, bạn bè…để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra của HĐHT theo HCTC Như vậy thích ứng với HĐHT theo HCTC là thích ứng tâm lý
Thứ tư: Biểu hiện khách quan, rõ nét nhất về thích ứng ở SV là việc học tập phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của HĐHT theo HCTC đề ra SV thích ứng nghĩa là bản thân xây dựng được kế hoạch học tập, tự học, tự đánh giá… Quan trọng hơn cả
là SV phải thực hiện các hành động đó để có kết quả tốt [31, tr37-38]
2.4 Các mặt biểu hiện sự thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên
Thích ứng với HĐHT theo HCTC của SV được đánh giá trên ba mặt: Nhận thức, thái độ và hành động Ba mặt đó được biểu hiện cụ thể qua nhận thức về bản chất đào tạo theo HCTC và qua những hành động học tập cơ bản sau: Xây dựng kế hoạch học tập; đăng kí môn học; học lý thuyết trên lớp; thảo luận, làm việc nhóm;
tự học, tự nghiên cứu
2.4.1 Xây dựng kế hoạch học tập
* Nhận thức: Bất kể khi làm một việc gì, hay thực hiện một hành động nào
đó chúng ta cũng phải có kế hoạch Trong học tập cũng vậy, lập kế hoạch học tập
là rất cần thiết đối với SV nói chung SV phải có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về xây dựng kế hoạch học tập: