1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong tại thị xã bình minh tỉnh vĩnh long

101 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP PHAN QUỐC THÁI GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CẢI XÀ LÁCH XOONG TẠI THỊ XÃ BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG LUẬN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

PHAN QUỐC THÁI

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CẢI XÀ LÁCH XOONG TẠI THỊ XÃ BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

ĐỒNG NAI - 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

PHAN QUỐC THÁI

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT CẢI XÀ LÁCH XOONG TẠI THỊ XÃ BÌNH MINH

Trang 3

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Trang 4

Qua hai năm học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp, em đã được quý Thầy, Cô trang bị rất nhiều kiến thức bổ ích về kinh tế nông nghiệp thông qua sự giảng dạy và hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy, Cô Qua khóa học này, em đã học được cả về lý thuyết và chứng minh thực tiễn về những kiến thức kinh tễ -

xã hội Những kiến thức bổ ích đó sẽ trở thành hành trang giúp em trưởng thành

và thành công trong tương lai

Bằng tất cả lòng biết ơn và kính trọng, em xin gửi đến quý Thầy, Cô trường Đại học Lâm nghiệp, trường Đại học Cần Thơ lời biết ơn chân thành và sâu sắc nhất Đặc biệt em chân thành cảm ơn thầy Lê Tấn Nghiêm đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện và giúp đỡ em hoàn thành đề tài tốt nghiệp

Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến toàn thể Cô, Chú, Anh, Chị phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thông thị xã Bình Minh, Chi cục Thống kê thị

xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho

em thu thập số liệu thứ cấp và sơ cấp phục vụ cho đề tài nghiên cứu

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Trang

Lời cam đoan i

Lời cám ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục các bảng viii

Danh mục các hình vẽ, đồ thị x

MỞ ĐẦU 1

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp 4

1.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp 4

1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 5

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp 8

1.1.5 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả trong sản xuất 9

1.2 Lược khảo tài liệu nghiên cứu 11

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 16

2.1.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 16

2.1.1.1 Vị trí địa lý 16

Trang 6

2.1.1.3 Khí hậu 18

2.1.1.4 Sông ngòi 18

2.1.2 Điều kiện inh tế - xã hội của thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 18

2.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề nghiên cứu 19

2.2.1 Giới thiệu về cải xà lách xoong 19

2.2.2 Sơ lược về sản xuất xà lách xoong tại thị xã Bình Minh 20

2.2.3 Hiệu quả kinh tế từ việc sản xuất cải xà lách xoong 21

2.2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng xà lách xoong qua các năm 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 24

2.3.1 Định nghĩa các thuật ngữ 24

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 25

2.3.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 26

2.3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.3.2.4 Phương pháp phân tích 27

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Thực trạng sản xuất cải xà lách xoong của nông hộ tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 32

3.1.1 Đặc điểm chung của nông hộ trồng cải XLX trong mẫu điều tra 32

3.1.1.1 Về độ tuổi của chủ hộ 32

3.1.1.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 33

3.1.1.3 Kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ 34

3.1.1.4 Số nhân khẩu của nông hộ 35

3.1.1.5 Về số người tham gia trồng cải xà lách xoong 36

3.1.1.6 Diện tích đất trồng XLX của hộ 37

3.1.1.7 Thời vụ và chu kỳ sống của cây cải XLX 39

3.1.1.8 Phương tiện trang bị phục vụ cho sản xuất cải xà lách xoong 40

Trang 7

xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 40

3.1.3 Tình hình thiêu thụ sản phẩm cải xà lách xoong của nông hộ tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 41

3.1.3.1 Đối tượng bán sản phẩm 41

3.1.3.2 Hình thức thanh toán 42

3.1.3.3 Sản lượng, giá bán cải và thu nhập từ trồng xà lách xoong của nông hộ tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 42

3.1.3.4 Thu nhập ròng (lợi nhuận) của hộ từ hoạt động XLX 43

3.1.4 Tập huấn khoa học kỹ thuật vào sản xuất cải xà lách xoong 44

3.1.5 Tình hình tham gia hợp tác xã của nông hộ 45

3.1.6 Những khó khăn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ XLX 46

3.1.7 Nhận định về sự phát triển của mô hình 47

3.1.8 Những thay đổi sắp tới của hộ để phát triển mô hình XLX 48

3.2 Phân tích hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong của nông hộ tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 49

3.2.1 Phân tích các loại chi phí trồng cải xà lách xoong của nông hộ 49

3.2.1.1 Chi phí giống 50

3.2.1.2 Chi phí vật tư nông nghiệp 50

3.2.1.3 Chi phí thuê lao động 51

3.2.1.4 Chi phí nhiên liệu 51

3.2.1.5 Chi phí khấu hao 52

3.2.1.6 Chi phí khác 52

3.2.1.7 Lao động gia đình và chi phí lao động gia đình 52

3.2.1.8 Tổng chi phí sản xuất 53

3.2.1.9 Cơ cấu các khoảng chi phí trong sản xuất XLX 53

3.2.2 Phân tích hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong của nông hộ tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 54

Trang 8

lách xoong tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 57

3.2.4 Kết quả mô hình 57

3.3 Giải phap nâng cao hiệu quả sản xuất cái xà lách xoong tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long 60

3.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 60

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong tại thị xã Bình Minh 61

3.3.2.1 Giải pháp về sản xuất 61

3.3.2.2 Giải pháp về thị trường tiêu thụ 63

3.3.2.3 Giải pháp về quy hoạch và đầu tư cơ sở hạ tầng 65

3.3.2.4 Giải pháp về đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất 66

3.3.2.5 Giải pháp về cơ chế, chính sách 67

3.3.2.6 Tăng cường sự quản lý của Nhà nước 68

3.3.2.7 Liên kết chặt chẽ Bốn nhà trong sản xuất và tiêu thụ XLX 68

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 72

1 KẾT LUẬN 72

2 KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 75 PHỤ LỤC

Trang 9

ĐBSCL: đồng bằng sông Cửu Long

HTX: Hợp tác xã

KIP: phỏng vấn người am hiểu

PRA: đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia

RAT: rau an toàn

Sở NN&PTNT: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn TPCT: Thành phố Cần Thơ

TTNK: Trung tâm khuyến nông

XLX: xà lách xoong

Trang 10

Số hiệu

2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng xà lách xoong thị xã Bình

Trang 11

3.20 Ngày công và chi phí lao động gia đình 52

3.23 Ý nghĩa của các biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập

Trang 12

Số hiệu

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp với đa dạng cây trồng, vật nuôi Trong đó diện tích sản xuất hoa màu chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống nông nghiệp Cải xà lách xoong (XLX) là một trong những loại hoa màu

có chất lượng, được ưa chuộng và trồng nhiều tỉnh Vĩnh Long đặc biệt là tại thị

xã Bình Minh

Trong nhiều năm qua sản xuất cải xà lách xoong đã đạt được những tiến

bộ đáng kể, góp phần đa dạng hoá cơ cấu cây trồng trong nền nông nghiệp của địa phương nói riêng và cho cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung, cải thiện đời sống cho nhiều hộ dân sản xuất cải xà lách xoong Với lợi thế địa hình bằng phẳng, đất đai phì nhiêu cùng với việc ứng dụng biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất, những năm qua sản lượng cải xà lách xoong được ổn định cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ trên cả nước Tuy nhiên, bên cạnh việc sản xuất hiệu quả cao, đem lại lợi nhuận cho nhiều hộ nông dân thì vẫn còn không ít hộ sản xuất kém hiệu quả, mất mùa do chăm sóc, bón phân, phun thuốc không đúng kỹ thuật khiến cho việc canh tác cải xà lách xoong chưa phát huy được hiệu quả vốn có của nó Vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu một cách toàn diện các biện pháp kỹ thuật, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả trong quá trình sản xuất, cũng như vấn đề chăm sóc để nâng cao giá trị thu nhập cho người nông dân trên một đơn

vị diện tích Trước tình hình đó, “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà

lách xoong tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long” là cần thiết để đánh giá được

thực trạng sản xuất cải xà lách xoong hiện nay tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long, khẳng định hiệu quả mà loại cây màu này mang lại cho nền kinh tế nói

Trang 14

chung và trong sản xuất nông nghiệp nói riêng Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cải xà lách xoong của các hộ nông dân trên địa bàn

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 Mục tiêu tổng quát

Phân tích hiệu quả sản xuất của mô hình sản xuất xà lách xoong, xác định các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất một số giải nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long

 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất nông nghiệp

- Đánh giá thực trạng và hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong của các hộ nông dân tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long;

- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong tại thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long

3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Hiện trạng sản xuất và nguồn lực đầu tư của mô hình canh tác như thế nào?

- Mô hình mang lại hiệu quả cho người dân sản xuất như thế nào?

- Các yếu tố nào tác động đến hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong?

- Những thuận lợi và trở ngại trong sản xuất là gì?

- Giải pháp nào cần thiết để khai thác thế mạnh trong sản xuất của mô hình?

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong trong quá trình canh tác

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Trang 15

+ Về nội dung: Đánh giá thực trạng của nông hộ sản xuất cải xà lách xoong trên địa bàn, xác định các nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong, từ đó đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất cải xà lách xoong

+ Về không gian: nghiên cứu trên 2 địa bàn cấp xã thuộc thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long

+ Về thời gian: nghiên cứu thực trạng sản xuất cải xà lách xoong giai đoạn

2011 – 2013

5 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương và kết luận - kiến nghị

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu

- Chương 2: Đặc điểm tự nhiên của địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

- Kết luận - Kiến nghị

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Khái niệm về sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm Theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp

Phát triển nông nghiệp hiện vẫn được coi là vấn đề then chốt, quyết định

sự thành công của quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nói riêng của nhiều quốc gia Đặc biệt với Việt Nam, một nước có nền sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, sự đóng góp của nông nghiệp, nông thôn vào sự phát triển chung của nền kinh tế quốc dân càng to lớn Phát triển nông nghiệp, nông thôn là một quá trình tất yếu cải thiện một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường Từ đó cho thấy vai trò quan trọng của sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam

1.1.2 Vai trò của sản xuất nông nghiệp

Vai trò đó được thể hiện qua các điểm sau:

Thứ nhất, nông nghiệp là ngành cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu

dùng, nó tạo nên sự ổn định, đảm bảo an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội

Thứ hai, nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp

Nguyên liệu từ nông nghiệp là đầu vào quan trọng cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác

Trang 17

Thứ ba, nông nghiệp giúp phát triển thị trường nội địa Việc tiêu dùng của

người nông dân và mạng dân cư nông thôn đối với hàng hóa công nghiệp, hàng hóa tiêu dùng (vải, đồ gỗ, dụng cụ gia đình, vật liệu xây dựng), hàng hóa tư liệu sản xuất (phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ, trang thiết bị, máy móc) là tiêu biểu cho sự đóng góp về mặt thị trường của ngành nông nghiệp đối với quá trình phát triển kinh tế

Thứ tư, nông nghiệp cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế Cụ thể như năm

2011, xuất khẩu sản phẩm ngành nông nghiệp đạt tới 25 tỷ USD, với mức xuất siêu 9,2 tỷ USD, góp phần giảm nhập siêu của cả nước

Thứ năm, nông nghiệp cung cấp nguồn lực cho các ngành kinh tế khác

Thông qua nguồn thu từ thuế đất nông nghiệp, thuế xuất khẩu nông sản, nhập khẩu tư liệu sản xuất nông nghiệp, Nhà nước sẽ thu được một nguồn ngân sách lớn, dùng đầu tư cho phát triển kinh tế

1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:

Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc biệt trên cho thấy

ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết – khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng v.v… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử

Trang 18

dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét Đặc điểm này đòi hỏi quá trình tổ chức chỉ đạo sản xuất nông nghiệp cần phải chú ý các vấn đề kinh tế – kỹ thuật sau đây:

- Tiến hành điều tra các nguồn tài nguyên về nông – lâm – thuỷ sản trên phạm

vi cả nước cũng như tính vùng để qui hoạch bố trí sản xuất các cây trồng, vật nuôi cho phù hợp

- Việc xây dựng phương hướng sản xuất kinh doanh, cơ sở vật chất kỹ thuật phải phù hợp với đặc điểm và yêu cầu sản xuất nông nghiệp ở từng vùng

- Hệ thống các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện từng vùng, từng khu vực nhất định

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau Trong công nghiệp, giao thông v.v… đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng các nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông v.v… để con người điều khiển các máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động

Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm, theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất

là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên về nông sản phẩm của loài người Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quí trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo

Trang 19

và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương

Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao Đó là nét đặc thù điển hình nhất

của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt quá trình sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết – khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng – loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản

Trang 20

cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng, ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã

ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm

cỏ, tưới tiêu v.v… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng

về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư –

kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn

1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp

Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông nghiệp được chia thành 2 nhóm yếu tố cơ bản là nhóm yếu tố tự nhiên và nhóm yếu tố về kinh tế -

xã hội

Nhóm yếu tố tự nhiên: Yếu tố tự nhiên là cơ sở tự nhiên để phát triển và

phân bố nông nghiệp Nhóm yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về đất, khí hậu – nước và sinh vật

- Đất: bao gồm các yếu tố như quỹ đất, tính chất đất và độ phì của đất Về cơ bản, các yếu tố này ảnh hưở ng tới quy mô sản xuất, cơ cấu và phân bố, năng suất

- Khí hậu - nước: bao gồm chế độ nhiê ̣t, độ ẩm, các điều kiê ̣n thời tiết và nguồn nướ c…Yếu tố này ảnh hưởng tới thời vu ̣, cơ cấu cây trồ ng, vâ ̣t nuôi, khả năng xen canh tăng vu ̣, tính ổn đi ̣nh hay bấp bênh của SX NN

Trang 21

- Sinh vật, bao gồm các yếu tố về: loài cây, con; đồng cỏ; nguồ n thức ăn tự nhiên Đây là cơ sở tạo nên các giống cây trồng, vật nuôi và cơ sở thức ăn cho gia súc

Nhân tố kinh tế - xã hội: nhóm nhân tố về kinh tế - xã hội bao gồm các

yếu tố như: dân cư, lao động; tiến bộ khoa học kỹ thuật; sở hữu ruộng đất và thị trường tiêu thụ

- Dân cư lao động: dân cư và lao động là lực lươ ̣ng sản xuất trực tiếp và là nguồ n tiêu thụ nông sản Do đó, dân cư và lao động ảnh hưởng tới cơ cấu và sự phân bố cây trồ ng

- Tiến bộ khoa học kỹ thuật: bao gồm các tiến bộ trong việc áp dụng cơ giới

hóa, thủy lơ ̣i hóa, hóa ho ̣c hóa, cách mạnh xanh về công nghê ̣ sinh ho ̣c Các yếu

tố này giú p chủ đô ̣ng trong sản xuất, nâng cao năng suất, chất lươ ̣ng và sản lươ ̣ng

- Sở hữu ruô ̣ng đất: các vấn đề về quan hê ̣ sở hữu Nhà nước, tâ ̣p thể, tư nhân về ruộng đất ảnh hưởng tới con đường phát triển nông nghiệp, các hình thức tổ chứ c lãnh thổ nông nghiệp

- Thi ̣ trường tiêu thu ̣: đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động sản xuất nông nghiệp Thị trường tiêu thụ có ảnh hưởng tới giá cả nông sản, điều tiết sản xuất nông nghiệp

1.1.5 Cơ sở lý thuyết về hiệu quả trong sản xuất

 Khái niệm hiệu quả: Hiệu quả là sự so sánh giữa chi phí đầu tư với các

giá trị của đầu ra, viê ̣c tối đa hóa thu nhâ ̣p và hoă ̣c là tối thiểu hóa chi phí, là mối tương quan giữa viê ̣c sử dụng nguồn lực và tỷ lê ̣ đầu ra, đầu vào Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt kết quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: không sử dụng nguồn lực lãng phí, sản xuất

Trang 22

với chi phí thấp nhất, sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người Hiệu quả là tỷ

lệ giữa kết quả đạt được so với mục tiêu đặt ra

 Hiệu quả kỹ thuật: đòi hỏi nhà sản xuất tạo ra một số lượng sản phẩm

nhất định xuất phát từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Thật ra, hiệu quả kỹ thuật được xem là một phần nhỏ của hiệu quả kinh tế Bởi vì, muốn công

ty đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết họ phải có được hiệu quả kỹ thuật

 Hiệu quả phân phối: thể hiện mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người

tiêu dùng Có nghĩa là, nhà sản xuất phải cung cấp những sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng cần nhất hay nói cách khác các nguồn lực phải được phân phối sao cho lợi ích của người sử dụng nó đạt được cao nhất Tuy nhiên, trong hiệu quả phân phối rõ ràng rằng không thể tăng lợi ích của nhóm người này mà không làm giảm lợi ích của nhóm người khác Nhìn chung, trong sản xuất kinh doanh thì hiệu quả phân phối xảy ra khi giá cả của sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng sẵn sàng trả bằng với chi phí của các nguồn lực dùng để sản xuất (giá bằng với chi phí biên)

 Hiệu quả tài chính còn được gọi là hiệu quả sản xuất - kinh doanh hay

hiệu quả doanh nghiệp: là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi một doanh

nghiệp Hiệu quả tài chính phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có lợi ích kinh tế

 Hiệu quả tài chính: các dòng tiền lưu chuyển ra và vào dự án, quản lý tài

chính dự án là quản lý các dòng tiền này Dòng tiền là cái được ghi sổ sách, và là cái thấy được Khi nói chi phí lao động về mặt tài chính là người ta nói về tổng

số tiền lương phải trả cho lao động trong suốt quá trình dự án Nói dự án đạt được hiệu quả tài chính là nói tổng giá trị hiện tại của doanh thu dự án lớn hơn tổng giá trị hiện tại của chi phí dự án

Trang 23

 Hiệu quả kinh tế quốc dân còn đợc gọi là hiệu quả KT-XH: là hiệu quả

tổng hợp được xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Chủ thể của hiệu quả

KT-XH là toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là Nhà nước, vì vậy những lợi ích

và chi phí được xem xét trong hiệu quả KT-XH xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền kinh tế quốc dân

 Hiệu quả kinh tế: hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng

kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra, biểu hiện tính hữu hiệu về kinh tế của việc sử dụng các vật tư, lao động, tiền vốn trong sản xuất kinh doanh, nó chỉ ra mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế mang lại với chi phí bằng tiền trong mỗi kỳ kinh doanh Lợi ích kinh tế lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao

1.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Axis, 2005, “Chuỗi giá trị ngành hàng rau quả ở tỉnh Hà Tây”; Kết quả

nghiên cứu cho thấy: (i) thị trường tiêu thụ ngắn, tập trung trong nội tỉnh, các kênh dài tại các tỉnh xa như Miền Trung, Miền Nam chưa phát triển; (ii) thị trường phát triển dựa trên hệ thống tư thương chưa có sự tham gia của Nhà nước; (iii) việc sản xuất, thương mại của các tác nhân vẫn còn lệ thuộc thị trường; (iv) giá cả bất ổn Các giải pháp nhóm nghiên cứu đưa ra: (i) Quy hoạch tổ chức lại sản xuất từng loại cụ thể cho phù hợp cho từng địa bàn; (ii) tổ chức sản xuất mô hình kiểm tra tính phù hợp để nhân rộng; (iii) cải thiện hệ thống thủy lợi; (iv) hỗ trợ vốn, khuyến khích sản xuất theo dạng trang trại; (v) Đưa ra các chính sách thương mại khuyến khích các công ty tham gia; (vi) tổ chức sản xuất theo hướng liên kết bao tiêu sản phẩm với hợp đồng cụ thể

Axis, 2005,“Kết quả thảo luận với nhóm trồng rau an toàn ở thành phố

Cần Thơ”, với phương pháp thảo luận nhóm cho thấy, nông dân đang triển khai

trồng rau an toàn, tuy nhiên diện tích trồng rau còn rất nhỏ so với trái cây, chưa

Trang 24

qui hoạch thành khu vực rộng, diện tích trung bình của một hộ trồng rau từ 500m2 Bên cạnh đó, kinh nghiệm canh tác rau còn thấp, chủ yếu tập trung ở nhóm có từ 1-5 năm kinh nghiệm, hầu như chưa hộ nông dân nào đạt tiêu chuẩn rau an toàn cho đến thời điểm cuối 2004 Kết quả nghiên cứu này cho thấy hiện nay các hộ nông dân Cần Thơ đang trồng nhiều các loại rau ăn lá, rau gia vị (rau thơm, ngò rí, húng cây, xà lách, tần ô v.v…) và rau ăn quả (mướp, bí, dưa leo, chanh, cà chua v.v…) Ngoại trừ một số loại rau quả như cà chua, đậu côve v.v…thường được dành riêng đất cho việc trồng, các loại khác được trồng chủ yếu xen canh với cây lúa (2 lúa 1 màu) Việc thu hoạch rau trong một năm của nông dân Cần Thơ trung bình từ 3 đến 6 lần/năm (tuỳ loại rau trồng), tập trung vào tháng 3-4 và tháng 8-9 Âm lịch

200-Nguyễn Văn Thuận, 2008, “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu

dùng sản phẩm rau an toàn tại thành phố Cần Thơ” Đề tài nghiên cứu được

tiến hành dựa trên việc phỏng vấn trực tiếp 100 người hiện đang có tiêu dùng rau

an toàn (RAT), đồng thời thông qua phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA) để thu thập những thông tin chung về thực trạng sản xuất và tiêu dùng RAT trên địa bàn thành phố Cần Thơ (TPCT) Đối tượng cung cấp thông tin trong PRA là các bộ địa phương và cán bộ ngành nông nghiệp của TPCT Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, TPCT chưa có vùng chuyên canh sản xuất RAT, hầu hết RAT hiện tại chỉ được trồng bởi những nông hộ sản xuất nhỏ, lẻ Tuy nhiên,

có một số nơi hình thành những câu lạc bộ sản xuất và cung cấp RAT cho các siêu thị Metro và CoopMart (như ở Long Tuyền, Bình Thủy) Hệ thống phân phối RAT còn rất hạn chế, chủ yêu hiện nay RAT chỉ được phân phối thông qua

hệ thống siêu thị Hiện tại, nhu cầu sử dụng RAT của người dân tương đối cao Tuy nhiên, do giá cả cao so với rau thông thường nên phần lớn người tiêu dùng

Trang 25

RAT hiện tại chỉ giới hạn ở những hộ gia đình có thu nhập tương đối cao Ngoài

ra, lòng tin của người tiêu dùng đối với tính an toàn của RAT cũng chưa thật sự cao lắm do phần lớn RAT hiện nay đang được phân phối trên thị trường chưa có nhãn hiệu Thuận lợi lớn nhất của việc sản xuất RAT ở TPCT là dân cư sống ở vùng thành phố cao và có hệ thống siêu thị, chợ tương đối hoàn chỉnh Tuy nhiên, sản xuất với qui mô nhỏ, lẻ, năng lực nối kết thị trường của người trồng được xem là khó khăn lớn hiện nay để phát triển ngành RAT ở TPCT, đồng thời,

có ba yếu tố có ảnh hưởng ý nghĩa đến lượng RAT được sử dụng: (i) khoảng cách mua hàng; (ii) lòng tin của khách hàng; (iii) tính sẵn có của sản phẩm RAT

Để thúc đẩy phát triển ngành RAT ở TPCT, một số giải pháp được đưa ra: (i) tổ chức thêm điểm bán hàng và đa dạng hoá tác nhân phân phối trên địa bàn TPCT

để tạo sự thuận tiện hơn cho người tiêu dùng trong việc mua hàng; (ii) các nhà phân phối, nhà sản xuất nên kết hợp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nhằm tăng lòng tin của khách hàng; (iii) tổ chức lại sản xuất theo hình thức tổ/nhóm hợp tác, câu lạc bộ hoặc hợp tác xã, đồng thời tăng cường việc nối kết với những nhà phân phối để tạo sự ổn định trong sản xuất và tiêu thụ RAT

Phạm Hải Bửu, Nguyễn Văn Sánh, Dương Ngọc Thành & CTV, 2007,

“Đánh giá hiệu quả kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết

sản xuất rau an toàn cung cấp cho các siêu thị tại thành phố Cần Thơ” được

thực hiện thông qua phương pháp PRA và phỏng vấn người trồng rau tại vùng trồng rau Long Tuyền, bao gồm những hộ đã tham gia hợp tác xã (HTX) sản xuất và những hộ chưa tham gia HTX Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động sản xuất của nhóm hộ đã tham gia HTX mang lại hiệu quả cao hơn so với nhóm

hộ chưa tham gia HTX Lợi nhuận thu được của những hộ trong HTX là 33,61 triệu đồng/1000m2/năm và nhóm hộ ngoài HTX là 28,42 triệu

Trang 26

đồng/1000m2/năm Sự chênh lệch lợi nhuận giữa 2 nhóm này chưa cao, chưa tạo

ra sự khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê Và đây là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc liên kết sản xuất rau an toàn để cung cấp cho người tiêu dùng trong thời gian qua Qua kết quả phân tích, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động liên kết sản xuất: (i) Lợi nhuận của mô hình liên kết sản xuất đa dạng các loại rau để cung cấp cho các siêu thị chưa cao; (ii) Thiếu sự đồng thuận trong việc hợp tác sản xuất giữa những người trồng rau; (iii) Nhu cầu của siêu thị về các loại sản phẩm tương đối ít; (iv) Kỹ thuật sản xuất của người trồng rau còn hạn chế; (v) Vị trí đất sản xuất Để đẩy mạnh hoạt động liên kết sản xuất và phát triển mô hình rau

an toàn thì cần có sự kết hợp chặt chẽ những giải pháp về kỹ thuật, giải pháp về thị trường Bên cạnh đó, cần có sự hỗ trợ về kỹ năng tổ chức sản xuất, kỹ năng quản lý và kiến thức thị trường của nhà khoa học và sự hỗ trợ nối kết sản xuất với thị trường của các tổ chức xúc tiến thương mại

Lê Văn Kiên, 2012, “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong tại

Thuận An, Bình Minh, Vĩnh Long” Kết quả cho thấy hộ canh tác xà lách

Xoong trên địa bàn nghiên cứu có các thuận lợi như: (i) Tuổi chủ hộ nằm trong

độ tuổi lao động chiếm đa số; (ii) lực lượng lao động dồi dào, (iii) Kinh nghiệm canh tác trung bình 4 năm; (iv) được tham gia tập huấn;(v) năng suất cao Bên cạnh đó cũng gặp một số khó khăn: (i) trình độ học vấn thấp đa số học cấp 1 (43%); (ii) diện tích canh tác nhỏ lẻ và không xử lý đất, giống trước khi trồng; (iii) kỹ thuật canh tác còn hạn chế nên việc sử dụng các yếu tố đầu vào như phân bón, thuốc,… chưa hợp lý so với khuyến cáo; (iv) sâu bệnh nhiều thường gặp là sâu vẽ bùa, sâu xanh da láng, sâu tơ, sâu ăn tạp, bệnh đốm lá, thối nhũn; (v) thị trường tiêu thụ còn hạn chế (chỉ bán cho thương lái)

Trang 27

Nguyễn Ngọc Huyền, 2012, “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong

tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long” Kết quả cho thấy hộ canh tác xà lách

xoong trên địa bàn nghiên cứu có các thuận lợi như: (i) 100% hộ đều lên liếp, đào rảnh, làm cỏ tưới nước & che mát khi trồng cải xà lách xoong; (ii) Đa số chủ

hộ nằm trong tuổi lao động (30-40 tuổi chiếm 60%); (iii) Các hộ có kinh nghiệm trồng rau màu lâu năm; (iv) Đa số hộ có bón lót trước khi trồng; (v) năng suất cao;… Bên cạnh đó, vần còn gặp một số khó khăn như: (i) trình độ học vấn của

hộ còn thấp (cấp 1 là chủ yếu); (ii) đa số nông dân chưa tham gia tấp huấn; (iii) diện sản xuất nhỏ lẻ, manh mún; (iv) thời vụ không tập trung mà rãi rác quanh năm; (v) nông dân không có thói quen sử dụng phân hữu cơ; (v) không đảm bảo thời gian cách ly dư lượng thuốc trong rau; (vi) thị trường bán hạn chế, chỉ bán cho thương lái

Trang 28

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này trình bày về đặc điểm tự nhiên của địa bàn nghiên cứu cứu,

cơ cấu lý thuyết và quan điểm của nghiên cứu, tình hình thực tiễn giải quyết vấn

đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài

2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Điều kiện tự nhiên thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Thị xã Bình Minh được thành lập theo Nghị quyết số 89/NQ-CP, ngày 28/12/2012, là một trong 08 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Vĩnh Long, tổng diện tích đất tự nhiên 9.363,29 ha, có 8 đơn vị hành chính trực thuộc cụ thể: có

03 phường: Cái Vồn, Thành Phước, Đông Thuận và 5 xã: Thuận An, Đông Bình,

Mỹ Hòa, Đông Thạnh, Đông Thành thuộc thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long) Dân số năm 2010 là 95.089 người, mâ ̣t đô ̣ dân số bình quân 956 người/km2; có

02 tuyến quốc lộ 1A và quốc lộ 54 đi qua, cách TP Cần Thơ 3km, cách TP Vĩnh Long 30km, cách TP Hồ Chí Minh khoảng 165km và cách sân bay quốc tế Cần Thơ 20km Bình Minh có vai trò quan trọng là đô thị vệ tinh của TP Cần Thơ, có

vị trí giao thông thủy, bộ và hệ thống cảng, đường hàng không thuận lợi trong việc giao lưu, hợp tác phát triển trong thời gian qua và những năm tiếp theo Ngoài ra, thị xã Bình Minh còn là trung tâm tổng hợp cấp vùng liên huyện, có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đặc biệt thuận lợi; quốc phòng, an ninh luôn được đảm bảo; quy hoạch và thực trạng kết cấu hạ tầng cơ sở tương

đối đồng bộ là tiền đề cho xây dựng và phát triển đô thi ̣

Trang 29

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long

Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Vĩnh Long Thị trấn Cái Vồn, huyện Bình Minh (nay là phường Cái vồn, phường Thành Phước thị xã Bình Minh) được công nhận là đô thị loại IV theo Quyết định số 844/QĐ-BXD ngày 17/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng và đã đạt

được những tiêu chí cơ bản của cấp quản lý thị xã thuộc tỉnh

Đi ̣a giới hành chính: Phía Đông giáp huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp sông Hậu ngăn cách với thành phố Cần Thơ; Nam giáp huyện Trà Ôn,

tỉnh Vĩnh Long; Bắc giáp huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long

Trang 30

2.1.1.2 Địa hình

Bình Minh là vùng có địa hình khá bằng phẳng, cao từ phía Tây và thấp dần về phía Ðông, đất đai màu mỡ, sông rạch chằn chịt, mang lại phù sa và nước ngọt quanh năm Với địa hình như trên rất thuận lợi cho việc lợi dụng thủy triều

để cung cấp nước cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp

2.1.1.4 Sông ngòi

Thị xã Bình Minh nằm bên bờ sông Hậu, sông rạch chằng chịt, chiếm trên 10% diện tích chung nên có thể cung cấp nguồn nước dồi dào quanh năm cho tưới tiêu phục vụ sản xuất Một phần phục vụ cho nuôi trồng thủy sản nhưng bị hạn chế trong những năm tới do quy hoạch phát triển hạ tầng trên địa bàn

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long

Thời gian qua nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế của cả tỉnh Vĩnh Long cũng như thị xã Bình Minh, nhưng với sự nỗ lực và quyết tâm đã mang lại cho Bình Minh những thành tựu đáng kể: tổng giá trị sản xuất nông nghiệp tăng so với các năm trước, gần 90% diện tích xây dựng vùng sản xuất đạt giá trị trên 70

Trang 31

triệu đồng/ha/năm, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng mạnh chủ yếu là các sản phẩm nhựa, bê tông, may gia công xuất khẩu, xay xát và cơ khí…, phát triển các loại hình chợ và tiếp tục kêu gọi đầu tư Du lịch sinh thái

Mỹ Hòa, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động du lịch Lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đều có mức tăng trưởng khá, vượt kế hoạch

Bình Minh đã đưa vào sử dụng các công trình, như Trung tâm hành chính, Bệnh viện đa khoa,… Đồng thời, nhiều công trình khác, như trụ sở UBND xã

Mỹ Hòa, Thuận An, các công trình giáo dục đạt chuẩn quốc gia, công trình giao thông xã nông thôn mới cũng đang được thi công; Cụm công nghiệp Thuận An, Khu dân cư đô thị vệ tinh, kè chống sạt lở sông Tắc Từ Tải, đường từ Quốc lộ 54

đi xã Mỹ Hòa được triển khai lập dự án… Hiện các công trình trọng điểm được Trung ương đầu tư đang trong giai đoạn hoàn thành, gồm các công trình: cầu Cái Vồn, Bình Minh, Thành Lợi Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng 8 cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ giai đoạn 1 đã được đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, giải quyết cho 1.000 hộ trên địa bàn vào định cư Lĩnh vực văn hóa xã hội cũng có nhiều tiến

bộ, công tác chăm lo cho người nghèo, đối tượng chính sách được thực hiện tốt; quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội ổn định

2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.2.1 Giới thiệu về cải xà lách xoong

Cải xà lách xoong có tên khoa học là Nasturtium officinale R Br., thuộc

họ Thập tự hay họ Cải (Brassicaceae hay Cruciferae), tên tiếng Anh là Watercress, thuộc loại cây sống nhiều năm Xà lách xoong mọc hoang ở vùng

ôn đới hay các vùng núi cao ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, có nguồn gốc ở vùng ôn đới Châu Âu, Tây Á và ở cả Ethiopia được đưa từ Châu Âu vào Việt Nam khoảng thế kỷ 19

Trang 32

Hình 2.2: Cải xà lách xoong tại Bình Minh Cải xà lách xoong có 2 loại: loại thân to và loại thân nhỏ Loại thân to được trồng chủ yếu ở vùng cao có khí hậu mát như miền Bắc, Đà Lạt Ở ĐBSCL, tỉnh Vĩnh Long có diện tích trồng xà lách xoong lớn nhất, với diện tích khoảng 120 ha tại thị xã Bình Minh, đây là vùng có truyền thống trồng xà lách xoong từ lâu đời với giống cải thân nhỏ, cung cấp cho các tỉnh ĐBSCL, thành phố Hồ Chí Minh, huyện Phú Quốc - Kiên Giang và được thương lái bỏ mối qua Campuchia

2.2.2 Sơ lược về sản xuất xà lách xoong tại thị xã Bình Minh

Thị xã Bình Minh tỉnh Vĩnh Long là nơi trọng điểm trồng xà lách xoong,

có truyền thống từ lâu đời, không những cung cấp cho vùng đồng bằng mà cho

cả thị trường ở TPHCM Trồng xà lách xoong đòi hỏi người trồng phải có nhiều kinh nghiệm, ham học hỏi để tiếp thu các kỹ thuật ứng dụng trong quá trình sản xuất Và quan trọng hơn là phải có nguồn vốn đầu tư ban đầu khá cao để có thể xây dựng hệ thống sản xuất đạt hiệu quả Chủ yếu là cho khâu làm đất (lên liếp, đào mương), làm giàn che mát cho rau, chi phí mua giống để trồng cho lứa đầu tiên Nếu nông hộ nào có điều kiện và nguồn vốn nhiều thì có thể đầu tư hệ thống tưới phun sương thay cho tưới bằng tay Các giai đoạn bón phân, tưới

Trang 33

nước cho xà lách xoong cũng phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết và vào giai đoạn sinh trưởng, tình trạng phát triển của rau Vào những ngày mát trời thì tưới nước khoảng 2 – 3 lần/1 ngày, còn những ngày thời tiết nắng nóng thì tưới khoảng 8 -

12 lần Thời gian thu hoạch xà lách xoong phụ thuộc vào nông hộ canh tác loại cải nào (cải xấp, cải xổi) và phụ thuộc nhiều vào thời tiết

Xà lách xoong được trồng quanh năm, nông dân đầu tư thâm canh để đạt năng suất cao nên sử dụng nhiều phân bón và thuốc hóa học trong phòng trừ dịch hại, nếu lơ là, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) theo phương pháp 4 đúng và bảo đảm thời gian cách ly phân, thuốc thì sản phẩm sẽ không an toàn Theo số liệu thu thập từ nông dân trong vùng thì mỗi lứa cải xà lách xoong (cải sấp) khoảng 2 tháng người trồng phun thuốc hóa học từ 7-8 lần (theo định kỳ mỗi tuần phun 1 lần) và đôi khi không đảm bảo thời gian cách ly, lượng thuốc lưu tồn trong sản phẩm vượt mức cho phép, do đó sản phẩm xà lách xoong vẫn còn bị nhiều tai tiếng Từ năm 2011 đến nay, chi cục Bảo vệ thực vật tập huấn kỹ thuật sản xuất xà lách xoong an toàn, kỹ thuật sản xuất xà lách xoong theo quy trình VietGAP với hơn 200 lượt nông dân tham dự tập huấn Qua đó đã nâng cao nhận thức về sử dụng thuốc BVTV để có được sản phẩm xà lách xoong an toàn, nông dân đã biết cách sử dụng an toàn và hiệu quả thuốc BVTV, áp dụng đúng thời gian cách ly của từng loại thuốc, các đợt lấy mẫu rau phân tích đều cho kết quả tốt: sản phẩm không có dư lượng thuốc BVTV vượt mức cho phép

2.2.3 Hiệu quả kinh tế từ việc sản xuất cải xà lách xoong

Báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp năm 2013 của Phòng Kinh tế TX Bình Minh cho thấy, trong năm, nông dân trong thị xã đã gieo trồng 110ha, tập trung ở 2 xã Thuận An và Đông Bình; bình quân nông dân cắt từ 6 - 7 đợt (2

Trang 34

tháng/đợt), sản lượng từ 8- 9 tấn/ha, giá bán từ 15- 25 ngàn đồng/kg, trừ chi phí sản xuất nông dân còn lãi từ 130 - 200 triệu đồng/ha/năm

Nhờ từng bước được ngành chuyên môn chuyển giao khoa học kỹ thuật sản xuất và hỗ trợ đầu tư trang bị cơ giới trong khâu tưới tiêu nên nông dân giảm đáng kể công chăm sóc và gia tăng năng suất, chất lượng sản phẩm

Nghề trồng cải ở đây đang ngày càng thuận lợi do đã có HTX Cải xà lách xoong an toàn Thuận An lo đầu ra ổn định cho người sản xuất và đã có nhãn hiệu tập thể "xà lách xoong Bình Minh" được người tiêu thụ trong và ngoài tỉnh Vĩnh Long biết đến

Ngành kinh tế của thị xã đang phối hợp với ngành chức năng của tỉnh xây dựng vùng nguyên liệu cải xà lách xoong sản xuất an toàn, xanh, sạch theo hướng VietGAP không những đáp ứng nhu cầu và đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng trong thị xã, trong tỉnh mà còn hướng đến thị trường khắt khe hơn: hệ thống siêu thị ngoài tỉnh

2.2.4 Diện tích, năng suất, sản lượng xà lách xoong qua các năm

Bình Minh tiếp tục khai thác thế mạnh của vùng để phát triển các vùng chuyên canh cây màu, trong đó tập trung các loại cây màu truyền thống, đặc biệt

là xà lách xoong một loại cây chủ lực của xã Thuận An, thị xã Bình Minh

Bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lượng xà lách xoong tại thị xã Bình Minh giai đoạn 2011– 2013

Trang 35

Sản lượng (tấn) 16.394 15.412 16.896

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo của Phòng kinh tế thị xã Bình Minh 2011 -2013)

Nhìn chung, diện tích trồng xà lách xoong trên toàn địa bàn tăng đều qua các năm, năm 2011 diện tích là 594 ha, tăng lên 727 ha năm 2012 và đến năm

2013 đã tăng thêm 41 ha so với năm 2012 Nguyên nhân là do nông dân chuyển

từ đất lúa sang trồng xà lách xoong vì thu nhập, năng suất của loại rau này khá cao và ổn định, Cụ thể, năng suất có phần sụt giảm so với năm 2011 tuy nhiên, năng suất đã ổn định và đạt được 220 tạ/ha (năm 2013) tăng thêm 8 tạ/ha so với năm 2012

Trang 36

Hình 2.3: Diện tích, năng suất xà lách xoong giai đoạn 2011 - 2013

Nói tóm lại, các hộ dân ở thị xã Bình Minh đang dần mở rộng diện tích trồng xà lách xoong để hình thành “chỉ dẫn địa lý” và hình thành thương hiệu xà lách xoong của địa phương trong tương lai Có nhiều hộ được hỗ trợ xây dựng hệ thống tưới phun sương nhằm đảm bảo nguồn nước sạch cho rau và mở rộng diện tích Đồng thời nông dân cũng được tập huấn về cách sử dụng phân, thuốc đúng quy trình, liều lượng để đảm bảo cho rau sinh trưởng, phát triển tốt

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Định nghĩa các thuật ngữ

Trang 37

- Vốn: Là tổng đầu tư dưới dạng tiền mặt hoặc hiện vật, sức lao động (lao

động gia đình, lao động thuê) vào mô hình sản xuất, được thể hiện dưới dạng tiền (đồng) và ngày công (8 giờ/ngày)

- Lao động: Là số người tham gia vào các hoạt động trong các mô hình

sản xuất, thể hiện theo ngày công lao động (8 giờ/ngày)

- Lao động gia đình: Là nguồn nhân lực được các thành viên trong hộ sử

dụng trong mô hình sản, thể hiện bằng ngày công

- Lao động thuê: Chỉ loại lao động đi làm thuê trong mô hình, thể hiện

theo ngày công và được trả công bằng tiền mặt

- Chi phí cơ hội của lao động nhà: Là số ngày công của nông hộ bị mất

đi để đầu tư vào mô hình sản xuất thay vì đầu tư vào các công việc khác như:

làm thuê, trả công ngày, tham gia sản xuất các mô hình khác

- Chi phí cơ hội của vốn: Là phần lợi nhuận của nông hộ bị mất đi khi

đầu tư một lượng vốn vào mô hình sản xuất thay vì đầu tư vào các công việc khác như: gởi ngân hàng, đầu tư vào mô hình sản xuất khác

- Tổng doanh thu: Là lượng tiền được tính bằng cách lấy tổng sản lượng

nhân với giá

- Thu nhập (lợi nhuận trước thuế): Là khoản chênh lệch giữa tổng doanh

thu và tổng chi phí

- Hiệu quả kinh tế: giá trị kinh tế hay giá kinh tế, người ta nói về giá trị

thực của dự án Giá trị thực của một tác động là nói về lượng thay đổi phúc lợi của người dân trong vùng dự án mà tác động đó gây ra Chẳng hạn dự án nào đó gây mất rừng, giảm đa dạng sinh học, và từ đó làm giảm phúc lợi của người dân sống xung quanh khu vực bị ảnh hưởng Tuy nhiên thiệt hại này không thể hiện

Trang 38

thành các dòng tiền trong quản lý tài chính dự án, và do đó không được tính vào hiệu quả tài chính của dự án

- Hiệu quả kỹ thuật: Là việc sử dụng yếu tố nguồn lực đầu vào ít nhất để

tạo ra một lượng sản phẩm là cao nhất

- Nông hộ: Nông hộ là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là một đơn vị

hoạt động của nền kinh tế xã hội, sử dụng các nguồn lực nông hộ để tiến hành các hoạt động sản suất có hiệu quả kinh tế, phù hợp với điều kiện xã hội và không tác động đến sinh thái và môi trường

- Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: là việc thực hiện một bước chuyển đổi từ

trạng thái cơ cấu cây trồng cũ sang trạng thái cơ cấu cây trồng mới mà mình mong muốn để có thể đáp ứng được những yêu cầu của chuyển đổi Thực chất, của việc chuyển đổi này là thực hiện một loạt các biện pháp chính sách, nhằm

thúc đẩy phát triển cơ cấu cây trồng mới có triển vọng về thị trường

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Trên địa bàn thị xã Bình Minh, diện tích trồng xà lách xoong tập trung nhiều nhất tại 2 xã Thuận An và Đông Bình Do đó, nghiên cứu chọn 2 xã trên là điểm nghiên cứu để tiến hành khảo sát nông hộ trồng xà lách xoong

2.3.2.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu điều tra

Có hai phương pháp chọn mẫu cơ bản là chọn mẫu xác suất và phi xác xuất Với cách chọn mẫu xác suất, nhà nghiên cứu có thể đạt được các ước lượng cho nhiều chỉ tiêu nghiên cứu khác nhau dựa trên sự tin cậy về xác suất Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo nhóm

Trang 39

Nhóm nghiên cứu được phân chia theo hai xã được chọn là xã Thuận An và xã Đông Bình

Kích thước mẫu

Kích thước mẫu được chọn dựa vào công thức:

Trong đó:

n = kích cỡ mẫu được tính

z = giá trị z liên quan đến việc xác định mức độ tin cậy

p = ước tính phần trăm trong tập hợp

q = (1-p)

e = sai số, sai số càng nhỏ thì kích thước mẫu càng lớn

Trong nghiên cứu này, các thông số để xác định kích thước mẫu như sau:

z = 2,06 với mức độ tin cậy 90%

P = 0,35; q = 0,65

e = 10%

Kích thước mẫu theo công thức trên được xác định là 96 quan sát Từ cơ

sở đó, tác giả tiến hành khảo sát thực tế 100 hộ trồng xà lách xoong để thực hiện mục tiêu nghiên cứu

2.3.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: thu thập số liệu lịch sử của 3 năm 2011, 2012, 2013 Số

liệu thứ cấp được thu thập từ số liệu trong niên giám thống kê, từ các báo cáo của các sở và ban ngành nông nghiệp ở cấp tỉnh, huyện và xã Thông tin từ báo chí và mạng internet

Trang 40

Số liệu sơ cấp:

- Sử dụng phỏng vấn chuyên gia/người am hiểu, lãnh đạo địa phương (KIP-

Key Information Panel) cho phép ghi nhận các thông tin liên quan, các nhận

định, chiến lược phát triển lâu dài

- Điều tra nông hộ:

+ Số liệu sơ cấp được thu thập qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp những thông tin và kết quả sản xuất năm 2013

+ Đối tượng được phỏng vấn là hai nhóm hộ trồng xà lách xoong ở xã Thuận An và xã Đông Bình, thị xã Bình Minh

+ Các thông tin chủ yếu được thu thập gồm: thông tin chung về nông hộ, chi phí sản xuất, giá bán và sản lượng, tình hình tiêu thụ, thuận lợi và khó khăn trong việc tiếp cận, sử dụng vốn vay, thuận lợi và khó khăn trong quá trình trồng XLX và các thông tin khác để làm nguồn dữ liệu phục vụ mục đích nghiên cứu

2.3.2.4 Phương pháp phân tích

 Thống kê mô tả & phân tích chi phí – lợi ích (Mục tiêu 1)

Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong phân tích trong nghiên

cứu nhằm mô tả thực trạng sản xuất của nông hộ tham gia mô hình Thống kê

mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế Bước đầu tiên để mô tả là tìm hiểu về đặc tính phân phối của một số liệu thô và lập bảng phân phối tần suất Tần số là lần xuất hiện của một quan sát, tần số của một tổ là số quan sát rơi vào giới hạn của tổ đó Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thập làm cơ sở để phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu, nhờ đó mà ta có thể nhận xét tổng quan về vấn đề nghiên cứu nêu trên

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Axis (2005), “Chuỗi giá trị ngành hàng rau quả ở tỉnh Hà Tây” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị ngành hàng rau quả ở tỉnh Hà Tây
Tác giả: Axis
Năm: 2005
2. Axis (2005), “Kết quả thảo luận với nhóm trồng rau an toàn ở thành phố Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thảo luận với nhóm trồng rau an toàn ở thành phố Cần Thơ
Tác giả: Axis
Năm: 2005
5. Nguyễn Ngọc Huyền (2012), “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong tại Đông Bình, Bình Minh, Vĩnh Long
Tác giả: Nguyễn Ngọc Huyền
Năm: 2012
6. Lê Văn Kiên (2012), “Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong tại Thuận An, Bình Minh, Vĩnh Long” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng canh tác xà lách xoong tại Thuận An, Bình Minh, Vĩnh Long
Tác giả: Lê Văn Kiên
Năm: 2012
7. Nguyễn Văn Thuận (2008), “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng sản phẩm rau an toàn tại thành phố Cần Thơ” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng sản phẩm rau an toàn tại thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Văn Thuận
Năm: 2008
8. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). “ Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1 – 2”, nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1 – 2
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2008
3. Báo cáo tổng kết năm 2013 & phương hương nhiệm vụ năm 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm