BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HUỲNH ANH TUẤN GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT LÚA THEO MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN TẠI
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HUỲNH ANH TUẤN
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT LÚA THEO MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU
LỚN TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH – TP CẦN THƠ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
HUỲNH ANH TUẤN
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA SẢN XUẤT LÚA THEO MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU
LỚN TẠI HUYỆN VĨNH THẠNH – TP CẦN THƠ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên thực hiện
Huỳnh Anh Tuấn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian 2 năm học ở Trường, em đã được Quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Cần Thơ truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về
lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích đó sẽ là hành trang giúp em trưởng thành và tự tin bước vào cuộc sống
Với tất cả lòng tôn kính, em xin gửi đến quý Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Lâm nghiệp và Trường Đại học Cần Thơ lòng biết ơn sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn TS Lê Nguyễn Đoan Khôi đã tạo điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các Cô, Chú, Anh, Chị trong phòng Nông Nghiệp huyện Vĩnh Thạnh và bà con nông dân tại xã đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy Cô, các Cô, Chú, Anh, Chị trong phòng Nông Nghiệp huyện Vĩnh Thạnh được nhiều sức khỏe và công tác tốt
Em xin chân thành cảm ơn!
Học viên thực hiện
Huỳnh Anh Tuấn
Trang 5
MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 5
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 5
4 Nội dung nghiên cứu: 6
CHƯƠNG 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu: 7
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu 9
1.2.1 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ: 9
1.2.2 Khái niệm cánh đồng mẫu lớn: 13
1.3 Khái niệm về sản xuất, hiệu quả, hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật: 13 1.3.1 Khái niệm về sản xuất: 13
1.3.2 Khái niệm về hiệu quả: 13
1.3.3 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật: 13
1.3.4 Khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận: 14
1.4 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam 14
1.4.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới: 14
1.4.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam: 16
CHƯƠNG 2 18
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
Trang 62.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu: 18
2.1.1 Đặc điểm sản xuất nông nhiệp của huyện vĩnh Thạnh: 18
2.1.2 Về trồng trọt: 20
2.1.3 Về nuôi trồng thủy sản: 21
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Vĩnh Thạnh 21
2.2.1 Đơn vị hành chính: 21
2.2.2 Dân số và lao động: 23
2.2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện: 23
2.2.4 Công trình xây dựng thủy lợi nông thôn: 26
2.2.5 Cơ sở hạ tầng thiết yếu: 27
2.3 Hiện trạng cơ sở vật chất của huyện phục vụ sản xuất nông nghiệp 28
2.3.1 Về cơ giới hóa công nghệ thu hoạch và sao thu hoạch: 28
2.3.2 Về điện khí hóa và các trạm bơm tưới tiêu: 29
2.4 Kế hoạch sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn của huyện Vĩnh 30
2.4.1 Vị trí địa lý: 30
2.4.2 Địa hình: 31
2.4.3 Khí hậu: 31
2.5 Kế hoạch sản xuất lúa cánh đồng mẫu lớn vụ hè thu của huyện Vĩnh Thạnh năm 2013: 31
2.6 Phương pháp nghiên cứu: 32
2.6.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu: 32
2.6.2 Thu thập số liệu: 32
2.6.3 Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu 33
2.6.4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn : 37
CHƯƠNG 3 38
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
3.1 Thực trạng sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn của các hộ nông dân tại huyện Vĩnh Thạnh qua các năm 2011-2013 38
3.1.1 Đánh giá thực trạng sản xuất lúa của các hộ nông dân 38
Trang 73.1.2 Phân tích chi phí, doanh thu, thu nhập và năng suất : 47
3.1.3 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của nông hộ trong quá trình sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn 48
3.2 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn 51
3.2.1 Phân tích các khoản mục chi phí bình quân trên 1 ha đất trồng lúa 51 3.2.2 Phân tích các tỷ số tài chính: 53
3.2.3 So sánh hiệu quả kinh tế giữa trồng lúa trong cánh đồng, lúa ngoài cánh đồng mẫu lớn .54
3.2.4 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân sản xuất lúa trong cánh đồng mâu lớn 55
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn 60
3.3.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của hộ nông dân: 60
3.3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa trong cánh đồng mẫu lớn: 61
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66
1 Kết luận: 66
2 Khuyến nghị: 67
a Đối với nông hộ: 67
b.Đối với địa phương: 68
c Đối với Nhà Nước, viện trường: 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH TRỒNG LÚA TRONG CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN 71
PHỤ LỤC 76
Phụ lục 1 76
Phụ lục 2 77
Phụ lục 3 78
Phụ lục 4 79
Trang 8R: Hệ số tương quan bội
R2: Hệ số xác định
Sig F: Mức ý nghĩa F
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
FAO Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương
nông liên hiệp quốc) GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
IPM Integrated Pest Management (Quản lý dịch hại tổng
hợp) IRRI International Rice Research Institute (Viện lúa quốc tế)
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU
Số hiệu
3.1 Diện tích sản xuất, năng suất và sản lượng của huyện
Vĩnh Thạnh
32
3.8 Lý do chọn trồng lúa trông cánh đồng mẫu lớn 38 3.9 Mức độ tham gia mô hình sản xuất trong cánh đồng mẫu
trong cánh đồng mẫu lớn với trồng lứ ngoài cánh đồng
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Số hiệu
2.1 Cơ cấu sản xuất nông nghiệp huyện Vĩnh Thạnh 2013 22
3.5 Cơ cấu chi phí, doanh thu và thu nhập bình quân năm
2013
41
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nông nghiệp là thế mạnh của nền kinh tế của Việt Nam và thành phố Cần Thơ là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam thuộc châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long, và là vùng kinh tế trọng điểm cung cấp sản lượng lương thực quan trọng của cả nước, nơi có sản phẩm xuất khẩu dồi dào đặc biệt là gạo Trong đó huyện Vĩnh Thạnh là huyện thuần nông chiếm diện tích đất trồng lúa nhiều hơn so với các huyện lân cận khác của thành phố Cần Thơ
Trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập đang diễn ra ngày càng sâu sắc, Việt Nam đã, đang và sẽ cố gắng hòa mình vào dòng chảy hội nhập của
hệ thống kinh tế thương mại thế giới bằng cách chủ động gia nhập vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và trên thế giới Điều này cũng không tránh khỏi những đe dọa về thị trường, về đối thủ cạnh tranh và đặc biệt là các tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn trong sản xuất nông nghiệp ngày càng khắt khe hơn
Mặt khác đã từ lâu, kinh tế hợp tác là thành phần kinh tế được thừa nhận bởi Nhà nước ta; trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, phong trào hợp tác phát triển mạnh mẽ, tất cả các hoạt động sản xuất - kinh doanh của hợp tác xã (HTX) được quyết định bởi Ban Chủ nhiệm HTX, các xã viên chỉ là người thực thi các quyết định này và không có quyền sở hữu đối với tài sản của HTX Trong thời kỳ sở hữu trong nông nghiệp, sản xuất giảm
do người nông dân thiếu động cơ làm việc, sản lượng nông nghiệp tăng hàng năm ở mức rất thấp 2% Cải cách trong nông nghiệp bắt đầu bằng Chỉ thị
100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng hay còn gọi là Khoán 100; dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến nhóm và người lao động, sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX; mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế
Trang 13thị trường, ảnh hưởng đáng kể đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/năm trong suốt giai đoạn 1981-1985 Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10 đến 15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp, chính sách trao quyền tự chủ kinh doanh đã cho phép nông dân tiếp cận với đất đai và chính sách tự do hoá thương mại và đầu tư, đã tạo cú hích ban đầu cho nền nông nghiệp hàng hoá (từ chỗ thiếu đói và khủng hoảng lương thực trong những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, chúng ta đã vươn lên đủ ăn và trở thành nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo) Tuy nhiên, về cơ bản, sản xuất nông nghiệp nước ta còn phát triển thiếu bền vững, tự phát và kém sức cạnh tranh
Thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh đang đặt ra một yêu cầu bức thiết, đó là thị trường trong và ngoài nước đòi hỏi ngày càng cao về số lượng
và chất lượng; tuy nhiên Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng phần lớn sản xuất lúa gạo do hộ nông dân đảm nhận với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, sử dụng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật một cách tự phát;
do vậy bản thân từng nông hộ khó có thể đáp ứng được các đơn đặt hàng lớn, chất lượng gạo còn thấp, không đồng đều, chưa đảm bảo an toàn thực phẩm
Do vậy, nếu như các hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh nhỏ không liên kết lại với nhau thì sẽ rơi vào tình trạng mất thị trường
Việc thực hiện Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24 tháng 6 năm
2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng đã tạo nhận thức cho cả doanh nghiệp và người sản xuất về mối quan hệ ràng buộc và trách nhiệm lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ lúa, các hộ nông dân làm quen dần với tư duy sản xuất sản phẩm thị trường cần, tạo cho doanh nghiệp yên tâm trong việc thu mua sản phẩm hàng hóa của nông dân Song trên thực tế những năm vừa qua cho thấy mối liên kết
Trang 14này còn chưa đồng bộ, doanh nghiệp mạnh ai nấy làm, hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, không tập trung, trên cùng một cánh đồng nhưng có đến hàng chục giống lúa với chất lượng và mẫu mã không đều, chưa thật sự tạo ra được các vùng sản xuất mang tính chất vùng nguyên liệu lớn, ổn định, tập trung và bền vững và chưa đáp ứng yêu cầu thị trường
Trong xu thế tiêu dùng thay đổi theo hướng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng cao của người dân trong nước cũng như của người dân trong các nước nhập khẩu gạo ở các nước nhập khẩu; sản phẩm lúa của nước ta nói chung và thành phố Cần Thơ nói riêng đứng trước những yêu cầu khắt khe về chất lượng sản phẩm và sự cạnh tranh quyết liệt trên thị trường Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và khi chúng ta đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đòi hỏi chúng ta phải có được những mặt hàng chủ lực, có thương hiệu mạnh, muốn xuất khẩu bền vững thì phải tổ chức lại sản xuất, có sự liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân từ khâu sản xuất đến tiêu thụ
Thành phố Cần Thơ với diện tích sản xuất nông nghiệp 115.432 ha, trong đó gần 89.000 ha canh tác lúa Với hệ số sử dụng đất gần 2,5; hàng năm nông dân thành phố sản xuất lúa khoảng 210.000 ha, sản lượng 1,1-1,2 triệu tấn/năm Trước tốc độ đô thị hóa, diện tích sản xuất nông nghiệp giảm liên tục từ năm 2004 đến nay, ngành nông nghiệp đã triển khai nhiều chương trình, dự án, mô hình như: chương trình quản lý dịch hại tổng hợp trên lúa, chương trình 3 giảm 3 tăng, mô hình cộng đồng quản lý dịch hại lúa trên cánh đồng một loại giống…, nhằm định hướng giúp nông dân sản xuất theo hướng bền vững, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng, cải thiện thu nhập nông dân Tuy nhiên trong quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp chưa thực sự gắn kết giữa người sản xuất lúa với
cơ sở chế biến và tiêu thụ, tự phát gia tăng, khủng hoảng thiếu thừa diễn ra
Trang 15liên tục gây tâm lý lo ngại cho nông dân nên việc ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến còn hạn chế, chất lượng sản phẩm vẫn chưa cao và chưa đồng đều Để khắc phục những khó khăn và tồn tại nêu trên, việc xây dựng mô hình “cánh đồng mẫu lớn” theo chủ trương của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã được tổ chức tại hầu hết các tỉnh, thành Nam bộ từ lễ phát động phong trào ngày 26 tháng 3 năm 2011 tại thành phố Cần Thơ đã bước đầu cho thấy xu thế tất yếu của sự liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa để giảm chi phí, hạ giá thành, nâng cao thu nhập cho người trồng lúa, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, là giải pháp thiết thực nhất cho sản xuất lúa hiện nay và tương lai của thành phố Cần Thơ nhằm xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Vì vậy việc nghiên cứu đề
tài “ Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo
mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ”
nhằm đề xuất những cơ chế, chính sách để duy trì và nhân rộng mô hình sản xuất và tiêu thụ lúa theo cánh đồng mẫu nhằm tạo ra các vùng nguyên liệu quy mô lớn, ổn định diện tích và sản lượng lúa gạo phục vụ nội tiêu và xuất khẩu
2 Tính cấp thiết của cánh đồng mẫu lớn
Trong thời gian qua, sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long phát triển vượt bậc về diện tích, năng suất, sản lượng Năm 1997, diện tích canh tác toàn vùng chỉ có 3,4 triệu lượt ha, đến cuối năm 2013 tăng lên 4,2 triệu lượt ha; năng suất lúa từ 3,98 tấn/ha tăng lên 5,86 tấn/ha; sản lượng lúa
từ 14 triệu tấn tăng lên 25 triệu tấn Lượng gạo xuất khẩu hàng năm của Đồng bằng sông Cửu Long chiếm trên 90% lượng gạo xuất khẩu cả nước Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long còn gặp khó nhiều mặt như sản xuất còn nhỏ, manh mún với diện tích trung bình 0,87 ha/hộ Hợp tác hóa trong sản xuất lúa chưa đạt yêu cầu, đến nay chỉ lập được
Trang 161.100 hợp tác xã và 33.000 tổ hợp tác, quy tụ chưa tới 30% số nông dân trong vùng; diện tích cánh đồng mẫu lớn đến nay chỉ có 134.000 ha; cơ giới hóa sản xuất lúa vẫn khó khăn, nhất là trong khâu gặt, sấy, bảo quản Ngoài ra, trong tiêu thụ lúa gạo, chỉ có 10% số lượng được bao tiêu qua hợp đồng giữa nông dân và doanh nghiệp Một số vùng như Đồng Tháp Mười,
Tứ Giác Long Xuyên, bán đảo Cà Mau, vùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của lũ, phèn, mặn, khô hạn cục bộ Nhìn chung, thu nhập của người trồng lúa còn thấp, chưa tương xứng với công sức đã đầu tư Từ đó việc sản xuất lúa theo cánh đồng mẫu lớn tại huyện Vĩnh Thạnh – TP Cần Thơ là thật sự cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích thực trạng sản xuất và đề xuất một số
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện Vĩnh Thạnh - TP Cần Thơ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Mô hình cánh đồng mẫu lớn sản
xuất lúa tại huyện Vĩnh Thạnh- TP Cần Thơ
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trang 17+ Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung làm rõ các yếu tố ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn từ đó đề xuất những giải pháp và chính sách cụ thể mang tính khả thi
+ Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu được hiện trong phạm
vi huyện Vĩnh Thạnh dựa trên khảo sát thực tế về nông hộ trồng lúa
+ Phạm vi về thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong thời gian năm
2013
4 Nội dung nghiên cứu:
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, đề tài đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất của các nông hộ sản xuất lúa mô hình cánh đồng mẫu lớn
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các nông
hộ sản xuất lúa mô hình cánh đồng mẫu lớn
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của các nông hộ sản xuất lúa mô hình cánh đồng mẫu lớn
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Tổng luận về các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu:
Nguyễn Kim Chung (2004) đã chỉ ra rằng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
vào sản xuất lúa tác động làm phân biệt hiệu quả sản xuất giữa hộ có áp dụng mô hình và không áp dụng Khi nông hộ sử dụng giống đạt năng suất cao sẽ giúp họ tăng lợi nhuận từ 1.100.000-1.600.000 đồng/ha; và nếu như nông hộ ứng dụng phương pháp sạ hàng thì chi phí giống chỉ còn ở mức 73% so với các mô hình khác và thuốc bảo vệ thực vật chỉ còn 35-60% kết quả được thực hiện tại Long Điền B, vụ lúa Đông Xuân
Mai Văn Nam (2009), Hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo ở Cần Thơ, đồng bằng Sông cửu Long các vấn đề càn được giải quyết Số liệu
thứ cấp và sơ cấp với 177 mẫu được dùng trong nghiên cứu; phương pháp lấy mẫu phân tầng ngẫu nhiên được sử dụng cho chọn các địa điểm khảo sát
và chọn các hộ nông dân, thương lái người buôn và bán lẻ, người tiêu dùng, nhà máy xay xát và các Công ty nông nghiệp để phỏng vấn trực tiếp Phương pháp thống kê mô tả, phân tích mô hình hàm phân biệt và phương pháp phân tích kênh phân phối được sử dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) giá bán và sản lượng lúa không ổn định là nguyên nhân chính tạo nên sự khác biệt về lợi nhuận giữa các nông hộ, điều này cho thấy việc trồng lúa của nông dân ở vùng nghiên cứu chưa được quy hoạch và chưa nhận được sự hướng dẫn hay định hướng vĩ mô đầy đủ từ các cơ quan quản lý nông nghiệp chức năng; (2) nông hộ có thu nhập thấp thường thiếu phương tiện sản xuất, chế biến bảo quản, vận chuyển, thiếu thông tin thị trường, thiếu vốn cần bán lúa ngay sau thu hoạch nên bị thương lái ép giá; nông hộ có thu nhập thấp không có điều kiện áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất và sau thu hoạch nên hiệu quả trồng lúa giảm; (3) kênh phân phối lúa gạo kém hiệu quả, thiếu liên kết giữa doanh nghiệp và nông
Trang 19dân, thiếu liên kết giữa tuyến kênh phân phối lúa gạo xuất khẩu và nội địa, thiếu tổng kho lương thực chế biến và dự trữ lúa gạo xuất khẩu, thiếu chức năng giám sát và điều tiết vĩ mô hiệu quả của các cơ quan quản lý lương thực nên các tác nhân trong kênh phân phối luôn bị động trong sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Để tăng hiệu quả sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, các giải pháp
đề xuất như: (1) giải pháp về chọn giống tốt và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa; (2) giải pháp về tăng cường mối liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp; (3) giải pháp về xây dựng tổng kho chế biến và dự trữ lúa gạo tại vùng trọng điểm sản xuất lúa; (4) giải pháp về hoàn thiện kênh phân phối lúa gạo
Huỳnh Trường Huy (2007) đã khảo sát 261 nông hộ sản xuất lúa
vụ Đông Xuân 2005-2006 tại Cần Thơ và Sóc Trăng; nhằm mục đích cung
cấp một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa và phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nông dân sản xuất lúa Kết quả phân tích cho thấy, nông dân đã và đang áp dụng một số mô hình cải tiến như: giống mới, IPM, sạ hàng, ba giảm ba tăng , lúa-thủy sản, lúa-màu; trong đó việc sử dụng giống mới được nông dân áp dụng phổ biến nhất Đồng thời, nông dân tiếp cận thông tin tiến bộ kỹ thuật chủ yếu từ các phương tiện thông tin đại chúng và cán bộ khuyến nông địa phương Hơn nữa nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hiệu quả sản xuất của các mô hình cải tiến cao hơn so với mô hình truyền thống, cụ thể là thu nhập tăng 13,5% và lợi nhuận tăng 42% Trong đó, trình độ học vấn, giống, phân bón, lao động, chuẩn bị đất, thủy lợi là các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ trên đơn vị đất canh tác lúa có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
Nguyễn Quang Diệp (2005), đã so sánh hiệu quả kinh tế mô hình luân canh lúa mè với mô hình lúa 2 vụ ở Nông trường Sông Hậu –TP Cần Thơ Đề tài trên tác giả đã cho thấy được giữa 2 mô hình luân canh lúa
Trang 20mè với mô hình lúa 2 vụ thì mô hình luân canh lúa mè đạt được năng suất cao và cũng mang lại lợi nhuận cao hơn cho các nông hộ
1.2 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Khái niệm về hộ và kinh tế hộ:
1.2.1.1 Khái nhiệm về hộ:
Hộ là những người cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ Hay nói khác hơn, hộ sản xuất là hình thức liên kết giữa các thành viên của nó thông qua hình thức sống chung, sở hữu chung, hoạt động kinh tế chung và hưởng thụ chung các tài sản và thành quả sản xuất của hộ gia đình [4, tr.5]
Hộ có những đặc trưng riêng biệt, không giống như là các đơn vị kinh
tế khác, do đó có thể thấy rằng: nông hộ là một đơn vị kinh doanh xã hội khá đặc biệt
Trong cấu trúc nội tại, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ Do đó hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý,
sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối và sử dụng, tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, hộ có thể cùng lúc thực hiện được nhiều chức năng mà các đơn vị khác không có được[4, tr.5]
1.2.1.2 Khái quát về kinh tế hộ:
Việt Nam hiện nay có dân số trên 89 triệu dân, trên 69.4% dân số sinh sống ở nông thôn và đại bộ phận còn sản xuất mang tính chất tự cấp, tự túc Trong điều kiện đó, hộ được khái niệm như sau:
" Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở mà ở đó diễn ra quá trình phân công, tổ chức lao động, chi phí cho sản xuất, tiêu thụ, thu nhập, phân phối và tiêu dùng" Với tư cách là đơn vị kinh tế, hộ được phân tích từ nhiều góc độ:
- Chủ sở hữu và sử dụng các nguồn lực kinh tế như đất đai, nhân lực, vốn
Trang 21- Là đơn vị tham gia vào các hoạt động kinh tế, phân theo ngành nghề, vùng, lãnh thổ…
- Trình độ phát triển kinh tế của hộ
- Hiệu quả hoạt động của kinh tế hộ
- Trong nông thôn Việt Nam hiện nay, hộ bao gồm hộ gia đình và hộ nông dân, trong đó:
+ Hầu hết hộ gia đình ở nông thôn là những người gắn bó ruột thịt, có cùng huyết thống, chủ hộ thường là những ông, bà, cha, mẹ… và các thành viên trong gia đình là con cháu
+ Còn hộ nông dân (bao gồm các hộ sản xuất nông-lâm-nghiệp) trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam được hiểu là một gia đình (từ một đến nhiều người) có tên trong bảng kê khai hộ khẩu riêng, gồm có chủ hộ và những người cùng sống trong hộ gia đình ấy
Về mặt kinh tế hộ gia đình có mối quan hệ gắn bó không phân biệt về tài sản, những người sống chung trong một căn hộ gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với sự phát triển kinh tế Nghĩa là mỗi thành viên đều phải
có nghĩa vụ đóng góp công sức vào quá trình xây dụng, phát triển của hộ và
có trách nhiệm đối với kết quả sản xuất được Nếu sản xuất đạt kết quả cao, sản phẩm thu được người chủ hộ phân phối trước hết nhằm bù đắp cho chi phí đã bỏ ra, làm nghĩa vụ với nhà nước theo quy định của pháp luật, phần thu nhập còn lại trang trải cho các mục tiêu sinh hoạt thường xuyên của gia đình và tái sản xuất Nếu kết quả sản xuất không khả quan người chủ hộ chịu trách nhiệm cao nhất và đồng trách nhiệm là các thành viên trong gia đình
1.2.1.3 Đặc điểm của kinh tế hộ:
Kinh tế hộ có những đặc trưng riêng biệt với quá trình tiến triển của
hộ qua các giai đoạn lịch sử Cũng do những đặc trưng riêng biệt này của nó
mà có thể cho rằng hộ là đơn vị kinh tế xã hội đặc biệt
- Hộ mang tính huyết tộc Các thành viên huyết tộc của hộ là chủ thể
Trang 22đích thực của hộ và đã tạo nên sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất
- Hộ dựa trên cơ sở kinh tế chung, mỗi thành viên đều có nghĩa vụ và trách nhiệm, đều có ý thức tự giác đóng góp làm tăng quỹ thu nhập của hộ, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mỗi thành viên
- Đặc trưng nổi bật của các hộ ở nước ta là có quy mô canh tác rất nhỏ bé và quy mô canh tác của hộ có xu hướng giảm dần do việc gia tăng dân số, xu hướng lấy đất đai nông nghiệp để phát triển các ngành công nghiệp, giao thông, dịch vụ và các ngành phi nông nghiệp, bản thân nông nghiệp muốn phát triển cũng phải lấy đất để xây dựng các kết cấu hạ tầng của nông nghiệp
- Quá trình tổ chức lao động là do hộ tổ chức, công việc đồng áng hộ
sử dụng nhân công gia đình là chủ yếu Lao động gia đình này không được xem là hình thái hàng hóa Hiện nay, tình trạng thuê mướn nhân công lao động đã xuất hiện ở mức độ khác nhau của sản xuất hàng hóa Thị trường lao động nông thôn cũng ra đời Có những vùng bộ phận lao động coi làm thuê như một phương thức kiếm sống
- Cơ cấu lao động nông hộ bao gồm: lao động nông nghiệp, lao động bán nông nghiệp và lao động phi nông nghiệp Cơ cấu này khác nhau giữa các hộ, các địa bàn, các vùng tùy theo điều kiện cụ thể của chúng Một đặc điểm khác nữa là khả năng tích tụ tập trung vốn của đại bộ phận nông dân là thấp, các hộ sản xuất trong điều kiện thiếu vốn nghiêm trọng Theo vào đó, chu kỳ sản xuất nông nghiệp kéo dài nên vốn chu chuyển chậm, bởi thế tạo nên sự căng thẳng về vốn, trong khi nền nông nghiệp còn yếu ớt, kỹ thuật sản xuất mang tính truyền thống, quy mô canh tác nhỏ đã dẫn đến tình trạng thu nhập của đại bộ phận là thấp[4, tr.6-tr.7]
Trang 231.2.1.4 Vai trò của kinh tế hộ trong quá trình phát triển ngày nay
Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nông nghiệp và nông thôn Các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau chặt chẽ trước tiên bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, dựa trên cơ sở huyết thống, ngoài ra còn do huyết thống qua nhiều đời, do phong tục tập quán, tâm lý đạo đức gia đình, dòng họ Về kinh tế, các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên mặt quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan
hệ phân phối, mà cốt lõi của nó là quan hệ lợi ích kinh tế Các thành viên trong nông hộ có cùng mục đích và cùng lợi ích chung là làm cho hộ mình ngày càng phát triển, ngày càng giàu có Trong mỗi nông hộ thường bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức việc hiệp tác và phân công lao động trong gia đình, vừa là người lao động trực tiếp Các thành viên trong hộ cùng lao động, gần gũi nhau về khả năng, trình độ, tình hình và hoàn cảnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân công và hợp tác lao động một cách hợp lý
Kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển nông hộ của nhiều nước có vai trò hết sức quan trọng Ở Mỹ - nước có nền nông nghiệp phát triển cao - phần lớn nông sản vẫn là do nông trại gia đình sản xuất bằng lao động của chính chủ nông trại và các thành viên trong gia đình Động lực lớn nhất thúc đẩy sản xuất ở nông trại gia đình là lợi ích kinh tế của các thành viên trong gia đình Ở Việt Nam, kinh tế nông hộ mặc dù còn quy mô sản xuất nhỏ và phân tán, nhưng có vai trò hết sức quan trọng để phát triển nông nghiệp Kinh tế nông hộ đã cung cấp cho xã hội rất nhiều sản phẩm quan trọng góp phần tăng nhanh sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp và xuất khẩu góp phần sử dụng tốt hơn đất đai, lao động, tiền vốn, tăng thêm việc làm ở nông thôn và tăng thêm thu nhập cho nhân dân
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã tạo ra sự thay đổi lớn trong nông thôn Nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân luôn là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng và
Trang 24Nhà nước ta cũng như nhân dân Nhằm để tăng thêm thu nhập cho người dân, làm cho nông thôn ngày càng giàu đẹp, góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn và cũng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước
1.2.2 Khái niệm cánh đồng mẫu lớn:
Cánh đồng mẫu lớn là sự liên các thửa ruộng liền kề của nhiều hộ dân trong cùng một khu vực có điều kiện đê bao, thủy lợi, cùng nhau thực hiện sản xuất theo quy trình từ khâu sản xuất, khâu kỹ thuật, khâu quản lý, khâu thu hoạch, khâu bảo quản và tiêu thụ sản phẩm
1.3 Khái niệm về sản xuất, hiệu quả, hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ
thuật:
1.3.1 Khái niệm về sản xuất:
Sản xuất là quả trình sử dụng các yếu tố đầu vào và các nguồn lực cần thiết khác để tạo ra sản phẩm hàng hóa một cánh có hiệu quả
1.3.2 Khái niệm về hiệu quả:
Hiệu quả là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt kết quả cao nhất Hiệu quả bao gồm ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí, (2) sản xuất với chi phí thấp nhất, (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu của con người
1.3.3 Khái niệm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả kỹ thuật:
+ Hiệu quả kinh tế: Tiêu chí về hiệu quả kinh tế thực ra là giá trị nghĩa
là sự thay đổi làm tăng giá trị thì sự thay đổi đó có hiệu quả và ngược lại thì không có hiệu quả
+ Hiệu quả kỹ thuật: Hiệu quả là việc tạo ra một số lượng sản phẩm nhất định từ việc sử dụng các nguồn lực đầu vào ít nhất Nó được xem là một thành phần của hiệu quả kinh tế Bởi vì muốn đạt được hiệu quả kinh tế thì trước hết phải đạt được hiệu quả kỹ thuật
Trang 251.3.4 Khái niệm về doanh thu, chi phí, lợi nhuận:
a Tổng doanh thu: là toàn bộ giá trị của sản phẩm cho một đơn vị
diện tích bằng năng suất nhân với đơn giá của sản phẩm cho một đơn vị diện tích
Doanh thu = Năng suất * Đơn giá * Đơn vị diện tích
b Tổng chi phí: là toàn bộ số tiền chi ra cho hoạt động canh tác để tạo
ra sản phẩm bao gồm chi phí lao động, chi phí vật chất và chi phí khác Tổng chi phí = Chi phí lao động + Chi phí vật chất + Chi phí khác
c Tổng thu nhập: là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi
phí bỏ ra để sản xuất sản phẩm đó
Tổng thu nhập = Tổng doanh thu- Tổng chi phí Thu nhập có hai loại: Thu nhập chưa tính lao động nhà và thu nhập có tính lao động nhà
1.4 Tổng quan về tình hình sản xuất lúa trên thế giới và tại Việt nam
1.4.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới:
Trên thế giới, lúa chiếm một vị trí quan trọng, đặc biệt ở vùng Châu
Á Ở Châu Á lúa là món ăn chính giống như bắp của dân Nam Mỹ, hạt kê của dân Châu Phi hoặc lúa mì của dân Châu Âu và Bắc Mỹ
Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2011) cho thấy, diện tích trồng lúa trên thế giới đã tăng rõ rệt từ năm 1961 đến
1980 Trong vòng 19 năm đó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm 1980, diện tích lúa tăng chậm và đạt cao nhất vào những năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc độ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở đi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến động
và có xu hướng giảm dần, đến năm 2005 còn ỏ mức 152,9 triệu ha Từ năm
2005 đến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục đạt 157,73 triệu ha cao nhất kể
từ năm 1995
Trang 26Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất không ngừng được cải thiện, đặc biệt từ sau cuộc Cách mạng Xanh của thế giới vào những năm 1965-
1970, với sự ra đời của các giống lúa thấp cây, ngắn ngày mà tiêu biểu là giống lúa IR5, IR8 Các giống lúa này có yêu cầu kỹ thuật cao hơn, tạo điều kiện cho các nước phát triển tăng nhanh sản lượng lúa bằng con đường tăng năng suất nhờ có điều kiện phát triển hệ thống thủy lợi hoàn chỉnh và đầu tư phân bón, kỹ thuật cao Đến những năm 1990, dẫn đầu năng suất lúa trên thế giới là các nước Triều Tiên, Úc, Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha (IRRI, 1990) Trong khi các nước có diện tích lúa lớn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiếu điều kiện đầu tư, cải tạo môi trường canh tác và không thể đầu tư vào nông nghiệp cao nên năng suất lúa vẫn còn rất thấp và tăng chậm Điều này làm năng suất lúa bình quân trên thế giới cho đến nay vẫn còn ở khoảng 4,0-4,3 tấn/ha, chỉ bằng phân nửa năng suất lúa ở các nước phát triển
Biểu 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới qua các năm
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (Triệu tấn)
Trang 271.4.2 Tình hình sản xuất lúa tại Việt Nam:
Ở Việt Nam, trồng lúa là một nghề truyền thống từ xưa của nhân dân Theo thống kê của Tổ chức lương nông liên hiệp quốc (FAO, 2010), Việt Nam có diện tích lúa khoảng 7,4 triệu ha, đứng thứ 5 sau các nước có diện tích lúa trồng nhiều ở Châu Á theo thứ tự Ấn Độ (~ 44,0 triệu ha), Trung Quốc (~ 29,5 triệu ha), Indonesia (~ 12,3 triệu ha), Bangladesh (~ 11,7 triệu ha), Thái Lan (~ 10,2 triệu ha), Myanmar (~ 8,2 triệu ha) Việt Nam có năng suất 5,2 tấn/ha đứng thứ 24 trên thế giới sau Ai Cập (9,7 tấn/ha), Úc (9,5 tấn/ha), Salvador (7,9 tấn/ha)…, đứng đầu khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 4 trong khu vực Châu Á sau Hàn Quốc (7,4 tấn/ha), Trung Quốc (6,6 tấn/ha), Nhật (6,5 tấn/ha)
Qua các giai đoạn lịch sử cải thiện đời sống của nhân dân cho thấy quan tâm của Nhà nước đối với sản xuất lúa gạo Trước 1975, diện tích trồng lúa cả nước dao động trong khoảng 4,42-4,92 triệu ha Năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700 kg/ha trong vòng 20 năm Sản lượng lúa 2 miền chỉ trên dưới 10 triệu tấn Sau năm 1975, diện tích trồng lúa tăng khá nhanh và ổn định nhưng năng suất bình quân giảm sút khá nghiêm trọng
do đất đai mới khai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh, cơ chế quản lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp Bước sang 1980, năng suất lúa tăng dần do khắc phục được những nguyên nhân trên như: thay đổi cơ chế quản lý nông nghiệp bằng chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất, cải thiện hệ thống kênh mương…
Sau những nỗ lực khắc phục khó khăn, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn Từ một nước phải nhập khẩu gạo hàng năm chúng ta đã tự túc được lương thực và dần dần tái hòa nhập vào thị trường lương thực thế giới, chiếm lĩnh ngay vị trí quan trọng, là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ
3 rồi thứ 2 thế giới sau Thái Lan
Từ 1997 đến nay, hàng năm nước ta xuất khẩu trung bình trên dưới 4 triệu tấn gạo, đem về một nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể Hiện nay Việt
Trang 28Nam đứng hàng thứ 6 về diện tích gieo trồng và đứng hàng thứ 5 về sản
lượng lúa Hạt gạo Việt Nam chẳng những đảm bảo yêu cầu về an ninh
lương thực trong nước mà còn góp phần quan trọng trong thị trường lúa gạo
thế giới
Biểu 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam qua các năm
Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (Triệu tấn)
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu:
2.1.1 Đặc điểm sản xuất nông nhiệp của huyện vĩnh Thạnh:
2.1.1.1 Đặc điểm của huyện Vĩnh Thạnh:
Huyện Vĩnh Thạnh là một huyện ngoại thành thuộc thành phố Cần Thơ, được thành lập ngày 02 tháng 01 năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-
CP ngày 02 tháng 01 năm 2004 của Chính phủ và điều chỉnh theo các Nghị định số 11/2007/NĐ-CP, 162/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2008, Huyện Vĩnh Thạnh có 41.034,84 ha diện tích tự nhiên và 153.934 nhân khẩu, có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Vĩnh Trinh, Vĩnh Bình, Thạnh Mỹ, Thạnh Quới, Thạnh An, Thạnh Tiến, Thạnh Thắng, Thạnh Lợi, Thạnh Lộc và thị trấn Vĩnh Thạnh, thị trấn Thạnh An
Vĩnh Thạnh là huyện thuần nông chiếm 90% diện tích đất nông nghiệp,
cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế xã hội Trong 5 năm 2005 đến 2010, Đảng bộ đã huy động nguồn lực tổng hợp, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, đưa kinh tế nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng công nghệ cao, nâng cao giá trị sản xuất góp phần nâng cao đời sống nhân dân, chuyển biến bộ mặt nông thôn Đến nay, toàn huyện có 98% diện tích lúa chất lượng cao, đạt sản lượng 371.172 tấn/năm, là địa phương duy nhất của thành phố Cần Thơ không còn sản xuất lúa chất lượng thấp IR50404 Đến nay, ngành nông nghiệp thành phố đã nhân rộng được 13
mô hình tại 12/36 xã, với diện tích trên 4.120 ha, thu hút 2.605 nông hộ tham gia
Hầu như các hộ nông dân được đào tạo tập huấn kiến thức nhiều hơn trước nên kỹ thuật canh tác theo phương pháp khoa học chu đáo cũng như cách quản lý đồng ruộng theo tiêu chuẩn VietGAP đang rất được mở rộng ở huyện Vĩnh Thạnh Ngoài ra, Sở Nông Nghiệp còn tổ chức nhiều lớp dạy sản xuất lúa chất lượng cao cho những nông dân chưa am hiểu kỹ thuật Ngoài thực hiện tiêu chuẩn CĐML theo hướng VietGAP, nông dân còn ứng dụng triệt để các biện pháp “3 giảm 3 tăng”.”1 phải 5 giảm”, tưới nước tiết
Trang 30kiệm, công nghệ sinh thái, sử dụng phân vi sinh, chế phẩm sinh học nấm xanh (Metarhizium anisopliae) để quản lý sâu rầy Nông dân gieo xạ trong cùng một thời gian trong cùng cánh đồng, ứng dụng sạ hàng, sạ thưa, tiết kiệm ít nhất 80kg giống mỗi ha đồng thời bón phân cân đối, không lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, thăm đồng thường xuyên hàng tuần Bên cạnh các yếu
tố kể trên, liên kết nông dân lại với nhau nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn Chỉ có liên kết lại nông dân mới cung cấp sản phẩm đủ lớn về số lượng, kịp thời gian cho nhiều đối tác Nhờ vào liên kết, nông dân mới có khả năng xây dựng và quản lý nhãn hiệu tập thể bảo đảm an toàn chất lượng cho nông sản sản xuất ra [6.tr1]
2.1.1.2 Sự cần thiết sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn:
Sau khi có chủ trương xây dựng CĐML ở vùng bắc Cái Sắn các xã đã chỉ đạo ban ngành đoàn thể tuyên truyền và lấy ý kiến trong nhân dân về việc xây dựng Cánh Đồng Mẫu Lớn Qua đó người dân hầu hết đều đồng tình vì thấy được lợi ích cả việc tham gia xây dựng CĐML Đến nay, huyện Vĩnh Thạnh đã xây dựng được 3.281 ha trong đó diện tích được bao tiêu 2.308 ha, chỉ riêng 3 xã Cái Sắn đã xây dựng được CĐML với tổng diện tích 2.166,5 ha, trong đó xã Thạnh Lợi có diện tích gần 1.360 ha, các diện tích tham gia CĐML đa phần đều được các doanh nghiệp đầu tư bao tiêu sản phẩm và cung ứng vật tư nông nghiệp
Sau thời gian kiểm tra các cấp lãnh đạo của UBND huyện Vĩnh Thạnh khẳng định ý nghĩa của việc xây dựng cách đồng mẫu lớn là nhầm hướng đến một nền nông nghiệp hiện đại, nâng cao chuỗi giá trị sản xuất và tăng thu nhập cho người nông dân, góp phần xây dựng nông thôn mới
Điểm mấu chốt của CĐML là sự liên kết các thửa ruộng liền kề của nhiều hộ dân trong cùng 1 khu vực có điều kiện đê bao, thủy lợi, nông dân cùng nhau thực hành sản xuất theo một quy trình từ khâu sản xuất, quy trình
kỹ thuật, quản lý, thu hoạch, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm Để làm được điều đó nông dân phải tổ chức “ hành động tập thể” Như vậy, đặc điểm cơ bản và cốt lõi của CĐML chính là xây dựng các liên kết ngang để thực hiện hành động tập thể và liên kết dọc để xây dựng kênh phân phối
Trang 31Yếu tố mà nông dân liên kết lại với nhau trong mô hình này là đạt được nhiều lợi ích chung đạt tính kinh tế quy mô, giảm chi phí sản xuất, chi phí giao dịch, tạo ra hàng hóa tập trung số lượng lớn, chất lượng cao, đồng nhất,
dễ tiêu thụ thông qua hợp đồng, tăng khả năng tiếp cận với công nghệ, nguồn lực sản xuất và thị trường mới, tăng vị thế đàm phán và khả năng cạnh tranh, nâng cao năng lực về tổ chức và nâng cao kiến thức nhờ vào sự chia sẻ kinh nghiệm trong nhóm
Sự thành công trước đó của các mô hình CĐML được các xã áp dụng theo mô hình sản xuất VietGAP, GLOBALGAP trên địa bàn huyện, cũng như dự án cạnh tranh Nông Nghiệp bước đầu cũng được thực hiện
Số tuyệt đối
Số tương đối %
Số tuyệt đối
(Nguồn: Niên giám thống kê của phòng nông nghiệp Huyện Vĩnh Thạnh)
Dựa vào số liệu bảng 3.1 diện tích trồng lúa năm 2012 đã tăng 14,05 %
so với năm 2011 và sang năm 2013 tiếp tục tăng ở mức ít hơn 2,64 % so với năm 2012 Diện tích tăng chủ yếu là do huyện đã quy hoạch thành công nhiều vùng sản xuất xen canh, luân canh các loại cây khác nhau có năng suất cao Kết quả năm 2012 năng suất tăng 2,24% so với năm 2011, năng suất
Trang 32năm 2013 tăng 5,21% so với năm 20112 là bước đột phá để đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện thực hiện thăng lợi nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội trong thời gian qua Bên cạnh đó sản lượng tăng 10% từ năm 2011 đến năm
2013, tăng 3,43% từ năm 2012 đến năm 2013 Nguyên nhân do dịch chuyển
cơ cấu mùa vụ, giống được thực hiện tốt Công tác dự báo, phòng trừ sâu bệnh kịp thời, chuyển giao kỹ thuật, thời tiết cũng rất thuận lợi Hiện diện tích thu hoạch bằn máy gặt đập chiếm đến 90% diện tích gieo trồng, cùng với thực hiện mô hình CĐML ở 3 xã với HTX Khiết Tâm và HTX C1, cả huyện do tham gia mô hình CĐML lên tới 3.281 ha nên năng suất và sản lượng tăng hơn lúc chưa tham gia
2.1.3 Về nuôi trồng thủy sản:
Diện tích nuôi thủy sản được mở rộng, sản lượng tăng gấp đôi năm
2005 Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển theo qui mô bán công nghiệp, chủ động kiểm soát được dịch bệnh nên giá trị sản xuất đạt bình quân 1.300
tỉ đồng, tăng 1,16 lần so với năm 2005 Vĩnh Thạnh cung ứng nguồn thủy sản, gia súc, gia cầm dồi dào cho Thành phố, trong đó cung cấp gần 31.000 tấn cá tra cho thị trường nội địa va xuất khẩu, đồng thời phối hợp với các đơn vị xuất khẩu lúa gạo bao tiêu đầu ra cho nông sản ( ví dụ, Công ty cổ phần Gentraco nhận bao tiêu cho 770 ha lúa, với sản lượng gần 6.000 tấn lúa Jasmine 85 cho thị trường nội địa và xuất khẩu)
2.2 Tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Vĩnh Thạnh
2.2.1 Đơn vị hành chính:
Ngày 02 tháng 01 năm 2004, Chính phủ ban hành nghị định số 05/2004/NĐ-CP về việc thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các
xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương, thành lập huyện Vĩnh Thạnh và xã trực thuộc:
Thành lập huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của thị trấn Thạnh An và các xã: Thạnh An, Thạnh Lộc, Thạnh Quới, Thạnh Mỹ, Thạnh Phú, Thạnh Thắng, Trung Hưng và 2.811,47 ha diện tích
tự nhiên và 19.171 nhân khẩu của xã Vĩnh Trinh thuộc huyện Thốt Nốt
Trang 33Huyện Vĩnh Thạnh có 41.034,84 ha diện tích tự nhiên và 153.964 nhân khẩu
Thành lập xã Vĩnh Trinh trên cơ sở 2.811,47 ha diện tích tự nhiên và 19.171 nhân khẩu của xã Vĩnh Trinh thuộc huyện Thốt Nốt Xã Vĩnh Trinh
có 2.811,47 ha diện tích tự nhiên và 19.171 nhân khẩu
Thành lập xã Thạnh Tiến thuộc huyện Vĩnh Thạnh trên cơ sở điều chỉnh 2.239,89 ha diện tích tự nhiên và 9.412 nhân khẩu của xã Thạnh An
Xã Thạnh Tiến có 2.239,89 ha diện tích tự nhiên và 9.412 nhân khẩu Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính: Xã Thạnh An còn lại 4.488,69 ha diện tích tự nhiên và 10.447 nhân khẩu
Thành lập xã Vĩnh Bình thuộc huyện Thốt Nốt trên cơ sở điều chỉnh 1.095,67 ha diện tích tự nhiên và 3.191 nhân khẩu của xã Thới Thuận; 857,84 ha diện tích tự nhiên và 4.038 nhân khẩu của xã Trung Nhứt Xã Vĩnh Bình có 1.953,51 ha diện tích tự nhiên và 7.229 nhân khẩu
Xã Thạnh Lợi có 4.323,81 ha diện tích tự nhiên và 10.472 nhân khẩu
Xã Thạnh Trung có 2.399,56 ha diện tích tự nhiên và 18.063 nhân khẩu
Xã Thạnh Lộ có 3.593,13 ha diện tích tự nhiên và 15.148 nhân khẩu
Xã Thạnh Quới có 3.337,84 ha diện tích tự nhiên và 12.358 nhân khẩu
Xã Thạnh Mỹ có 2.140,84 ha diện tích tự nhiên và 10.925 nhân khẩu
Trang 34Bảng 2.2: Diện tích và dân số của các quận, huyện ở TPCT
Quận Cái Răng
Quận
Ô Môn
Quận Thốt Nốt
Huyện Phong Điền
Huyện
Cờ Đỏ
Huyện Thới Lai
Huyện Vĩnh Thạnh Diện
8 phường
7 phường
7 phường
9 phường
9 xã (Nguồn: Thống kê trên webside của huyện Vĩnh Thạnh)
2.2.2 Dân số và lao động:
Hiện nay, huyện Vĩnh Thạnh có tổng dân số trung bình là 177.930 nhân khẩu năm 2008, mật độ dân số là 412 người/ km2 với 35.282 hộ Thị trấn Thạnh An có mật độ dân số cao nhất là 628 người/ km2 vì thế diện tích chỉ chiếm 17, 62 km2 Ở các xã, trấn Vĩnh Thạnh chỉ có 7,38 km2 diện tích thấp nhất mà mật độ lại cao thứ 2 sau thị trấn Thạnh An khoảng 667 người/km2, dân cư ở thị trấn này đa phần làm công nhân, buôn bán, kinh doanh nghề khác Địa bàn đa số là người dân tộc Kinh
Trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống còn mang nặng tập quán cũ đặc biệt những người không đi học hay không hoạt động nhiều
2.2.3 Cơ cấu kinh tế của huyện:
Trong năm 2013 vừa qua, kinh tế huyện Vĩnh Thạnh đã tăng trưởng 16,12% Đây là mức tăng trưởng khả quan, trong bối cảnh nền kinh tế nói chung gặp nhiều khó khăn Cơ cấu kinh tế của huyện đã có sự chuyển dịch đáng kể, theo hương tăng tỷ trọng của các khu vực công nghiệp, dịch vụ, thương mại Riêng về giá trị sản xuất của huyện từ năm 2010 – 2013 cho thấy dịch vụ tăng từ 3,14% tăng lên 3,4% là do nông hộ ngày càng gần gũi với khoa học truyền thông đại chúng phục vụ cuộc sống tốt hơn cho nông
Trang 35dân, nhưng trồng trọt lại giảm từ 89,15% còn 87,66% do thời điểm này chưa vận dụng nhiều mô hình tăng năng suất cho sản xuất và còn hạn chế về kỹ thuật chăm sóc nên giá trị sản xuất trong 3 năm đó có phần hơi giảm, bên cạch đó diện tích canh tác bị thu hẹp phần nào nên sản lượng so với năm trước đó ít hơn
Trong năm 2013, huyện đã huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 1.200 tỷ đồng ( bằng 103% kế hoạch), số hộ nghèo giảm còn 7,67%, đào tạo nghề cho gần 1.600 lao động Huyện đã xây dựng gần 25 km đường giao thông mặt cứng, đạt 155% kế hoạch Đến nay, đã có 99,85% số hộ được sử dụng điện, 70% hộ sử dụng nước hợp vệ sinh Thu nhập bình quân đầu người (giá hiện hành) đạt 18,87 triệu đồng (944 USD)
Về sản xuất nông nghiệp, huyện chủ trương phát triển theo hướng bền vững, hiệu quả, bảo vệ môi trường Có 98% lúa chất lượng cao, Vĩnh Thạnh chú trọng công tác khuyến nông, khuyến ngư, chuyển giao khoa học – kỹ thuật cho nông dân Huyện đã đưa cơ giới vào khâu thu hoạch, với 207 máy gặt đập liên hợp, đáp ứng 70% diện tích toàn huyện Sau những năm phát triển vừa quâ của huyện cũng đã thay đổi rất nhiều thể hiện qua giá trị nông nghiệp qua bảng sau:
7.71 89.15
89.11
3.15
8.94 87.66
3.4 0
(Nguồn: niên giám thông kê của huyện Vĩnh Thạnh) Hình 2.1: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp ở huyện 2011-2013
Trang 36Qua hình 2.1 nhận thấy trồng trọt giảm 1,49% nhưng chăn nuôi và thủy sản lại tăng 1,23% đúng là do huyện áp dụng xen canh để tăng năng suất và cải tạo đất
Đến với giá trị sản xuất của huyện Vĩnh Thạnh, hiện nay huyện đã cung ứng nguồn thủy sản, gia súc, gia cầm dồi dào cho Thành phố, trong đó cung cấp gần 31.000 tấn cá tra cho thị trường nội địa và xuất khẩu, đồng thời phối hợp các đơn vị xuất khẩu lúa gạo bao tiêu đầu ra cho nông sản Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp năm qua đạt gần 240 tỷ đồng, tiếp tục phát triển theo hướng đa dạng hóa ngành nghề, tăng cường đổi mới công nghệ nâng cao giá trị sản phẩm có lợi thế ở địa phương gắn với thị trương và khả năng cạnh tranh để đầu tư phát triển Các loại hình thương mại, dịch vụ tiếp tục phát triển, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GĐP của huyện, với chủng loại hàng hóa phong phú, nhiều loại hình kinh doanh mới
Tổng mức bán lẻ của huyện trong năm đạt 3.572 tỷ đồng, tăng gần 20% so với năm 2010 Vừa qua, Trung tâm Thương mại, Chợ và Siêu thị Vĩnh Thạnh do Công ty Cổ phần đầu tư và Xây dựng cơ hội mới làm chủ đầu tư đã đi vào hoạt động, tạo điều kiện giao lưu, mua bán trao đổi hàng, kích cầu trên địa bàn
Đến với Hình 2.2 cho biết trên tổng số Giá trị sản xuất nông nghiệp của huyện ngày càng tăng từ năm 2011 đến 2013 giá trị trồng trọt tăng từ 516.471 triệu đồng lên 535.343 triệu đồng tăng 3,5% tương tự từ năm 2012 đến năm 2013 tăng 10,6%, cho thấy một dấu hiệu phát triển kinh tế bền vững cho huyện nhà
Trang 372012 triệu đồng
2013 triệu đồng
Giá trị nông nghiệp
Nguồn: niên giám thông kê của huyện Vĩnh Thạnh Hình 2.2 cho biết trên tổng số Giá trị sản xuất nông nghiệp
2.2.4 Công trình xây dựng thủy lợi nông thôn:
Xây dưng cây cầu bắc qua song Cái Sắn với quy mô lớn nằm ngang sông kinh E do nguồn kinh phí nhà nước cấp thuận tiện cho tất cả mọi người
từ việc kinh doanh đến lợi ích riêng của từng người, đi lại ít mất thời gian con đường thông với các kênh D, C, F, G đến các xã
Các dự án chuẩn bị đầu tư cho toàn thành phố Cần Thơ có huyện Vĩnh Thạnh như xây dựng đường cao tốc Bắc – Nam quốc lộ 1A tuyến từ Hà Nội đến thành phố Cần Thơ cuối năm 2016 gồm tổng mức đầu tư ước tính lên đến 126.415 tỉ đồng, trong đó nguồn vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, bản quyền thu phí khoảng 20.512 tỉ đồng
Xây đê bao ngăn chặn lũ, nước dâng cao khi mùa nước địa điểm ở kinh D xã Thạnh Lợi thuận lợi cho sản xuất lúa vụ 3 tăng năng suất cho nông hộ
Trang 382.2.5 Cơ sở hạ tầng thiết yếu:
Là huyện mới thành lập của TP Cần Thơ, xuất phát điểm về hạ tầng
cơ sở còn thấp kém, xa trung tâm thành phố, song nhờ sự đoàn kết, khơi dậy trí tuệ về nội lực, đồng thời phát huy lợi thế địa phương là vùng nguyên liệu nông – thủy sản , tận dụng nguồn đất đai màu mỡ, sự cần cù lao động và sự
hỗ trợ từ thành phố và các ngành cấp trên, kinh tế huyện Vĩnh Thạnh tiếp tục đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong năm 2011 Đảng bộ huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới, triển khai các dự án đường giao thông, bắc cầu, xây dựng hệ thống đê bao thủy lợi, phát triển mạng lưới điện, nước sạch và các công trình phúc lợi…GDP bình quân/đầu người đạt 720,79 USD tăng 468 USD so với năm 2005
Sự nghiệp văn hóa, giáo dục và đào tạo, y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được đầu tư phát triển cả về quy mô, chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống văn hóa ở khu dân cư” được nâng lên về chất, thực hiện đồng bộ các chính sách an ninh xã hội, chăm lo nâng cao mức sống người dân, năm 2011 huyện đã công nhận 2 thị trấn, 46/53 ấp văn hóa và 85% số hộ đạt danh hiệu văn hóa, giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 11,95% nay còn 6,54% Và năm 2012 huyện đã Xây dựng 1 xã đạt chuẩn văn hóa, 3 ấp văn hóa ( nâng lên 56/56 ấp đạt chuẩn) Đảng bộ huyện Vĩnh Thạnh được thành ủy Cần Thơ công nhận trong sạch vững mạnh tiêu biểu Hoạt động của chính quyền ngày càng đi vào nề nếp và hiệu quả
Mục tiêu, nhiệm vụ của Vĩnh Thạnh trong năm 2012-2013 là huy động tốt mọi nguồn lực để đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là giao thông nông thôn, điện, nước sinh hoạt; tập trung thự hiện tốt các biện pháp góp phần cùng cả nước kiềm chế lạm phát, đảm bảo an ninh xã hội tăng trưởng bền vững, giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc về việc làm, vệ sinh môi trường, nước sạch, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, giữ vững an ninh chính trị, tạo chuyển biến về trật tự an toàn xã hội, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý điều hành bộ máy chính quyền từ huyện đến xã, thị trấn phát huy dân chủ, tăng cường khối đại đoàn kết, tạo
sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2012-2013
Trang 39Cũng theo nhiều các cấp lãnh đạo của huyện Vĩnh Thạnh năm 2012, Vĩnh Thạnh phấn đấu huy động khoảng 1.500 tỷ đồng đầu tư toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn viện và bền vững của huyện Trước mắt huyện tập trung hoàn thành và đưa vào sử dụng công trình cơ sở hậ tầng Khu trung tâm hành chính huyện, Bệnh viện đa khoa huyện, đường T7, đường trung tâm vào 2 xã Vĩnh Bình và Thạnh Lợi, Khu trung tâm thương mại, Khu dân cư – tái định cư Trung tâm hành chính huyện, các trụ sở hành chính Vĩnh Bình, Thạnh Lợi Đồng thời, hoàn thành công tác san lấp mặt bằng và có sở hạ tầng công trình cụm dân cư vượt lũ Thạnh Mỹ mở rộng ( Thạnh Quới) để di dời những hộ dân sống ven sông Cái Sắn ( cặp Quốc lộ 80) có nguy cơ sạt lở
Huyện chủ trương thực hiện phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng làm” để hoàn chỉnh hệ thống cầu đường, giao thông nông thôn, xây dựng trung tâm thương mại và khu dân cư, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế và đi lại cho nhân dân; cải tạo hệ thống điện theo hướng an toàn, tiết kiệm, khuyến khích đầu tư phát triển hệ thống nước sạch các ngành nghề giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, đi đôi với tăng cường quản
lý nhà nước trên lĩnh vực xây dựng, đảm bảo đúng quy định, quy hoạch và
mỹ quan đô thị
2.3 Hiện trạng cơ sở vật chất của huyện phục vụ sản xuất nông nghiệp
2.3.1 Về cơ giới hóa công nghệ thu hoạch và sao thu hoạch:
Trong canh tác lúa, có nhiều khâu có thể thực hiện cơ giới hóa như khâu làm đất, gieo cấy, chăm sóc ( máy bơm nước, phun thuốc diệt cỏ), thu hoạch (gặt, tuốt, máy sấy, bảo quản) Hiện nay khâu làm đất có 95 – 97% làm bằng máy; đập, tuốt lúa bằng trục dọc, 90% dùng máy Với khâu phơi sấy lúa mới chỉ có 2/3 sử dung máy móc Đặt biệt, với việc thu hoạch bằng máy gặt đập lien hợp Theo báo cáo của hội cơ khí Nông nghiệp Việt Nam, tính đến cuối năm 2008, ĐBSCL mới có hơn 1.000 máy gặt đập liên hợp Với số lượng này, chỉ có thể đáp ứng được 1- 2% diện tích lúa Hiện khu vực này cần khoảng 200.000 máy gặt đập liên hợp thì mới đáp ứng đủ nhu cầu
Trang 40Nhà nước đang có chủ trương, chính sách đề đến 2020 đưa Việt Nam
cơ bản trỏ thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm Tuy nhiên cuối năm 2004 đã có chính sách cụ thể đối với việc thu hoạch lúa, khi Thủ tướng chính phủ yêu cầu địa phương thực hiện các chính sách hỗ trợ vay vốn để nông dân mua và trang bị máy móc Tư năm 2006 đến nay, tổng công ty máy động lực, máy nông nghiệp, ngân hàng nhà nước….đã thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho nông dân vay vốn đầu tư máy móc cho thu hoạch lúa
Các tỉnh thì áp dụng các chính sách khác nhau, tùy đặc điểm từng địa phương Có nơi mức vay là 70%, có tỉnh lại cao hơn hoặc thấp hơn Thời gian vay dao động tầm 3 đến 5 năm hay nhiều hơn Một số tỉnh áp dụng mức vay giới hạn là 30 triệu đồng….Với mức hỗ trợ như thế, nhiều địa phương
đã đưa máy vào ruộng đồng, gồm nhiều loại máy, nhất là máy tuốt và máy làm đất Giải pháp sau thu hoạch của tôi để tránh tình trạng thất thoát khi thu hoạch và sau thu hoạch đối với nông dân, ngoài việc trang bị tốt các loại máy móc cho việc sản xuất lúa thêm vào đó nông dân phải nghiên cứu và chuyển giao các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng và ít bị rơi rụng trong quá trình thu hoạch Được biết, hiện nay tổn thất về lượng và chất sau thu hoạch ở mức khá cao đối với nông sản ( từ 11-15%) và thủy sản (từ 10 -20%)
2.3.2 Về điện khí hóa và các trạm bơm tưới tiêu:
Đến cuối năm 2010, các công trình đã hoàn thành và được bàn giao cho Công Ty Điện Lực TP.Cần Thơ quản lý, gắn điện kế bán điện trực tiếp đến hộ dân Từ đó góp phần đáng kể trong việc nâng cao tỷ lệ hộ dân có điện trên địa bàn thành phố, đạt 99,5% Để tiếp tục nâng cao số hộ dân có điện, cấp điện phục vụ phát triển nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng…giai đoạn 2011-2015, Công Ty Điện Lực TP.Cần Thơ sẽ đầu tư xây dựng mới nhiều công trình điện phục vụ nông thôn như: nhánh rẽ vào trạm huyện Vĩnh Thạnh
Cùng với phát triển kinh tế, Vĩnh Thạnh cũng trú trọng huy động nguồn lực phát triển kết cấu hạ tầng Năm 2004, tổng kinh phí đầu tư xây