1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển kinh tế của việt nam

18 351 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 140,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt Nam đã gia nhập hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng, mở rộng hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác; từng bước khẳng định được hình ảnh và vị t

Trang 1

Đề tài Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với sự phát triển

kinh tế của Việt Nam

Trang 2

Chương 1: Cơ sở lí luận

Khái niệm: Hội nhập kinh tế quốc tế là việc gắn kết nền kinh tế nước ta với các nền kinh

tế khác trên thế giới Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước có hiệu quả

Tình hình Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế nổi bật của kinh tế thế giới đương đại Phù hợp với xu thế đó, từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã tiến hành công cuộc đổi mới

và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế với phương châm “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng

mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập kinh

tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực

Đến năm 2015, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 185/193 nước thành viên Liên Hợp quốc, thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược” với 13 nước, quan hệ “đối tác chiến lược” trên một số lĩnh vực với 2 nước, quan hệ “đối tác toàn diện” với 11 nước Trong các đối tác trên có 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc

Việt Nam đã gia nhập hầu hết các tổ chức khu vực và quốc tế quan trọng, mở rộng hợp tác về chính trị, quốc phòng, an ninh và các lĩnh vực khác; từng bước khẳng định được hình ảnh và vị thế của một quốc gia tích cực và có trách nhiệm; tăng cường sự hiểu biết của cộng đồng quốc tế về văn hoá, con người và đất nước Việt Nam; đóng góp tích cực cho duy trì, bảo vệ môi trường hòa bình chung thông qua các cơ chế, diễn đàn an ninh quốc tế và khu vực, thông qua xây dựng các chuẩn mực, quy tắc ứng xử chung quốc tế và khu vực; được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu cao; là thành viên Ủy ban Di sản thế giới - UNESCO

Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân hàng thế giới Tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế

đa phương Tháng 7/1995 Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Trang 3

1/1/1996 Đây được coi là một bước đột phá về hành động trong tiến trình hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam Tiếp đó, năm 1996 Việt Nam tham gia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và đến năm 1998, Việt Nam được kết nạp vào Diễn đàn hợp tác kinh

tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC)

Đặc biệt, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã có một bước đi quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào ngày 11 tháng 01 năm 2007 sau 11 năm đàm phán gia nhập Tổ chức này

Thời cơ và thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế:

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia; giúp hoàn thiện thể chế kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mở rộng thị trường, thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, đẩy mạnh xuất khẩu, tranh thủ được khối lượng lớn vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý và các nguồn lực quan trọng khác; tạo thêm nhiều việc làm; nâng cao dân trí và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Năng lực đội ngũ cán

bộ làm công tác hội nhập quốc tế từ Trung ương đến địa phương được nâng lên một bước; tổ chức, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước được củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động Đội ngũ doanh nhân Việt Nam có bước trưởng thành đáng kể

- Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất

và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế

Bên cạnh đó Việt Nam đang phải đối mặt với một số thách thức như sau: Chưa xác lập được một cách thật sự bền vững môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước Quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng chưa ổn định, còn tồn tại nhiều trở ngại trong phát triển quan hệ giữa nước ta với các nước đối tác lớn

Hiệu quả hoạt động đối ngoại trong một số trường hợp chưa được như mong muốn; việc triển khai thực hiện các kết quả, các thỏa thuận chưa kịp thời; sự phối hợp giữa các cấp, các ngành còn chưa nhịp nhàng và đồng bộ

Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế chưa được các cấp, các ngành quán triệt đầy đủ, chậm cụ thể hóa và thế chế hóa; các đơn vị chưa nhận

Trang 4

thức rõ, chủ động tận dụng các cơ hội, cũng như chưa thấy được thách thức mới nảy sinh

để chủ động ứng phó

Hội nhập kinh tế quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao hiệu quả, phát triển bền vững, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; chưa được tiến hành đồng bộ với quá trình gia tăng liên kết giữa các vùng, miền trong cả nước Cơ chế chỉ đạo, điều hành, giám sát và phối hợp quá trình hội nhập, từ Trung ương đến địa phương, giữa các ban, ngành còn nhiều bất cập

Hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội và một số lĩnh vực khác chưa

đi vào chiều sâu, chưa gắn kết và tạo tác động tích cực đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; trong nhiều trường hợp còn bị động; khuynh hướng tiếp nhận trợ giúp quốc tế còn phổ biến

Chương 2: Thực trạng

Tham gia vào các tổ chức kinh tế và khu vực giúp kinh tế Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng Những cơ hội mà hội nhập mang lại mà nước ta tận dụng được sẽ làm nền tảng cho nền kinh tế sớm sánh vai với các cường quốc

Đầu tiên là phá được thế bao vây cấm vận: tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình,

thuận lợi cho phát triển đất nước Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với tất cả các nước lớn và hầu hết các nước trên thế giới; gia nhập nhiều tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng; trở thành thành viên có vai trò quan trọng trong ASEAN; đồng thời lần đầu tiên đảm nhiệm thành công vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009) Do vậy, vị trí của nước ta trong chính sách khu vực của các đối tác cũng ngày càng được coi trọng hơn

Duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao và tương đối ổn định, góp phần cải thiện đời sống của nhân dân Năm 1990, thu nhập bình quân đầu người nước ta ở mức dưới

100 USD, năm 2005 đạt 640 USD, năm 2010 đạt 1168 USD Tuy nhiên đến Đại hội XII của Đảng, “Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỷ USD, bình quân đầu người khoảng 2.109 USD

Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự do hoá thương mại và

mở cửa thị trường: Đối với xuất, nhập khẩu: Quá trình thực hiện các cam kết cắt giảm

thuế quan trong hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện hệ thống quản lý hải quan theo tiêu chuẩn quốc tế và cắt giảm hàng rào thuế quan đã tạo ra tác động tích cực đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam

Trang 5

Cơ hội lớn nhất là mở rộng thị trường nhờ cắt giảm thuế và dỡ bỏ rào cản thương mại để tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu Nếu như năm 2007, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam là 111,3 tỷ USD (trong đó xuất khẩu là 48,5 tỷ USD

và nhập khẩu là 62,7 tỷ USD), thì tới năm 2015 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã tăng khoảng 3 lần đạt 328 tỷ USD (trong đó nhập khẩu là 165,6 tỷ USD và xuất khẩu là 162,4 tỷ USD)

Trong đó, các đối tác FTA của Việt Nam đều là các đối tác thương mại quan trọng, thể hiện ở giá trị thương mại lớn và tỉ trọng cao trên tổng số liệu thương mại với thế giới của Việt Nam hằng năm Tương mại của Việt Nam với các đối tác đã và đang đàm phán luôn chiếm trên 80% tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam

Trong thời gian tới, khi các cam kết FTA bước vào giai đoạn cắt giảm sâu, đặc biệt các FTA với Hoa Kỳ, EU có hiệu lực sẽ thúc đẩy xuất khẩu mạnh hơn, đem đến nhiều cơ hội

mở rộng thị trường cho hàng hóa của Việt Nam đồng thời giúp đa dạng hóa thị trường nhập khẩu, tránh phụ thuộc vào các thị trường nguyên liệu truyền thống

Việc thực hiện có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới sẽ tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hóa thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ

và toàn diện, khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao trình độ phát triển, giảm dần tỉ trọng gia công lắp ráp của nền kinh tế Nước ta cũng có cơ hội tham gia chủ động và sâu hơn vào quá trình định hình và cải cách các định chế, cơ chế, cấu trúc khu vực và quốc tế có lợi cho ta và có điều kiện thuận lợi để đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của các tổ chức,

cá nhân; bảo đảm độc lập, tự chủ, củng cố và duy trì môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung có cơ hội để phát triển mạnh hơn, sáng tạo hơn và có sức cạnh tranh hơn Người tiêu dùng có thêm cơ hội lựa chọn hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường

Việt Nam đã và đang gặt hái được những thành tựu trong việc tự do hoá thương mại và mở cửa thị trường

- Thời kỳ 2001-2010, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân

17,42%, cao hơn 2,42% so với chỉ tiêu đề ra tại Chiến lược phát triển xuất khẩu

2001-2010

Tính riêng trong giai đoạn 2007-2010, là giai đoạn sau khi gia nhập WTO, xuất khẩu tăng bình quân 14% năm, nhập khẩu tăng bình quân 11% năm

Đến năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch hàng hóa xuất

khẩu đạt 96,3 tỷ USD là là mức cao nhất từ trước tới nay, tăng 33,3% so với kỷ lục đạt

được trong năm 2010 Đồng thời, mức nhập siêu của năm 2011 là mức thấp nhất trong vòng 5 năm qua

Trang 6

- Thị trường ngoài nước ngày càng mở rộng, đa dạng Số lượng thị trường xuất

khẩu đã tăng gấp hơn 1,4 lần sau 10 năm, từ 160 thị trường lên trên 230 thị trường Cơ

cấu thị trường xuất, nhập khẩu đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần lệ thuộc vào thị trường Châu Á

- Đối với chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu: Hội nhập kinh tế quốc tế

đã thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là chuyển dịch cơ cấu sản xuất hàng hóa xuất khẩu theo hướng tích cực, phù hợp với chủ trương công nghiệp hóa theo hướng hiện đại, theo đó tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn

- Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001-2010 đã có sự

chuyển dịch khá tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng nhóm hàng chế biến và giảm dần hàng xuất khẩu thô Trong đó, tỷ trọng của nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm dần từ 29,37% năm 2001 xuống còn 23,3% vào năm 2010; nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đã tăng mạnh từ 35,72% vào năm 2001, lên 48,9% năm 2010; nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản giảm từ 34,92% năm 2001 xuống còn 27,8% năm

2010 Năm 2015, tỷ trọng xuất khẩu các nhóm hàng sản phẩm dệt may, giày dép, nông

sản có xu hướng giảm xuống trong khi đó tỷ trọng của các nhóm sản phẩm như máy vi tính, linh kiện điện tử, điện thoại tăng lên, chiếm tới 27,7% tổng giá trị kim ngạch hàng hóa xuất khẩu

- Đối với thu hút FDI: Cùng với việc cải thiện môi trường đầu tư, hội nhập kinh

tế quốc tế đã và sẽ mở ra các cơ hội lớn đối với lĩnh vực đầu tư của Việt Nam Đầu tư tại Việt Nam, các nhà đầu tư có thể tiếp cận và hưởng ưu đãi thuế quan từ các thị trường lớn

mà Việt Nam đã ký kết FTA như khu vực ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ

Bên cạnh đó, việc thực hiện các cam kết trong các Hiệp định thế hệ mới như TPP, EVFTA (dỡ bỏ các biện pháp hạn chế đầu tư và dịch vụ, bảo hộ đầu tư công bằng, không phân biệt đối xử, mở cửa thị trường mua sắm Chính phủ, dịch vụ tài chính…) sẽ khiến cho môi trường đầu tư của Việt Nam trở nên thông thoáng hơn, minh bạch hơn, thuận lợi hơn từ đó sẽ thu hút được nhiều vốn đầu tư hơn nữa

Hiện nay đã có trên 70 nước và vùng lãnh thổ đã có dự án đầu tư vào Việt Nam, trong đó

có nhiều công ty và tập đoàn lớn, tiên tiến Điều này góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, phát triển lực lượng sản xuất và tạo công ăn việc làm cho người lao động trong nước Theo số liệu từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính chung trong 12 tháng năm 2015, tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 22,757 tỷ USD, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2014

Đại hội XII của Đảng đánh giá: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài phục hồi, vốn đăng ký giai đoạn 2011-2015 đạt 99 tỷ USD, thực hiện đạt 60,5 tỷ USD Vốn ODA ký kết khoảng 27,8

tỷ USD, giải ngân khoảng 22,3 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào kết cấu hạ tầng”

Trang 7

Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo điều kiện cho ta tiếp thu khoa học kĩ thuật

công nghệ tiên tiến, đào tạo cán bộ quản lí và cán bộ kinh doanh: Việt Nam gia nhập

kinh tế quốc tế sẽ tranh thủ được kĩ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tạo cơ sở vật chất kĩ thuật cho công cuộc xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường để khai thông thị trường nước ta với khu vực và thế giới, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn và có hiệu quả Qua đó mà các kĩ thuật, công nghệ mới có điều kiện du nhập vào nước ta, đồng thời tạo cơ hội để chúng ta lựa chọn kĩ thuật, công nghệ nước ngoài nhằm phát triển năng lực

kĩ thuật, công nghệ quốc gia Do yêu cầu sử dụng lao động của các công nghệ đó cao, có khả năng tạo nên nhiều việc làm mới Trong những năm qua, cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật, nhất là công nghệ thông tin và viễn thông phát triển mạnh làm thay đổi bộ mặt kinh

tế thế giới và đã tạo điều kiện để Việt Nam tiếp cận và phát triển mới này Sự xuất hiện và

đi vào hoạt động của nhiều khu công nghiệp mới và hiện đại như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Đồng Nai, Bình Dương, Hải Phòng và những xí nghiệp liên doanh trong ngành công nghệ dầu khí đã chứng minh điều đó Dĩ nhiên ngoài việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài để tạo cơ hội tiếp nhận tiến bộ kĩ thuật và công nghệ, nước ta vẫn có thể sử dụng ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu để nhập công nghệ mới về phục vụ các nhu cầu sản xuất kinh doanh Song vì nước ta còn nghèo, dự trữ ngoại tệ rất hạn hẹp, kinh nghiệm tiếp cận thị trường bên ngoài chưa nhiều, trình độ thẩm định công nghệ lại kém

và khả năng quản lý sản xuất kinh doanh với công nghệ cao còn yếu cho nên còn đường thích hợp hơn với nước ta hiện nay là tiếp tục đổi mới cơ chế và chính sách, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để lấy lại nhịp độ gia tăng thu hút đầu tư trực tiếp như những năm trước, qua đó tiếp nhân và chuyển giao công nghệ có hiệu quả hơn Hội nhập kinh tế quốc

tế cũng góp phần không nhỏ vào công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong

nhiều lĩnh vực Phần lớn cán bộ khoa học kĩ thuật, cán bộ quản lý, các nhà kinh doanh đã được đào tạo ở trong và ngoài nước Bởi mỗi khi liên doanh hay liên kết hay được đầu tư

từ nước ngoài thì từ người lao động đến các nhà quản ký đều được đào tạo tay nghề, trình

độ chuyên môn được nâng cao Từng bước đưa doanh nghiệp và nền kinh tế bước vào môi trường cạnh tranh Hội nhập kinh tế quốc tế buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải cạnh tranh ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, do đó các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng suất và chất lượng, xây dựng thương hiệu để không ngừng phát triển Hiện nay nhiều mặt hàng của nước ta được đánh giá có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Một số doanh nghiệp đã đầu tư hoạt động ở nước ngoài như: Viettel, Petro Vietnam, Hoàng Anh Gia Lai, cà phê Trung Nguyên, Vinamilk,… Thị trường chủ yếu là Lào, Nga, Singapore, Campuchia, Anh, Ấn Độ, Đài Loan,…

Hội nhập kinh tế quốc tế góp phần duy trì hoà bình ổn định, tạo dựng môi trường

thuận lợi để phát triển kinh tế, nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế Đây là

thành tựu lớn nhất sau hơn nhiều năm triển khai các hoạt động hội nhập Trước đây, Việt Nam chỉ có quan hệ chủ yếu với Liên Xô và các nước Đông Âu, nay đã thiết lập được quan hệ ngoại giao với 166 quốc gia trên thế giới Với chủ trương coi trọng các mối quan

hệ với các nước láng giềng và trong khu vực Châu á Thái Bình Dương Chúng ta đã bình

Trang 8

thường hoá hoàn toàn quan hệ với Trung Quốc và các quốc gia trong khu vực Đông Nam

á Việt Nam đã có những bước phát triển quan trọng trong quan hệ với Hoa Kỳ kể từ sau bình thường hóa quan hệ (1995); cụ thể, quan hệ kinh tế phát triển nhanh; quan hệ an ninh, quân sự từng bước được thiết lập; hợp tác về khoa học kỹ thuật, giáo dục, y tế, lao động, văn hóa v.v không ngừng được mở rộng Đồng thời, Việt Nam cũng ưu tiên phát triển quan hệ với các nước, các trung tâm chính trị - kinh tế lớn của thế giới theo các khuôn khổ phù hợp Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng môi trường quốc tế hoà bình, ổn định nhằm tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước

Hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội mở rộng giao lưu các nguồn lực nước ta với các

nước: Với dân số khoảng 80 triệu người, nguồn nhân lực nước ta khá dồi dào Nhưng nếu

chúng ta không hội nhập quốc tế thì việc sử dụng nhân lực trong nước sẽ bị lãng phí và kém hiệu quả Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo cơ hội để nguồn nhân lực của nước ta khai thông, giao lưu với các nước Ta có thể thông qua hội nhập để xuất khẩu lao động hoặc có thể sử dụng lao động thông qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu Đồng thời tạo cơ hội để nhập khẩu lao động kĩ thuật cao, các công nghệ mới, các phát minh sáng chế mà ta chưa có

Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần củng cố hệ thống chính trị, nâng cao uy tín, vai

trò của Đảng và Nhà nước, làm cho vị thế và vai trò quốc tế của Việt Nam được tăng cường Mặt khác hội nhập kinh tế quốc tế tạo nền tảng để bảo đảm an ninh, quốc phòng,

tạo điều kiện tốt hơn để thực hiện các chương trình xã hội như xóa đói giảm nghèo, phát triển vùng sâu vùng xa

Đánh giá những thành tựu trong hội nhập quốc tế những năm 2010-2015, Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc tăng cường nguồn lực cho phát triển, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Trên tinh thần đó, Đại hội XII của Đảng xác định: “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đất nước”

Mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đưa lại những lợi ích mà còn đặt nước ta trước nhiều thử thách Nếu chúng ta không có biện pháp ứng phó tốt thì sự thua thiệt về kinh tế và xã hội có thể rất lớn Ngược lại, nếu chúng ta có chiến lược thông minh, chính sách không khéo thì sẽ hạn chế được thua thiệt, dành được lợi ích nhiều hơn cho đất nước

Nếu như những ưu đãi về hàng rào thuế quan và xóa bỏ phí thuế quan tạo điều kiện cho nước ta mở rộng thị trường xuất khẩu ra các nước thì nó cũng gây ra những thách thức khá nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp Việt Nam: tham gia vào các tổ chức quốc tế

và khu vực, nước ta phải giảm dần phí thuế quan và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan thì hàng hóa nước ngoài sẽ ồn ạt đổ vào nước ta, chèn ép nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong nước, kéo theo hệ quả xấu về việc làm, thu nhập, đời sống người lao động

Trang 9

Tham gia về tổ chức kinh tế quốc tế để đi đến tự do hóa thương mại tức là chấp nhận tư cách thành viên cạnh tranh ngang bằng với các nước khác Nhưng hiện tại chúng ta còn tụt hậu khá xa về kinh tế (nhất là trình độ phát triển công nghệ và thu nhập bình quân đầu người) so với các nước trong các tổ chức kinh tế mà ta đang tham gia Đây là một thách thức, bất lợi lớn đòi hỏi ra phải nổ lực và quyết tâm cao Đã vậy, trên thị trường quốc tế ta chỉ mới xuất khẩu các mặt hàng sơ chế như: dầu thô,gạo, cà phê, còn các sản phẩm công nghiệp chế biến nhất là các sản phẩm chất lượng cao còn hạn chế, sức cạnh tranh yếu Trong khi đó, giá mặt hàng nguyên liệu và sơ chế lại còn bấp bênh hay bị tác động xấu, bất lợi cho các nước xuất khẩu

Sức ép cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Thách thức lớn nhất và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ một nước đang phát triển có trình

độ kinh tế thấp, quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém và bất cập, doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân còn nhỏ bé, sức cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ nói riêng và của toàn bộnền kinh tế nói chung còn nhiều hạn chế, hệ thống chính sách kinh tế, thương mại chưa hoàn chỉnh Cho nên, nước ta sẽ gặp khó khăn lớn trong cạnh tranh cả ở trong nước cả trên trường quốc tế ở 3 cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia

- Sản phẩm: cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn cả trong và ngoài nước với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu hơn, rộng hơn

- Doanh nghiệp: đối mặt với nguy cơ rủi ro kinh tế,tình trạng phá sản doanh nghiệp luôn hiện hữu và trở nên rất tiềm tàng

Do thực hiện những cam kết của một thành viên WTO, nhất là việc phải cắt giảm mạnhthuế nhập khẩu, mở cửa sâu rộng về kinh tế, trong đó có việc phải mở cửa các lĩnh vực thương mại hàng hoá và dịch vụ nhạy cảm cao như: ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, nănglượng, vận tải, chuyển phát nhanh, nông nghiệp Ngoài ra, trong hội nhập kinh tế quốc tế,nhiệm vụ phát triển khu vực kinh tế tư nhân cũng đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề vềnhận thức, cơ chế, chính sách, Về cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, nước ta còn nhiềukhó khăn về nhãn hiệu thương mại, bản quyền tác giả, bảo vệ thiết kế công nghiệp và ngườidân chưa có thói quen tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ

VD: 44.500 doanh nghiệp phá sản, giải thể từ đầu năm 2014, tăng 12,9% so với cùngkỳ năm trước Trong đó có 6.400 doanh nghiệp giải thể; 7.600 doanh nghiệp đăng ký tạmngừng hoạt động có thời hạn và tới 30.500 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ đóng

mã sốdoanh nghiệp hoặc không đăng ký

Chính vì liên tiếp gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh nên đến một giai đoạn nàođó không kham nổi, buộc doanh nghiệp phải rút lui khỏi thị trường hoặc một số doanh nghiệp chọn phương án chuyển nhượng thương hiệu cho các tập đoàn đa quốc gia Đơn

Trang 10

cử,công ty Tribico (thành lập năm 1992), từng là sản phẩm hàng Việt Nam chất lượng caonhưng mới đây chuyển quyền sở hữu cho Uni President (Đài Loan), phở 24 (thành lập năm2003) là phở Việt chính hiệu với 60 chi nhánh trong nước và 20 chi nhánh ở châu Á nhưng hiện nay lại do công ty JolliBee (Philippines) là chủ Không chỉ có hai sản phẩm Việt kể trênmà nhiều sản phẩm khác như: Diana, Dạ Lan, P/S… dần dần đã chuyển giao công nghệ vàthương hiệu cho các tập đoàn đa quốc gia nhằm tránh những khó khăn trong tình hình kinh tế khủng hoảng và nhiều biến động như hiện nay Cà phê Trung Nguyên (Trung quốc), thuốclá VINATABA ( Indo), Petro Vietnam, kẹo dừa Bến Tre (Trung Quốc,

cà phê Buôn MaThuật, Đắk Lắk (Pháp), nước mắm Phan Thiết (Mỹ)

- Quốc gia: Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam do Diễn đàn Kinh tếThế giới (WEF) công bố cho năm 2014-2015, VN nằm ở mức rất khiêm tốn và ít có cải thiệntừ nhiều năm nay.Biểu đồ

Xếp hạng năng lực cạnh tranh của các quốc gia ASEAN

Nguồn: Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF công bố cho năm 2014-2015

Biểu đồ chỉ số tranh toàn cầu

Sự phân phối lợi ích không đồng đều giữa các khu vực, các ngành, các vùng miền của đất nước

Ngày đăng: 29/08/2017, 10:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w