Đánh giá tác động của dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường vùng dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định .... Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động, các kết quả thực hiện của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN THỊ THU HIỀN
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN KFW6 TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.62.01.15
Người hướng dẫn: TS Đinh Đức Thuận
HÀ NỘI, NĂM 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn Thạc sĩ "Đánh giá kết quả thực hiện dự án KfW6 trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định", chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp là
công trình nghiên cứu của riêng tôi
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 3LỜI CẢM ƠN Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo cao học khoá 21, được sự cho phép của Trường Đại học Lâm nghiệp - Phòng Đào tạo sau đại học tôi đã thực
hiện đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện dự án KfW6 trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định” Nhân dịp hoàn thành đề tài, tôi xin chân thành cảm
ơn Phòng Đào tạo sau đại học, các Thầy Cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quí báu trong quá trình học tập tại trường Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới TS Đinh Đức Thuận người hướng dẫn khoa học, đã dành nhiều thời gian hướng dẫn và hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện bản luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Phòng Đào tạo Sau đại học, đặc biệt trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Văn Thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban quản lý dự án KfW6 các cấp, bà con nhân dân trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định các bạn bè, đồng nghiệp tại Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp và gia đình đã động viên, giúp đỡ và cho những ý kiến quý báu để hoàn thiện luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ còn hạn chế nên đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của quý Thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để Đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan……….…… … i
Lời cảm ơn………ii
Mục lục………iii
Danh mục các từ viết tắt……….……… v
Danh mục các bảng……….…… vii
Danh mục các hình………viii
ĐẶT VẤN ĐỀ……… ………… 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Khái niệm về dự án đầu tư 5
1.1.1 Trên thế giới……… 5
1.1.2 Ở Việt Nam……….6
1.2 Đánh giá kết quả, hiệu quả dự án ……… 7
1.2.1 Trên thế giới……… …….9
1.2.2 Ở Việt Nam………10
1.3 Phân loại dự án và dự án ODA……….17
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 23
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm của tự nhiên, kinh tế xã hội 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận của đề tài 26
2.2.2 Phương pháp kế thừa số liệu 27
2.2.3 Phương pháp điều tra hiện trường 28
2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 30
Trang 5Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Khái quát về Dự án KfW6 và kết quả thực hiện tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 31
3.1.1 Khái quát về Dự án KfW6 31
3.1.2 Kết quả thực hiện dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 34
3.2 Đánh giá tác động của dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường vùng dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 47
3.2.1 Đánh giá tác động về mặt kinh tế của dự án 47
3.2.1.2 Tác động của dự án trong việc thay đổi cơ cấu thu nhập 48
3.2.2 Đánh giá tác động về mặt xã hội của dự án 53
3.2.3 Đánh giá tác động về mặt môi trường sinh thái của dự án 58
3.3 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và tổng kết một số bài học kinh nghiệm rút ra từ việc triển khai dự án KfW6 tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 62
3.3.1 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 62
3.3.2 Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện dự án KfW6 tại vùng dự án 66
3.3.2.1 Trong hoạt động thiết lập rừng 67
3.4 Đề xuất một số giải pháp duy trì và mở rộng thành quả của dự án KfW6 tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 72
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ESIA Đánh giá tác động Môi trường
IMA Giám sát đánh giá tác động
IRR Tỷ lệ hoàn vốn nội tại
KNXTTSTN Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên
LKHPTRTB Lập kế hoạch phát triển rừng thôn bản NHCSXH Ngân hàng chính sách xã hội
NPV Giá trị ròng hiện tại
TKTGCN Tài khoản tiền gửi cá nhân
TN - MT Tài nguyên môi trường
Trang 7NTFP Lâm sản ngoài gỗ
CT 327 Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc
Dự án 661 Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
FAO Tổ chức lương thực và nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
ITTO Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế
IUCN Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
JBIC
Dự án phục hồi rừng phòng hộ đầu nguồn trên địa bàn các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Phú Yên
KFW6 Dự án: Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các
tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PRA Đánh giá nông thôn có sự tham gia
PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.1
Tổng hợp khối lượng các hạng mục của dự án KfW6 đã triển
khai trên địa bàn 3 xã Tây Phú, Bình Nghi và Tây Thuận,
huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tính tới 31/7/2015
36
3.2 Kết quả hỗ trợ kinh phí đầu tư tại vùng dự án huyện Tây Sơn
3.3 Kết quả mở sổ tài khoản tiền gửi cá nhân của các hộ tham gia dự
án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định từ năm 2006 - 2015 44
3.4 Kết quả cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại vùng dự án
huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định tính tới 31/7/2015 45
3.5
Cơ cấu sử dụng đất bình quân của các hộ trước và sau khi tham
gia dự án KfW6 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định giai đoạn
Thống kê số hộ tham gia dự án KfW6 và số lao động thường
xuyên được tạo việc làm tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh
Bình Định
54
3.9 Mức độ tham gia của nữ giới đối với các công việc của dự án
KfW6 tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 55
3.10 Các hoạt động phổ cập của Dự án KfW6 tại vùng dự án
3.11
Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong quá
trình triển khai dự án KfW6 cũng như việc duy trì, mở rộng
thành quả của dự án
63
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Vị trí địa lý huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 20 2.2 Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề của đề tài 27 3.1 Sơ đồ các bước tổ chức thực hiện dự án KfW6 34 3.2 Hình ảnh một số loài cây được thiết lập tại vùng dự án huyện
3.3 Một số hình ảnh về mô hình quản lý rừng cộng đồng tại vùng
3.4 Một số hình ảnh về đường vận xuất kết hợp PCCCR tại vùng
3.5 Một số hình ảnh thành lập HTX Lâm nghiệp Phú Mỹ tại vùng
3.6 Một số hình ảnh nhà xưởng sơ chế biến lâm sản tại vùng dự
3.7 Biểu đồ so sánh số tài khoản tiền gửi và tỷ lệ phần trăm số
3.8 Biểu đồ so sánh kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
3.9 Một số hình ảnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
3.10
Biểu đồ so sánh sự dịch chuyển cơ cấu sử dụng đất giữa 2
nhóm hộ có và không tham gia dự án KfW6 trong giai đoạn
2005 - 2015
48
3.11 Biểu đồ so sánh thu nhập của 2 nhóm hộ có và không tham gia
dự án KfW6 ở thời điểm trước và sau khi tham gia dự án 50 3.12 Biểu đồ so sánh chi phí của 2 nhóm hộ có và không tham gia dự
án KfW6 ở thời điểm trước và sau khi tham gia dự án 53 3.13 Đánh giá tác động của dự án tới vấn đề chống xói mòn - sa
3.14 Mức độ bồi lấp đất đá trên diện tích sản xuất của hộ dân 59 3.15 Đánh giá về tác động dự án tới nguồn nước của các hộ dân 60 3.16 Đánh giá chất lượng nguồn nước của các hộ dân 61
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế quốc dân, rừng có vai trò đặc biệt quan trọng Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp các sản phẩm gỗ, lâm đặc sản mà còn có vai trò bảo vệ môi trường, duy trì cân bằng sinh thái, bảo tồn nguồn gen cũng như các tác dụng khác nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người
Dù có vai trò to lớn trong đời sống, nhưng do nhiều nguyên nhân, rừng Việt Nam đang dần bị suy giảm cả về diện tích và chất lượng Vào giữa thế kỷ
XX diện tích rừng còn khoảng 14 triệu ha, chiếm 43% diện tích đất tự nhiên Sau 30 năm chiến tranh, diện tích rừng bị thu hẹp khá nhanh, năm 1976 chỉ còn 11,17 triệu ha (33,8%) Thêm vào đó là sự khó khăn, thiếu thốn về điều kiện vật chất, cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, trình độ dân trí của người dân vùng rừng núi chưa được quan tâm kịp thời, cũng góp phần làm cho rừng bị suy kiệt do phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy Đầu thập kỷ 90 diện tích rừng đã giảm đến mức thấp nhất là 9,1 triệu ha chiếm 27,8% diện tích cả nước Hậu quả là làm mất cân bằng sinh thái, đất bị xói mòn, bạc màu, hạn hán, lũ lụt, úng ngập lan tràn nhiều nơi
Với tiềm năng to lớn về tài nguyên rừng và nguy cơ suy giảm rừng ngày càng hiện hữu, ngành Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang nhận được sự
hỗ trợ phát triển từ chính phủ các nước thông qua các chương trình dự án Các
dự án đều hướng đến mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế rừng trồng, từ đó nâng cao mức sống của người dân Cùng với đó, các dự án được thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và các khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vùng và tăng tính
đa dạng sinh học
Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức là một trong các nhà tài trợ có uy tín
đối với dự án đầu tư phát triển ngành Lâm nghiệp Việt Nam Mục tiêu của các
Trang 11dự án KfW trong lĩnh vực lâm nghiệp tại Việt Nam là nhằm nâng cao độ che phủ của rừng và cải thiện chất lượng môi trường và tiểu vùng khí hậu, điều hoà nguồn nước và tăng tính đa dạng sinh học ở các vùng sinh thái đang bị đe dọa, thông qua các hoạt động khôi phục và quản lý rừng bền vững ở các vùng dự án
và các khu vực lân cận, góp phần nâng cao mức sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập gắn với công tác bảo vệ tài nguyên thiên nhiên Các diện tích rừng đã được thiết lập (bao gồm rừng trồng mới và rừng khoanh nuôi tái sinh) và rừng tự nhiên giao cho cộng đồng dân cư thôn vừa phải bảo đảm đạt mục tiêu bảo vệ môi trường (chỉ tiêu về độ che phủ)
vừa đảm bảo lợi dụng rừng hiệu quả nhất cho mục tiêu kinh tế
Dự án “Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên” gọi tắt là Dự án KfW6 là một
trong các dự án được sự tài trợ của Chính phủ Cộng hòa liên bang Đức thông qua Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) triển khai giai đoạn từ năm 2005 đến năm
2015 trên địa 04 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên Mục tiêu của dự án KfW6 nâng cao mức sống của người dân chủ yếu dựa vào rừng thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, điều hoà nguồn nước tại các vùng được phục hồi rừng và các khu vực lân cận, điều hoà tiểu khí hậu vùng và tăng tính đa dạng sinh học
Đến nay, Dự án đã đi vào giai đoạn kết thúc Bên cạnh những thành quả to lớn mà Dự án đã đạt được thì vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong quá
trình triển khai thực hiện Do đó, việc thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện Dự án KfW6 trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định” có ý
nghĩa lớn trong việc tổng kết công tác đầu tư trồng và khôi phục lại những diện tích rừng đã bị suy thoái trên địa bàn nghiên cứu là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung
Đánh giá kết quả thực hiện của dự án KfW6 trên địa bàn huyện Tây
Trang 12Sơn, tỉnh Bình Định làm cơ sở đề xuất giải pháp duy trì, phát huy hiệu quả của dự án, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Bình Định
- Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về đánh giá kết quả và tác động của dự án tại Việt nam
Đánh giá kết quả thực hiện của dự án KfW6 tại huyện Tây Sơn, tỉnh
Bình Định; làm rõ kết quả, tồn tại hạn chế và bài học kinh nghiệm
Đề xuất giải pháp nhằm duy trì, phát huy kết quả của dự án, góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng tại huyện Tây Sơn nói riêng, tỉnh Bình Định nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Các hoạt động, các kết quả thực hiện của dự án KfW6 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu quá trình và kết quả thực hiện dự án
KfW6 tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Phạm vi về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn 3 xã Tây
Phú, Bình Nghi và Tây Thuận của huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Phạm vi về thời gian: Đánh giá kết quả thực hiện dự án KfW6 giai
đoạn 2005 - 2015 trên địa bàn 3 xã Tây Phú, Bình Nghi và Tây Thuận của huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
4 Nội dung nghiên cứu
- Khái quát về Dự án KfW6 và kết quả thực hiện tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Đánh giá tác động của dự án đến phát triển kinh tế, xã hội và môi trường vùng dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và tổng kết một số
Trang 13bài học kinh nghiệm rút ra từ việc triển khai dự án KfW6 tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Đề xuất một số giải pháp duy trì và mở rộng thành quả của dự án KfW6 tại vùng dự án huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
5 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cở sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 141.1.1 Trên thế giới
Theo từ điển tiếng Anh Oxford: “Dự án là một chuỗi các sự việc tiếp nối được thực hiện trong khoảng thời gian giới hạn và ngân sách xác định nhằm xác định mục tiêu là đạt được kết quả duy nhất nhưng được xác định rõ”
Theo Ngân hàng thế giới - World Bank: Dự án là tổng thể những chính sách, hoạt động và chi phí liên quan với nhau được thiết kế nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong một khoảng thời gian nhất định;
Định nghĩa về dự án của David Jary và Julia Jury trong từ điển xã hội học như sau: Những kế hoạch của địa phương được thiết lập với mục đích hỗ trợ các hành động cộng đồng và phát triển cộng đồng Theo định nghĩa này có thể hiểu Dự án là một kế hoạch can thiệp có mục tiêu, nội dung, thời gian, nhân lực và tài chính cụ thể Dự án là sự hợp tác của các lực lượng xã hội bên ngoài và bên trong cộng đồng Với cách hiểu như trên thì thước đo sự thành công của dự án không chỉ là việc hoàn thành các hoạt động có tính kỹ thuật (đầu tư cái gì, cho ai, bao nhiêu, như thế nào) mà nó có góp phần gì vào quá trình chuyển biến xã hội tại cộng đồng
Theo J Price Gittinger (1982) trong nghiên cứu “Phân tích kinh tế các
dự án nông nghiệp”, khái niệm dự án được đặt trong một hệ thống quản lý nguồn lực đầu vào và giám sát đánh giá kết quả đầu ra theo một trình tự và không gian hoạt động nhất định Từ đó dự án được định nghĩa theo ba quan điểm: (1) Dự án là sự sắp xếp có hệ thống các nguồn dự trữ cho đầu tư, các nguồn dự trữ đó được lập kế hoạch, phân tích, đánh giá, thực thi và tiến hành
Trang 15như một đơn vị độc lập; (2) Dự án được coi như một đơn vị tác nghiệp nhỏ nhất trong một kế hoạch hay một chương trình, được chuẩn bị và thực thi như một thể độc lập và thống nhất; (3) Dự án là một hoạt động trong đó các nguồn dự trữ được sử dụng tốt nhất với khả năng thu hồi và có lãi khi dự án kết thúc [27]
Theo Viện quản trị Dự án: Dự án là một nỗ lực nhất thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hay một dịch vụ độc nhất vô nhị
Trong một số tài liệu và các tác phẩm của các tác giả Nguyễn Thị Oanh, Tô Huy Hợp, Lương Hồng Quang, tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động môi trường (Nhà xuất bản Xây Dựng - 2008), đều đưa ra các định nghĩa
về dự án Nhìn chung, các khái niệm đều mang những nét chung là thể hiện thống nhất về sự can thiệp của con người trong tổ chức, kế hoạch dự án để có được những mục tiêu mong muốn
Theo Quy chế quản lý đầu tư, xây dựng và đấu thầu - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) thì “Dự án là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới,
mở rộng hay cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng
về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào
đó trong một khoảng thời gian xác định” Cũng theo MPI thì “Dự án đầu tư là
Trang 16một hệ thống các thuyết minh được trình bày một cách chi tiết, có luận cứ các giải pháp sử dụng nguồn lực để đạt tới mục tiêu cao nhất của chủ trương đầu tư”
Mặc dù có sự khác nhau về cách định nghĩa Dự án, nhưng các tác giả đều thống nhất cho rằng: Dự án là một tập hợp các hoạt động có kế hoạch định trước với một nguồn tài lực dự kiến trước nhằm đạt được một hoặc một
số mục tiêu định trước trong phạm vi không gian và thời gian nhất định Mục tiêu của Dự án đều là tạo sự thay đổi trong nhận thức và hành động, thay đổi điều kiện sống của cộng đồng trên cả ba mặt kinh tế - xã hội và môi trường 1.2 Đánh giá kết quả, hiệu quả dự án
Đánh giá dự án là một nhiệm vụ nằm trong các chuỗi hoạt động của dự
án Tùy thuộc mục tiêu đánh giá mà có quy mô thực hiện đánh giá khác nhau Đánh giá giai đoạn hoặc là đánh giá định kỳ là nhằm rà soát, so sánh nhiệm
vụ, mục tiêu theo một kế hoạch nào đó đồng thời dự đoán hiệu quả trong tương lai
Tất cả các giai đoạn trong chu trình dự án đều có mối liên quan chặt chẽ với nhau để tạo thành một chu trình hoàn chỉnh Do đó các bài học kinh nghiệm từ những dự án đã thực hiện trước đây có thể được áp dụng cho các
dự án sắp tới, ngay từ giai đoạn lập kế hoạch
Đánh giá là giai đoạn cuối cùng của chu kỳ dự án, được tiến hành sau khi thực hiện dự án, nhằm đánh giá làm rõ những thành công, thất bại và rút
ra những bài học kinh nghiệm để quản lý các dự án khác trong tương lai Cần phải tiến hành đánh giá dựa trên các nét cơ bản sau:
(i) Dự án có đạt được mục tiêu trực tiếp đề ra hay không?
(ii) Dự án có góp phần vào tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân hay không? Mức độ đóng góp là bao nhiêu?
(iii) Hiệu quả của việc đạt được các mục tiêu đó ra sao?
(iv) Những bài học cần rút ra?
Trang 17"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn mọi nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến những khả năng phát triển để thoả mãn mọi nhu cầu của những thế hệ tiếp theo", (WCED, 1987)
Phát triển bền vững phải đảm bảo sử dụng đúng mức và ổn định các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ được môi trường sống Đó không chỉ
là sự phát triển nền kinh tế, văn hoá, xã hội một cách vững chắc nhờ khoa học công nghệ tiên tiến mà còn đảm bảo ổn định, cải thiện những điều kiện tự nhiên mà con người đang sống trong đó và chính sự phát triển đang dựa vào
đó để ổn định bền vững Do đó, trong mỗi hoàn cảnh môi trường và nguồn tài nguyên cụ thể, con người phải tìm ra các hướng phát triển tối ưu của mình Trong những hướng đó bao gồm sự phối hợp chặt chẽ các chính sách kinh tế,
xã hội và môi trường, sự hiểu biết các hệ thống kinh tế, xã hội và sinh thái cũng như quan hệ phức tạp giữa các hệ thống đó, nhằm bảo đảm mọi lợi ích
xã hội không bị suy giảm Để đạt được điều đó, cách tiếp cận phổ biến và
khoa học nhất hiện nay là: tiếp cận sinh thái, tiếp cận kinh tế và tiếp cận mang tính đạo đức xã hội
Đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo - trong đó
có tài nguyên sinh vật rừng và đất rừng, khái niệm sử dụng bền vững bao gồm
5 thuộc tính, đó là tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận
Như vậy, so sánh những thuộc tính của dự án với phát triển cho thấy: bền vững không chỉ là thuộc tính của các dự án mà còn là mục tiêu hướng tới của các dự án trong thời kỳ hiện nay Chính vì vậy, dự án và công tác đánh giá dự án tùy thuộc vào từng lĩnh vực với các quy định riêng nhưng đều dựa vào các tiêu chí về kinh tế, xã hội, môi trường và tổng hợp các tiêu chí đó là
sự phát triển bền vững của chính dự án và đối tượng của dự án [12]
Trang 181.2.1 Trên thế giới
Theo lý thuyết về đánh giá dự án thì tại các công trình nghiên cứu của một số tác giả như: L.Therse Barker, Who, Jim Woodhill Gittinger, Dixon và Hufschmidt…, đã thể hiện đánh giá liên quan đến việc đo lường, so sánh và đưa ra những nhận định về kết quả của hệ thống các hoạt động dự án, so sánh kết quả với mục tiêu đề ra ban đầu Đối với một dự án, đánh giá còn là xem xét một cách logic có hệ thống nhằm xác định tính hiệu quả, mức độ thành công của dự án, tác động đến các mặt của đời sống xã hội và tự nhiên Hoạt động đánh giá là một công tác được triển khai khi đã có một số các hoạt động chính của dự án diễn ra theo định kỳ hay gọi cách khác là đánh giá giai đoạn, hoặc khi tổng thể các hoạt động của dự án đã chấm dứt [32]
Joachimtheis, Heather, M.Grady đã phân loại đánh giá dự án bao gồm đánh giá tiến trình và đánh giá mục tiêu Đánh giá mục tiêu là xem xét, so sánh tính hiệu quả của dự án có đạt được mục tiêu hay không Đánh giá tiến trình là công việc ngoài sự xem xét các nội dung của dự án để đạt được mục tiêu thì còn xem xét tiến độ thực hiện dự án theo từng công đoạn của thời gian [28]
Để đánh giá dự án, người ta sử dụng nhiều phương pháp thực hiện như điều tra khảo sát (servey), phỏng vấn (interview), thảo luận nhóm (focus group), phương pháp phỏng vấn, phương pháp động não… tất cả các nội dung của hoạt động đánh giá có ý nghĩa quan trọng nhằm điều chỉnh, sửa đổi để phù hợp khách quan với tình hình thực tế trong quá trình thực hiện dự án
Đánh giá tác động của dự án là những việc làm để xem xét một cách toàn diện về các tác động của nó làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội và tự nhiên mà cụ thể là kinh tế, xã hội và môi trường đã định trước ở mục tiêu của dự án Về phương pháp đánh giá tác động dự án tùy thuộc loại dự án mà có phương pháp phù hợp Theo FAO thì đánh giá tác động của dự án về mặt kinh tế thường tập trung phân tích lợi ích và chi phí xã hội nên các lợi ích và các chi phí xã hội phải tính suốt cả thời gian mà sản
Trang 19phẩm dự án chưa có đoạn kết như dự án trồng rừng phải sau một thời gian nhất định mới có sản phẩm của rừng [12]
Nhưng nhìn chung, để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của dự án thì tổng mức đầu tư khi bắt đầu triển khai dự án đến khi có sản phẩm đầu ra ở điểm kết thúc dự án và mức chiết khấu nguồn đầu tư
Đánh giá tác động liên quan về xã hội, H.M Gregersen và Brooks nêu rằng: bất cứ khi nào có một sự thay đổi phát sinh qua một dự án như tạo việc làm mới, tăng diện tích canh tác, năng suất sản xuất, chất lượng sản phẩm tăng lên… thì quá trình đánh giá không những phải xác định phần lợi ích gia tăng
mà còn xác định các yếu tố lợi ích liên quan xã hội, nếu chỉ căn cứ vào tiền mặt luân chuyển trong quá trình thực hiện dự án thì đây là một phân tích đánh giá tài chính đơn thuần chứ không phải một đánh giá kinh tế mang tính xã hội
Về môi trường UNEP, đã xây dựng bản hướng đánh giá tác động môi trường của các dự án phát triển Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm dự báo các tác động môi trường của một dự án, thể hiện sự ảnh hưởng của kết quả về các hoạt động của dự án đối với môi trường
1.2.2 Ở Việt Nam
Hàng loạt các công trình về đánh giá hiệu quả và tác động của các dự
án, đặc biệt là các dự án trong lĩnh vực lâm nghiệp của Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu thực hiện trong những năm qua, nhất là trong thời gian gần đây khi mà xu thế quản lý rừng bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu đòi hỏi tất cả các nước phải giám sát chặt chẽ các tác động từ các hoạt động dự án mang lại
Nhóm chuyên gia của chương trình phát triển Nông thôn miền núi Việt Nam - Thụy Điển (MRDP - Mountainous Rrural Devenlopment Programe) và viện điều tra quy hoạch rừng đã nghiên cứu sự thay đổi của thảm thực vật và
độ che phủ rừng trong giai đoạn 10 năm (1989 - 1998), trên địa bàn 5 tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Tuyên Quang và Hà Giang” Nghiên cứu đã đánh giá
Trang 20sự thay đổi chung của 5 tỉnh và đánh giá chi tiết sự thay đổi của 20 xã trong đó
có 10 xã được sự hỗ trợ của chương trình Hợp tác xã Lâm nghiệp (FCP - Forestry Cooperation Program) và 10 xã ngoài 2 chương trình đó
Trong báo cáo đánh giá tác động “Dự án lâm nghiệp xã hội sông Đà trong chương trình hợp tác kỹ thuật Việt Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên châu Tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu”,
do Annette Luibrand (2000), thông qua phương pháp điều tra hộ gia đình đã tiến hành đánh giá tác động của Dự án đến phương pháp canh tác của các hộ nông dân trên các loại hình sử dụng đất mà gia đình hiện có
Nghiên cứu tác động “Công tác giao đất đến một số yếu tố kinh tế, xã hội ở cấp gia đình” thuộc Dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà - chương trình hợp tác kỹ thuật Việt - Đức đối với hệ thống canh tác trên địa bàn các huyện Yên Châu tỉnh Sơn La và huyện Tủa Chùa tỉnh Lai Châu” Scott Fritzen đã đi sâu vào việc phân tích một số mô hình sử dụng đất cấp thôn và hộ gia đình, phân tích hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và lâm nghiệp của các hộ gia đình, đánh giá chiến lược phát triển kinh tế hộ, sản xuất cấp thôn và tác động của công tác giao đất do Dự án thực hiện đến đời sống kinh tế xã hội của các
hộ gia đình về các mặt chủ yếu như cơ cấu thu nhập, chi phí, khả năng tiếp cận thị trường
Đoàn Hoài Nam (1996) với công trình “Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế, sinh thái của một số mô hình rừng trồng tại Yên Hưng - Hàm Yên - Tuyên Quang” đã đề cập đến hiệu quả tổng hợp về mặt kinh tế, sinh thái, tuy nhiên hiệu quả xã hội vẫn chưa được đánh giá
Đỗ Doãn Triệu (1997) đã đề cập đến phương pháp phân tích hiệu quả đầu tư các dự án trồng rừng và phân biệt được sự khác nhau giữa phân tích tài chính và kinh tế của dự án Toàn bộ nội dung này được giới thiệu trong bài giảng “Đánh giá kinh tế các dự án đầu tư trồng rừng trong cơ chế thị trường” do chính tác giả biên soạn [24]
Trang 21Cao Danh Thịnh (1998) đã đề cập đến vấn đề định lượng các chỉ tiêu đánh giá thông qua các trọng số trong việc tính toán hiệu quả tổng hợp kinh tế
- môi trường Theo tác giả thì phương pháp tính trọng số bằng tương quan cho độ chính xác cao nhất [22]
Trong báo cáo tổng kết đề án “Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp kinh tế xã hội nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở vùng lòng hồ huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La”, Đỗ Đức Bảo và cộng sự đã sử dụng phương pháp ma trận môi trường để đánh giá tác động của các loại hình canh tác và phương án canh tác lâm nghiệp ở vùng lòng hồ Huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La Các loại hình canh tác được đánh giá bao gồm: vườn tạp, cây ăn quả, Nông lâm kết hợp, rừng tự nhiên Trong phương pháp ma trận môi trường, việc phân tích
số liệu dược thể hiện thông qua các hàng và các cột (hàng - các chỉ tiêu đánh giá; cột - trị số của chỉ tiêu đánh giá) Bằng phương pháp này có thể đưa ra hàng loạt các chỉ tiêu khác nhau thuộc các lĩnh vực chịu tác động như: kinh tế,
xã hội và môi trường Những tác động cụ thể của từng hoạt động của từng phương án được đánh giá qua tổng điểm, mức tổng điểm càng cao thì dự án càng có hiệu quả Tuy nhiên, chính tác giả cũng thừa nhận rằng phương pháp
ma trận môi trường là phương pháp “bán định hướng” và chỉ mang tính tương đối bởi vì việc cho điểm phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan Yếu tố này chủ yếu dựa vào trình độ và kinh nghiệm của nhóm nghiên cứu Mặc dù vậy đây
là phương pháp đơn giản dễ vận dụng nên cho đến nay nó vẫn được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu đánh giá tác động môi trường
Khi nghiên cứu “Đánh giá và kiến nghị hoàn thiện mô hình trang trại lâm nghiệp hộ gia đình tại Lục Ngạn - Bắc Giang”, Trần Ngọc Bình đã phân tích đánh giá hiệu quả của các mô hình trang trại đến việc phát triển kinh tế,
xã hội và môi trường sinh thái trong khu vực Nhưng để đánh giá, tác giả chỉ
sử dụng một chỉ tiêu phân loại kinh tế hộ gia đình nên tính mức độ thuyết phục của đề tài còn chưa cao
Trang 22Tháng 5/1997 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ đã đưa ra “Báo cáo nghiên cứu ban đầu về tác động kinh tế xã hội trực tiếp của Dự án khu Công nghiệp cao Hà Nội tại 5 xã thuộc tỉnh Hà Tây”, Báo cáo nghiên cứu đề cập chủ yếu đến việc khảo sát hiện trạng và chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương đến năm 2010, đồng thời dự kiến một
số tác động chính khi dự án triển khai trên địa bàn Báo cáo nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị trong quá trình thực hiện để phát huy tối đa các tác động tích cực, hạn chế tối thiểu các tác động tiêu cực của Dự án đến đời sống kinh tế xã hội trong vùng
Trong nghiên cứu “Đánh giá tác động Dự án hồ chứa nước Nàng Hươm
- Xã Mường Nhà huyện Điện Biên tỉnh Lai Châu”, Vũ Thị Lộc, đã tiến hành phân tích những ảnh hưởng của Dự án đến khả năng mở rộng diện tích, thay đổi hệ số sử dụng đất nông nghiệp và vấn đề ổn định dân cư vùng dự án
Theo Vũ Nhâm có 10 bước công việc tiến hành trước khi đánh giá dự
án và một số công trình nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế cho các dự
án trồng rừng gỗ nguyên liệu được tiến hành vào thập kỷ 90 như: Năm 1990, Per - H Stahl, chuyên gia về lâm sinh học cùng với nhà kinh tế học Heime Krekula, đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế cho hoạt động kinh doanh rừng bạch đàn trồng làm nguyên liệu giấy tại khu Công nghiệp giấy Bãi Bằng
- Phú Thọ Trong công trình này, các tác giả nói trên chủ yếu đề cập đến các chỉ tiêu NPV, IRR còn các chỉ tiêu về môi trường - sinh thái và xã hội thì mới được đề cập một cách sơ bộ, chưa đi sâu phân tích kỹ nên cuối cùng trong kết quả các tác giả chỉ mới đưa ra những dự đoán chung chung [18]
“Đánh giá tác động môi trường - Phương pháp luận và kinh nghiệm thực tiễn” (Năm 1994), Lê Thạc Cán, đã có công trình tạo cơ sở khoa học cho các nhà nghiên cứu về môi trường thực hiện những nghiên cứu tiếp theo
Trần Hữu Dào (1995) đã đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của mô hình trồng Quế thâm canh, thuần loài, quy mô hộ gia đình tại
Trang 23huyện Văn Yên - Yên Bái Tuy nhiên, việc nghiên cứu về cơ chế đầu tư và quản lý chưa làm sáng tỏ và các chỉ tiêu xã hội và môi trường những năm đó còn để ngỏ cần nghiên cứu tiếp [9]
“Bảo vệ đất và đa dạng sinh học trong các Dự án trồng rừng bảo vệ môi trường” (1994) Hoàng Xuân Tý, đã tiến hành những nghiên cứu về kinh tế, môi trường Tuy nhiên trong các phân tích và đánh giá, tác giả thường thiên
về một mặt hoặc là kinh tế hoặc là môi trường hay xã hội mà không đánh giá một cách toàn diện các mặt trên
Năm 2000, Hubertus Kraienhorst, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã nghiên cứu đánh giá Dự án KfW1, thông qua kết quả khảo sát tại hiện trường, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá kết quả thực hiện các Dự án, phân tích
ưu nhược điểm của các hoạt động, đề xuất một số giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện Dự án Báo cáo đánh giá cũng đã nêu bật những thành công của dự án tại 2 tỉnh Bắc Giang và Lạng Sơn, trong đó nhấn mạnh: i) Đã góp phần đưa độ che phủ bình quân của các xã vùng dự án từ 15% đến 36%; ii) Tạo công ăn việc làm và phát triển kinh tế hộ cho một bộ phận dân
cư miền núi; iii) Mô hình hỗ trợ công lao động thông qua tài khoản tiền gửi (TKTG) tỏ ra rất hữu hiệu trong việc quản lý nguồn vốn của dự án đúng mục tiêu và là đòn bẩy kinh tế quan trọng trong việc thúc đẩy các hộ nông dân tham gia trồng rừng; iv) Nhận thức của nông dân cũng được thay đổi khi được tiếp cận với những kiến thức về một nền lâm nghiệp bền vững; v) Về môi trường còn quá sớm để đưa ra nhận định một cách chính xác và có định lượng, tuy nhiên đã nhận thấy những dấu hiệu tích cực trong cải thiện môi trường tại khu vực: nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất dồi dào hơn, chim
và thú nhỏ đã xuất hiện trở lại trong các khu rừng trồng, cây tái sinh đã bắt đầu xuất hiện trên các lập địa xấu mà trước khi trồng rừng không có… Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh tính rủi ro cao khi mà 84% diện tích rừng trồng (lập địa D) của dự án là cây thông Mã vĩ, sẽ vấp phải những vấn đề: cháy, sâu
Trang 24bệnh, đơn điệu về sản phẩm, cần phải có những biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp
Gần đây, Phạm Xuân Thịnh (2002) nghiên cứu “Đánh giá tác động của
dự án KFW1 tại vùng dự án xã Tân Hoa, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” Công trình đã đánh giá tác động của dự án trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường Quá trình đánh giá đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Tuy nhiên, việc đánh giá mới chỉ dừng lại ở mặt tích cực, còn mặt tiêu cực của dự án chưa thấy tác giả đề cập đến [23]
Việc đánh giá tác động của dự án trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội và môi trường cũng được các tác giả Đàm Đình Hùng (2003), Lại Thị Nhu (2004), Nguyễn Xuân Sơn (2005), Hoàng Phú Mỹ (2008), Nguyễn Hoàng Linh (2008), thực hiện Trong quá trình đánh giá, các tác giả này đã sử dụng các chỉ tiêu, chỉ báo có sự so sánh các lĩnh vực trước và sau dự án Nhìn chung những nghiên cứu này đã đánh giá được tác động tổng hợp của một số dự án trên cả 3 lĩnh vực kinh
tế, xã hội và môi trường, tuy nhiên phạm vi đánh giá của các tác giả cũng có sự khác nhau và đều chưa làm rõ những ảnh hưởng của cơ chế đầu tư và cơ chế quản lý [13], [14], [17], [19], [21]
Nguyễn Xuân Sơn (2005) với công trình “Đánh giá tác động của dự án lâm nghiệp xã hội và bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An đến vùng đệm Vườn Quốc gia Pù Mát” Ngoài việc đánh giá tác động của dự án trên 3 lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, tác giả còn phân tích được hiệu quả kinh tế của một số cây trồng dài ngày, tuy nhiên tác giả chỉ đánh giá với chu kỳ 5 năm là chưa hợp lý, chưa thấy hết được những tác động mà các loài cây trồng có thể mang lại [21]
Cao Lâm Anh (2007) đã đánh giá tác động của dự án trồng rừng KFW4, đến sinh kế của người dân vùng dự án huyện Thạch Thành tỉnh Thanh Hóa Nghiên cứu này đã đề cập đến lý thuyết tác động trên cơ sở đưa ra các giả thuyết tác động cùng các chỉ số, chỉ báo tác động Tuy nhiên, tác giả mới
Trang 25chỉ dừng lại ở việc đánh giá tác động của dự án đến sinh kế của người dân mà chưa đề cập đến việc đánh giá hiệu quả, hiệu suất, tính thích hợp và khả năng duy trì dự án, mặt khác việc đánh giá mới chỉ ở giai đoạn trước mắt mà chưa phân tích được những tác động lâu dài trong cả chu kỳ của dự án [1], [15]
Trương Tất Đơ (2009) đã tiến hành đánh giá tác động xã hội của công tác quản lý rừng tại lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái, đây có thể xem là công trình đầu tiên đi sâu về đánh giá tác động xã hội trong công tác quản lý rừng, tác giả đã phân tích kỹ mối quan hệ tác động qua lại giữa cộng đồng, địa phương với hoạt động sản xuất kinh doanh của Lâm trường; chỉ ra sự phù hợp
và chưa phù hợp của từng tiêu chí, chỉ số về mặt xã hội theo tiêu chuẩn trong
bộ tiêu chuẩn QLRBV của Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hoàn chỉnh các tiêu chí về mặt xã hội để tiến tới QLRBV và cấp chứng chỉ rừng cho Lâm trường trên cơ sở những dự báo về sự biến đổi của kinh tế -
xã hội Tuy nhiên, những tác động về mặt kinh tế, môi trường có ảnh hưởng qua lại đến những tác động về mặt xã hội nhưng chưa được tác giả quan tâm, đánh giá [11]
Vào năm 2004 và 2007, TS Ulrich Apel và các cộng sự đã thực hiện cuộc đánh giá cuối kỳ đối với 2 dự án “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang, Quảng Ninh và Lạng Sơn - KfW3” và “Trồng rừng ở các tỉnh Bắc Giang và Quảng Ninh - KfW3 pha 2” Trong các báo cáo đã nêu rõ: Ngoài những thành quả nổi bật đã đạt được giống như dự án KfW1 trước đây về: độ che phủ, bảo
vệ nguồn nước va chống xói mòn, góp phần phát triển kinh tế xã hội; báo cáo cũng nhận định: ở cả 2 dự án tính chất phát triển bền vững của các dự án KfW được củng cố hơn; những tác động tích cực tới môi trường, tới sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội đã thể hiện ngày rõ nét bởi các tác động của dự án
đã mang lại Những tiềm năng rủi ro đã nêu trong các báo cáo đánh giá về dự
án KfW1 và KfW2 (Trồng rừng tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị” đã được 2 dự án KfW3 và KfW3 pha 2 cải thiện hoặc hạn chế như: Tăng
Trang 26cường diện tích trồng cây bản địa trong cơ cấu cây trồng, cải thiện việc kiểm soát trong lập và quản lý TKCN, cải thiện và phân cấp trách nhiệm trong hệ thống giám sát nội bộ các hoạt động của dự án, cải thiện các khâu trong đo đạc giao đất và thiết kế trồng rừng
Bên cạnh công tác giám sát, có thể nói đánh giá tác động dự án, đặc biệt là các dự án đầu tư trong lĩnh vực lâm nghiệp là một hoạt động không thể thiếu được và đòi hỏi phải được tuân thủ nghiêm ngặt Chỉ có như vậy mới có thể nhìn thấy rõ hiệu quả cũng như khiếm khuyết trong quá trình đầu tư Đánh gíá tác động cần phải được thực hiện một cách toàn diện trên cả 3 mặt: kinh
tế, xã hội và môi trường; chỉ có như vậy mới có đủ cơ sở đề xuất những giải pháp cho quá trình phát triển bền vững của đất nước nói chung và của ngành lâm nghiệp nói riêng theo tinh thần của Hội nghị quốc tế về môi trường năm
1992, tại Rio de Janeiro (Braxin) đã đi đến tiếng nói chung là: “Phải kết hợp hài hoà giữa bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới một
sự phát triển bền vững trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới”
Mặc dù khác với những nước đang phát triển, Việt Nam trong những năm gần đây mới chú trọng đến công tác nghiên cứu đánh giá tác động của các dự án Tuy nhiên cũng đã đạt được những kết quả nhất định góp phần tạo tiền đề để hoạt động này phát triển hơn, hệ thống hơn là thước đo đánh giá hiệu quả của công tác đầu tư
1.3 Phân loại dự án và dự án ODA
Tùy vào cách tiếp cận mà dự án được phân loại như sau:
- Theo quy mô và tính chất: dự án quốc gia do Quốc hội xem xét, quyết định về chủ trương đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, C tùy theo mức độ vốn và quy mô đầu tư
- Theo nguồn vốn đầu tư:
+ Dự án sử dụng vốn Ngân sách nhà nước
Trang 27+ Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước
+ Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước + Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Trong các loại hình dự án còn có một loại dự án đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân nói chung, đó là dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Chính sách ODA với mục đích chính nhằm thúc đẩy sự phát triển ổn định nền kinh tế quốc tế chủ yếu thông qua hỗ trợ cho sự phát triển bền vững các nguồn tài nguyên, kinh tế và cơ sở hạ tầng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là để giúp các nước này giải quyết những khó khăn kinh tế phải đối mặt Các dự án ODA có được phụ thuộc nhiều vào các đối tác hợp tác phát triển
Tại Việt Nam, ODA là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ ODA là nguồn vốn quan trọng của ngân sách nhà nước, được sử dụng để hỗ trợ thực hiện các chương trình, dự án ưu tiên về phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ, trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn (nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy lợi, thủy sản) kết hợp xóa đói giảm nghèo; xây dựng hạ tầng cơ sở, bảo vệ môi trường,
Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:
+ ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả cho nhà tài trợ
+ ODA vay ưu đãi (tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ
+ ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thời các khoản tín dụng thương mại
Trang 28Nhóm ngân hàng Phát triển có vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam là Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Cơ quan phát triển Pháp (AFD), Quỹ Hợp tác và phát triển kinh tế (ECDF), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng tái thiết Đức (KfW) và Ngân hàng thế giới (WB) Hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam thời gian qua được đánh giá tương đối cao
Vốn ODA đã được sử dụng để phục hồi, nâng cấp và phát triển kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, giải quyết một số vấn đề xã hội như xoá đói, giảm nghèo, phát triển y tế, giáo dục và khoa học công nghệ; bảo vệ môi trường; cải cách hành chính, pháp luật; hỗ trợ một số lĩnh vực sản xuất Nhiều công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA (đặc biệt trong các lĩnh vực giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, công nghiệp năng lượng, nông nghiệp và phát triển nông thôn, cấp thoát nước và phát triển đô thị, y tế và giáo dục) đã được đưa vào sử dụng, góp phần tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên, khối lượng vốn ODA được giải ngân trong thời gian qua mới chỉ đạt khoảng 70 - 80% kế hoạch đề ra
Thực hiện chính sách đổi mới và mở cửa của Đảng và Nhà nước, trong vài thập kỷ qua nguồn vốn ODA đầu tư vào lĩnh vực Lâm nghiệp ngày càng tăng Các dự án ODA lâm nghiệp có cách tiếp cận liên ngành, đa lĩnh vực, phát triển nông thôn tổng hợp và mang tính chất của dự án phát triển kinh tế
xã hội nông thôn miền núi Hiệu quả của các dự án ODA Lâm nghiệp đã góp phần nâng độ che phủ của rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và phát triển nông thôn bền vững Vì thế thu hút vốn đầu tư ODA để tiếp tục phục vụ các mục tiêu phát triển là hết sức cần thiết Trước mắt chúng ta cần thực hiện tốt các dự án hiện có, trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và bài học cần thiết cho các dự án ODA sau này, trong các lĩnh vực khác nhau
Trang 29Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Tây Sơn là một huyện nằm ở phía Tây tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 43 km:
- Phía Tây Bắc giáp với huyện Vĩnh Thạnh
- Phía Đông Bắc giáp với huyện Phú Cát
- Phía Đông Nam giáp thị xã An Nhơn
- Phía Nam giáp huyện Vân Canh
- Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai
Hình 2.1: Vị trí địa lý huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
Trang 30Nhìn chung, đây là một huyện miền núi có điều kiện vị trí địa lý khá khó khăn cho việc đi lại cũng như thông thương buôn bán Điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn nên vẫn cần có sự hỗ trợ từ phía nhà nước cũng như chính quyền các cấp
2.1.1.2 Địa hình
Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định phía Bắc và phía Nam có địa hình đồi
và núi được chia cắt bởi các thung lũng, sông và bao quanh bởi các vùng đất thấp Độ cao trung bình khoảng 25 m trên mực nước biển, tăng lên 50 m ở các vùng tiếp giáp với biển và trên 700 m ở các vùng núi cao Núi và đồi ở đây khá dốc (trung bình từ 20 - 25o) chủ yếu có các vùng rừng đầu nguồn thứ sinh
và bao quanh bởi các hồ chứa nước và các ruộng lúa được tưới tiêu
Vùng dự án chủ yếu nằm ở vùng đồi núi thấp, đi lại dễ dàng (được gọi là vùng trung du) khá gần biển Đi lại bằng đuờng sông ở các xã vùng núi dễ dàng, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình tiếp cận với nền kinh tế thị trường
2.1.1.3 Khí hậu, thủy văn
Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông ôn hoà còn mùa hè thì nóng Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.000 - 2.400 mm ở vùng biển và vùng trung du của dự án nhưng ở một số nơi lượng mưa trung bình hàng năm có thể từ 2.700 - 3.000 mm Lượng mưa phân bổ không đều khoảng 60 - 70% tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 Vào tháng 10 mưa nhiều thường gây ra lũ lụt ở các vùng thấp Từ tháng 2 đến tháng 4 ở vùng cao thường bị thiếu nước
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26 - 270C ở huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định Nhiệt độ tối đa và tối thiểu dao động từ 110 đến 41,50C và ổn định hơn từ (15 - 350C), huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định bị ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm Từ tháng 2 đến tháng 4 lượng nước bốc hơi cũng cao như lượng mưa Độ ẩm trung bình là 84% giảm
Trang 31xuống 79% khi có gió Tây
Ở miền Trung và miền Nam gió thổi từ hướng Bắc trong mùa khô Gió mùa Tây Nam gây mưa cho các sườn núi phía Tây và các vùng đồng bằng Hàng năm từ tháng 9 đến tháng 11 áp thấp nhiệt đới gây ra gió mạnh cùng với mưa nhiều (bão) ở các tỉnh dự án Gió có thể đạt tới 140 km/h hay bằng 11-12 trong tháng đo tốc độ gió theo thông báo của Đài khí tượng thuỷ văn Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Di chuyển vào trong nội địa cách biển từ 10-15 km những đợt bão này giảm dần
Nhìn chung điều kiện khí hậu ở vùng dự án khá thuận lợi cho việc trồng các loài cây và trồng cây nông nghiệp Nghiên cứu về năng suất tốc độ tăng trưởng và sức chịu bão của các loài là khá cần thiết Những khó khăn về mặt khí hậu yêu cầu cần phải xem xét kỹ về thời gian gieo trồng chuẩn bị đất
và có lớp mùn mỏng Đất đai ở đây đã trải qua nhiều giai đoạn suy thoái Dựa vào cách thức sử dụng đất đai trước đây ở các diện tích bị suy thoái chỉ có thảm cỏ hoặc cây bụi che phủ còn ở những diện tích ít bị suy thoái hơn thì rừng thứ sinh và rừng tự nhiên phát triển ở các tỉnh của dự án, đất bị nhiễm dioxin có chất độc làm rụng lá được gọi chung là “Chất độc màu da cam” trong thời gian chiến tranh Quá trình tái tạo lại thảm thực vật và dựa vào các thông tin về sức khoẻ ở các thôn bản cho thấy rằng ảnh hưởng của chất hoá học này sẽ giảm đi trong vòng 30 năm
Trang 322.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.1.2.1 Dân số, dân tộc
Tỉnh Bình Định có diện tích tự nhiên 6.039 km², dân số 1.545.000 người, mật độ dân số 253.3 người/km² (UBND tỉnh Bình Định, 2015) Ngoài dân tộc Kinh, còn có các dân tộc khác nhưng chủ yếu là Chăm, Ba Na và Hrê, bao gồm khoảng 25.000 người Người Kinh có tập quán trồng lúa nước lâu đời ở vùng đồng bằng trong khi người dân tộc thiểu số có kinh nghiệm trong việc canh tác trên vùng cao
2.1.2.2 Đặc điểm nhân khẩu
Hầu hết dân số của huyện Tây Sơn nói riêng và tỉnh Bình Định nói chung là người dân địa phương Trung bình mỗi hộ gia đình có 5 nhân khẩu, mỗi cặp vợ chồng có từ 2-3 con và/hoặc sống cùng với ông/bà Nguồn lực lao động ở đây chiếm khoảng 52% trong tổng dân số của các tỉnh dự án, tỷ lệ lao động có việc làm từ 78-94% Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp vẫn rất phổ biến ở các xã dự án và đặc biệt hiện tượng ra thành phố xin việc làm rất cao vào thời gian sau mùa vụ Hơn 80% nhân khẩu trong vùng dự án biết chữ (khoảng 94% so với tỷ lệ quốc gia) thậm chí các xã ở vùng cao có cả trường cấp hai
Với mật độ dân số 206 người/km2 mật độ dân số của các xã dự án huyện Tây Sơn nói chung thấp hơn so với mức trung bình của các huyện dự
án và thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của cả nước 241 người/km2
Tỷ lệ tăng trưởng dân số của huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là 1,3%
2.1.2.3 Đặc điểm kinh tế và nguồn thu nhập
Theo khảo sát về mức sống của người dân Việt Nam trình độ học vấn, dinh dưỡng cũng như khả năng tiếp cận với cơ sở vật chất và nguồn vốn của các hộ gia đình không ngừng được nâng cao Tình trạng đói nghèo ở vùng ven biển miền Trung giảm từ 50% xuống còn 35% Xét về mức sống, thu nhập và
cư dân nông thôn đóng một vai trò quan trọng Ngành Nông nghiệp, Lâm
Trang 33nghiệp và nuôi trồng Thuỷ sản đóng góp 1/4 trong tổng số GDP và 1/5 dành cho xuất khẩu Tuy nhiên, vẫn còn từ 8-15% người dân địa phương sống đói nghèo dưới mức chuẩn của quốc gia Đói nghèo luôn đi đôi với thiếu lương thực So với các tỉnh ở cao nguyên những tỉnh dự án vẫn có cuộc sống tốt hơn, nhưng so với mức trung bình của cả nước thì chỉ khoảng 14,3%, mức độ đói nghèo vẫn tương đối cao Các xã nghèo nhất khá gần với các diện tích rừng tự nhiên có rất ít đất đai được tưới tiêu
2.1.2.4 Vai trò của giới
Vẫn còn có sự bất bình đẳng về giới, nhưng nhìn chung phụ nữ đã có vai trò quan trọng trong cộng đồng, trong sản xuất cũng như đối với gia đình
Sở dĩ người phụ nữ đã có vai trò như vậy một phần là do trong chiến tranh nam giới đã vắng mặt trong một thời gian dài Ngoài sự phân công lao động phân biệt giới có liên quan đến các công việc nội trợ hầu hết người phụ nữ đảm đương
Hầu như chủ hộ là nam giới quản lý nguồn tài chính của gia đình Phụ
nữ quản lý các khoản thu chi hàng ngày mua đồ ăn thức uống và các đồ gia dụng khác Còn các khoản chi tiêu lớn hơn như chi tiêu đầu tư cho trồng cây
ăn trái thì người chồng sẽ đảm nhận Trong trường hợp người chồng qua đời thì ngẫu nhiên người vợ sẽ được thừa kế tất cả từ nhà cửa, gia súc và chứng nhận quyền sử dụng đất Người phụ nữ có thể tuỳ ý phân chia tài sản và quyền lợi cho con cái Nếu người phụ nữ qua đời thì tất cả tài sản sẽ truyền lại
và phân chia đồng đều cho con cái không kể là con trai hay con gái Theo quy định thì chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ ghi tên cả chồng và vợ
2.1.3 Đánh giá chung về đặc điểm của tự nhiên, kinh tế xã hội
Trang 34cây trồng, vật nuôi Đất đai chưa sử dụng còn nhiều cho phép hình thành vùng nguyên liệu cây công nghiệp tập trung
- Dân số chủ yếu là người dân tộc kinh, lực lượng lao động dồi dào, nhân công giá rẻ là điều kiện thuận lợi trong việc tuyên truyền, vận động người dân tham gia thực hiện dự án
- Tiếp cận với khoa học kỹ thuật: được hỗ trợ kinh nghiệm từ các dự án đầu tư phát triển lâm nghiệp như: Pisico, KfW6, Dự án 661, Jica2, WB3,… và chuẩn bị có dự án KfW9 triển khai năm 2016
- Diện tích đất chưa có rừng còn nhiều, có tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp nhất là trồng rừng sản xuất
2.1.3.2 Khó khăn:
- Huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là vùng có địa hình phức tạp, độ dốc cao, mặt khác do điều kiện khí hậu thủy văn vào mùa khô gió Tây Nam thổi mạnh, nhiệt độ cao trong lúc ẩm độ không khí thấp, mặt khác mạng lưới sông suối, ao, hồ ít, manh mún, diện tích lưu vực hẹp, ngắn, lượng mưa phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (80% lượng mưa cả năm), trong khi đó mùa khô thường xảy ra khô hạn gây ảnh hưởng bất lợi cho sự phát triển của cây trồng rừng
- Phần lớn diện tích đất vùng đồi núi, đặc biệt là các diện tích vùng đồi núi ven biển có tầng mỏng, nghèo dinh dưỡng,… do mất rừng lâu ngày nên khôi phục lại rừng trên những diện tích này rất khó khăn và tốn nhiều công sức, đặc biệt là trồng các loài cây bản địa
- Nghành nghề sinh sống chủ yếu của người dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định chủ yếu là nghề thuần nông trong khi đó diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người lại rất thấp nên lực lượng lao động dôi thừa ngày càng nhiều, hơn nữa các cấp chính quyền chưa tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm tạo việc làm ổn định đời sống cho người dân; mặt khác do nhu cầu sử dụng lâm sản ngày càng cao, mặt bằng giá bán lâm sản chênh lệch rất lớn, lợi nhuận cao
Trang 35Từ những phân tích trên cho thấy, việc xây dự án đầu tư trồng rừng sản xuất tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định là khách quan Vì vậy, đề tài đặt
ra là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng độ che phủ rừng, góp phần chắn gió, bão ven biển ở nước ta, tăng cường khả năng thích ứng với biến đối khí hậu toàn cầu trong giai đoạn hiện nay
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Quan điểm và phương pháp tiếp cận của đề tài
Bất kỳ một Dự án đầu tư nào khi đi vào hoạt động cũng có những tác động đến các mặt kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái Những tác động đó
có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể là tích cực hay tiêu cực Tuy nhiên có những tác động luôn thay đổi theo thời gian và không gian, nắm được sự thay đổi đó con người có thể điều chỉnh theo mục đích của mình cũng như có thể nghiên cứu điều chỉnh sao cho đạt kết quả cao nhất về cả kinh tế, xã hội và môi trường, hạn chế thấp nhất những tác động xấu
Đánh giá tác động của Dự án trên cả 3 mặt kinh tế, xã hội, môi trường bằng các chỉ tiêu định tính và định lượng
Khi đánh giá tác động của một dự án cần phải xem xét tổng thể và toàn diện các mối quan hệ của nó và quá trình đánh giá phải được thể hiện trong một thời gian dài thì hiệu quả của tác động mới khách quan và chính xác
Trang 36Hình 2.2: Sơ đồ các bước giải quyết vấn đề của đề tài
2.2.2 Phương pháp kế thừa số liệu
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kế thừa các số liệu, tài liệu, công trình nghiên cứu về:
- Các văn bản pháp lý, báo cáo đánh giá, có liên quan tới dự án KfW6
ở cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã vùng dự án
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế - xã hội của huyện
Thu thập, kế thừa các tài
liệu đã có liên quan tới
đề tài nghiên cứu
Khảo sát khu vực nghiên cứu và lựa chọn địa điểm điều tra chi tiết
Các hoạt động và kết quả của Dự án KfW6 tại khu vực nghiên cứu
Dự án
Tác động của dự án tới môi trường vùng
Trang 37Tây Sơn và các xã thuộc vùng dự án huyện Tây Sơn
- Bản đồ, số liệu hiện trạng về tài nguyên rừng vùng dự án huyện Tây Sơn,
2.2.3 Phương pháp điều tra hiện trường
2.2.3.1 Lựa chọn địa điểm nghiên cứu
Huyện Tây Sơn là một trong 3 huyện tha gia dự án KfW6 của tỉnh Bình Định có đầy đủ các tiêu chí tham gia dự án KfW6, đây được coi là huyện mẫu của dự án KfW6 Dự án bắt đầu triển khai các hoạt động đầu tư trồng rừng trên địa bàn huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định từ năm 2006 và kết thúc vào năm
2012 Sau 07 năm thiết lập rừng, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã thiết lập được 3.647,22 ha bao gồm: Trồng rừng và KNTS có trồng bổ sung và không trồng bổ sung trên địa bàn 05 xã: Tây Phú, Bình Nghi, Bình Tường, Tây Giang và Tây Thuận
Trên cơ sở kết quả Quy hoạch sử dụng đất, điều tra lập địa, đo đạc giao đất giao rừng, diện tích thiết lập rừng, năng lực tổ chức của cán bộ trong công tác triển khai thực hiện dự án trên địa bàn huyện, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài lựa chọn các điểm nghiên cứu như sau:
2.2.3.2 Phương pháp điều tra hiện trường
Phương pháp chủ đạo được đề tài sử dụng trong đề tài này là kế thừa các báo cáo, tài liệu của dự án đã công bố kết hợp với việc sử dụng bảng câu hỏi bán định hướng để điều tra, phỏng vấn các nhóm đối tượng có liên quan,
cụ thể:
Trang 38* Nhóm cán bộ quản lý:
Cán bộ quản lý được phỏng vấn bao gồm đại diện Ban quản lý dự án KfW6 Trung ương, đại diện Ban quản lý dự án KfW6 tỉnh Bình Định, Ban quản lý dự án KfW6 huyện Tây Sơn và ban triển khai dự án các xã Tây Phú, Bình Nghi, Tây Thuận, đại diện phía chính quyền cấp huyện thuộc huyện Tây Sơn, đại diện chính quyền các xã tham gia dự án Mỗi cấp tiến hành phỏng vấn 1 đến 2 người Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:
- Các thông tin chung về dự án: Mục tiêu, nội dung, đối tượng,…
- Những khó khăn, thuận lợi khi triển khai dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
- Những kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện dự án
- Thành quả của dự án tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định,…
Toàn bộ các thông tin trên sẽ được đề tài trực tiếp kiểm chứng tại hiện trường dự án thuộc 3 xã điều tra Các thông tin trên sẽ được phỏng vấn theo mẫu điều tra 01
* Nhóm người dân địa phương:
Trên cơ sở 3 xã lựa chọn, đề tài lựa chọn toàn bộ các thôn có tham gia
dự án (9 thôn), mỗi thôn phỏng vấn 10 người (5 người có tham gia dự án và 5 người không tham gia) Tổng số người dân được phỏng vấn là 90 người Đối tượng được lựa chọn đại diện cho thành phần dân tộc, quy mô diện tích tham gia dự án, mức thu nhập (giàu, trung bình, nghèo) Nội dung phỏng vấn tập trung vào các vấn đề sau:
- Các thông tin chung về hộ gia đình: Số nhân khẩu, tuổi tác, diện tích đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở,… ở thời điểm trước và sau khi tham gia dự án
- Gia đình có tự nguyện tham gia dự án? Lý do tham gia dự án, nội dung tham gia, quy mô tham gia
- Nguồn hưởng lợi, trách nhiệm của hộ gia đình tham gia
Trang 39- Gia đình tham gia ở những hạng mục nào của dự án? Gia đình có được phát huy quyền dân chủ khi tham gia nội dung đó? Các ý kiến của gia đình có được dự án tiếp thu,…
- Số người trong gia đình thường xuyên tham gia dự án? Tham gia bao nhiêu ngày/năm?
- Nguồn thu nhập của hộ gia đình trước và sau khi tham gia dự án
- Đánh giá của hộ gia đình về các tác động môi trường (xói mòn, chất lượng nguồn nước) trong khu vực ở thời điểm trước và sau khi dự án triển khai,…
- Nhận xét của hộ gia đình về dự án đối với chính gia đình mình và người dân địa phương,…
Các nội dung trên sẽ được phỏng vấn theo mẫu điều tra 02
2.2.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Toàn bộ số liệu thu thập được từ các phiếu sẽ được đề tài nhập vào máy tính và xử lý bằng phần mềm Excel bằng các hàm thống kê toán học thông dụng
Phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) sẽ được đề tài sử dụng để đánh giá dựa trên sự đóng góp ý kiến của các cấp quản lý, người dân và ý kiến của các chuyên gia
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Khái quát về Dự án KfW6 và kết quả thực hiện tại huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
3.1.1 Khái quát về Dự án KfW6
* Tên Dự án:
- Dự án KfW6 có tên đầy đủ là: Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững ở các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên Mã số BMZ 2000.65.912
- Nhà tài trợ: Chính phủ Cộng hoà Liên bang Đức thông qua Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW) và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam
- Cơ quan chủ quản: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Chủ đầu tư: Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 đến hết năm 2015
- Mục tiêu trước mắt của dự án là khôi phục và quản lý bền vững khoảng 21.400 ha rừng hỗn giao ở những nơi bị đe dọa về sinh thái và quản lý bền vững khoảng 3.500 ha rừng thứ sinh trên cơ sở cộng đồng, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo thu nhập thường xuyên ổn định cho dân thông qua việc tạo
ra sự đa dạng về sản phẩm
* Thời gian và kinh phí thực hiện dự án:
- Thời gian thực hiện dự án bắt đầu từ năm từ 2005 - 2015 (7 năm đầu tập trung vào việc thiết lập rừng, 4 năm sau là giai đoạn dự án tập trung vào chăm