- Nhằm mục đích để đòi tiền: người thụ hưởng thương phiếu ủy thác cho ngân hàng đòi tiền người trả tiền thương phiếu, thì lưu thông thương phiếu có vai trò như là phương tiện thanh toán
Trang 1Trường Đại học Tây Nguyên
Khoa Kinh tế
Đề tài Thuyết trình: Thị trường Thương phiếu Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp.
Lớp: Kế toán K13 Nhóm: 10
Daklak, ngày 30 tháng 3 năm 2014
Trang 2
Đề tài Thuyết trình: Thị trường Thương phiếu Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp
Nguyễn Thị Kim Oanh
Hồ Nữ Tường Vi
Nguyễn Thị Hải Yến
Phùng Thị Hồng Nhung
Lê Thị Thủy Bùi Thị Thùy
Đỗ Thị Kiều Uyên
Trang 3MỤC LỤC
Chương 1 Lý luận chung về thương phiếu và thị trường thương phiếu
1.1 Khái niệm
1.2 Những đặc điểm cơ bản của lưu thông thương phiếu
1.3 Phân loại thương phiếu
1.4 Thị trường thương phiếu
Chương 2 Thực trạng thị trường thương phiếu Việt Nam
2.1 Thực trạng sử dụng thương phiếu ở Việt Nam thời gian qua
2.2 Thực trạng phát triển thị trường thương phiếu trong giai đoạn vừa qua
2.3 Đánh giá chung
Chương 3 Giải pháp phát triển thị trường thương phiếu ở Việt Nam
3.1 Các giải pháp vi mô
3.2 Nhóm các giải pháp vi mô
Trang 4Chương 1 Lý luận chung về thương phiếu và thị trường thương phiếu 1.1Khái niệm:
- Thương phiếu là một tài sản tài chính vô hình, hình thái vật chất của thương phiếu (mảnh giấy nhỏ) chỉ chứa đựng một lượng giá trị rất nhỏ, không đáng kể, tuy nhiên chúng đều chứa đựng những quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai của chúng Những lợi ích tương lai của thương phiếu được thể hiện trong hình thức và nội dung của thương phiếu và được luật pháp điều chỉnh và bảo vệ
Có hai loại thương phiếu: hối phiếu và kỳ phiếu
1.2Những đặc điểm cơ bản của lưu thông thương phiếu:
1.2.1 Thương phiếu hình thành từ giao dịch cơ sở:
Giao dịch cơ sở của thương phiếu là giao dịch hợp đồng thương mại Hơp đồng thương mại quy định quyền và nghĩa vụ của hai bên mua và bán Người bán có nghĩa vụ giao hàng, có quyền lợi thanh toàn từ người mua Người mua có nghĩa vụ thanh toán và có quyền lợi nhận hàng từ người bán
Đối với hối phiếu, người bán sẽ giao hàng trước và sau đó ký phát hồi phiếu đòi tiền người mua sau Ngược lại, đối với kỳ phiếu, người mua sẽ ký phát kỳ phiếu cam kết trả tiền ch người bán; sau khi nhận được kỳ phiếu, người bán sẽ giao hàng
Như vậy, giao dịch cở sở là cái có trước, thương phiếu là cái có sau Không có giao dịch cơ sở thì sẽ không có sự hình thành thương phiếu tương ứng
1.2.2 Thương phiếu được nhận diện dễ dàng, trực tiếp:
Thương phiếu là tài sản chính vô hình, là những tờ giấy nhỏ chứa đựng những quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai.Dung lượng các quyền pháp lý này thế hiện ở hình thức và nội dung của thương phiếu Vì vậy, có nhận dạng được hình thức và nội dung của thương phiếu một cách dễ dàng
và trức tiếp thì mới nhận biết được dung lượng quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai của thương phiếu
1.2.3 Thương phiếu là trái vụ một bên:
Thương phiếu là chứng chỉ do một người ký phát ra lệnh cho người bị
ký phát thực hiện một nghĩa vụ dân sự - trả tiền ( đối với hổi phiếu) hoặc một chứng chỉ do người phát hành cam kết đối với người thụ hưởng sẽ thực hiện một nghĩa vụ dân sự - trả tiền (đối với kỳ phiếu)
Vì vậy nghĩa vụ dân sự có được thực hiện hay không hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp nhận của người bị ký phát đối với hối phiếu và khả năng thực hiện nghĩa vụ dân sự của người phát hành đối với kỳ phiếu
1.2.4 Tính “ trừu tượng” của thương phiếu.
Trang 5Trong lưu hong, giá trị pháp lý của thương phiếu không bị hon buộc vào nguyên nhân nào phát sinh ra nghĩa vụ trả tiền của thương phiếu Một khi thương phiếu được phát hành và chuyển giao cho người khác thì thương phiếu trở thành một chứng thư độc lập, trong lưu hong Người thụ hưởng và người trả tiền thương phiếu không cần quan tâm tới việc khoản nợ trên thương phiếu có hay không có hình thành trên giao dịch cơ sở nào Hay nói cách khác, khoản nợ ghi trên thương phiếu là hoàn toàn độc lập và không phụ thuộc vào sự tồn tại hay không tồn tại của giao dịch cơ sở
1.2.5 Tính lưu thông của thương phiếu.
Thương phiếu có thể dduowcjj lưu thông từ người này sang người khác trong thời hạn hiệu lực của nó Căn cứ vào mục đích của lưu thông thương phiếu, người ta có thể chia ra làm 3 loại lưu thông khác nhau
- Nhằm mục đích để đòi tiền: người thụ hưởng thương phiếu ủy thác cho ngân hàng đòi tiền người trả tiền thương phiếu, thì lưu thông thương phiếu có vai trò như là phương tiện thanh toán thay cho tiền mặt
- Nhằm mục đích chuyển nhượng quyền hưởng lợi thương phiếu: người thụ hưởng thương phiếu ký hậu chuyển nhượng thương phiếu cho người khác, thì lưu thong thương phiếu có vai trò như chuyển nhượng tài sản
- Lưu thông “hàng hóa thương phiếu”: Thương phiếu là một loại tài sản chính, do vậy người sở hữu thương phiếu có thể bán thương phiếu cho ngân hàng để lấy tiền ngay hoạc cầm cố thương phiếu để vay tiền của ngân hàng Lưu thông này không mạng tính chất lưu thông thanh toán thương phiếu hay lưu thông chuyển nhượng thương phiếu mà là lưu thông “hàng hóa thương phiếu”
1.3 Phân loại thương phiếu.
Căn cứ vào người tạo lập thương phiếu, thương phiếu có thể chia thành hối phiếu
và kỳ phiếu
-Căn cứ vào thời hạn trả tiền, thương phiếu chia thành các loại sau:
+ Thương phiếu thanh toán ngay khi xuất trình: là loại thương phiếu cam kết hoặc yêu cầu thanh toán ngay khi xuất trình hoặc yêu cầu thanh toán ngay khi nhìn thấy hoặc trên thương phiếu không quy định thời hạn thanh toán
+ Thương phiếu thanh toán sau một thời gian xác định: là loại thương phiếu có quy định thời hạn thanh toán vào một ngày quy định trên thương phiếu
- Căn cứ vào việc thanh toán có kèm chứng từ thương mại hay không:
+ Thương phiếu kèm chứng từ: là thương phiếu mà việc thanh toán dựa vào chứng từ thương mại gửi kèm các điều kiện D/P, D/A, D/TC
+ Thương phiếu trơn: là thương phiếu mà việc thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán không dựa vào chứng từ thương mại gửi kèm
- Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng của thương phiếu:
+ Thương phiếu đích danh: là loại ghi rõ tên người thụ hưởng
Trang 6+ Thương phiếu vô danh: là thương phiếu không ghi tên người thụ hưởng hoặc trả cho người cầm phiếu
+ Thương phiếu trả theo lệnh: là thương phiếu ghi trả theo lênh của người nào đó
-Căn cứ vào phạm vi sử dụng thương phiếu:
+ Thương phiếu nội địa: là thương phiếu không có yếu tố quốc tế Thương phiếu này chỉ được sử dụng trong phạm vi một nước
+ THương phiếu quốc tế: là thương phiếu có yếu tố quốc tế Thương phiếu này được sử dụng phổ biến trong thanh toán tín dụng quốc tế
- Căn cứ vào cơ sở hình thành thương phiếu:
+ Thương phiếu thực: là thương phiếu hành thành trên cơ sở giao dịch
+ Thương phiếu khống: là thương phiếu không hình thành trên giao dịch cơ sở Luật nhiều nước cấm phát hành thương phiếu Tuy nhiên, hối phiếu của người chấp nhận là một loại hối phiếu khống tương đối thịnh hành ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển: Bỉ, Pháp, Đức…
1.4 Thị trường thương phiếu
1.4.1 Khái niệm
Thị trường thương phiếu là thị trường diễn ra việc kinh doanh thương phiếu nhằm thỏa mãn các nhu cầu về vốn ngắn hạn của các chủ thể trong nền kinh tế và nhằm mục đích kiếm lời
Thương phiếu là một loại tài sản tài chính.Người sở hữu thương phiếu có quyền chuyển nhượng, nhượng bán hoặc cầm cố quyền pháp lý cho ngân hàng hoặc công
ty tài chính
1.4.2 Đặc điểm
_ Thương phiếu là một loại hàng hóa đặc biệt Thương phiếu có 2 thuộc tính của hàng hóa: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi
Giá trị sử dụng của thương phiếu thể hiện ở các quyền pháp lý đối với lợi ích tương lai mà nó mang lại Các quyền pháp lý bao gồm:
+ Hưởng lợi số tiền ghi trên thương phiêu đó;
+ Sử dụng thương phiếu làm phương tiện thanh toán;
+ Sử dụng làm vật cầm cố để vay tiền ngân hàng;
+ Chuyền nhượng thương phiếu cho một hay nhiều người khác;
+ Bán thương phiếu (chiết khấu) cho ngân hàng để nhận tiền ngay;
+ Quyền khiếu nại, khởi kiên khi thương phiếu bị vi phạm…
Giá trị sử dunhj của thương phiếu được hình thành kể từ khi thương phiếu được tạo lập cho đến khi thương phiếu hêt hạn hiệu lực
_ Kinh doanh thương phiếu trên thị trương là các hành vi chiết khấu, bảo lãnh, chấp nhận, cầm cố và nhờ thu thương phiếu
Trang 7Do thương phiếu là một loại hàng hóa đặc biệt, cho nên kinh doanh ngoại thương cũng mang tính chất đặc biệt Hoạt động trung gian là các ngân hàng thương mại, bao gồm 2 loại cơ bản:
Một là, ngân hàng bỏ vốn cho vay đầu tư kiếm lợi nhuận thông qua nghiệp vụ chiết khấu thương phiếu
Hai là, ngân hàng không bỏ vốn ra kinh doanh, mà chỉ dựa vào địa vị và uy tín của mình để cung ưng dịch vụ bảo lãnh, chấp nhận thương phiếu,…
_ Lưu thông thương phiếu trên thị trường là ngắn hạn do tín dụng thương mại là loại tín dụng ngắn hạn
Một là, thị trương thương phiếu là một loại thị trường năng động trong kinh doanh
Để ổn định cần có hệ thống các giải pháp ngăn ngừa rủi ro hiệu quả
Hai là, thị trường thương phiếu là một thị trường nhạy cảm với các biến động kinh
tế, chính trị của xã hội
_ Các thành viên tham gia thị trường bao gồm chủ yếu là các ngân hàng thương mại và các doanh nghiệp trong nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng huy động và cho vay ngắn hạn chủ yeeud trong nền kinh tế, cho nên ngân hàng thương mại là thành viên chủ yếu của thị trường thương phiếu
_ Mục đích hoạt động của thị trường là nhằm thỏa mãn nhu cầu vốn ngắn hạn của các chủ thể tham gia hoạt động thương mại trong nền kinh tế
Có 2 thành tố cấu thành nên lợi nhận kinh doanh thương phiếu: Lãi từ các nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố và phí từ các nghiệp vụ bảo lãnh.chấp nhận, nhờ thu thương phiếu
_ Nơi diễn ra thị trương phiếu là các quầy giao dịch của các trung gian tài chính, chủ yếu là các ngân hàng thương mại
Nếu thương phiếu giao dịch trên thị trường là chứng chỉ truyền thống hay là các chứng từ bằng giấy thì thị trường thương phiếu là thị trương giao dịch tập trung, doanh nghiệp mang thương phiếu đến các quầy giao dịch để xin chiết khấu, cầm
cố, chấp nhận, bảo lãnh, nhờ thu
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy thị trương thương phiếu là thị trường rất linh hoạt, chứa đụng sự nhạy cảm cao
1.4.3 Phân loại thị trường thương phiếu
_ Căn cứ vào đối tượng thương phiếu được mua bán:
+ Thị trường hối phiếu: Thị trường kinh doanh hối phiếu, một bên là người ký phát hoặc người thụ hưởng, một bên là trung gian tài chính
+ Thị trường kỳ phiếu: Thị trường kinh doanh kỳ phiếu, một bên là người thụ hưởng, một bên là các trung gian tài chính
_ Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh:
+ Thị trường chiết khấu thương phiếu: Thị trường mua bán thương phiếu giữa người thụ hưởng với các trung gian tài chính
Trang 8+ Thị trường bảo lãnh thương phiếu: Theo yêu cầu của người trả tiền, các trung gian tài chính đứng ra bảo đảm thanh toán thương phiếu
+ Thị trường chấp nhận thương phiếu: Theo yêu cầu của người trả tiền, các trung gian tài chính chấp nhận trả tiền trực tiếp khi có yếu cầu
+ Thị trường cầm cố thương phiếu: Người thụ hưởng chưa đến hạn thanh toán mang thương phiếu đên các trung gian tài chính cầm cố vay tiền
+ Thị trường nhờ thu thương phiếu: Người thụ hưởng thương phiếu ủy thác cho ngân hàng thu tiền từ người trả tiền trên thương phiếu đó
1.4.4 Các thủ thể tham gia thị trường thương phiếu:
1.4.4.1 Căn cứ vào cơ cấu chủ thể
_ Người ký phát hối phiếu
_ Người bị ký phát hối phiếu
_ Người phát hành kỳ phiếu
_ Người thụ hưởng thương phiếu
_ Người chiết khấu thương phiếu
_ Người chấp nhận thương phiếu
_ Người bảo lãnh thương phiếu
_ Người trả tiền thương phiếu
1.4.4.2 Căn cứ vào hình thái tổ chức của chủ thể trên thị trường:
_ Ngân hàng trung ương
_ Các định chế tài chinh trung gian
_ Các doanh nghiệp, các nhân
1.4.5 Vai trò của thị trường thương phiếu đối với hoạt động thương mại.
_ Đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Việc sử dụng thương phiếu như là công cụ tín dụng trực tiếp giữa doanh nghiệp có ưu thế về thời hạn cấp tín dụng linh hoạt, điều kiện, thủ tục cấp tín dụng đơn giản
_ Thương phiếu là công cụ có thể chuyển nhượng, nên việc phát triển thị trường tạo điều kiên cho các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động cấp tín dụng cho các doanh nghiệp
_ Gắn kết hoạt động tín dụng với quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa
_ Góp phần phát triển cơ chế thanh toán không dung tiền mặt trong hoạt động thương mại
1.4.6 Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của thị trường thương phiếu.
_ Nghiệp vụ chiết khấu: Các trung gian tài chính mua các thương phiếu của người thụ hưởng trước hạn thanh toán với mức giá do hai bên thỏa thuận
_ Nghiệp vụ bao thanh toán truy đòi và miễn truy đòi: là hình thức phát triển của nghiệp vụ chiết khấu ở cấp độ cao hơn Bao tín dụng là hình thức chiết khấu trọn gói tất cả các khoản thu
_ Nghiệp vụ bảo lãnh: Các trung gian tài chính với tư cách là người thứ ba cam kết sẽ thanh toán thương phiếu
Trang 9_ Nghiệp vụ cầm cố thương phiếu: Cầm cố thương phiếu để vay vốn trung gian tài chính là việc người thụ hưởng thương phiếu có nghĩa vụ chuyển giao thương phiếu
_ Nghiệp vụ chấp nhận và chấp nhận hoàn trả:
Nghiệp vụ chấp nhận: Một trung gian tài chính theo yêu cầu của người bị ký phát đứng ra ký chấp nhận thanh toán hối phiếu trong thời hạn
Chấp nhận hoàn trả: Người xuất khẩu không chuyển hối phiếu đến ngân hàng của người nhập khẩu yêu cầu chấp nhận trả tiền
_ Nghiệp vụ nhờ thu thương phiếu: Người hưởng lợi thương phiếu ủy thác cho ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên thương phiếu
Chương 2 Thực trạng thị trường thương phiếu Việt Nam.
2.1 Thực trạng sử dụng thương phiếu ở Việt Nam thời gian qua
2.1.1 Thương phiếu chủ yếu được dùng trong thanh toán quôc tế
Từ năm 1954 đến 1999 thương phiếu chỉ được sử dụng trong lĩnh vực kinh té đối ngoại.Với chính sách mở cửa, Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới mở rộng quan
hệ với các nước trên thế giới hoạt động xuất nhập khẩu phát triển
Trong hoạt động thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng hối phiếu trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, nhờ thu trong các hợp đồng mua bán ngoại thương
Các doanh nghiệp Việt Nam tiến hành giao dịch thông qua các ngân hàng thương mại Tỉ lệ doanh số thanh toán có sử dụng thương phiếu (thanh toán bằng L/C và nhờ thu) chiếm đa phân khoảng trên 80% tổng doanh số thanh toán quốc tế ở hầu hêt các ngân hàng thương mại
Bảng 1 :Tình hình thanh toán xuật nhập khẩu của 4 ngân hàng thương mại lớn (2005-2009), nguồn: báo cáo thường niên của các ngân hàng
Đơn vị: tỉ USD
Ngân hàng
Ngân hàng
Ngân hàng BIDV 6.450 5.150 21.577 24.527 Ngân hàng
Trang 10
2.1.2 Thương phiếu ít được sử dụng trong thương mại nội địa
Trước đây Việt Nam xây dựng nền kinh tế theo học thuyết kinh tế xã hộ chủ nghĩa nên không công nhận sự tồn tại của tín dụng thương mại và thương phiếu - công cụ tín dụng thương mại cũng không ra đời
Trên thực tê,khi mua bán hàng trả tiền ngay của các doanh nghiệp thường sử dụng công cụ hóa đơn thương mại để đòi tiền Còn khi bán hàng trả chậm, việc thu tiền trong tương lai thương đươc thực hiện dưới hình thức người bán ghi trực tiếp sổ nợ người mua và việc thu tiền về sau đươc dựa trên cơ sơ sự tin cậy làm đảm bảo
2.2 Thưc trạng phát triển thị trường thương phiếu trong thòi gian qua
2.2.1 thực trạng cơ sơ pháp lý
Hiện nay nguồn luật điều chỉnh hoạt động trên thị trường thương phiếu là Luật các công cụ chuyển nhượng, được Quốc hội ban hành 29/11/2005, Luật các tổ chức tín dụng , ban hành 29/6/2010; Luật Ngán hàng Nhà nước, ban hành ngày
29/6/2010
2.2.2 Chủ thể tham gia phát triển thị trường thương phiếu trong hoạt động thương mại
Các chủ thể tham gia trong thị trường thương phiều trong hoạt động thương mại Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp kinh doanh XNK và các ngân hàng thương mại
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, các DN tham gia quan hệ hối phiếu với tư cách là người kí phát, người thụ hưởng khi là người xuất khẩu, là người bị kí phát khi là người nhập khẩu Trong quan hệ kì phiếu , các DN la người thụ hưởng khi là người xuất khẩu, lag người phát hành khi là người nhập khẩu
Các ngân hàng thương mại Việt Nam là chủ thể của thị trường thương phiếu, là người trả tiền khi giữ vai trò là ngân hàng phát hành L/C, là người thụ hưởng khi chiết khấu thương phiếu, là người cho vay khi chấp nhận cầm cố thương
phiếu,
2.2.3 Thực trạng các nghiệp vụ kinh doanh trên thị trường thương phiếu
2.2.3.1 Nghiệp vụ kinh doanh chiết khấu hối phiếu tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó 1 ngân hàng theo yêu cầu của khách hàng viết 1 thư cam kết (L/C) trả tiền hối phiếu hoặc hóa đơn của người hưởng lợi
Hối phiếu chỉ được phát hành trên cơ sở thực hiện L/C nói riêng hay hợp đồng XNK nói chung,
Có 2 loại chiết khấu thường được sử dụng ở Việt Nam : Chiết khấu trong L/C, chiết khấu ngoài L/C
+ Chiết khấu trong L/C la loại chiết khấu trong đó ngân hàng phát hàng L/C cho phép người hưởng lợi L/C có thể chiết khấu hối phiếu tại bất cứ ngân hàng nào ở nước họ (CK tự do) hoặc tại 1 ngân hàng chỉ định (CK chỉ định)