Trong các ngành thì hiện nay công nghiệp đang là ngành chiếm ưu thế, được chú trọng đầu tư nhiều nhất.. Mục tiêu - Đánh gia tổng quan về sự tăng trưởng của công nghiệp
Trang 1NHỮNG CƠ HỘI, THÁCH THỨC CỦA VIỆT NAM KHI
GIA NHẬP AEC
I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Việt Nam trước đây là một nước chủ lực về nông nghiệp, nhưng cùng với sự phát triển cũng như công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước đòi hỏi Việt Nam phải có sự thay đổi, cải cách Vì vậy, để bắt kịp xu thế, Việt Nam đang dần chuyển đổi từ nước nông nghiệp hóa thành nước công nghiệp hóa Trong năm vừa qua Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ khi quyết định gia nhập AEC và TPP với những hiệp định giao thương hết sức rộng mở Là nước đang phát triển, vừa phải thay đổi cơ cấu kinh tế vừa phải phát triển kinh tế là một thách thức vô cùng lớn Trong các ngành thì hiện nay công nghiệp đang là ngành chiếm ưu thế, được chú trọng đầu tư nhiều nhất Báo cáo của nhóm sẽ giúp làm rõ các vấn
đề của công nghiệp Việt Nam trong AEC cũng như cơ hội, thách thức của Việt Nam trong nền kinh tế này
2 Mục tiêu
- Đánh gia tổng quan về sự tăng trưởng của công nghiệp Việt Nam trong AEC trong những năm qua
- Đưa ra được những cơ hội cũng như thách thức mà ngành công nghiệp Việt Nam có được cũng như phải vượt qua
- Từ đó đưa ra những ý kiến đóng góp của nhóm cho sự phát triền của ngành công nghiệp nói riêng cũng như nền kinh tế nói chung
3 Phương pháp nghiên cứu
Dùng phương pháp số liệu thứ cấp để hoàn thành bài báo cáo
Trang 2II PHẦN NỘI DUNG
1 Tổng quan tình hình công nghiệp Việt Nam so với thế giới
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Kim ngạch, tốc độ tăng/giảm kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam sang các
châu lục và theo nước/khối nước năm 2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trang 32 Tổng quan về AEC
Cộng đồng kinh tế ASEAN ( ASEAN Economic Community- AEC) là một khối kinh tế khu vực chính thức được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2015, khi bản tuyên bố thành lập chính thức có hiệu lực, bao gồm 10 quốc gia thành viên ASEAN: Brunei, Cam-pu-chia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập là để thực hiện mục tiêu cuối cùng của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 2020", nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó hàng hóa, dịch vụ, đầu tư sẽ được chu chuyển tự do, và vốn được lưu chuyển tự do hơn, kinh tế phát triển đồng đều, đói nghèo và chênh lêch kinh tế-xã hội được giảm bớt vào năm 2020 Có thể nói AEC tương tự như một quốc gia chung của các công dân Asean
Cambodia, Lao, Myanmar, Việt Nam là 4 quốc gia trong nhóm CLMV nghĩa là những quốc gia có trình độ kinh tế kém phát triển hơn so với các quốc gia còn lại trong Asean Việc AEC thành lập nhóm CLMV nhằm đưa ra những ưu tiên nhất định về lộ trình hội nhập cũng như có các hỗ trợ khác để giúp CLMV dễ dàng hòa nhập với cộng đồng chung AEC
Trang 43 Việt Nam với AEC
Sự kiện Việt Nam tham gia vào AEC là một sự kiện quan trọng đối với sự phát triển và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế Tuy nhiên, những con số thống kê cho thấy, doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm đến Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).Theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 76% doanh nghiệp không biết gì về AEC, 94% không hiểu rõ nội dung cam kết trong AEC, 63% không hiểu về những cơ hội và thách thức trong AEC Trong khi đó, chúng ta chứng kiến làn sóng các doanh nghiệp Asean, đặc biệt là Thái Lan, đã rất chủ động tiến vào nước ta thông qua cả mở rộng trực tiếp lẫn gián tiếp mua các doanh nghiệp tại Việt Nam Những nhận thức và hiểu biết còn hạn chế sẽ khiến các doanh nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc tận dụng được các ưu đãi và cơ hội đến từ AEC (như ưu đãi về thuế quan, về thủ tục hải quan, sự công nhận lẫn nhau đối với một số ngành, các ngành được ưu tiên trong ASEAN ) Ví dụ: hiện nay mới chỉ 25% doanh nghiệp trong nước tận dụng lợi ích trong việc sử dụng ưu đãi thuế quan theo C/O form D(1).Điều này còn dẫn tới việc doanh nghiệp không nhận thức, không lường trước được những khó khăn và sức ép cạnh tranh khi Việt Nam mở cửa Từ đó, không có những chuẩn bị cần thiết và kịp thời để ít nhất giữ vững được vị thế trên sân nhà.Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhìn nhận AEC như cơ hội tiếp cận thị trường, gia tăng xuất khẩu, mà lợi ích này trong AEC là tương đối hạn chế Cũng vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam bày tỏ sự quan tâm lớn tới TPP ngay khi nó mới đang trong quá trình đàm phán, vì TPP hứa hẹn sẽ đem lại các lợi ích lớn về tiếp cận thị trường Mỹ và một số nước lớn khác Nhưng mục tiêu của AEC không chỉ là tiếp cận thị trường riêng lẻ, sự kết nối thành một “thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất” mới là mục tiêu chính của AEC Đây mới chính là lợi ích dài hạn mà các doanh nghiệp trong ASEAN cần nhắm đến
Cùng với đó, theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), khi tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), số việc làm của Việt Nam đến năm 2025 có thể tăng 14,5% Sự ra đời của AEC mở ra cơ hội thu hút nguồn lao động có kỹ năng cao giữa các quốc gia trong khu vực ASEAN Việc thông qua các thỏa thuận công nhận kỹ năng lẫn nhau trong 8 lĩnh vực (dịch vụ kỹ thuật, điều dưỡng, kiến trúc, khảo sát, hành nghề y khoa, nha khoa, kế toán, du lịch) tạo điều kiện thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động
Lao động Việt Nam có
cơ hội tìm kiếm việc làm ở các quốc gia phát triển như Singapore, Thái Lan
Trang 5Nguồn: Tổ chức lao động quốc tế(ILO)
Tốc độ tăng trưởng của khối ASEAN giai đoạn 2006 - 2014
Nguồn: Cơ quan thống kê ASEAN
Tốc độ tăng trưởng của Việt Nam năm 2014 đạt 6%, cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của ASEAN, nhưng thấp hơn so với mức bình quân 6,6% của nhóm các nước CLMV (gồm Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam)
Trang 6Tỷ trọng vốn FDI của các nhà đầu tư khu vực ASEAN tại Việt Nam
Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12/2014, khu vực ASEAN có 8 nước đầu tư FDI tại Việt Nam bao gồm Singapore, Malaysia, Thái Lan, Brunei, Indonesia, Phillipines, Lào và Campuchia với 2.507 dự án và tổng vốn đầu tư đạt 53 tỷ USD (chiếm 14% tổng số dự án và 20% tổng vốn đầu tư của cả nước)
4 Việt Nam trong nhóm các nước AEC
Nguồn: Tổng cục thống kê
Trang 7Thu nhập bình quân đầu người của các nước ASEAN giai đoạn 2000 - 2013 (ĐVT:
USD/năm)
Nguồn: thống kê của IMF
GDP và tốc độ tăng GDP của các nước ASEAN qua các năm
Nguồn: Thống kê tài chính quốc tế của IMF
Trang 8Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại giữa Việt Nam
và ASEAN giai đoạn 2005 - 2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Tốc độ tăng xuất khẩu, nhập khẩu của Việt Nam so với các nước ASEAN giai đoạn
2005 - 2013 (%)
Nguồn: ASEAN Statistics
Trang 9Kim ngạch, tỷ trọng xuất khẩu một số nhóm mặt hàng chính của VN ASEAN năm
2012
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Cơ cấu kim ngạch các mặt hàng xuất khẩu chính của VN sang khu vực ASEAN 03
tháng đầu năm 2016
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Trang 10III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
1 Cơ hội
- Cơ hội có một thị trường rộng lớn hơn.
Có cơ hội dễ dàng tiếp cận thị trường trong và ngoài khu vực, qua đó mở rộng thị trường,
đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu; ổn định nguồn nhập khẩu và hạ giá đầu vào nhập khẩu, từ đó, góp phần cải cách quản lý, dịch chuyển cơ cấu kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội
- Cơ hội mở rộng xuất khẩu
Nếu như năm 2011, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam sang khối các nước ASEAN tương ứng là 13,5 tỷ USD và 20,9 tỷ USD thì con số này của năm 2013 là 18,4 tỷ USD và 21,3 tỷ USD Điều này thể hiện khoảng cách giữa xuất và nhập của Việt Nam đã được rút ngắn và con số xuất khẩu cũng tăng vọt Riêng 6 tháng đầu năm 2014, kim ngạch thương mại hai chiều ước đạt 20,45 tỷ USD, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm 2013 và chỉ đứng sau 2 thị trường lớn là Mỹ và EU
Khi AEC hình thành, các doanh nghiệp Việt Nam có thể bán hàng sang các nước ASEAN gần như bán hàng trong nước Đây là một trong những thuận lợi đối với việc lưu chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp Hơn nữa, các thủ tục xuất nhập khẩu sẽ đỡ rườm rà hơn và việc cải cách thủ tục xuất xứ, tiến tới cho phép doanh nghiệp tự chứng nhận xuất xứ cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thông quan hàng hoá sang các thị trường ASEAN
Dự báo trước thềm AEC, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN sẽ tiếp tục tang trưởng ổn định nhờ được hưởng ưu đãi thuế quan với tổng số trên 99% dòng thuế của ASEAN 6 là 0% theo Hiệp định ATIGA Đây là thời điểm để các doanh nghiệp hết sức linh hoạt, nhạy bén, sớm nhận diện và nắm bắt những lợi ích tiềm năng từ AEC để thúc đẩy khả năng tăng quy mô kinh tế không chỉ khối thị trường này mà còn với các thị trường khác; trong đó có các thị trường ASEAN đã ký các Hiệp định thương mại tự do như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand
Nhìn vào biểu đò cho thấy: ngành công nghiệp chiếm tỉ trọng xuất khẩu lơn nhất Từ đó thấy được tầm quan trọng của ngành công nghiệp trong sự phát triển, công nghiệp
Trang 12- Cơ hội nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu của Việt Nam
Tham gia vào một sân chơi chung và chịu áp lực cạnh tranh từ các đối tác khu vực cả
về trình độ quản lý, công nghệ và nhân lực, sẽ buộc các DN Việt Nam phải tự cải tổ, thay
đổi, nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể tồn tại và phát triển
Trong giai đoạn từ 2013 đến nay: Buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và ASEAN vẫn
đạt được tăng trưởng dương nhưng có dấu hiệu chậm lại Cụ thể trong năm 2013, tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 40,1 tỷ USD, tăng 3,5%; năm 2014 đạt42,85 tỷ USD, tăng
6,9% và tính trong đến 11 tháng từ đầu năm 2015 đạt con số 39,2 tỷ USD, chỉ tăng nhẹ
0,1% so với kết quả thực hiện cùng kỳ năm trước
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong Quý
I/2015 và Quý I/2016
TT Tên nước
03 tháng 2015 (Triệ u USD)
03 tháng 2016 (Triệu USD)
Tăng/giảm
so với cùng
kỳ năm trước (%)
Tỷ
trọng trong
XK cả nước (%)
03 tháng 2015 (Triệu USD)
03 tháng 2016 (Triệu USD)
Tăng/giảm
so với cùng
kỳ năm trước (%)
Tỷ trọng trong
XK cả nước (%)
Trang 13-Cơ hội thu hút các nguồn đầu tư
Môi trường kinh doanh được mở rộng theo hướng minh bạch và bình đẳng hơn sẽ là điều kiện để thu hút đầu tư nước ngoài, không những từ các nước ASEAN mà cả từ các nước ngoài khối, đặc biệt là các nước đối tác thương mại của ASEAN vào Việt Nam để tham gia vào chuỗi giá trị khu vực
Về lĩnh vực đầu tư, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài với 774 dự án đầu tư đăng ký mới; tổng số vốn cấp mới và tăng thêm là 14,49 tỷ USD; chiếm 71,6% tổng vốn đầu tư đăng ký trong 12 tháng năm 2014
Xếp hạng các nước đầu tư FDI vào Việt Nam
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trong 8 nước ASEAN đầu tư FDI tại Việt Nam, Singapore đứng đầu với 1.456 dự án và 33,45 tỷ USD tổng vốn đầu tư, chiếm 59% tổng vốn đầu tư của ASEAN tại Việt Nam Đồng thời, tính đến tháng 9/2015, Singapore cũng đứng thứ 3/105 nước có đầu tư FDI tại Việt Nam
Trang 142 Thách thức
- Thách thức lớn nhất trong AEC đối với Việt Nam hiện tại là sức ép cạnh tranh từ hàng hóa từ các nước ASEAN: với cơ cấu sản phẩm tương đối giống nhau ở cả 10 nước
ASEAN, việc mở cửa thị trường sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh rất lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp có sức cạnh tranh yếu và ở các ngành vốn được bảo hộ cao từ trước tới nay
Năng Lực Cạnh Tranh Của Việt Nam So Với Các Nước
Nguồn:Tổng Cục Thống Kê
Trong tương lai, khi các mục tiêu AEC được hoàn tất, những sức ép từ các khía cạnh khác sẽ xuất hiện, thách thức vì vậy sẽ mở rộng ra các vấn đề khác như:
- Thách thức về dịch vụ: Nếu mục tiêu tự do lưu chuyển dịch vụ trong AEC được hiện
thực hóa, các doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực dịch vụ chắc chắn sẽ bị đặt trong môi trường cạnh tranh khốc liệt hơn nhiều (bởi hiện nay các rào cản/điều kiện đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam vẫn còn tương đối cao, do đó doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam hiện đang được “bao bọc” khá kỹ lưỡng trong nhiều lĩnh vực dịch vụ);
- Thách thức về lao động: Khi AEC hoàn tất mục tiêu tự do lưu chuyển lao động, nếu
không có sự chuẩn bị đầy đủ, lao động Việt Nam tay nghề kém, thiếu các kỹ năng cần thiết (ngoại ngữ, tính chuyên nghiệp…) có thể sẽ gặp khó khăn lớn;
Trang 15Nguồn: Số liệu WEF 2014 - 2015
- Thách thức về quản lý dòng vốn: Nếu AEC hoàn thành mục tiêu tự do lưu chuyển về
vốn, Việt Nam sẽ đứng trước thách thức trong việc kiểm soát dòng vốn ra/vào; đối với doanh nghiệp, đây cũng sẽ là vấn đề hai mặt, vừa tích cực (có thể tiếp nhận vốn đầu tư, hợp tác dễ dàng hơn), vừa tiêu cực (có thể sẽ không còn những hàng rào bảo vệ doanh nghiệp trước việc rút vốn của đối tác…)
Nguồn: Số liệu WEF 2014 – 2015
Trang 16Nguồn: Số liệu WEF 2014 – 2015
Tháng 1 Tháng 2 Tháng 3 Tháng 4
00 Toàn ngành công nghiệp 164.8 128.2 164.9 163.3 98.3 107.9 107.3
B
C Công nghiệp chế biến , chế tạo 180.3 135.4 179.7 180.6 100.5 112.5 109.6
D Sản xuất và phân phối điện 170.8 146.5 178.2 183.0 102.7 111.5 112.1 E
Cung cấp nước; quản lý và xử lý
rác thải, nước thải 136.8 137.4 137.0 140.3 102.4 108.5 109.0
Mã ngành Tên ngành
Các tháng năm 2016 so với tháng bình quân
năm gốc 2010
Tháng 04/2016
so với tháng 03/2016
Tháng 04/2016
so với cùng kỳ 2015
4 tháng 2016
so với cùng kỳ 2015
(chỉ số sản xuất công nghiệp, đơn vị %) Nguồn: Tổng Cục Thống Kê
Trang 17IV KIẾN NGHỊ
1 Đối với nhà nước:
Nhà nước cần có những hộ trợ về thông tin qua các cuộc hôi thảo, đào tạo giới thiệu
về thị trường các nước trong asean, giới thiệu về những ưu đãi thuận lợi mà doanh nghiệp Việt Nam được hưởng cũng như những khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải khi tham gia AEC Từ đó giúp doanh nghiệp định hướng được chiến lược phát triển tại thị trường này Chính phủ cần có cơ chế quản lý kinh tế theo hướng XHCN, tạo cơ hội kinh doanh bình đẳng, phân loại đánh giá khả năng theo từng loại, từng ngành, từng sản phẩm, từng địa phương để xây dựng kế hoạch thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả,tang sức cạnh tranh Đồng thời, xúc tiến mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam
2 Đối với doanh nghiệp:
Để nắm bắt cơ hội cũng như tăng trưởng một cách bền vững tại thị trường AEC thì các doanh nghiệp VN cần linh hoạt nhạy bén, sớm nhận diện và nắm bắt cơ hội tăng trưởng xuất khẩu, nhanh chóng tận dụng những lợi thế và ưu đãi để xúc tiến xuất khẩu sang thị trường các nước AEC như Thái Lan, Indonesia, Malaysia
Trước mắt, các doanh nghiệp trong nước cần nỗ lực hơn nữa đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước trong khu vực này để trong một vài năm tới các doanh nghiệp VN sẽ vừa tăng thị phần vừa giảm nhập siêu và tiến tới từng bước cân bằng cán cân thương mại trong buôn bán với các quốc gia thành viên AEC doanh nghiệp phải chủ động nâng cao sức cạnh tranh, sẵn sàng hội nhập và đối mặt với xu thế mới như tự do hóa đầu tư, thương mại, giảm và xóa bỏ thuế quan, đơn giản hóa thủ tục, hình thành tiêu chuẩn hàng hóa chung…
Các doanh nghiệp cần liên tục cải cách quy tắc xuất xứ, đưa ra những điều chỉnh cần thiết để thích ứng với những thay đổi trong quy trình sản xuất toàn cầu, hàng hóa phải đáp ứng được những tiêu chí, quy định về xuất xứ mới được hưởng ưu đãi về thuế quan khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được thành lập vào năm 2015, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội để cạnh tranh với các nước trong khu vực Tuy nhiên, để tận dụng được điều này, các doanh nghiệp phải tự nỗ lực để đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xác định cơ hội thị trường, đầu tư máy móc thiết bị để nâng cao năng lực cạnh tranh các doanh nghiệp VN cần trang bị cho mình những phương thức hiệu quả trong quản lý rủi ro như hiểu và sử dụng các công cụ phòng chống rủi ro biến động, nhận thức và đảm bảo yêu cầu tiêu chuẩn, hàng rào kỹ thuật cũng như vấn đề về ổn định