- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: + Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế xã hội có liên quan đến thực trạng nghèo của hộ gia đình ở nông thôn và công tác xóa đói, giả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ HỒNG MÔNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIÚP CÁC HỘ NGHÈO NÔNG THÔN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC
TRĂNG GIẢM NGHÈO
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LÊ HỒNG MÔNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIÚP CÁC HỘ NGHÈO NÔNG THÔN TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC
TRĂNG GIẢM NGHÈO
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 3Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 06 tháng 06 năm 2014
Học viên thực hiện
Lê Hồng Mông
Trang 4Trong suốt thời gian hai năm học ở Trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam,
em đã được Quý Thầy, Cô giáo truyền đạt những kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn vô cùng quý giá cả về lý thuyết và thực tiễn Những kiến thức hữu ích
đó sẽ là hành trang giúp em trưởng thành và tự tin bước vào cuộc sống
Với tất cả lòng kính trọng, em xin gửi đến Quý Thầy, Cô giáo lòng biết ơn
sâu sắc Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Trương Đông Lộc đã tạo
điều kiện thuận lợi, hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các Anh, Chị đang công tác tại phòng LĐ-TBXH huyện Kế Sách, các anh, chị là cán bộ giảm nghèo tại TT.Kế Sách và các xã Kế Thành, Kế An, Đại Hải, Ba Trinh, Trinh Phú, Xuân Hòa, An Lạc Thôn, Phong Nẫm, An Lạc Tây, Thới An Hội, Nhơn Mỹ, An Mỹ và bà con nông dân, bà con hộ nghèo tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp của mình Em xin kính chúc Quý Thầy Cô, các Anh, Chị được nhiều sức khỏe và công tác tốt
Sau cùng em xin cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân luôn bên cạnh em, động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 1 4
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ GIẢM NGHÈO 4
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO 4
1.1.1 Khái niệm đói: 4
1.1.2 Khái niệm về xóa đói: 4
1.1.3 Khái niệm nghèo, hộ nghèo và hộ cận nghèo: 4
1.1.4 Khái niệm về giảm nghèo: 5
1.1.5 Phân loại nghèo: 6
1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường nghèo: 7
1.1.6.1 Các chỉ tiêu đo lường nghèo của Ngân hàng thế giới: 9
1.1.6.2 Chỉ tiêu đo lường nghèo của Việt Nam: 9
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo: 11
1.1.7.1 Tăng trưởng kinh tế phiến diện: 11
1.1.7.2 Môi trường bị tàn phá: 12
1.1.7.3 Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp: 13
1.1.7.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo: 15
Trang 61.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO 22 1.2.1 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở một số quốc gia trên
thế giới: 22
1.2.1.1 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới: 22
1.2.1.2 Một số đề tài nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới: 25 1.2.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam: 26
1.2.2.1 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của một số tỉnh thành trong cả nước: 26
1.2.2.2 Các đề tài nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam: 30
CHƯƠNG 2 32
2.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN KẾ SÁCH VÀ TỈNH SÓC TRĂNG 32
2.1.1 Giới thiệu chung về tỉnh Sóc Trăng: 32
2.1.2 Đặc điểm cơ bản của huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: 33
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu chung: 35
2.2.2 Phương pháp chọn địa bàn nghiên cứu: 35
2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu: 35
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu: 36
2.2.5 Mô hình kinh tế lượng sử dụng trong đề tài: 36
2.2.5.1 Mô hình Binary logistic: 36
2.2.5.2 Độ phù hợp của mô hình: 38
2.2.5.3 Kiểm định mức độ phù hợp tổng quát của mô hình: 38
2.2.5.4 Kiểm định mức độ dự báo của mô hình: 39
2.2.5.5 Hàm hồi quy Binary logistic của đề tài: 39
CHƯƠNG 3 43
THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG 43
3.1 THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ KẾT QUẢ GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG 43
3.1.1 Tổng quan tình hình triển khai các chương trình trọng điểm quốc gia về giảm nghèo ở tỉnh Sóc Trăng: 43
Trang 73.1.3 Thực trạng nghèo và kết quả giảm nghèo ở huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng 48
3.1.3.1 Kết quả rà soát hộ nghèo ở huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (2010 – 2013): 48
3.1.3.2 Kết quả giảm nghèo ở huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ( 2010 – 2013) : 51
3.2 NGUYÊN NHÂN NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG 57
3.3 KẾT QUẢ ĐIỀU TRA HIỆN TRẠNG NGHÈO CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG 59
3.3.1 Mô tả số liệu điều tra tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: 59
3.3.2 Thống kê số liệu điều tra tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng: 60
3.4 PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGHÈO TẠI HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG 63
3.4.1 Kết quả thực hiện mô hình hồi quy Binary logistic: 63
3.4.2 Kiểm định mô hình hồi quy Binary logistic: 64
3.4.3 Kết luận mô hình hồi quy Binary logistic của đề tài: 65
3.4.4 Ước lượng xác suất nghèo theo tác động biên từng nhân tố: 67
3.4.5 Vận dụng mô hình hồi quy Binary Logistic cho mục đích dự báo: 68
3.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM GIÚP CÁC HỘ NGHÈO NÔNG THÔN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG GIẢM NGHÈO 71
3.5.1 Giáo dục, đào tạo và sự năng động xã hội: 71
3.5.2 Y tế và hạ tầng giao thông: 74
3.5.3 Hỗ trợ pháp lý cho người nghèo: 76
3.5.4 Hỗ trợ vay vốn sinh kế cho người nghèo: 77
3.5.5 Đất đai và nhà ở cho người nghèo: 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1 KẾT LUẬN 80
2 KHUYẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHỤ LỤC 86
Trang 8ESCAP Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương
FAO Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc
Trang 9~: khoảng, tương đương
Trang 10Số hiệu bảng Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu tổng dân số và dân số trong độ tuổi lao động phân
Bảng 3.3 Tỷ lệ hộ nghèo theo thành phần dân tộc ở huyện Kế Sách 51 Bảng 3.4 Số hộ nghèo phát sinh và tỷ lệ hộ thoát nghèo các năm tại
Bảng 3.5 Số lượng hộ nghèo giảm ròng năm 2013 so năm 2011
Bảng 3.14 Ước lượng xác suất nghèo theo tác động biên từng nhân
Trang 11Số hiệu hình vẽ Tên hình vẽ Trang
Biểu đồ 3.1 Tổng số hộ nghèo và tổng số hộ năm 2013 theo địa
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, xóa đói, giảm nghèo đang trở thành một vấn đề cấp bách của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước chậm và đang phát triển Ở mỗi quốc gia, do nhiều nguyên nhân khác nhau luôn tồn tại một bộ phận người có thu nhập thấp, đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của Nhà nước nhằm hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ hộ nghèo cao trên thế giới, nhưng những năm gần đây đã có nhiều thành tựu trong xóa đói, giảm nghèo và đã được cộng đồng quốc tế công nhận, được Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc
(FAO) trao tặng “Giải thưởng về những tiến bộ nổi bật trong cuộc chiến chống đói nghèo và suy dinh dưỡng năm 2013”
Tuy nhiên, kết quả giảm nghèo của Việt Nam chưa như mong đợi, vì những
hộ thoát nghèo lại tái nghèo ngay sau đó, hoặc khi chuẩn nghèo thay đổi thì những
hộ vừa thoát nghèo lại rơi vào chuẩn nghèo mới Đói nghèo không chỉ là vấn đề mang tính kinh tế của địa phương mà còn để lại cho xã hội nhiều hệ lụy Đói nghèo tạo ra một vòng luẩn quẩn: Đói nghèo, thu nhập thấp, điều kiện sống thiếu thốn, hạn chế tiếp cận với y tế và giáo dục kéo theo cơ hội tìm kiếm việc làm rất khó khăn, nguy cơ dễ bị tổn thương từ đó lại gây ra đói nghèo cho thế hệ tiếp theo
Thực tế cho thấy, hộ nghèo có xu hướng tập trung rõ rệt vào vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa có đông người dân tộc thiểu số sinh sống, tập trung vào một số xã, huyện đặc biệt khó khăn Trong đó, Sóc Trăng là tỉnh có đông đồng bào dân tộc sinh sống, điều kiện KTXH còn nhiều khó khăn Trong số 11 đơn vị hành chánh của tỉnh thì Kế Sách là huyện thuần nông, có lịch sử lâu đời, có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống và là một trong những huyện có số hộ nghèo cao nhất tỉnh Sóc Trăng Công tác chống đói nghèo đã được các cấp, ban ngành của huyện thực hiện trong thời gian qua, nhưng số hộ nghèo mới và hộ tái nghèo vẫn phát sinh Vậy, nguyên nhân nào dẫn đến nghèo đói và giải pháp nào sẽ giúp hộ nghèo ở nông thôn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giảm nghèo ? Để trả lời câu hỏi này, tôi
Trang 13chọn đề tài: Một số giải pháp nhằm giúp các hộ nghèo nông thôn tại huyện Kế
Sách, tỉnh Sóc Trăng giảm nghèo làm đề tài viết luận văn tốt nghiệp
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu tổng quát của đề tài này là đánh giá thực trạng nghèo của hộ gia
đình ở nông thôn huyện Kế Sách, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm giúp các hộ nghèo ở nông thôn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng giảm nghèo
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài:
+ Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế xã hội có liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
+ Nghiên cứu các hộ nghèo tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu các mối quan hệ kinh tế xã hội có liên
quan đến thực trạng nghèo của hộ gia đình ở nông thôn và công tác xóa đói, giảm
nghèo tại huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
+ Phạm vi về không gian: Địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng
Trang 14+ Phạm vi về thời gian: Các số liệu nghiên cứu đề tài được thu thập chủ yếu từ
năm 2010 đến 2013, trên cơ sở cập nhật thống kê hàng năm và điều tra bổ sung khi chuẩn nghèo thay đổi do các cơ quan ban ngành địa phương cung cấp Số liệu điều tra xã hội học được thực hiện từ tháng 01/2014 đến 03/2014
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra xã hội học và sử dụng các công cụ phân tích thống kê, thiết lập mô hình hồi quy nhằm tìm ra các nhân tố tác động đến hiện trạng nghèo của hộ
Phương pháp thu thập số liệu được thực hiện tại địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo Thông qua các chỉ tiêu thống kê, phân tích tổng hợp hiện trạng nghèo của hộ gia đình, đề tài có thể góp phần nhỏ bé vào việc phản ảnh trung thực tình trạng nghèo của hộ gia đình ở địa phương
Tại địa bàn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng trước đây chưa có công trình nghiên cứu định lượng nào về những nhân tố tác động đến nghèo của hộ gia đình, vì vậy tác giả hy vọng đề tài này sẽ góp phần làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo của địa phương
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ GIẢM NGHÈO 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO
1.1.1 Khái niệm đói:
Đói là một khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không
đủ năng lượng tối hiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không đủ sức
để lao động và tái sản xuất sức lao động
1.1.2 Khái niệm về xóa đói:
Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất
để duy trì cuộc sống
Từ năm 2001, Chính phủ Việt Nam không còn quy định chuẩn đói Vì vậy,
từ giai đoạn 2001-2005 đến nay, khái niệm xóa đói được lồng ghép vào khái niệm giảm nghèo và gọi chung là xóa đói giảm nghèo hay chỉ gọi là giảm nghèo
1.1.3 Khái niệm nghèo, hộ nghèo và hộ cận nghèo:
* Khái niệm nghèo:
Theo hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan tháng 09/1993 định nghĩa: “nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương”
* Khái niệm hộ nghèo và hộ cận nghèo:
Tại Việt Nam, khái niệm nghèo được gắn liền với hộ, được gọi là hộ nghèo
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân/người của hộ hàng tháng hay hàng năm ở mức từ bằng đến dưới chuẩn nghèo theo quy định của Chính phủ từng giai đoạn Gần đây, xuất hiện thêm khái niệm hộ cận nghèo Tương tự như khái niệm hộ nghèo, hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân/người của hộ hàng tháng hay hàng
Trang 16năm ở mức giới hạn theo quy định của Chính phủ từng giai đoạn Hiện nay, hộ nghèo và hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân/người của hộ thuộc khung quy định theo QĐ số: 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 30/01/2011, áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
* Theo quan điểm của ngân hàng thế giới WB (World bank):
Ngưỡng nghèo là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi là nghèo Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một quốc gia Theo WB thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả cho số hàng hoá lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày
Tóm lại những quan niệm về đói nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo đó là:
+ Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người
+ Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng
1.1.4 Khái niệm về giảm nghèo:
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống
Tại Việt Nam, giảm nghèo có nghĩa là tỷ lệ phần trăm và số lượng hộ nghèo giảm xuống Vì vậy, giảm nghèo nói chung là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo (hộ nghèo) có thu nhập thấp lên mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo được chính phủ quy định Giảm nghèo ở nông thôn và thành thị theo chuẩn nghèo 2011-
2015 (QĐ số: 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì chỉ khác nhau ở mức thu nhập
Trang 171.1.5 Phân loại nghèo:
Tình trạng nghèo đói được đặt trong mối tương quan với mức chuẩn của xã hội ở thời điểm đánh giá Do đó, có nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều
Nghèo đơn chiều là nghèo về thu nhập hay chi tiêu, còn nghèo đa chiều là người nghèo về thu nhập còn nghèo về tiếp cận các điều kiện an sinh xã hội ở mức tối thiểu như được chăm sóc y tế, được học hành, có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân họ
Do các quốc gia trên thế giới có nhiều khác biệt về mức sống và quan niệm
về sự tiếp cận điều kiện KTXH cũng như quan niệm tiếp cận ở mỗi thời kỳ là khác nhau Vì vậy, khái niệm về nghèo đơn chiều hay nghèo đa chiều phải được cụ thể hóa: một người có thể nghèo tương đối nhưng không nhất thiết phải bị nghèo tuyệt đối và ngược lại Do vậy, cần phân biệt nghèo tương đối và nghèo tuyệt đối Nghèo
sơ cấp và nghèo thứ cấp, nghèo tạm thời và nghèo thường xuyên
* Nghèo tuyệt đối: Để có cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước
đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới đã đưa
ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta"
* Nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo
được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó
Như vậy, nghèo tuyệt đối là tình trạng mà những người nghèo không đạt được mức sống tối thiểu theo quy định Còn nghèo tương đối để chỉ mức nghèo trong mối quan hệ so sánh giữa người nghèo với cư dân khác trong xã hội
Trang 18* Nghèo sơ cấp hay còn gọi là nghèo hữu hình: là tình trạng mức sống của
người được nghiên cứu thấp đến mức họ không tự đảm bảo được sự tồn tại có tính hữu hình của họ
* Nghèo thứ cấp: là nghèo về tinh thần, là sự thiếu thốn trong lĩnh vực tâm
lý xã hội
* Ranh giới nghèo: Ranh giới cho nạn nghèo tương đối được dựa vào nhiều
số liệu thống kê khác nhau cho một xã hội Một con số cho ranh giới của nạn nghèo dùng trong chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình Vì một sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu không có nên khái niệm ranh giới nguy
cơ nghèo cũng hay được dùng cho ranh giới nghèo tương đối
Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương án tính toán ranh giới nghèo tuyệt đối đã đứng vững Các ranh giới nghèo tuyệt đối được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để có thể tham gia vào cuộc sống xã hội
Tuy có nhiều khái niệm về nghèo nhưng quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể Tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người về: ăn,
ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội
Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
1.1.6 Các chỉ tiêu đo lường nghèo:
Việc đo lường nghèo dựa trên các thông tin được thu thập từ các cuộc điều tra về mức sống của từng hộ gia đình trong từng thời kỳ, nhưng còn tùy thuộc vào cách tiếp cận Cách tiếp cận phúc lợi kinh tế thường được áp dụng theo cách phân loại hộ theo tình trạng nghèo tương đối hay tuyệt đối dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu Cách tiếp cận này có thể được mở rộng cho các phúc lợi phi kinh tế khác như
Trang 19tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong, tuổi thọ, cấu trúc chi tiêu cho lương thực, nhà ở và học hành của trẻ em, vì vậy sẽ phát sinh tiêu chí đo lường về nghèo đa chiều
Trên thế giới, một số chỉ báo đa chiều được các tổ chức quốc tế phát triển và
sử dụng rộng rãi như HDI, HPI, và MPI Theo Jahan (2002) Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI), được giới thiệu lần đầu tiên vào năm
1990, là một đo lường khả năng tiếp cận trung bình đến phúc lợi HDI bao gồm ba chiều đo lường với các biến được lựa chọn là tuổi thọ (đại diện cho đời sống lâu dài), tỷ lệ người lớn biết chữ kết hợp với tỷ lệ học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông (đại diện cho giáo dục) và GDP bình quân đầu người tính theo giá trị ngang bằng sức mua (PPP) (đại diện cho mức sống đầy đủ) Chỉ số HDI có tính chất
“gộp” trong khi chỉ số HPI lại biểu thị sự thiếu hụt (Anand & Sen, 1997) HPI là một chỉ số tổng hợp về nghèo đa chiều đo lường sự thiếu hụt trong tiếp cận đến các tính chất phát triển cơ bản của con người ở ba khía cạnh tuổi thọ, giáo dục và thu nhập như HDI nhưng cộng thêm khía cạnh tham gia vào hay bị loại trừ khỏi đời sống xã hội (Anand & Sen, 1997, trích bởi Jahan, 2002)
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) được tổ chức Sáng kiến phát triển con người và nghèo đói của Đại học Oxford (OPHI) cùng UNDP sử dụng trong Báo cáo Phát triển Con người (Human Development Report), công bố vào ngày 02/11/2011 Chỉ số MPI được xây dựng dựa trên phương pháp luận của Alkire và Foster (2007) bao gồm ba chiều đo lường là giáo dục, y tế và mức sống với mười chỉ báo với các trọng số khác nhau Phương pháp của Alkire và Foster được coi là có tính chất mềm dẻo và có thể áp dụng với nhiều chiều, nhiều chỉ báo và trọng số khác nhau để phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội cụ thể của địa phương
Gần đây nhất, UNDP (2011) đã Báo cáo quốc gia về phát triển con người năm 2011 cho Việt Nam Nghiên cứu của UNDP đã áp dụng so sánh ba phương pháp đo lường là nghèo tiền tệ, HPI và MPI Chỉ số nghèo đa chiều MPI được UNDP xây dựng dựa trên ba thước đo (chiều) là Y tế, Giáo dục và Mức sống, được đại diện bằng chín chỉ tiêu 1) hộ phải bán tài sản, vay nợ để trả phí chăm sóc y tế
Trang 20hoặc ngưng chữa trị; 2) thành viên hộ chưa hoàn thành bậc tiểu học; 3) trẻ em trong
độ tuổi đi học không đến trường; 4) sử dụng điện thắp sáng; 5) tiếp cận nước uống sạch; 6) tiếp cận vệ sinh; 7) tiếp cận nhà vệ sinh tiêu chuẩn; 8) sống ở nhà cố định;
và 9) có sở hữu tài sản lâu bền Những người nghèo đa chiều là người chịu bất kỳ hai thiếu hụt nào trong chín chỉ số trên
Tuy nhiên, tại Việt Nam, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội luôn sử dụng cách tiếp cận đo lường nghèo tuyệt đối dựa trên thu nhập, tức là nghèo về tiền hay nghèo đơn chiều Ngưỡng nghèo này đã được Chính phủ Việt Nam xây dựng tách biệt giữa vùng nông thôn và đô thị, và có cập nhật theo thời gian cho các giai
đoạn 1993-1995, 1995-1997, 1997-2000, 2001-2005, 2006-2010 và từ 2011-2015
1.1.6.1 Các chỉ tiêu đo lường nghèo của Ngân hàng thế giới:
Vì có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia về cách tiếp cận các điều kiện
KTXH nên chỉ tiêu đo lường chung được nhiều quốc gia áp dụng là nghèo về tiền hay nghèo lương thực
* Theo WB (2010) thì: đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả
cho số hàng hoá lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày
và được tính bằng tiền theo từng khu vực như sau:
- Đối với nước đang phát triển là 1,25 USD/người/ngày
- Các nước thuộc Châu Mỹ la tinh và Caribe là 2USD/ người/ngày
- Các nước Đông Âu là 4 USD/ người/ngày
- Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ người/ngày
Tuy vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn nghèo riêng của mình, thông thường đối với các nước đang phát triển chuẩn nghèo thấp hơn chuẩn nghèo của
WB, ngược lại ở các nước phát triển, chuẩn nghèo lại cao hơn chuẩn nghèo của WB như chuẩn nghèo của Mỹ là 23.492USD thu nhập/năm cho gia đình 4 người, tức
trên 16 USD/người/ngày
1.1.6.2 Chỉ tiêu đo lường nghèo của Việt Nam:
Chỉ tiêu đo lường chuẩn nghèo của Việt Nam thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể như sau:
Trang 21* G iai đoạn từ năm 1993 đến năm 2005:
Bảng 1.1: Chuẩn đói nghèo qua các giai đoạn:
Thu nhập bình quân/người/tháng qua các giai
đoạn Loại
- Thành thị < 20 kg gạo < 25 kg gạo < 25 kg gạo 150.000 đ
+ Miền núi hải đảo < 15 kg gạo < 15 kg gạo 80.000 đ
Nghèo
+ Đồng bằng trung
* Giai đoạn 2006-2010 (theo QĐ số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 07
năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ):
- Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
- Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo
* Giai đoạn 2011-2015 (theo QĐ số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01
năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ):
- Chuẩn nghèo:
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000
đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
- Chuẩn cận nghèo:
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000
đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
Trang 22+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng chuẩn nghèo theo QĐ số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ và hộ nghèo đã được Phòng LĐ-TBXH rà soát từ tháng 09 – 11/2013
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến đói nghèo:
1.1.7.1 Tăng trưởng kinh tế phiến diện:
Vấn đề đói nghèo, về khách quan là sản phẩm tất yếu của một mô hình kinh
tế nhất định Khi một mô hình kinh tế đã cạn kiệt tiềm năng phát triển, thì dù có cố gắng của chính quyền cũng không thể giải quyết tốt vấn đề đói nghèo
Nước ta chuyển sang mô hình công nghiệp hoá từ nhiều năm nay Đó là mô hình kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, dựa vào đầu tư nước ngoài để xuất khẩu nhằm tăng trưởng nhanh Ở một nước nông nghiệp lạc hậu, mô hình ấy có vai trò nhất định ở giai đoạn khởi động nền kinh tế thị trường, nhưng nếu chỉ lo tăng trưởng số lượng thì những vấn đề xã hội sẽ phát sinh, thể hiện ở vấn đề đói nghèo trở nên nghiêm trọng, phân hoá giàu nghèo mở rộng khoản cách nhanh chóng, lối sống trong xã hội xuất hiện nhiều vấn nạn mới
Trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường trên thế giới thì mô hình công nghiệp hoá này đã diễn ra hơn 200 năm trước đây trong hình thái tư bản chủ nghĩa Trong thế kỷ XX, mô hình này biến đổi dần dưới nhiều hình thức ”khủng hoảng – phát triển”, đã lỗi thời và kết thúc vào nữa sau thế kỷ XX, khi mô hình phát triển bền vững dựa trên kinh tế tri thức ra đời và phát triển mạnh mẽ Đây là bối cảnh thế giới khi nước ta chuyển sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế
Do kéo dài mô hình công nghiệp hoá chạy theo tăng trưởng số lượng, nên hiện nay nước ta tuy thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo đạt những kết quả nhất định, nhưng vấn đề đói nghèo trên thực tế vẫn còn nhiều điểm cần quan tâm nghiên cứu
Ở khu vực chính thức (khu vực nhà nước) thì vấn đề đói nghèo ở trong bới cảnh tiền lương thấp Theo điều tra của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
Trang 23ương 2012, lương tối thiểu hiện chỉ mới đáp ứng 60% – 65% nhu cầu thực tế Mức lương này (dù đã tăng lên) vẫn không đảm bảo bù đắp sức lao động giản đơn, chưa thể nói đến tái tạo sức lao động và nâng cao năng lực lao động So với các nước trong khu vực, lương tối thiểu ở Việt Nam thấp hơn khoảng 40% Ưu điểm của một
mô hình kinh tế không chỉ ở năng suất lao động mà còn ở mức sống của người lao động
1.1.7.2 Môi trường bị tàn phá:
Ở nước ta, mức độ tàn phá môi trường ngày càng nghiêm trọng là một nhân
tố trực tiếp làm tăng mức độ và phạm vi của đói nghèo Ở đây chỉ nêu lên mấy mặt chủ yếu:
Trước hết, tình trạng ô nhiễm môi trường các khu công nghiệp Các khu
công nghiệp, các công ty đã làm hàng loạt sông ngòi, kênh rạch, nguồn nước ngầm
bị ô nhiễm do không giải quyết vấn đề chất thải Kết quả là làm bệnh tật gia tăng đối với công nhân và dân cư trong vùng Những chi phí cho chữa trị bệnh tật khiến người lao động nghèo thêm
Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu không những đưa đến mực
nước biển dâng cao, xâm chiếm nhiều diện tích đất đai để sinh sống (Việt Nam là một trong năm nước chịu tác động trước tiên), mà còn gây ra những trận hạn hán, lũ lụt trầm trọng, xói mòn bờ biển, bờ sông, phèn hóa đất đai nông nghiệp Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam dự báo, nếu mực nước biển dâng thêm 1 mét thì khoảng 20% châu thổ và 10% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh có thể bị nhấn chìm Những tai họa gần này sẽ làm tăng sự đói nghèo về mức độ và phạm vi
Thứ ba, vấn đề môi trường tác động xấu đến phát triển kinh tế và đói nghèo ở
nước ta trở nên cấp bách khi con sông Mê Kông rơi vào tình trạng lâm nguy Sông
Mê Kông dài 5.400 km chảy qua Trung Quốc, Mi-an-ma, Thái Lan, Lào, chia và Việt Nam, cung cấp nước cho trồng trọt, cho vận chuyển hàng hóa, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của 65 triệu người Riêng nhu cầu nguồn nước cho khu vực này tăng nhanh (từ 43.700m3 năm 2002 tăng lên 56.700m3 vào cuối năm 2010)
Trang 24Cam-pu-Mối đe dọa chính đối với sông Mê Kông là việc xây dựng đập thủy điện Trung Quốc đã có 5 đập hoạt động, dự định xây thêm 15 đập cỡ lớn và cực lớn ở thượng nguồn Các nước Đông Nam Á có kế hoạch xây dựng 11 con đập ở hạ nguồn Những con đập này sẽ làm biến đổi sự điều hòa tự nhiên và lưu lượng dòng chảy theo mùa (tính thủy học), làm giảm lượng phù sa ở hạ nguồn, đe dọa những khu vực trồng lúa nước năng suất cao nhất thế giới (như đồng bằng sông Cửu Long), đe dọa các luồng cá di chuyển sinh sản ở một con sông đang là ngư trường
cá nước ngọt lớn nhất thế giới, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của nông dân và ngư dân Mối đe dọa sông Mê Kông còn do tác động của biến đổi khí hậu, gây ra ngày càng nhiều những trận lũ lụt và hạn hán trầm trọng, xói mòn bờ, nước biển dâng cao ở khu vực châu thổ con sông này
Như vậy, vấn đề môi trường bị tàn phá đang và sẽ là một trong những nguy
cơ rất lớn về đói nghèo đối với cả ba miền Bắc, Trung, Nam trong thập niên tới Chính sách xóa đói, giảm nghèo từ năm 2011 trở đi phải được xây dựng trên những
cơ sở hiện thực mới nói trên, khác hẳn với cách làm chắp vá dựa trên “tư duy hỗ trợ, ban ơn”, chỉ nhằm ổn định xã hội ngắn hạn, không có khả năng phát triển
Khi xem xét tác động của môi trường đến phát triển kinh tế và xã hội, còn phải tính đến giá trị địa - kinh tế của Việt Nam Đó là giá trị địa - kinh tế ven biển, với chiều dài 3.260 km bờ biển, hơn 3.000 hòn đảo, diện tích mặt biển lớn gấp ba lần diện tích đất liền Đó là lợi thế để tăng trưởng kinh tế gắn chặt với thu hẹp diện đói nghèo, bằng cách khai thác tiềm năng biển gắn liền với bảo vệ môi trường của một nền kinh tế sinh thái thông qua hiện đại hóa 4 trung tâm vùng biển: Hạ Long - Hải Phòng, Đà Nẵng, Vũng Tàu, Phú Quốc và xây dựng lực lượng hiện đại bảo vệ vùng biển
1.1.7.3 Sự hạn chế về năng lực tổ chức, quản lý của bộ máy nhà nước các cấp:
Đây là nhân tố tác động không nhỏ đến mức độ đói nghèo, nhưng thường bị
bỏ qua và chậm đổi mới Xét trên toàn cảnh, tác động của nhân tố tổ chức, quản lý của các cấp đến đói nghèo có mức độ khác nhau, ở những thời gian khác nhau, được thể hiện tập trung ở mấy mặt sau đây:
Trang 25Thứ nhất, tính chất và mức độ "hành chính quan liêu" trong các cấp đã ảnh
hưởng đến giải quyết vấn đề đói nghèo, thực hiện những chủ trương, chính sách xóa đói, giảm nghèo trong thời gian qua biểu hiện ở các hoạt động:
- Cứu trợ dân nghèo trong các đợt thiên tai bão lụt ở một số nơi rất chậm trễ, làm diện đói nghèo kéo dài và lan rộng
- Việc xác định diện hộ nghèo theo quy định có những lệch lạc, dựa vào quan
hệ thân quen đưa vào diện nghèo những hộ không nằm trong tiêu chí nghèo, thậm chí bớt xén tiền bạc mà đáng lẽ hộ nghèo được hưởng Những sai phạm này thường
ở cấp chính quyền cơ sở và huyện
- Chất lượng xây dựng các luật kinh tế, xã hội còn thấp so với thực tiễn, nên
"dễ thông qua nhưng khó thi hành" ở cấp vĩ mô Quy trình làm luật hiện nay chỉ coi trọng mặt chính sách, giải trình nội dung chính sách hay luật mà không đòi hỏi giải trình về mặt kỹ thuật tổ chức thực hiện, nhất là về mặt thanh tra, kiểm soát Vì vậy
đã có những trường hợp bất khả thi, hoặc dễ "lách luật" và lạm dụng Đây là hạn chế của cấp vĩ mô
Thứ hai, tình trạng lãng phí ngày càng tăng trong quá trình triển khai các dự
án kinh tế - xã hội, do chất lượng thấp trong xây dựng và thực hiện dự án, nên các
dự án không có khả năng hoàn vốn, rủi ro cao, thời gian thực hiện kéo dài
Tính chất hành chính quan liêu trong quản lý vĩ mô gây lãng phí ở tầm quốc gia còn do nôn nóng muốn làm tất cả, không có ưu tiên và bước đi phù hợp Cách làm nặng về số lượng (người ta nói do bệnh thành tích theo tư duy nhiệm kỳ) không chỉ gây lãng phí lớn, mà còn để lại nhiều vấn nạn cả về kinh tế và xã hội
Thứ ba, tình trạng tham nhũng tác động không chỉ đến chất lượng và hiệu
quả phát triển, mà còn trực tiếp đến đời sống nhân dân Hiện tượng tham nhũng xuất hiện cả trong lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực y tế, thậm chí cả trong dự án xóa đói, giảm nghèo, cùng với những tác động tiêu cực của các dự án xây dựng, nhất là các
dự án sử dụng nhiều đất đai, làm cho vấn đề đói nghèo và ổn định xã hội khó giải quyết Nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn tham nhũng là những người này đang trở thành lực lượng "nội xâm", coi thường luật pháp và vô trách nhiệm
Trang 26Trong thời gian qua, thực hiện Chương trình 135, Chương trình 30a, cũng như hỗ trợ giải quyết đói nghèo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long đã góp phần giảm tỷ
lệ nghèo, nhưng con số nghèo ở nông thôn và đô thị vẫn còn cao Nếu về mặt tổ chức, quản lý nhà nước không khắc phục tình trạng hành chính quan liêu, lãng phí, tham nhũng thì các mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2011 - 2020 khó có triển vọng
1.1.7.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo:
Theo Ngân hàng thế giới, các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo được phân thành bốn nhóm đặc tính như sau:
Bảng 1.2: Các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo:
Phân theo đặc tính Các nhân tố
• Sự cách biệt về địa lý/xã hội do thiếu hạ tầng
cơ sở; hạn chế trong việc tiếp cận các loại thị trường và các dịch vụ xã hội
• Điều kiện tự nhiên
• Giáo dục (số năm đi học, bằng cấp cao nhất)
• Việc làm (tình trạng việc làm, loại công việc)
Đặc điểm cá nhân
(Individual characteristics)
• Dân tộc
“Nguồn: WB (2007)”
Trang 271.1.8 Ý nghĩa của xóa đói, giảm nghèo:
Xóa đói giảm nghèo là vấn đề kinh tế xã hội là trách nhiệm của các cấp các ngành, các tổ chức xã hội, của mọi người dân và của chính người nghèo Đây là chương trình lớn của quốc gia, là một trong 8 mục tiêu thiên niên kỹ đã được xác định phục vụ rất hữu ích cho công nghiệp hoá, cho việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Cho một chủ nghĩa cao cả "vì hạnh phúc của nhân dân"
Công tác xoá đói giảm nghèo được hình thành bởi nhiều vấn đề, trong quá trình nghiên cứu ở đây, chủ yếu tập trung vào những khía cạnh thể hiện điều kiện thực tế của hộ gia đình ở nông thôn huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, đồng thời nghiên cứu những giải pháp chung nhất với công tác xoá đói giảm nghèo Việc xoá đói giảm nghèo mà chúng ta nghiên cứu ở đây có những ý nghĩa sau:
- Nó là sự thay đổi đem lại sự cải thiện cho các hộ nghèo, mục tiêu phát triển phù hợp với nhu cầu của nhân dân và điều kiện tự nhiên của địa phương
- Nó có thể đảm bảo cho con người mức sống tối thiểu hoặc những yếu tố cần thiết cho người dân, từng bước nâng cao mức sống và không để hộ nghèo quay trở lại mức sống nghèo đói
- Xoá đói giảm nghèo tạo cho con người những điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt đồng bộ và đầy đủ hơn cho từng cá nhân và cả cộng đồng, đảm bảo sự hòa nhập cộng đồng của người nghèo và xóa dần khoảng cách giàu nghèo trong xã hội
- Xoá đói giảm nghèo khuyến khích sự tự tin của người dân, tự tin đương đầu với những thử thách trong cuộc sống, từ đó làm cho mức sống tinh thần từng bước được nâng cao, thoát khỏi ám ảnh dễ bị tổn thương trong cuộc sống
- Xoá đói giảm nghèo góp phần làm tăng thêm sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia, giảm khoảng cách phân hoá giàu nghèo, sự bất bình đẳng trong xã hội
Trang 281.1.9 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đói nghèo và chống đói nghèo:
Đói nghèo là vấn đề kinh tế - xã hội Đói nghèo về kinh tế là một trong những bằng chứng cho thấy sự lạc hậu và trình độ phát triển thấp kém của xã hội
Vì thế đói nghèo không chỉ được nhìn nhận và giải thích bằng nội dung kinh tế mà còn xem xét giải quyết trên quan điểm xã hội
Thực tế lịch sử cho thấy, đói nghèo không chỉ xuất hiện và tồn tại lâu dài dưới chế độ công xã nguyên thủy, chế độ nô lệ, chế độ phong kiến với trình độ sản xuất kém phát triển, mà ngay trong thời đại ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, với trình độ của lực lượng sản xuất cao chưa từng thấy, trong từng quốc gia, kể cả các quốc gia phát triển nhất thế giới, đói nghèo vẫn còn tồn tại một cách hiển nhiên Do đó con người luôn tìm mọi cách để nâng cao trình độ sản xuất của mình, chống đỡ với thiên tai, dịch họa và các rủi ro bất hạnh để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Tuy nhiên, ở các thời đại khác nhau, cũng có những cách lí giải khác nhau quan niệm, nguyên nhân và cách giải quyết hiện tượng đói nghèo Điều đó phụ thuộc vào nhân sinh quan và thế giới quan của mỗi con người, mỗi trường phái, mỗi chế độ chính trị xã hội Đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân và cách tiếp cận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng ta cần xem xét vấn đề đói nghèo trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân trong tiến trình cách mạng Việt Nam Đảng ta coi vấn
đề cơ bản nhất để xem xét, đánh giá vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là thực hiện công bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm nghèo Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam là cương lĩnh về sự công bằng và đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội, điều đó thể hiện bản chất ưu việt của CNXH, tạo ra sức thuyết phục đối với nhân dân lao động, củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng
Trang 29Công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế-xã hội Kinh tế thị trường đem lại sự phát triển năng động trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và trong nhiều lĩnh vực khác của xã hội Song kinh tế thị trường cũng bộc lộ những mặt trái tiêu cực, đó là sự phân hóa giàu nghèo, tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư đã kéo theo các tệ nạn xã hội Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta coi xóa đói giảm nghèo là một công tác lớn có ý nghĩa cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của nước ta
Từ Đại hội VII (6 -1991) với nội dung vế phát triển kinh tế-xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo Nghị quyết Đại hội đã chỉ rõ: cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế, phải tiến hành công tác xóa
đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, “Đáp ứng các nhu cầu thiết yếu và
ngày càng đa dạng của các tầng lớp dân cư; đảm bảo vững chắc nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” tránh sự phân hóa giàu nghèo vượt quá giới hạn cho phép Đến Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 5 (khóa VII) Đảng ta đã cụ thể hóa thêm một bước chủ trương
này: “trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình
thành quỹ xóa đói giảm nghèo ở từng địa phương trên cơ sở dân giúp dân, Nhà nước giúp dân và tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế, phấn đấu tăng hộ giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo” Đây là một chủ trương đúng đắn hợp lòng dân, vì thế đã
nhanh chóng đi vào thực tế cuộc sống Phong trào xoá đói giảm nghèo được bắt
đầu từ Thành Phố Hồ Chí Minh từ năm 1992 với tên gọi: “Chương trình phấn đấu
thu hẹp và từng bước xóa hộ đói nghèo”, chỉ sau một thời gian ngắn đã trở thành
một phong trào sâu rộng ở hầu khắp các địa phương trong cả nước với tên gọi quen thuộc: Phong trào xóa đói giảm nghèo Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6-1996) vấn đề xóa đói giảm nghèo chính thức được xác định là một trong những
chương trình quốc gia, Nghị quyết nhấn mạnh: “thực hiện tốt chương trình xóa đói
giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo bằng những nguồn vốn trong và ngoài nước, quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả” Đồng thời
Trang 30Đảng cũng chỉ rõ: “khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi
đôi với chăm lo xoá đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc, giữa các tầng lớp dân cư”
Mục tiêu của Đại hội Đảng VIII đề ra là giảm tỷ lệ đói nghèo đói xuống còn khoảng 10% năm 2000, bình quân giảm 300 nghìn hộ/năm, trong 2-3 năm đầu của kế hoạch
5 năm, tập trung xóa cơ bản đói kinh niên
Ngày 29/11/1997 Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra
chỉ thị về “Lãnh đạo thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo” Ngày 14/1/1998 Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 05/1998/QĐ-TTg phê duyệt “chương trình xóa
đói giảm nghèo” là một trong 7 chương trình mục tiêu quốc gia Đặc biệt ngày
23/07/1998 Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị quyết số 133/NQ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 Trong 2 năm (1998-2000) hàng chục văn bản pháp quy được Thủ tướng Chính phủ ban hành, và đã trở thành cơ sở pháp lý hết sức quan trọng nhằm cụ thể mục tiêu, kế hoạch xóa đói giảm nghèo của Đảng
Ngày 31/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chương trình phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa Trong đó
1000 xã đặc biệt khó khăn trong số 1.715 xã đã được lựa chọn để tập trung giải quyết trong năm 1999 Tháng 1/1999, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị quốc gia về xóa đói giảm nghèo, sau Hội nghị, Chính phủ đã chỉ đạo, phân công các bộ, đoàn thể và các tỉnh khá giúp các tỉnh nghèo, khuyến khích các cơ quan, xí nghiệp, Tổng công ty nhận giúp xã, huyện xóa đói giảm nghèo Văn bản tạm thời về chiến lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đã dược Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày 14/3/2001, thông báo số 20/TB-VPCP ngày 17/3/2001, nội dung văn bản gồm 5 phần, nêu bối cảnh kinh tế tình trạng đói nghèo, thành tựu và thách thức; mục tiêu
về tăng trưởng và xóa đói giảm ngèo; cơ chế chính sách vĩ mô thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn lực để giảm nghèo; chính sách ngành và các giải pháp tạo cơ hội, giảm khả năng tổn thương và hỗ trợ người nghèo; lịch trình xây dựng văn bản Chiến lược xóa đói giảm nghèo toàn diện thời kỳ 2001 - 2010 Nhà nước cũng đã có
Trang 31những chính sách trực tiếp hỗ trợ người nghèo, đặc biệt là chính sách tín dụng cho vay với lãi suất ưu đãi, chính sách miễn giảm thuế, học phí, viện phí cho người nghèo
Với các chủ trương và chính sách của Đảng, Nhà nước nêu trên công tác xóa đói giảm nghèo đã thu được kết quả đáng khích lệ Theo kết quả điều tra mức sống dân cư (theo tiêu chuẩn nghèo chung của ngân hàng thế giới), tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam năm 1992 - 1993 là 58% và năm 1998 là trên 37%( đói nghèo về lương thực, thực phẫm, thì tỷ lệ đói nghèo năm 1998 là 15%), tỷ lệ đói nghèo năm 1992 - 1993
là 30%,đến năm 1995 giảm xuống còn 20,3%, năm 1998 giảm còn 15,7% và năm
1999 là 13%, bình quân mỗi năm giảm 2%; tính đến cuối năm 2011, cả nước còn 12% hộ nghèo, (theo chuẩn nghèo hiện hành), giảm 2,4% so với năm 2010, riêng các huyện nghèo giảm bình quân 5%/năm; số xã nghèo (tỷ lệ nghèo đói trên 4%) đã giảm từ 1.900 xã vào năm 1995 xuống còn 1.182 xã vào năm 1998 Số xã thiếu và yếu 6 công trình hạ tầng (trường học, điện thắp sáng, nước sinh hoạt, đường giao thông đến trung tâm xã, trạm y tế xã, chợ) đã giảm từ 1.300 xã (1995) xuống 1000
xã (1998), cả trong đó số xã thiếu trường tiẻu học giảm gần 29%, xã thiêú trạm y tế giảm gần 30%, xã thiếu điện thắp sáng giảm 30% Đánh giá thành tựu của Phong trào xóa đói giảm nghèo trong những năm qua, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX
(năm 2001) đã nhận định: “Những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, mặc, chăm sóc sức
khỏe, nước sạch, điện sinh hoạt, học tập, đi lại, giải trí được đáo ứng tốt hơn”
Văn bản tạm thơi về Chiến lược tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo đã nhận định “ Trong những năm qua thành quả xóa đói giảm nghèo đạt được rất to lớn, được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những nước đã giảm tỷ lệ đói nghèo rất tốt Tỷ
lệ đói nghèo (theo tiêu chuẩn Việt nam) giảm nhanh, từ gần 30% vào đầu những năm 90 xuống còn 20% vào năm 1995 và dự kiến còn 11% vào năm 2000 (mỗi năm bình quân giảm 300.000 hộ, tương đương 2%) Tỷ lệ các xã không có hoặc thiếu cơ
sở hạ tầng thiết yếu đã giảm dần Chủ trương của Chính phủ ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn và thành công trong lãnh vực này, nhất là về sản xuất lương thực đã góp phần quan trọng vào việc xóa đói giảm nghèo tăng thu nhập, cải thiện
Trang 32đời sống của nông thôn Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách giải quyết việc làm, tạo cơ hội để người lao động có thể chủ động tìm hoặc tự tạo việc làm… Bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 1,2 - 1,3 triệu lao động, đã thực hiện mạnh mẽ hơn các chính sách bảo đảm xã hội, nhất là vấn đề xóa đói giảm nghèo, lao động và việc làm, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe nhân dân, chăm sóc những người tàn tật, trẻ em lang thang cơ nhỡ, ổn định đời sống cho các đối tượng xã hội ” Đồng thời Đảng ta cũng vạch ra phương hướng thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình địa phương, sớm đạt mục tiêu không còn hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo, mở rộng các hình thức tín dụng trợ giúp người nghèo sản xuất kinh doanh
Đói nghèo là một hiện trạng xã hội có tính lịch sử và phổ biến đối với mọi quốc gia Đó là một trở ngại trầm trọng nhất, môt thách thức gay gắt đối với sự phát triển của thế giới hiện đại Đối với nước ta xóa đói giảm nghèo hướng tới xã hội phồn thịnh về mặt kinh tế, lành mạnh về xã hội, kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ công bằng xã hội là một vấn đề thời sự, bức xúc hiện nay Được lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường, từ Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương xóa đói giảm nghèo và được cụ thể hóa qua các hội nghị, các kỳ Đại hội tiếp theo của Đảng Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phương hướng và nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo ở nước ta thời gian qua và hiện nay dựa vững chắc và nhất quán trên quan điểm thực hiện và phát triển hướng theo mục tiêu
lý tưởng CNXH đã lựa chọn: tất cả cho con người vì con người có tính đến điều kiện cụ thể của nước ta trong nền kinh tế thị trường và hội nhập mở cửa với thế giới
Một số văn bản pháp lý liên quan đến xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;
- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xoá đói giảm nghèo và Thông tư số 54/2009/TT-
Trang 33BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về xoá đói giảm nghèo;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2010 – 2020;
- Quyết định số 09/2011/QĐ – TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ vv quy định chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015;
- Nghị quyết số: 13/2011/QH13 ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Quốc hội
Về chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2015
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
1.2.1 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới:
1.2.1.1 Kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới:
* Trung Quốc: Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới có tới 210 triệu
người nghèo đói (2010) chiếm 20% dân số, trong đó có 80 triệu người sống dưới mức nghèo khổ chiếm 8% dân số và 27 triệu người là bần cùng chiếm 2,6% dân số Trung Quốc sớm quan tâm đến phát triển nông nghiệp, quan tâm chú trọng tới phát triển kinh tế hộ, khoảng 100 triệu hộ được giao hơn 10 triệu ha đất để sử dụng lâu daì và có quyền chuyển nhượng, khuyến khích tích tụ tập trung ruộng đất hình thành các trang trại sản xuất hàng hoá Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra chương trình “đốm lửa” nhằm chuyển giao công nghệ khoa học kỹ thuật vào các vùng nông thôn trên cơ sở kết hợp giữa vấn đề khoa học kỹ thuật với kinh tế để huy động mọi tiềm năng sẵn có ở nông thôn vào việc sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá để không ngừng nâng cao mức sống của người nông dân Trung Quốc chú trọng phát triển công nghiệp nông thôn (vừa và nhỏ) nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải tạo kinh tế thuần nông, thực hiện khẩu hiệu “ly nông bất ly thương” với chủ chương này Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất lớn Trong thời gian từ năm 1978- 1985 tổng
Trang 34giá trị sản lượng lương thực tăng bình quân 10% mỗi năm Giải quyết việc làm cho hơn 20% lao động nông thôn
* Nam Triều Tiên: Chính Phủ đã ban hành luật cải cách ruộng đất Nhà nước đã
thực hiện việc mua lại ruộng đất của Chính Phủ, ruộng đất có trên 3 ha để bán lại cho nông dân theo phương thức trả tiền dần Chính Phủ đã khởi sướng phong trào phát tiển kinh tế - văn hoá với mục tiêu chính là:"Xây dựng một đất nước Nam Triều Tiên mới và hiện đại" Phong trào này được tổ chức từ trung ương đến địa phương, làng, xã, mỗi làng xã đều có cán bộ nòng cốt và được định kỳ tập huấn về các mặt khoa học kỹ thuật, tổ chức giáo dục, văn hoá và công tác quần chúng … Nguồn vốn để thực hiện chủ trương này một phần của Chính Phủ một phần của các
tổ chức phi Chính Phủ, còn lại của các hộ gia đình Biện pháp của phi Chính phủ là
hỗ trợ về vật tư, tiền vốn cho làng xã xây dựng đường giao thông, trường học, trạm
xã, phát tiển các ngành công nghiệp nông thôn …
* Tuy-Ni-Di: Trong 25 năm cuối của thế kỷ XX, Tuy - Ni - Di đã tăng GDP lên
gấp đôi, không những thế còn giảm được mức tăng dân số xuống dưới 2% /năm, giảm đáng kể tỷ lệ thất nghiệp Người đói nghèo ở Tuy - Ni - Di được hưởng trợ cấp lương thực từ Chính phủ, theo quan điểm của Chính phủ Tuy - Ni - Di việc duy trì chính sách trợ cấp lương thực cho người nghèo đói là mục tiêu lâu dài chưa thể xoá bỏ ngay được, điều đó xuất phát từ nhu cầu thiết thực nhằm ổn định chính trị -
xã hội và phát triển kinh tế Các chính sách cải cách kinh tế của Chính phủ đều gắn liền với các chương trình kinh tế - xã hội, và chính sách xã hội đã thực sự có những tác động tích cực trở lại Chẳng hạn, do phát triển y tế và giáo dục mà nguồn nhân lực được cải thiện, do chú trọng đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội nên kinh tế
có điều kiện phát triển khắp các vùng nông thôn đến thành thị, thực thi có hiệu quả những chính sách nhằm hướng tới nâng cao mức sống cho người nghèo Chính vì vậy mà bộ máy lãnh đạo chính trị nhận được sự ủng hộ của nhân dân, họ tích cực tham gia vào các chương trình hành động của Chính phủ Nhờ đó Nhà nước truyền thống của Tuy - Ni - Di vẫn duy trì ổn định, phát huy tốt hiệu lực, giảm tỷ lệ tham nhũng
Trang 35* Thái Lan: Từ những năm 80 đến nay, Thái Lan áp dụng mô hình phát triển
chính sách quốc gia gắn liền với chính sách phát triển nông thôn thông qua việc hình thành và phát triển xí nghiệp ở làng quê nghèo, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, mở rộng trung tâm dạy nghề ở nông thôn để giảm bớt nghèo khổ với sự hoạt động của: Ban phát triển nông thôn (IBIRD), Tổ chức hiệp hội dân số và phát triển cộng đồng (CDA) Theo báo cáo trình Chính phủ tháng 6/2003 của Uỷ ban quốc gia phát triển kinh tế - xã hội (NESDP) thì năm 2001 Thái Lan vẫn còn 8,2 triệu người nghèo, 80% số này sống ở nông thôn Tháng 11/2003 Chính phủ Thái Lan công bố
kế hoạch 6 năm xoá đói nghèo, theo đó Thái Lan hướng quan tâm vào nông nghiệp, nông thôn và thị trường nội địa Thực hiện chương trình "Mỗi làng một sản phẩm" Chính phủ đang tìm kênh phân phối, lưu thông hàng hoá giúp nông dân tiệu thụ sản phẩm Theo kế hoạch này, bước đầu 8 trong 76 tỉnh được chọn để thí điểm, người dân tại đó được yêu cầu đăng ký và trình bày hoàn cảnh để các cơ quan chức năng xem xét, hỗ trợ Việc giải quyết dự kiến phân theo bảy nhóm: nông dân không có đất, người không có nhà ở, người làm ăn bất chính, nạn nhân từ những vụ bị lừa đi lao động nước ngoài, sinh viên hoàn cảnh gia đình khó khăn, người vị vỡ nợ và người thu nhập thấp thiếu nhà ở
* Ấn Độ: Một chương trình nổi bật trong việc xoá đói giảm nghèo của Ấn Độ
là xây dựng các làng sinh học trên cơ sở tư tưởng: "Thay vì ban phát lương thực cho người nghèo, Chính phủ và các tổ chức hãy tạo điều kiện cho mọi người có thể kiếm được miếng bánh hàng ngày của họ" Chương trình này được thực hiện từ năm
1994 tại 19 làng của PONDICHERI bang TAMIL NUDU, một trong những phương hướng của chương trình là nông nghiệp sinh thái, nghĩa là các hoá chất vốn là trụ cột của nền nông nghiệp hiện đại được thay thế bằng kiến thức và các tài nguyên sinh học và thuốc diệt trừ sâu bệnh sinh học Những hoạt động này góp phần tạo ra những việc làm có nội dung sinh học, cũng như việc buôn bán các sản phẩm Các gia đình lựa chọn những nguồn thu nhập mới tuỳ theo hoàn cảnh của họ, những người không có đất thì lựa chọn việc trồng nấm, nuôi cá cảnh hoặc các loài nhai lại nhỏ, hay bện thừng sợi dừa Những gia đình có chút đất đai thì sản xuất các loại
Trang 36giống lai, làm vườn, sản xuất sữa, chăn nuôi gia cầm, phụ nữ nuôi trong cá trong các ao làng Tất cả các hoạt động này được lên kế hoạch thật sát với nhu cầu của mỗi người và được hỗ trợ bằng khoản tín dụng nhỏ bé Việc có nhiều hoạt động như vậy đã giúp người dân ở các làng sinh học nâng cao thu nhập hàng tháng, trung bình 23USD/người Giáo dục và đào tạo, tổ chức xã hội và thương mại đều có phương hướng hỗ trợ người sản xuất và đó là những yếu tố quan trọng bậc nhất để chương trình thành công Các nhóm tương trợ mở những ngân hàng nhỏ ở cấp xã với chi phí giao dịch thấp và lãi xuất tiền gửi ngân hàng cao Một điều chủ yếu là các làng sinh học được tổ chức theo nguyên tắc thu nạp chứ không theo nguyên tắc loại trừ Những ai trở thành cán bộ đào tạo được đưa vào nhóm chuyên môn của làng Phần lớn những người này không biết chữ hoặc chỉ biết chút ít, thế nhưng họ đều là những nhân vật chính của phong trào Họ cho thấy người nghèo vẫn có thể làm chủ
kỹ thuật mới, một khi họ có cơ hội học tập qua công tác thực tế
Kinh nghiệm của các nước cho thấy nghèo đói là một vấn đề xã hội, giải quyết nghèo đói không thể thành công nếu không có sự quan tâm giúp đỡ của Chính Phủ và của các tổ chức xã hội khác Nhà nước không thể cho không người nghèo tiền hoặc vật tư sản xuất được mà phải khai thác khả năng người nghèo có nhiều nhất là sức lao động, sự cần cù … Chính Phủ phải tạo cho họ một cơ hội kiếm được việc làm và khả năng đáp ứng nó
1.2.1.2 Một số đề tài nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo ở một số quốc gia trên thế giới:
* Công trình nghiên cứu Benedito Cunguara và Kei Kajisa (2002, 2005)
tại tỉnh Zambezia và Sofala của Mozambique cho thấy các nhân tố: hộ có nguồn thu nhập phi nông nghiệp; chủ hộ có số năm đi học cao hơn, quy mô diện tích đất mà
hộ nắm giữ và chấp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thoát nghèo của hộ Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp nhằm giúp các hộ nghèo giảm nghèo bằng việc tác động chủ yếu vào việc khắc phục các nhân tố gây ra tình trạng nghèo như mở rộng canh tác thâm canh, xen
Trang 37canh tùy điều kiện sản xuất, đa dạng hóa cây trồng và tăng cường hỗ trợ kỹ thuật canh tác từ chính quyền địa phương
* Công trình nghiên cứu của Reardon và cộng sự (2007) đã có một cuộc
nghiên cứu về tình trạng nghèo đói và khả năng thoát nghèo của hộ gia đình tại vùng cận Sahara – Châu Phi Kết quả cho thấy rằng những hộ có cơ cấu thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp càng lớn, càng có khả năng thoát nghèo Từ đó, tác giả đưa ra giải pháp tăng cường phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống và đa dạng hóa ngành nghề phi nông nghiệp để thoát nghèo mà không tập trung đầu tư hết nguồn lực cho nông nghiệp như trước kia
1.2.2 Tình hình nghiên cứu, giải quyết vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam:
1.2.2.1 Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của một số tỉnh thành trong cả nước:
Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của thành phố Hồ Chí Minh:
Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu quan trọng, vừa có tính cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài của thành phố trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện thành công chương trình, trước hết phải làm thông suốt về nhận thức tư tưởng trong nội bộ Đảng, chính quyền ở các cấp, các ngành và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về mục tiêu và ý nghĩa của chương trình, nhằm đạt được sự đồng thuận trong nhận thức và hành động, trở thành phong trào hành động cách mạng, thu hút sự tham gia và hưởng ứng mạnh mẽ của quần chúng nhân dân Qua đó, huy động được sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng thực hiện xã hội hóa, đa dạng hóa nguồn lực cho mục tiêu giảm nghèo; đảm bảo xóa đói giảm nghèo có hiệu quả, toàn diện và
Thực tiễn cho thấy, giảm nghèo đã khó nhưng công tác chống tái nghèo, đảm bảo công cuộc xóa đói giảm nghèo còn gian nan hơn nhiều lần Giảm hộ nghèo là một quá trình khó khăn, phức tạp và lâu dài, cần được chỉ đạo một cách đồng bộ, kiên trì và liên tục Do đó, chương trình phải luôn được sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp và thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền; phát huy tốt vai trò nòng cốt của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể Đồng thời, củng cố xây dựng các tổ
tự quản và quản lý trực tiếp đến từng hộ nghèo; bảo đảm tính công khai, công bằng,
Trang 38dân chủ cho người nghèo, hộ nghèo có thể tham gia vào các chương trình, kế hoạch,
dự án giảm nghèo ở từng địa phương nơi cư trú Trong tổ chức chỉ đạo triển khai phải phân kỳ giai đoạn hợp lý; thực hiện từ thấp đến cao, từ cục bộ đơn lẻ đến toàn diện rộng khắp
Xóa đói giảm nghèo phải gắn liền với quá trình quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chủ động lồng ghép chương trình xóa đói giảm nghèo với các chương trình kinh tế - xã hội khác; tạo môi trường thuận lợi, hỗ trợ phương tiện, kỹ thuật và kinh nghiệm, tạo việc làm để người nghèo, hộ nghèo thích ứng với cơ chế thị trường Song song đó, chú trọng xây dựng mạng lưới an sinh xã hội, giảm nguy
cơ rủi ro cho người nghèo trước những bất trắc trong cuộc sống; thực hiện kịp thời
và có hiệu quả các chính sách ưu đãi xã hội; quan tâm giáo dục, nâng cao dân trí để từng bước chuyển đổi dần về cách sống, lối sống trong suy nghĩ và hành động của người nghèo, hộ nghèo
Nghèo, đói là vấn đề xã hội, song nguyên nhân cơ bản lại bắt nguồn từ kinh tế Chỉ có phát triển kinh tế mới tạo điều kiện xóa đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác Ngược lại xóa đói, giảm nghèo và giải quyết các tệ nạn xã hội có hiệu quả sẽ là động lực để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hơn nữa, nguy cơ đói nghèo, tái đói nghèo đều có thể xảy ra trong những biến cố của môi trường thiên nhiên, của quá trình hội nhập và phát triển Khi không giải quyết được cơ bản tình trạng đói nghèo sẽ làm tăng nguy cơ phát triển không
Yếu tố quan trọng nhất để thực hiện giảm nghèo là: Nhà nước tạo động lực giảm nghèo thông qua các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và ý chí vượt nghèo của người nghèo Các chương trình giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nghèo, xã nghèo cần được nhân dân trong cộng đồng tham gia, thảo luận và quyết định, qua đó nâng dần nhận thức về vai trò và trách nhiệm của người nghèo, hộ nghèo trong việc triển khai các chương trình giảm nghèo cho chính mình Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" cũng phải được thực hiện xuyên suốt trong các hoạt động của chương trình giảm nghèo ở địa phương
Trang 39Để xóa đói giảm nghèo có hiệu quả cần phải hiểu biết sâu sắc và đầy đủ về người nghèo, hộ nghèo Do đó, cần chú ý tổ chức bộ máy làm công tác giảm nghèo đồng bộ và bố trí cán bộ chuyên trách có tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm và năng lực phù hợp để triển khai thực hiện chương trình đến tận khu phố, ấp; kiên trì gắn bó, sâu sát với người nghèo Chú ý tổ chức điều tra, phúc tra, nắm chắc thực trạng nghèo đói của từng địa phương cơ sở, thấu hiểu hoàn cảnh cuộc sống và quá trình chuyển biến cụ thể của từng người nghèo,hộ nghèo Từ đó có cơ sở phân tích, đánh giá, xác định mục tiêu, nhiệm vụ và triển khai các giải pháp, chính sách trợ giúp, chăm lo hộ nghèo, người nghèo thiết thực và phù hợp
Kinh nghiệm xóa đói, giảm nghèo của tỉnh Tuyên Quang:
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, đất sản xuất nông nghiệp ít Hiện toàn tỉnh còn 37 xã và 78 thôn, bản đặc biệt khó khăn Tuy nhiên, những dự án, mô hình xóa đói, giảm nghèo mới, phù hợp với điều kiện của từng địa phương, nên đã và đang giúp đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang- Thủ đô kháng chiến năm xưa thoát nghèo
Những dự án xóa đói, giảm nghèo :
Nhằm giúp các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống từ trồng lúa, vụ lúa mùa năm 2012, tỉnh Tuyên Quang có 14.760 hộ nông dân (trong đó có 4.128 hộ nghèo) ở 3 huyện: Lâm Bình, Na Hang, Sơn Dương, được tổ chức Codespa (tổ chức phi chính phủ của Tây Ban Nha) hỗ trợ thực hiện Dự án “Giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa” Tham gia dự án, bà con được hướng dẫn dùng các viên phân đã được ép sẵn từ 2 loại phân đơn là đạm và kali với tỉ lệ thích hợp dúi xuống phía dưới bộ rễ của cây lúa mới cấy, tạo thành kho dự trữ thức ăn cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, hạn chế thấp nhất lượng phân bốc hơi và rửa trôi (rất phù hợp với điều kiện canh tác của tỉnh Tuyên Quang - một tỉnh miền núi, nơi đồng bào dân tộc trồng lúa trên địa hình độ dốc lớn, ruộng bậc thang liên tục có nước chảy qua, mưa lũ nhiều) Kết quả, dự án đã giúp tăng năng suất lúa hơn 15%
Trang 40so với diện tích lúa áp dụng cách bón phân truyền thống, đạt 65 tạ/ha, qua đó giúp hàng trăm hộ dân thoát nghèo, cải thiện đời sống
Cũng như Dự án “Giúp các hộ nông dân tăng thu nhập thông qua áp dụng phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa”, dự án “Vay bò trả bê” được Hội Nông dân tỉnh Tuyên Quang triển khai thực hiện từ năm 2001, tại 19 xã vùng sâu, vùng
xa, vùng đặc biệt khó khăn ở 5 huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, cũng đã giúp hơn 200 hộ dân thoát nghèo “Vay bò trả bê” có nghĩa
là những hộ nông dân nghèo và gia đình chính sách có hoàn cảnh khó khăn được cho vay bò giống Sau khi bò giống đẻ ra bê, hộ gia đình được vay bò giống có nghĩa vụ trả nợ bằng bê Dự án “Vay bò trả bê” là một dự án có ý nghĩa thiết thực với các hộ nghèo Con bò được vay không chỉ giúp bà con có “nguồn vốn” ban đầu,
mà còn giúp bà con có thêm sức kéo, phân bón trong sản xuất nông nghiệp của gia đình
Ngoài những dự án trên, Tuyên Quang còn nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo khác đang thực hiện hiệu quả như: Trồng rừng bằng chè Shan tuyết tại huyện
Na Hang; phát triển đàn trâu chất lượng cao tại huyện Chiêm Hóa; phát triển vùng cam sạch tại huyện Hàm Yên; nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ thủy điện Tuyên Quang… Các dự án, mô hình xóa đói giảm nghèo trên đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh từ 29% năm 2011 xuống còn 24% trong năm 2012
"Trao cần câu" cho người nghèo:
Để tiếp tục giúp các hộ dân thoát nghèo , Tuyên Quang đã ban hành chương trình giảm nghèo giai đoạn 2012 - 2015 Theo đó, với chủ trương "trao cần câu" cho người nghèo, từ nay đến năm 2015, tỉnh triển khai thực hiện hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo; trong đó ưu tiên hộ nghèo có phụ nữ, người tàn tật, người dân tộc thiểu số,
hộ di dân tái định cư, hộ gia đình chính sách Tỉnh cũng sẽ triển khai hỗ trợ về vốn,
hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp đối với các hộ thiếu đất; giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo được vay vốn với lãi suất ưu đãi; tổng kết và nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả; tổ chức tập huấn kỹ thuật khuyến nông, hướng dẫn cách làm ăn cho các hộ dân, đặc biệt là các hộ nghèo Tỉnh chỉ đạo các tổ chức đoàn thể, cán bộ tín