Theo đó, pháp luật “là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể”.. Bởi
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA LÀM VIỆC NHÓM 9
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Trang 2I Khái niệm chính trị, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng……….1
1 Khái niệm chính trị……… 1
2 Khái niệm pháp luật………2
3 Mối quan hệ giữa chính trị và pháp luật……….……….4
II Vận dụng giải thích mối quan hệ giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật……… 6
1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo……… 6
2 Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật……….7
3 Giải thích mối quan hệ giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật……… 9
Trang 3DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội
2 Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công
an Nhân dân, Hà Nội
Website
3.http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?
option=com_content&view=article&catid=309:s-kcb-nckh&id=10356:s-kcb-nckh&Itemid=357
4.https://www.wattpad.com/769601-ch%C6%B0%C6%A1ng-iii-ch%E1%BB%A7-ngh%C4%A9a-duy-v%E1%BA%ADt-l%E1%BB%8Bch-s%E1%BB%AD/page/4 5.https://thuquantriethoc.blogspot.com/2013/10/chinh-tri-la-gi.html
Trang 4Đề bài: “Mối quan hệ giữa chính trị và pháp luật, vận dụng để giải thích mối
quan hệ giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc Tòa án xét xử độ lập và chỉ tuân theo pháp luật.”
Trang 5I Khái niệm chính trị, pháp luật và mối quan hệ giữa chúng.
1 Khái niệm chính trị
Thuật ngữ “Chính trị” có lẽ được nhắc đến lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bởi nhà triết học Hi Lạp cổ đại Aristotle, đặc biệt đó còn là tựa đề của một tác phẩm nổi tiếng, có nhiều ảnh hưởng của ông – cuốn “Politics” (Chính trị luận) Tuy nhiên
“Chính trị” và các vấn đề chính trị cơ bản như quyền lực và tổ chức nhà nước cũng đã được tiếp cận trước đó bởi các triết gia khác như Khổng Tử, Plato1…
“Chính trị” trong tiếng Hi Lạp là “Politica” với nghĩa: Công việc của nhà nước
hay xã hội, là phạm vi hoạt động gắn liền với các giai cấp, dân tộc, các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước
Trong triết học Ấn độ cổ đại, đạo Brahman (khoảng thiên niên kỷ I TCN) cho
rằng: “Chính trị là sự phân chia “Chung tính” – đẳng cấp xã hội Sự phân chia có tính chất thiện định của đẳng tối cao Brahman Buộc mọi người phải phục tùng và quy thuận” Theo quan điểm của Phật giáo Ấn độ cổ đại, chính trị “là sự bất bình đẳng giữa những con người và các tẩng lớp trong xã hội.” Mặc dù nội dung khác
nhau nhưng quan điểm chính trị trong xã hội Ấn độ cổ đại đều mang màu sắc duy tâm tôn giáo chịu sự chi phổi của tôn giáo để bảo hộ chế độ chiếm hữu nô lệ, phục vị cho
sự cai trị xã hội của giai cấp thống trị.2
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, chính trị là một lĩnh vực thuộc kiến trúc thường tầng, nó chịu sự chi phối bởi cơ sở hạ tầng đặc biệt là kinh tế, chính
trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế, “Chính trị không thể giữ vị trí ưu tiên so với kinh tế” Dựa trên quan điểm của Mác, Lênin cho rằng, chính trị là lợi ích, là quan hệ
lợi ích, là đấu tranh giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp Cái căn bản nhất của chính trị
là việc tổ chức chính quyền, quyền lực nhà nước; sự tham gia vào công việc nhà nước; định hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung, nhiệm vụ của nhà nước
1 https://thuquantriethoc.blogspot.com/2013/10/chinh-tri-la-gi.html
2 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, Tr 328.
Trang 6Từ những quan niệm trình bày ở trên, có thể thấy chính trị “là hình thức hoạt động cơ bản của các tổ chức cộng đồng người trong xã hội có giai cấp (như đẳng phái, giai cấp, dân tộc ) để giành, giữa và thực thi quyền lực nhà nước nhằm thỏa mãn các lợi ích của các tổ chức đó trong xã hội.”3
Chính trị mang các đặc điểm:
- Thứ nhất, nói đến chính trị là nói đến lợi ích, là quan hệ về lợi ích, là đấu tranh
giái cấp vì lợi ích giai cấp
- Thứ hai, cái căn bản nhất của chính trị là tổ chức chính quyền nhà nước, là sự
tham gia vào công việc nhà nước, định hướng cho nhà nước xác định hình thức nhiệm
và nội dung của nhà nước
- Thứ ba, chính trị là biêu hiện tập trung của kinh tế, là việc xây dựng nhà nước
về kinh tế đồng thời chính trị không thể chiếm vị trí hàng đầu, liên quan đến vận mệnh của hàng triệu người Giải quyết các vấn đề chính trị vừa là khoa học vừa là nghệ thuật
3 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, Tr 334.
Trang 72 Khái niệm pháp luật
Lịch sử tư tưởng và khoa học pháp lý nhân loại từ xưa đến nay chưa có sự kiến giải mang tính thống nhất về khái niệm pháp luật
Ở Trung Quốc cổ đại tồn tại hai quan niệm quán trọng về pháp luật có sự khác biệt rất lớn của phái Nho gia và Pháp gia Theo phái Pháp gia, pháp tức là pháp luật,
đó là “…hiến lệnh công bố ở các công sở, thưởng hay phạt dân tin chắc là thi hành, thưởng người cẩn thận giữ pháp luật, phạt kẻ phạm pháp, như vậy bề tôi sẽ theo pháp” Pháp luật theo pháo Nho gia là thứ công cụ bất đắc dĩ phải có và chỉ thực sự
cần thiết mới sử dụng khi con người không còn luân thường đạo lý, vi phạm các nguyên tắc, đạo làm người
Theo quan niệm thần học, luật pháp được quy về cội nguồn của Thượng đế, do Thượng đế tạo nên Chẳng hạn, theo quan niệm thần thoại của người Ai Cập, nữ thần Ma-át tượng trưng cho chân lý, công bằng xã hội và Tòa án Với cách tiếp cận duy tâm khách quan, He-ghen đã cho rằng pháp luật chính là sản phẩm hiện thực Theo ông :”pháp luật là ở chỗ tồn tại hiện có của ý chí tự do, do vậy pháp luật là tự do nói chung như ý niệm” Quan niệm của J.J.Rousseau, pháp luật là phương tiện để liên kết các thành viên trong xã hội, đó chính là công ước chung của mọi người
Quan điểm Mác-Lenin được xây dựng trên cơ sở triết học duy vật lịch dử đã khẳng định về sự hiện diện khách quan của pháp luật trong đời sống xã hội có giai cấp
Theo đó, pháp luật “là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể” Với cách tiếp cận này, pháp luật chính là thứ chuẩn mực xã hội, là
thước đo của hành vi được hình thành bằng con đường của Nhà nước và mang tính quyền lực Nhà nước
Pháo luật mang những đặc điểm:
- Thứ nhất, pháp luật mang tính quyền lực Nhà nước: Pháp luật bao giờ cũng là
một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp Pháp luật trước hết và luôn luôn là hệ thống
Trang 8các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền trong xã hội So với các bộ phận khác thuộc thượng tầng kiến trúc xã hội có các giai cấp như triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật…Thì tính giai cấp của pháp luật được thể hiện một cách mạnh
mẽ, trực tiếp, rõ ràng và sâu sắc
- Thứ hai, pháp luật mang tính quy phạm phổ biến: Tính quy phạm là đặc trưng
vốn có của mọi pháp luật Bởi pháp luật là hệ thống các quy tắc mang tính chất mẫu mực, khuôn thước cho mọi người trong cách xử sự, chính thông qua những khuôn mẫu, những mô hình xử sự chung đó mà người ta “đo” được hành vi của mình, người
ta biết được mình có thể và không cần phải làm gì, không được làm gì và phải làm như thế nào ?
- Thứ ba, pháp luật mang tính bắt buộc chung: Pháp luật là những quy tắc chuẩn
mực về ứng xử của giai cấp thống trị, cho nên pháp luật mang tính bắt buộc chung Điều đó thể hiện ở chỗ: Việc thực hiện pháp luật không phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của mỗi người Khi pháp luật được Nhà nước đặt ra thì dù muốn hay không muốn tất
cả mọi người trong trường hợp đó đều phải chấp hành một cách nghiêm chỉnh và triệt
để, không phân biệt giữa người này hay người khác
- Thứ tư, pháp luật mang tính hệ thống: Pháp luật là hệ thống quy phạm và có
mỗi quan hệ hữu cơ với nhau
- Thứ năm, pháp luật mang tính ý chí: Pháp luật là sản phẩm của ý thức con
người, nó hoàn toàn không phải là hiện tượng được áp đặt ngoài vào xã hội Pháp luật xuất hiện trên cơ sở nhu cầu của xã hội và thể hiện một cách chính thống ý chí của giai cấp cầm quyền bằng con đường của Nhà nước
Trang 93 Mối quan hệ giữa chính trị và pháp luật
Đây là mối quan hệ giữa hai yếu tố của kiến trúc thượng tầng Mối liên hệ của
nó thông qua nhà nước, nhà nước nào cũng là nhà nước đại diện cho quyền lợi một giai cấp nhất định, các giai cấp đấu tranh đều dựa trên chủ thuyết, một mục tiêu, một
lý tưởng nhất định Chủ nghĩa Mác – Lênin dẫn dắt giai cấp công nhân Nhà nước là kết quả đấu tranh giai cấp nên nhà nước là thể chế biểu hiện của chính trị
Mối liên hệ giữa chính trị và pháp luật là mối liên hệ tác động qua lại Cụ thể:
- Thứ nhất, vai trò của pháp luật đối với chính trị: Pháp luật là hình thức, thể
hiện ý chí của giai cấp thống trị là công cụ để chuyển hoá ý chí của giai cấp thống trị trở thành quy tắc xử sự chung, có tính bắt buộc với mọi người
Nhà nước ban hành luật pháp nên luật pháp là công cụ của chính trị Pháp luật
là những quy tắc xử sự chung của giai cấp công nhân và giai cấp nhân dân lao động do nhà nước ban hành theo thứ tự, thủ tục luật định và được đảm bảo bằng sức mạnh nhà nước Pháp luật mang tính chất bắt buộc với mọi người, mọi cơ quản, tổ chức nhằm mục đích ngăn ngữa, trừng phạt những hành vi sai trái, giáo dục, cảm hóa những người có hành vi này, bồi dưỡng cho mọi người tinh thần, ý thức làm chủ xã hội, ý thức tuân thủ pháp luật đảm bảo cho xã hội phát triển lành mạnh, an toàn, bền vững,… Pháp luật điều chỉnh những mối quan hệ chủ yếu, cơ bản, mang tính ổn định, và được lặp đi lặp lại Quyền lực nhà nước chỉ được tăng cường khi hệ thống pháp luật hoàn thiện, ngược lại pháp luật do nhà nước ban hành thể hiện ý chí của nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện, trong đó có các biện pháp cưỡng chế nhà nước
- Thứ hai, vai trò của chính trị đối với pháp luật: Nền chính trị của giai cấp cầm
quyền quy định bản chất, nội dung của pháp luật
Chính trị luôn được gắn với các đường lôi chính sách của Đảng cầm quyền, pháp luật được ban hành dựa trên các đường lối chính sách đó.Với đường lối đổi mới, mục tiêu xây dựng nhà nước dân chủ, của dân, do dân và vì dân; pháp luật Việt Nam
là nền tảng để bảo vệ lợi ích toàn thể nhân dân lao động Việt Nam
Trang 10Mặt khác, chính sách bao giờ cũng đi trước pháp luật, mang tính định hướng và
là nền tảng của pháp luật, chính sách phản ánh một cách trung thực, khách quan điều kiện kinh tế - xã hội tại một thời điểm cụ thể và dự báo xu thế, khả năng phát triển cho tương lai Nếu chính sách không làm tốt điều này thì thể chế hóa thành các quy phạm pháp luật hoặc các văn bản pháp luật thì cũng không có tính khả thi Ngoài ra, chính trị được thể hiện thông qua các chính sách thì thường có tính ổn định tương đối để luật pháp có điều kiện đi vào thực tế cuộc sống vì pháp luật luôn hướng tới mục tiêu chung, thống nhất trong mỗi giai đoạn nhất định nên pháp luật có tính đồng bộ và ổn định Điều này có nghĩa là khi một chính sách có quá nhiều thay đổi hoặc không ổn định sẽ gây khó khăn phức tạp cho việc xây dựng và thực thi pháp luật Chính sách là công cụ thể hiện thái độ chính trị của Đảng lãnh đạo để điều chỉnh các quan hệ xã hội diễn ra theo định hướng nên pháp luật được ban hành cùng các quy định cụ thể cho mỗi loại quan hệ Như vậy, khi một chính sách mới được ban hành đồng thời tạo nên một lĩnh vực điều chỉnh mới của hệ thống pháp luật
Do vậy, khi có một nền chính trị đúng đắn thì sẽ xác định được mục tiêu xây dựng xã hội đúng Nhưng đường lối chính trị chỉ được thực hiện và triển khai thông qua công cụ lập pháp Không có lập pháp nào không thể hiện đường lối chính sách lãnh đạo của Đảng cầm quyền Như vậy, luật pháp, chính trị và Nhà nước là các yếu tố
và thể chế quan trọng nhất, đặc biệt trong kiến trúc thượng tầng Giữa chúng có sự liên
hệ biện chứng chặt chẽ, khăng khít lẫn nhau cùng hình thành trên cơ sở hạ tầng, thể hiện sự thống trị để định hướng xây dựng xã hội của mình
Trang 11II Vận dụng giải thích mối quan hệ giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo và nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
1 Nguyên tắc Đảng lãnh đạo
“Đảng” trong nguyên tắc Đảng lãnh đạo được hiểu là Đảng cộng sản Việt Nam Nguyên tắc này được quy định tại điều 4 Hiến pháp 2013: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến Pháp và pháp luật.”
Nguyên tắc Đảng lãnh đạo thể hiện nội dung:
Thứ nhất, Ðảng lãnh đạo nhà nước bằng việc đưa ra đường lối, chủ trương,
chính sách của mình về các lĩnh vực hoạt động khác nhau của quản lý hành chính nhà nước Trên cơ sở đường lối chủ trương, chính sách của Ðảng, các chủ thể quản lý nhà nước xem xét và đưa ra các quy định quản lý của mình để từ đó đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng sẽ được thực hiện hóa trong quản lý hành chính nhà nước Trên thực tế, đường lối cải cách hành chính nhà nước được đề ra trong nghi quyết đại hội đại biểu Ðảng cộng sản Việt nam lần thứ VI và thứ VII và trong Nghị quyết trung ương khoá VIII về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam, mà trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính quốc gia là kim chỉ nam cho hoạt động quản lý hành chính nhà nước
Thứ hai, Ðảng lãnh đạo nhà nước thể hiện trong công tác tổ chức cán bộ Các tổ
chức Ðảng đã bồi dưỡng, đào tạo những Ðảng viên ưu tú, có phẩm chất và năng lực gánh vác những công việc trong bộ máy hành chính nhà nước, đưa ra các ý kiến về việc bố trí những cán bộ phụ trách vào những vị trí lãnh đạo của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên vấn đề bầu, bổ nhiệm được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, ý kiến của tổ chức Ðảng là cơ sở để
cơ quan xem xét và đưa ra quyết định cuối cùng
Trang 12Thứ ba, Ðảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác kiểm tra việc thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Ðảng trong quản lý hành chính nhà nước Thông qua kiểm tra xác định tính hiệu quả, tính thực tế của các chủ trương chính sách
mà Ðảng đề ra từ đó khắc phục khiếm khuyết, phát huy những mặt tích cực trong công tác lãnh đạo
Thứ tư, sự lãnh đạo của Ðảng còn được thực hiện thông qua uy tín và vai trò
gương mẫu của các tổ chức Ðảng và của từng Ðảng viên Ðây là cơ sở nâng cao uy tín của Ðảng đối với dân, với cơ quan nhà nước
Thứ năm, Ðảng chính là cầu nối giữa nhà nước và nhân dân Sự lãnh đạo của
Ðảng là cơ sở bảo đảm sự phối hợp của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội, lôi cuốn nhân dân lao động tham gia thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở tất cả các cấp quản lý
2 Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc được quy định tại Hiến pháp 2013, cụ thể:
“Điều 103….
2 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm….”
Nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật được thể hiện ở hai yêu cầu:
- Thứ nhất, hoạt động xét xử độc lập: Muốn vậy, Tòa án phải độc lập với cơ
quan lập pháp, cơ quan hành pháp, không bị kiểm soát, lệ thuộc vào bất kỳ tổ chức hay
cá nhân nào khi tiến hành hoạt động xét xử Các cơ quan Nhà nước khác không được can thiệp vào việc xét xử của Tòa án vì Tòa án là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng xét xử Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm có thể tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn, của cán bộ thuộc tổ chức Đảng trong Tòa
án, xem xét tình hình dư luận xã hội nhưng khi quyết định, họ phải xem xét các vấn đề