TÓM TẮT KẾ HOẠCHNước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hằng ngày, đã và đang thực sự trở thành vấn đề của toàn cầu, thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại, độ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
KẾ HOẠCH NÂNG CAO SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở QUẬN BÌNH THỦY
NĂM 2015
BÀI THỰC HÀNH LẬP KẾ HOẠCH Y TẾ MÔN HỌC : TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ Y TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: THS THÁI THỊ NGỌC THÚY
Năm học: 2014-2015
Trang 2Tên cơ quan thực hiện Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
Tên tổ chức đề xuất kế
hoạch Khoa Y tế công cộng
Địa chỉ 179, Nguyễn Văn Cừ, Q.Ninh Kiều, TPCT
Những người thực
hiện
Họ và tên MSSV Nguyễn Trung Tính 1253010340 Trần Đức Vinh 1253010349 Trần Hoàng Khánh Linh 1253010406 Phạm Trí Tín 1253010410 Nguyễn Hoàng Tú 1253010610
Tên kế hoạch
Kế Hoạch Nâng Cao Sử Dụng Nước Sạch Cho Các
Hộ Gia Đình Ở Huyện Vĩnh Thạnh
Năm 2015 Thời gian Từ 05/2015 đến 05/2016
Trang 3TÓM TẮT KẾ HOẠCH
Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống hằng ngày, đã và đang thực sự trở thành vấn đề của toàn cầu, thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại, động thời cũng là vấn đề cấp thiết của nước ta khi hàng loạt các bệnh liên quan đến vấn đề sử dụng nước gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người
Hiện nay, vẫn còn hơn 60% dân số nông thôn sử dụng nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh và một nửa số hộ ở nông thôn không có nhà tiêu, nguồn nước người dân sử dụng trong sinh hoạt chủ yếu từ ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm lấy từ giếng khơi và giếng khoan Hàng ngày, người dân vẫn tắm giặt, ăn uống bằng những nguồn nước này, do không bảo đảm vệ sinh nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da là rất cao
Để nâng cao sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh một cách
hiệu quả, chúng tôi đề xuất Kế hoạch “KẾ HOẠCH NÂNG CAO SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH CHO CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở HUYỆN VĨNH THẠNH NĂM 2015” Kế hoạch gồm bốn chiến lược chính:
- Nâng cao số hộ gia đình sử dụng nguồn nước từ các nhà máy nước, nguồn nước ngầm trong huyện Vĩnh Thạnh, nhất là các xã vùng sâu vùng xa
- Hướng dẫn cho người dân biết cách xử lý các nguồn nước tự nhiên để
sử dụng
- Phổ cập kiến thức cho người dân về các bệnh liên quan đến sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh
- Nâng cao ý thức cho người dân về việc bảo vệ các nguồn nước tự nhiên
Dự kiến kinh phí cho kế hoạch khoảng triệu đồng Kế hoạch đặt mục tiêu đến cuối năm 2015 nâng số hộ gia đình ở nông thôn sử dụng nước sạch tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ lên 90%
Trang 41 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH
1.1 Đặc điểm chung
1.1.1 Hành chính
Vĩnh Thạnh là một huyện thuộc thành phố Cần Thơ, Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam Trước năm 1975, vùng đất Thốt Nốt (gồm cả toàn bộ huyện Vĩnh Thạnh và một phần huyện Cờ Đỏ) đã từng có thời kỳ thuộc về tỉnh Long Xuyên và sau đó là tỉnh An Giang
Vĩnh Thạnh là địa danh chỉ mới xuất hiện ở Cần Thơ từ năm 2004 và được dùng để đặt cho tên huyện mới được thành lập của thành phố Cần Thơ Huyện Vĩnh Thạnh được thành lập vào ngày 2 tháng 1 năm 2004 theo Nghị định số 05/2004/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam trên cơ sở tách phần lớn vùng đất đai phía tây từ huyện Thốt Nốt thuộc tỉnh Cần Thơ cũ, đồng thời là một huyện ngoại thành của thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương Ngày 16 tháng 1 năm 2007, lại tách đất các xã Thạnh Qưới và Thạnh Mỹ để thành lập mới thị trấn Vĩnh Thạnh
Ngày 23 tháng 12 năm 2008, theo Nghị định số 12/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam, một phần đất đai phía nam của huyện Vĩnh Thạnh được giao về cho huyện Cờ Đỏ mới được điều chỉnh địa giới hành chính Hiện nay, huyện Vĩnh Thạnh có 2 thị trấn là thị trấn Vĩnh Thạnh và thị trấn Thạnh An Huyện
lỵ huyện Vĩnh Thạnh được đặt tại thị trấn Vĩnh Thạnh
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính xã và thành lập các xã mới, huyện Vĩnh Thạnh có 29.759,06 ha diện tích tự nhiên và 117.930 nhân khẩu, có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Vĩnh Trinh, Vĩnh Bình, Thạnh Mỹ, Thạnh Quới, Thạnh An, Thạnh Tiến, Thạnh Thắng, Thạnh Lợi, Thạnh Lộc, thị trấn Vĩnh Thạnh và thị trấn Thạnh An
Trang 51.1.2 Kinh tế
Là huyện vùng xa của thành phố Cần Thơ, kinh tế Vĩnh Thạnh chủ yếu dựa vào nông nghiệp, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch
vụ mới chỉ ở dạng sơ khai, tự phát và nhỏ lẻ Tuy những năm gần đây, cơ cấu kinh tế của huyện đã có những bước chuyển dịch theo hướng tích cực, tuy nhiên vẫn chưa rõ nét Nông nghiệp vẫn chiếm vị trí cao trong tổng GDP hằng năm của huyện Năm 2004, diện tích đất trồng lúa luân canh 3 vụ của Vĩnh Thạnh đã tăng lên 7.380 ha, chiếm 20,3% diện tích đất nông nghiệp diện tích nuôi thuỷ sản của huyện đạt 1.115,61 ha; sản lượng đạt 7.511 tấn, tăng 2.583 tấn so với năm 2003 Thành công trong công tác quy hoạch vùng sản xuất đã tăng giá trị sản xuất bình quân lên 30 - 50 triệu đồng/ha/năm, gấp hai lần so với trồng lúa hai vụ Cùng với phát triển nông nghiệp, huyện cũng tập trung tìm hướng đi cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ Trong năm 2004, toàn huyện có 347 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thu hút 1.838 lao động tham gia, giá trị sản xuất đạt trên 100 tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994) Công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp của Vĩnh Thạnh tập trung chủ yếu trong lĩnh vực xay xát, chế biến lương thực Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, năm 2004, toàn huyện có trên 100 cơ sở thành lập mới, nâng tổng số cơ sở trên địa bàn huyện lên 1.467 cơ sở Tổng giá trị hàng hoá bán lẻ năm 2004 đạt 549 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), tăng 11,59% so với năm 2003
Trang 61.1.3 Xã hội
Cùng với phát triển kinh tế, Vĩnh Thạnh cũng chú trọng huy động nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Năm 2004, tổng kinh phí đầu tư xây cơ bản trên địa bàn huyện là 49,442 tỷ đồng, tập trung xây dựng các công trình trọng tâm như: nâng cấp và xây dựng các tuyến giao thông nông thôn gắn với gia cố đê bao điều tiết lũ và từng bước hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi nội đồng, hoàn chỉnh các khu dân cư vượt lũ Năm 2005, huyện đã đầu tư mở rộng mạng lưới điện và nước sạch nông thôn, nâng tỷ lệ hộ được sử dụng điện lên khoảng 97% và tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh lên khoảng 90% Bên cạnh đó, với nguồn vốn đầu tư cho xây dựng cơ bản là 36,304 tỷ đồng, huyện ưu tiên cho các lĩnh vực: hoàn chỉnh quy hoạch trung tâm huyện lỵ, quy hoạch thị trấn Vĩnh Thạnh; thiết kế xây dựng và hoàn chỉnh các trụ sở làm việc tạm; đầu tư xây dựng các chợ nông thôn, mở rộng
hệ thống đèn chiếu sáng công cộng,
Các chính sách về y tế, giáo dục - đào tạo cũng được triển khai thực hiện Năm 2004, Vĩnh Thạnh được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở; toàn huyện đã xây dựng được 4 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 16% (năm 2005) Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh thông qua công tác dạy nghề và giải quyết việc làm cho người lao động Thông qua các lớp dạy nghề và các dự
án vay vốn xoá đói, giảm nghèo, hàng nghìn lao động của Vĩnh Thạnh đã có việc làm, ổn định cuộc sống, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện xuống còn 2,48% (năm 2004)
Trang 71.2 Tình hình các vấn đề sức khoẻ của huyện Vĩnh Thạnh
1.2.1 Ưu điểm
- Có kế hoạch chủ động phòng chống dịch ngay từ đầu năm nên trong năm 2014 không có vụ dịch nguy hiểm nào xảy ra trên toàn huyện Không có ca cúm A(H5N1) và cúm A(H1N1), dịch tả Vệ sinh an toàn thực phẩm được đảm bảo, không có ca ngộ độc thực phẩm nào xảy ra, không có vụ ngộ độc thực phẩm với quy mô lớn (> 30 người) các bệnh truyền nhiễm có giảm so với cùng kỳ đặc biệt không có ca
tử vong
- Công tác khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế được duy trì tốt, công tác trực, thường trực, cấp cứu đảm bảo Tổ chức tốt đội phòng chống dịch
cơ động tại các đơn vị kịp thời ứng phó ngay khi có dịch xảy ra
- Công tác đầu tư xây dựng mới các trạm Y tế, trang thiết bị đã được quan tâm đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh phục vụ nhân dân trên địa bàn đạt hiệu quả cao, giảm tải cho tuyền trên
- Thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu y tế quốc gia, đạt và vượt các chỉ tiêu của các chương trình như: tiêm chủng mở rộng, phòng chống Phong, Lao, KHHGĐ…
- Tham mưu tốt cho UBND huyện thành lập các Ban chỉ đạo kịp thời chủ động triển khai các kế hoạch của ngành của đơn vị
Trang 81.2.2 Các vấn đề sức khỏe tồn tại
- Công tác phòng bệnh tuy có nhiều thành tích đáng ghi nhận nhưng dịch SXH vẫn còn lưu hành, tính đến cuối năm 2014 đã có 37 ca sốt xuất huyết, 52 ca tay-chân-miệng, tăng > gấp 3 ần so với năm 2013
- Chất lượng khám chữa bệnh tại các Trạm Y tế còn nhiều hạn chế, cơ
sở vật chất một số Trạm chật hẹp, xuống cấp mặc dù đã có duy tu bảo bưỡng hằng năm Công tác khám BHYT nhìn chung tốt nhưng vẫn còn một số vướng mắc, nhất là trong việc đảm bảo đủ thuốc và kịp thời để phục vụ bệnh nhân
- Nhân lực y tế tuy đủ về biên chế nhưng thiếu về lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt là thiếu Bác sĩ (tại 3 xã) Đây cũng là yếu tố gây giảm thu hút bệnh nhân đến khám và điều trị tại các cơ sở y tế
- Vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch , thói quen vệ sinh cá nhân của nhiều người dân trong huyện còn chưa tốt, nhất là các xã vùng sâu vùng xa
Trang 91.3 Vấn đề vệ sinh môi trường và sử dụng nước sạch
1.3.1 Trên Thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt
đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý
bị trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là
thống kê của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày
5/9 Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước.Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm.Tổ chức Lương Nông LHQ (FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước
1.3.2 Tại Việt Nam
Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoang, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 9.000 người tử vong vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém Cũng theo đánh giá tổng hợp của Bộ, hàng năm gần 200.000 người mắc bệnh ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính bắt nguồn từ ô nhiễm môi trường nước Trên thực tế, một số địa phương như xã Hưng Thạnh, Thạnh Tân (Tiền Giang), Duy Hòa (Quảng Nam), các ca nhiễm ung thư, viêm nhiễm ở phụ nữ do sử dụng nguồn nước ô nhiễm chiếm đến gần 40% dân cư toàn xã, có nơi lên đến 50% Có đến hơn 30% số người sống trên lưu vực các con song được hỏi về sự ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước sạch đều chưa nhận thức được hết hậu quả nghiêm trọng, dù tình trạng này thường xuyên tác động đến sức khỏe, đời sống không chỉ riêng bản thân mà cả gia đình họ Điều đó cho thấy, nhận thức về tầm quan trọng của nước sạch, thực trạng khan hiếm nước sạch cũng như ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên nước của người Việt Nam chưa cao, đây cũng chính là một trong các tác nhân làm nước sạch đã hiếm lại đang bị hoang phí ở nhiều nơi
Trang 101.3.3 Tại Thành Phố Cần Thơ và huyện Vĩnh Thạnh
Theo báo cáo của Trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn TP Cần Thơ, tính đến quý I năm 2014, tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp
vệ sinh là 83,5%, tương ứng 133.782 hộ (tổng số hộ dân nông thôn là 160.220 hộ), tăng 0,5% so với năm 2013 Tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước sạch đạt QC-02 chiếm 46,89%, tương ứng 75.120 hộ, tăng 1.900 hộ so với đầu năm Đến cuối năm 2014, Cần Thơ sẽ tạo điều kiện cho 5.500 hộ nông thôn được sử dụng nước sạch, góp phần nâng tổng số hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh trên địa bàn đạt 93%
Năm 2011, huyện Vĩnh Thạnh mới có 62% hộ được dùng nước sạch, trong
đó 27% được sử dụng nước máy, có đến 35% hộ sử dụng nước giếng đa số
là giếng khoan và nguồn nước ngầm không được kiểm nghiệm chất lượng nước Đặc biệt có 5,7% số hộ còn sử dụng nước sông trực tiếp, không đảm bảo an toàn Ngày 27/3/2014, tại huyện Vĩnh Thạnh , Trung tâm Nước sạch
và Vệ sinh Môi trường nông thôn TP Cần Thơ khởi công hệ thống cấp nước tập trung cho 3 xã Thạnh An, Thạnh Thắng và Thạnh Lợi Dự án hệ thống cấp nước tập trung có công suất thiết kế 100m3/giờ, tương đương 2.600m3/ ngày/đêm Hệ thống xử lý nước sử dụng công nghệ xanh từ năng lượng mặt trời và lưới điện quốc gia Dự kiến, sau khi hoàn thành sẽ cung cấp cho khoảng 80% dân số của 3 xã trên
Trang 112 MỤC TIÊU DỰ ÁN
2.1 Mục tiêu chung
Vấn đề nước hiện nay trở nên rất bức thiết, tình trạng thiếu nước sạch càng trở nên trầm trọng Vì vậy, chúng tôi muốn thực hiện đề tài nghiên cứu về “
Kế hoạch nâng cao số hộ gia đình sử dụng nước sạch” trong một khu vực
cụ thể Nâng cao số hộ gia đình ở nông thôn sử dụng nước sạch tại huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ lên 90% trong năm 2015 Từ đây đề ra giải pháp hợp lý cho kế hoạch
2.2 Mục tiêu cụ thể
1 100% cán bộ phụ trách chương trình được tập huấn về công tác tuyên truyền vận động người dân sử dụng nước sạch năm 2015
2 95% cán bộ Y tế quận và CTV có kỹ năng truyền thông tốt về tuyên truyền sử dụng nước sạch và tác hại của việc sử dụng nguồn nước không hợp vệ sinh
3 100% các hộ gia đình tại quận được tuyên truyền, vận động sử dụng nước sạch năm 2015
4 Tạo nguồn kinh phí cho các hoạt động tuyên truyền, các sản phẩm truyền thông, hỗ trợ kinh phí cho cán bộ Y tế và cộng tác viên
5 Tất cả các phường trong địa bàn quận Bình Thủy được tiếp cận với các kiến thức, kỹ năng phòng các bệnh liên quan đến nguồn nước không hợp vệ sinh
6 Tất cả các phường có khả năng theo dõi, đánh giá tình hình sử dụng nước sạch ở địa phương
Trang 123 GIẢI PHÁP VÀ HOẠT ĐỘNG
3.1 Thuận lợi
Là một quận trung tâm nên giao thông công cộng, cơ sở vật chất được trang bị tốt
Đội ngũ y bác sĩ đông đão, trình độ chuyên môn cao
Người dân ý thức tốt, tiếp thu tốt những chỉ đạo Nhà nước đề ra
3.2 Khó khăn
Vẫn còn nhiều hộ dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không đáp ứng được các chỉ tiêu sức khỏe
Khó tiếp cận hết các đối tượng
Do tập trung làm việc, phát triển kinh tế nên người dân ít quan tâm và thực hiện theo các chỉ đạo đề ra
3.3 Giải pháp và hoạt động
3.1.1 Giải pháp 1:Mỗi gia đình phải có 1 nguồn nước sạch cố định để sử
dụng
- Hoạt động 1: Mời kỹ sư, công nhân lấp hệ thống nước máy cho các
hộ gia đình
Hoạt động 2: Vận động mọi người tự động đào giếng trong các buổi họp nhân dân tự quản
- Hoạt động 3: Mua nhiều lu,hồ để trữ nước vào mua mưa
3.1.2 Giải pháp 2: Bảo quản lu, hồ không tiếp xúc với nguồn nước, rác
bẩn xung quanh
- Hoạt động 1: Dùng bạc bao bọc xung quanh nắp lu hồ
- Hoạt động 2: Xây hầm dưới nên nhà để trữ nước
3.1.3 Giải pháp 3: Phải có cách xử lý nguồn nước tự nhiên trước khi sử
dụng như
- Hoạt động 1: Lắng phèn trước khi sử dụng các nguồn nước tự nhiên
- Hoạt động 2: Dùng máy để diệt khuẩn, lọc chất bẩn
Trang 133.1.4 Giải pháp 4 : Cung cấp kiến thức và nâng cao tầm quan trọng của
nước sạch.
- Hoạt động 1: Sử đụng băng rôn, áp phích ở nơi công cộng
- Hoạt động 2 : Tổ chức nhiều cuộc họp nhân dân tự quản để tuyên truyền về nước sạch