Trong giai đoạn hiện nay, công tác xoá đói giảm nghèo của thị xã Dĩ An vàtỉnh Bình Dương vẫn phải đối mặt với những thách thức mới, đó là: Thứ nhất: Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh tă
Trang 1AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2HỒ HẢI NAM
NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG NGHÈO – NGHÈO ĐA CHIỀU, VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ
AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 60.62.01.15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS MAI CHIẾN THẮNG
Đồng Nai, 2014
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do nghiên cứu đề tài
Thị xã Dĩ An là một thị xã thuộc địa bàn tỉnh Bình Dương Trong những nămqua, cùng với nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Bình Dương, đờisống của dân cư có phần thay đổi nhanh chóng so với trước đây Vốn là một địa bànđồng bằng, với một địa hình bằng phẳng, với nhiều loại đất khác nhau và chất lượngkhông đồng đều, nguồn lực đất đai nông nghiệp rất ít ỏi, trong những năm gần đây
do tình hình đô thị hoá, công nghiệp hóa nhanh chóng, cùng với việc phát triểnmạng lưới giao thông, nên đã thu hẹp dần diện tích đất đai dành cho sản xuất nôngnghiệp Lao động nông thôn trở nên dư thừa cộng với sự thiếu thốn về trình độ kỹthuật, vốn sản xuất nên khả năng xâm nhập vào các ngành sản xuất công nghiệpchậm, thậm chí không thể tiếp cận được Điều đó có khả năng làm ảnh hưởng rấtlớn đến thu nhập của hộ gia đình Hệ quả cuối cùng là vấn đề nghèo đói lại có nguy
cơ tái diễn
Trong giai đoạn hiện nay, công tác xoá đói giảm nghèo của thị xã Dĩ An vàtỉnh Bình Dương vẫn phải đối mặt với những thách thức mới, đó là:
Thứ nhất: Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh tăng nhanh so với cả nước,
nhưng tình hình nhập cư từ các tỉnh khác đến tỉnh tăng dẫn đến khoảng cách thunhập, chi tiêu và mức sống giữa các nhóm dân cư, giữa các vùng thành thị và nôngthôn ngày càng gia tăng, nhiều hộ gia đình có khoảng thu nhập và chi tiêu quá thấp,không đảm bảo giải quyết được những nhu cầu cơ bản của cuộc sống, thậm chícũng có một bộ phận dân cư có tính ỷ lại hoặc trông chờ vào các chính sách hỗ trợcủa Nhà nước mà thiếu sự tích cực trong việc tự vươn lên để xoá đói giảm nghèo
Thứ nhì: Công cuộc xoá đói giảm nghèo chưa thật sự bền vững, do đó tỉ lệ
hộ gia đình tái nghèo còn cao
Thứ ba: Ngân hàng Thế giới – World Bank đã nâng chuẩn nghèo của các
nước đang phát triển, theo Bà Valeri Kozel, đại diện của Ngân hàng thế giới (WB)cho biết: Chuẩn nghèo quốc tế gần nhất đang được đặt ở mức 1,25 USD/người/ngày.Chuẩn này được hình thành làm trung bình chuẩn nghèo quốc gia của 15 nước
Trang 4nghèo nhất Do đó, nước Việt Nam cũng nâng chuẩn nghèo lên để cho phù hợp vớichuẩn nghèo thế giới Với chuẩn nghèo mới này thì tỷ lệ hộ nghèo của cả nước nóichung và riêng với thị xã Dĩ An tỉnh Bình Dương sẽ tăng lên.
Những thách thức này đã làm cản trở sự phát triển bền vững, ảnh hưởng đếnviệc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung, trên địa bàntỉnh Bình Dương và thị xã Dĩ An nói riêng
Theo những quan niệm và cách tiếp cận trước đây, nghèo đói được xem xétvới mức độ đơn chiều Nghĩa là, một người hay một hộ gia đình được xem như lànghèo căn cứ vào thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn một ngưỡng tiêu chuẩn tối thiểuđược quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một khoảng thờigian nào đó
Theo cách tiếp cận mới hiện nay, nghèo đói được xem xét với nhiều khíacạnh khác nhau còn gọi là nghèo đa chiều Đứng trên góc độ của kinh tế phát triển,nghèo đa chiều là sự thiếu hụt cả về văn hoá, y tế, giáo dục và chất lượng cuộc sốngchứ không phải chỉ riêng về thu nhập hoặc chi tiêu
Hiện nay, những hiện tượng nghèo mới, hình thức mới của sự đói nghèo làđói nghèo đa chiều đang tiếp tục diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn,không chỉ ở phạm vi nông thôn mà còn xuất hiện ngay ở các đô thị, ở các hộ giađình di cư và những người làm trong khu vực phi chính thức Việc rút ngắn khoảngcách chênh lệch về thu nhập, giàu - nghèo, bất bình đẳng ở trên cả nước nói chung,tỉnh Bình Dương và thị xã Dĩ An nói riêng là vấn đề cần phải được các nhà lãnh đạo,các nhà khoa học, các nhà chính sách khẩn trương xem xét để có những ứng xửthích hợp trong công cuộc xóa đói giảm nghèo
Về vấn đề nghèo đói đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau, tuynhiên đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào toàn diện về nghèo đói trên địa bànthị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương Xuất phát từ những yêu cầu thực tế đặt ra, cần phải
có những nghiên cứu đầy đủ về thực trạng và nguyên nhân cũng như những nhân tốtác động ảnh hưởng đến khả năng nghèo trên địa bàn thị xã Dĩ An, nhằm giúp cácnhà quản lý, các cơ quan chính quyền địa phương có cơ sở khoa học để đề ra các
Trang 5biện pháp xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thị xã, để hướng tới phát triển kinh tếbền vững, xoá nghèo bền vững.
Nhận thức được tầm quan trọng của công cuộc xoá đói giảm nghèo hiện nay
Tôi chọn đề tài “Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo
-nghèo đa chiều, và những giải pháp nhằm xoá đói giảm -nghèo trên địa bàn thị xã
Dĩ An, tỉnh Bình Dương.” để nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát
Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo, nghèo đa chiều của
hộ gia đình và những giải pháp xoá đói giảm nghèo trên địa bàn Dĩ An
Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá về Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và xác định những nhân tố ảnh hưởng đếnkhả năng nghèo, nghèo đa chiều của hộ gia đình trên địa bàn thị xã Dĩ An
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn thị xã Dĩ An trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo, nghèo đa chiều của hộ gia
đình trên địa bàn khu vực thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Về nội dung
Đề tài chủ yếu nghiên cứu về thực trạng nghèo đói của hộ gia đình nông thôntrên địa bàn thị xã Dĩ An Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng nghèo, nghèo đachiều của hộ gia đình, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp kinh tế chủ yếu, kếthợp với các giải pháp xã hội để xoá đói giảm nghèo
Về không gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại các hộ gia đình thuộc phạm vi địa bànthị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương
Trang 64 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài chialàm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn nghèo, nghèo đa chiều
Chương 2 Đặc điểm cơ bản ở thị xã Dĩ An và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHÈO VÀ NGHÈO ĐA CHIỀU 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm nghèo đói (Poverty)
Không có một khái niệm duy nhất về nghèo đói, và do đó cũng không
có một phương pháp hoàn hảo để đo được nghèo đói Nghèo đói là tình trạng hộ giađình bị thiếu thốn ở nhiều phương diện của cuộc sống cơ bản Thu nhập hạn chế,hoặc thiếu cơ hội và điều kiện để tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo sản xuất,sinh hoạt, tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trong những lúcđột biến bất lợi, và họ ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, đó là tất cảnhững khía cạnh của nghèo đói
- Đói nghèo, từ tiếng nói của người nghèo: Tiếng nói của người nghèo cho tanhững cảm nhận cụ thể, rõ ràng nhất về các khía cạnh của nghèo đói (Nghèo đóikhông chỉ bao hàm sự khốn cùng về vật chất mà còn là sự thụ hưởng thiếu thốn vềgiáo dục và y tế)
* Một số quan điểm về nghèo:
-Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương doESCAP (The United Nations Economic and Social Comission for Asia and Pacific)
tổ chức tại Băng Cốc – Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa chung về đói nghèonhư sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãncác nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này được xã hội thừa nhận tuỳtheo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương.”
-Tại hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tạiCopenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèođói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD)mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu
để tồn tại”
-Theo quan điểm của ngân hàng thế giới World Bank (WB): Ngưỡng nghèo
Trang 8là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi lànghèo Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của mộtquốc gia Theo World Bank thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trảcho số hàng hoá lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày.
-Theo Ông Abapia Sen, người được giải Nobel về kinh tế năm 1998, cho
rằng:“Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của
cộng đồng”
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệmnghèo đói, và tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt:
a Khái niệm nghèo
Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần nhữngnhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trungbình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
b Khái niệm đói
Đói là một khái niệm dùng diễn đạt tình trạng con người ăn không đủ no,không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày do đó không
đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động
Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu
và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống Đó là các
hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộngđồng và thiếu khả năng chi trả Giá trị đồ dùng trong nhà không có gì đáng kể, nhà
ở tạm bợ, con cái thất học, bình quân lương thực dưới 13 kg gạo/người/tháng
Tất cả những quan niệm, khái niệm về đói nghèo nêu trên đều phản ánh bakhía cạnh chủ yếu của người nghèo đó là:
+ Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư
+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành chocon người
+ Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.Một cách hiểu khác hơn: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới
Trang 9ngưỡng quy định của sự nghèo đói Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặcđiểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ cụ thể hay từng giai đoạn phát triểnkinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia.
Qua các định nghĩa, khái niệm trên, tác giả đúc kết lại và có thể đưa ra địnhnghĩa chung về nghèo đói như sau: “Đói nghèo là tình trạng người dân không cónhững điều kiện cơ bản để đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt cuộc sống tối thiểu nhưcái ăn, cái mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, và các quyền cơ bản của con người
để được tham gia vào các quyết định của cộng đồng.”
Nghèo đói vừa là hiện tượng kinh tế vừa là hiện tượng xã hội, nó xuất hiệncùng với sự phát triển của xã hội loài người và tồn tại như một thách thức lớn đốivới sự phát triển của tất cả các nền kinh tế
1.1.1.2 Khái niệm nghèo đa chiều
Nghèo đa chiều là một khái niệm rộng hơn so với nghèo đơn chiều, nghèovượt ra khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất Nghèo đa chiều không chỉ dựa trên thunhập, chi tiêu mà nó còn bao hàm nhiều vấn đề liên quan như giáo dục, văn hoá, y
tế, mức sống, dễ rơi vào tình trạng tổn thương, thiếu quyền phát ngôn và không cóquyền lực
a Nghèo khổ đa chiều
- Năm 1997, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development
Programme – UNDP) đưa ra khái niệm nghèo khổ tổng hợp: Đó là sự thiếu cơ hội
và sự lựa chọn bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện con người: điều kiệnvật chất, giáo dục, tiếp cận y tế, chăm sóc sức khỏe
- Năm 2003: UNDP, phát triển khái niệm nghèo khổ đa chiều trên khía cạnh
“Quyền lợi” cơ bản của con người: Quyền tự do, quyền bình đẳng, sự khoan dung
Vậy, nghèo đa chiều là tình trạng nghèo của một bộ phận dân cư bị thiếu hụt
trầm trọng về các điều kiện vật chất và quyền cơ bản để đảm bảo sự sinh tồn và pháttriển toàn diện của con người
Nghèo đa chiều là một chuẩn nghèo đang được áp dụng trong việc giảmnghèo tại nhiều nước nhưng là một khái niệm khá mới mẻ đối với Việt Nam Nghèo
Trang 10đa chiều là tình trạng nghèo về mặt kinh tế và thiếu hụt ít nhất một trong nhiều nhucầu xã hội thiết yếu.
Nghèo đa chiều được đo lường bằng Chỉ số nghèo đa chiều MPI( Multidimensional Poverty Index)
Tại nhiều nước, những người được tính là nghèo đa chiều khi có thu nhậpbình quân nằm dưới chuẩn nghèo và thiếu hụt ít nhất một trong những nhu cầu xãhội như: giáo dục, y tế, an sinh xã hội, nhà ở, dịch vụ cơ bản tại nơi ở, lương thực,thực phẩm…
+ Nói chung, một hộ gia đình bị coi là nghèo đa chiều nếu thiếu thốn 30%trên tổng số những chỉ tiêu sau :
Gia đình ở nhà nền đất hay nền gì?
Có nhà vệ sinh không ?
Có điện dùng không ?
Có phải đi bộ hơn 30 phút mới tới được chỗ lấy nước hay không ?
Có trẻ em nào không được tới trường ?
Trong gia đình có ai chưa học xong cấp 1?
Có người nào trong gia đình bị suy dinh dưỡng hay không?
b Ý nghĩa của việc tiếp cận khái niệm nghèo đa chiều
Ở Việt Nam, tuy khái niệm nghèo đa chiều là quá mới mẽ Qua việc tiếp cậnkhái niệm mới này cũng giúp xây dựng bộ chuẩn tiêu chí nghèo đa chiều với mộtcách nhìn toàn diện hơn về bức tranh hiện trạng nghèo trong giai đoạn hiện nay,đồng thời giúp cho các cơ quan liên quan hoạch định chính sách thiết thực nhằmgiúp cho việc giảm nghèo triệt để và bền vững hơn Theo đó, người nghèo đượcchia ra làm nhiều nhóm theo độ tuổi, theo các chuẩn nghèo đa chiều mà họ đangmắc phải để nhà nước và các tổ chức giảm nghèo tập trung tháo gỡ, hỗ trợ thiết thực,không trùng lắp và hiệu quả hơn
1.1.1.3 Hộ nghèo, hộ đói
a Hộ nghèo
Là hộ có mức thu nhập hay mức chi tiêu bình quân nhỏ hơn so với chuẩn
Trang 11nghèo của quốc gia hoặc chuẩn nghèo do địa phương sở tại ban hành Tuỳ thuộcvào tình hình phát triển kinh tế - xã hội chung, nên chuẩn nghèo hoặc nội dung xemxét về nghèo được thay đổi Do đó, khái niệm về hộ nghèo có thể thay đổi.
Đặc trưng của hộ nghèo:
- Ít có điều kiện tiếp xúc với xã hội, thường có thái độ tự ti về bản thân
- Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng kém
b Hộ đói
Hộ đói là hộ cơm không đủ ăn, áo quần không đủ mặc, con cái thất học, ốmđau không có tiền chữa trị, nhà ở rách nát
1.1.1.4 Phân loại nghèo
Tình trạng nghèo đói được đặt trong mối tương quan với mức chuẩn nghèođói được xã hội quy định và thừa nhận tại thời điểm đánh giá Một người có thểnghèo tương đối nhưng không nhất thiết phải bị rơi vào nghèo tuyệt đối và ngượclại Do vậy, cần phải phân biệt các dạng nghèo đói khác nhau
a Nghèo tuyệt đối
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm
nghèo tuyệt đối Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức
độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta."
b Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào
Trang 12hoàn cảnh xã hội của cá nhân Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cungcấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc vềmột số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó Như vậy, nghèotuyệt đối là tình trạng mà những người nghèo không đạt được mức sống tối thiểutheo quy định Nghèo tương đối để chỉ mức nghèo trong mối quan hệ so sánh giữanhững người nghèo với các nhóm dân cư khác trong xã hội.
b Giảm nghèo
Giảm nghèo là ban hành và hướng dẫn thực hiện một số chính sách kinh tế
-xã hội nhằm tác động vào bộ phận dân cư nghèo nhằm nâng cao mức sống, từngbước thoát khỏi tình trạng nghèo, làm cho tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèogiảm xuống Hay nói cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cưnghèo lên mức sống cao hơn
Trang 13Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thìđồng thời cũng là xóa đói luôn Do vậy, thực chất giảm nghèo và xóa đói được xem
là đồng nghĩa
1.1.2 Phương pháp xác định và các chỉ tiêu đo lường nghèo
1.1.2.1 Phương pháp xác định chuẩn nghèo và đối tượng nghèo
Từ các quan điểm khác nhau về nghèo, chúng ta nhận thấy không có mộtkhái niệm hay một định nghĩa duy nhất nào về nghèo Do đó cũng không có mộtphương pháp nào hoàn hảo để đo được tình trạng nghèo Theo “Báo cáo phát triểnViệt Nam – Năm 2004” về nghèo, đã đưa ra các phương pháp sử dụng để đo mức
độ nghèo và xác định đối tượng nghèo tại Việt Nam Có thể phân thành các nhómsau:
a Phương pháp dựa vào thu nhập
Phương pháp này có cơ sở khoa học và tính toán đơn giản thường được ápdụng ở một số nước Châu Mỹ và Châu Á trên cơ sở lý luận cho rằng người nghèo làngười có mức thu nhập rất thấp không đủ để trang trải cho các chi phí về lương thực,thực phẩm và các dịch vụ xã hội khác Do vậy, theo phương pháp này chuẩn nghèođược xác định bằng khoảng 1/2 mức thu nhập bình quân đầu người Bộ Lao động –Thương binh và xã hội cho rằng “Theo quan niệm chung của nhiều nước, hộ nghèo
có mức thu nhập dưới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội.”
Việc xác định chuẩn nghèo bằng khoảng 1/2 hay bằng 1/3 mức thu nhập bìnhquân đầu người của các hộ gia đình là phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗiquốc gia và khoảng dao động của chuẩn nghèo sẽ nằm trong khoảng từ 1/2 đến 1/3mức thu nhập bình quân Đối với các nước phát triển, có thu nhập bình quân cao thì
có thể lấy mức 1/2; Các nước chậm phát triển có thể lấy mức 1/3
Trang 14Đối với nước ta, là nước đang phát triển nên có thể lấy trong khoảng từ 1/2đến 1/3 mức thu nhập bình quân đầu người.
Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán, ít tốn kém chi phí vì
có thể sử dụng các số liệu có sẵn, các địa phương cũng có thể tự tính toán để xâydựng chuẩn nghèo cho địa phương mình Nhưng có nhược điểm là sự điều chỉnhchuẩn nghèo sẽ nằm trong một khoảng dao động lớn Do lấy từ 1/2 đến 1/3 mức thunhập, nên khi mức thu nhập thay đổi thì khoảng này sẽ thay đổi, do đó phương phápnày dễ bị chi phối bởi ý muốn chủ quan của người thực hiện tính toán và việc sosánh giữa các vùng, các địa phương, các quốc gia không có tính tương đồng vớinhau
b Phương pháp dựa vào chi tiêu
Đây là phương pháp do các chuyên gia Ngân Hàng Thế giới (WB) khởixướng và cũng được nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế công nhận và sử dụngtrong việc xây dựng chuẩn nghèo ở cấp quốc gia Nội dung của phương pháp này làdựa vào nhu cầu chi tiêu để đảm bảo các nhu cầu cơ bản của con người như cáckhoản chi tiêu cho ăn, mặc, ở , y tế, giáo dục, văn hoá, chi phí đi lại, giao tiếp xã hội
Phương pháp này tiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Xác định nhu cầu chi tiêu cho lương thực, thực phẩm Để xác định
nhu cầu này thì cần thiết phải xác định rổ hàng hoá để bình quân hàng ngày mà đểmột người có được đủ 2.100 Kcalo, rổ hàng hoá này thường có khoảng 40 mặt hàng
và được xếp thành 16 nhóm hàng hoá
Bước 2: Xác định nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm (Cho các nhu
cầu cơ bản còn lại) Đối với nhóm người giàu thì tỷ lệ giữa nhu cầu chi tiêu cholương thực, thực phẩm và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm là 50%: 50%,còn đối với nhóm người nghèo thì tỷ lệ này là 70%: 30%
Bước 3: Xác định tổng nhu cầu chi tiêu (Gồm nhu cầu chi tiêu cho lương
thực, thực phẩm và nhu cầu chi tiêu phi lương thực, thực phẩm)
Tổng nhu cầu ở Bước 3 chính là chuẩn nghèo chung Người có thu nhập thấphơn chuẩn nghèo chung này được xếp vào nhóm người nghèo, và tỷ lệ nghèo được
Trang 15tính bằng tỷ lệ số người dân có thu nhập thấp hơn chuẩn nghèo so với tổng số dâncư.
Phương pháp này có ưu điểm là có cơ sở khoa học, độ tin cậy và độ chínhxác cao Phản ánh đúng thực trạng của cuộc sống và được nhiều quốc gia sử dụng
và có sơ sở để so sánh với các quốc gia khác
Nhưng phương pháp này có nhược điểm là việc thu thập các thông tin về mặthàng trong từng thời kỳ khác nhau, chi tiêu của hộ dân cư thì rất phức tạp nhiềukhoản chi lớn nhỏ khác nhau nên tốn nhiều thời gian và tốn nhiều chi phí Khi xácđịnh mức độ nghèo thì phải tổ chức điều tra chọn mẫu với cỡ mẫu lớn để tránh sai
số Vì vậy, phương pháp này đáng tin cậy khi xác định đối tượng nghèo ở phạm vicấp tỉnh, còn cấp huyện, xã thì không thể áp dụng được
Trong Tổng điều tra dân số, không điều tra chủ yếu về thu nhập, chi tiêunhưng lại cũng bao hàm các thông tin của điều tra mức sống của hộ
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo là kết hợp hai công cụ thống kê trên và đượctiến hành qua 3 bước:
Bước 1: Xác định các biến số chung giữa điều tra hộ với các thông tin của
cuộc tổng điều tra dân số cùng kỳ
Bước 2: Tiến hành phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa mức chi
tiêu bình quân đầu người với những biến số
Bước 3: Sử dụng kết quả phân tích thống kê để dự báo chi tiêu của những hộ
có trong điều tra dân số
Mức chi tiêu dự báo này sẽ làm căn cứ đánh giá xem một hộ nào đó có phải
Trang 16thuộc diện là hộ nghèo hay không? Về mặt này, vẽ bản đồ nghèo sẽ cho phép tínhđược tỷ lệ nghèo ở các cấp cơ sở, được đo bằng tỷ lệ hộ nghèo trong tổng điều tradân số của mỗi tỉnh, huyện, xã.
Phương pháp này có nhược điểm là không thực sự hoàn hảo vì việc dự báochi tiêu có thể ước tính với một khoảng sai số
d Phân loại của địa phương
Điểm căn bản của việc xác định đối tượng nghèo là để nhà nước có chínhsách tác động hổ trợ để giảm nghèo bằng cách phân bổ các khoản trợ giúp viện trợcho hộ nghèo
Đặc điểm của phương pháp này là chính quyền địa phương cấp cơ sở nhưthôn, xã sẽ lập danh sách những hộ nghèo và hộ đói để chuyển lên cấp trên Danhsách này được lập và cập nhật một hai lần trong năm, việc lập danh sách hộ nghèo
có thể không được trung thực và khách quan bởi lẽ có sự chi phối của tập tục địaphương, sự thiên vị, thành kiến cá nhân hoặc nhìn nhận không trung thực của lãnhđạo địa phương, nhất là khi mà những lợi ích như miễn học phí, thẻ khám chữabệnh miễn phí được quan tâm từ chính phủ Vấn đề xem ai là người nhận đượcnhững khoản trợ giúp này là dựa trên sự đánh giá chủ quan của người lập danh sáchhay kết quả từ sự đánh giá chủ quan của một số hộ khác trên những con số về thunhập nhưng không quan tâm đến những con số về chi tiêu
Nhược điểm của phương pháp này là thiếu một quy tắc chặt chẽ để xác định
hộ nghèo Việc thảo luận ở cấp thôn, xã có thực sự thành công trong việc xác định
ai, đối tượng nào cần nhận trợ giúp hay không vẫn là một câu bị bỏ ngỏ Nó loại bỏmột số hộ ra khỏi việc xem xét phân loại hộ nghèo hay không nghèo, những hộ bịcoi là không chịu chăm chỉ làm ăn, lao động hoặc ít có trách nhiệm với xã hội nhưcác khoản đóng góp cho địa phương thì hiếm khi nhận được sự trợ giúp và thậm chícòn không được liệt kê vào danh sách các hộ nghèo Trên thực tế, việc không trợcấp cho những hộ này có thể không ảnh hưởng đến cuộc sống trước mắt nhưng sẽgây thiệt thòi về quyền lợi trong tương lai cho thế hệ con cái của hộ, con cái của hộ
là những con người không hề có lỗi vì cha mẹ của chúng bị nghiện ngập hay không
Trang 17chịu cố gắng làm ăn.
e Xếp hạng giàu nghèo
Phương pháp này thường được áp dụng nhiều nhất trong PPA (ParticipatoryPoverty Assessment – Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân), bao gồm mộttập hợp tất cả các nhận xét về hiện trạng của các hộ trong một cộng đồng Các hộtrong một cộng đồng được tập hợp lại theo một danh sách có thứ tự và phân loại các
hộ trong số đó Trong PPA, những người tham dự được chọn lựa sao cho có đủ haithành phần giới tính (Nam, nữ), người trẻ, người già, hộ nghèo và hộ không nghèo.Bên đại diện cho chính quyền địa phương gồm cả trưởng thôn, trưởng ấp Nhữngcán bộ làm công tác xã hội từ những tổ chức phi chính phủ, hoặc các tổ chức nghiêncứu khác trong nước được giao lưu với chính quyền cấp xã/ phường đứng ra làmđầu mối tổ chức Trên cơ sở xem xét những vấn đề chính ảnh hưởng đến đời sốngcủa các hộ dân cư, việc phân loại hộ thường được thực hiện thông qua cách phânloại theo nhóm nhằm chỉ ra những đặc trưng của hộ nghèo, người nghèo Sau đó,phát hành những tờ phiếu có ghi tên tất cả các hộ trên địa bàn và phân phát cho tất
cả các thành viên tham dự để tự họ phân loại hộ vào các nhóm
Cuối cùng, những hộ được phân loại khác nhau bởi ít nhất hai thành viên sẽđược đem ra thảo luận chung trong cả nhóm Từ đó, tìm hiểu nguyên nhân sự khácnhau và đi đến sự nhất trí liên quan đến sự phân loại phù hợp cho mỗi trường hợp
Do vậy, phương pháp xếp hạng giàu nghèo mang tính toàn diện hơn nhữngphương pháp chỉ dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu hay phương pháp tự đánh giá hayphân loại của chính quyền địa phương Nhược điểm của phương pháp này là tốnkém chi phí, do phải tổ chức tham dự của nhiều thành phần tham gia
1.1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường nghèo
a Chuẩn nghèo (Ngưỡng nghèo)
Chuẩn nghèo là một ranh giới để phân biệt đối tượng người nghèo với nhữngđối tượng không nghèo khác Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó tồn tại vàbiến đổi theo thời gian và không gian căn cứ vào từng thời kỳ phát triển kinh tế - xãhội
Trang 18Về thời gian: Chuẩn nghèo có thể biến động theo trình độ phát triển kinh tế
-xã hội và nhu cầu sinh sống của con người trong từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sửkhác nhau Khi điều kiện kinh tế - xã hội phát triển cao, đời sống con người đượccải thiện nhiều hơn, hầu hết các nhóm dân cư đều mong muốn cải thiện mức thunhập, đời sống, sinh hoạt của mình
Về không gian: Chuẩn nghèo có thể biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế
- xã hội riêng của từng vùng, từng miền hay từng quốc gia
Chuẩn nghèo Thế giới:
Theo quan niệm trên, WB đưa ra khuyến nghị thang đo nghèo đói như sau:
+ Đối với nước nghèo (Theo Liên Hợp Quốc là nước có thu nhập bình quân đầungười ít hơn 500 USD năm tính theo thu nhập quốc dân), các cá nhân bị coi lànghèo đói khi mà có thu nhập dưới 0,50 USD/ ngày
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ ngày
+ Đối với các nước thuộc Châu Mỹ La tinh và vùng Caribe là 2 USD/ngày.+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,40 USD/ ngày
Tuỳ theo điều kiện của mỗi quốc gia mà các quốc gia tự xây dựng một chuẩnnghèo riêng để áp dụng cho quốc gia mình, thường là thấp hơn so với chuẩn nghèođói mà Ngân hàng Thế Giới (WB) đưa ra
Chuẩn nghèo Việt Nam: Là một tiêu chuẩn để đo lường mức độ nghèo
nghèo của các hộ dân tại Việt Nam Chuẩn này khác với chuẩn nghèo bình quântrên thế giới
Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương trên cả nước, đến nayChính phủ và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã có 5 lần công bố chuẩnnghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhaunhư 1993 – 1995; 1996 – 2000; 2001 – 2005; 2006 – 2010; 2011 – 2015
Trong luận văn, tác giả đề cập đến chuẩn nghèo áp dụng cho hộ nghèo củacác giai đoạn gần đây nhất của Việt Nam là Chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015.Theo quyết định của thủ tướng Chính phủ Việt Nam số 09/2011/QĐ – TTg ký
Trang 19ngày 30 tháng 01 năm 2011 như sau:
1 Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/người/tháng (Tức 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống
2 Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000đồng/người/tháng (Tức 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống
3 Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đồng đến 520.000 đồng/người/tháng
4 Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng đến 650.000 đồng/người/tháng
b Các thước đo về nghèo
Để đo lường về nghèo, các nhà nghiên cứu thường tính toán các chỉ tiêuthống kê mô tả như: Tỷ lệ nghèo, khoảng cách nghèo và tính nghiêm trọng củanghèo
Theo James E.Foster (Trường Đại học George Washington), Joel Greer vàErik Thorbacke (Trường Đại học Cornell), Viện chính sách Kinh tế Quốc tế -Institute for International Economic Policy (1984), đã chỉ ra rằng 3 chỉ tiêu trên cóthể được tính toán từ một công thức chung như sau:
1
i i
z y P
: Là tham số về tình trạng nghèo, với 0
P : Tỷ lệ nghèo, hay khoảng cách nghèo hay bình phương
khoảng cách nghèo, giá trị này phụ thuộc vào
Tỷ lệ nghèo
Trang 20Khi 0, suy ra P= M / N Tức là cho biết tỷ lệ số người nghèo trên tổng
số người trong mẫu Chỉ tiêu này dễ tính toán nhưng không xác định được mức độtrầm trọng của nghèo đói
Khoảng cách nghèo
Khi 1, ta có P là khoảng cách nghèo Chỉ tiêu này cho biết sự thiếu hụt
trong chi tiêu hoặc thu nhập của người nghèo, và nó biểu hiện như mức độ trungbình của tất cả mọi người nghèo trong vùng
Tính nghiêm trọng của nghèo
Khi 2, ta có P là chỉ số bình phương khoảng cách nghèo Chỉ số này
thể hiện mức độ nghiêm trọng của nghèo và có xét đến trọng số về thu nhập hay chitiêu của người nghèo, nghĩa là người càng nghèo thì trọng số này càng lớn Chỉ sốnày có ưu điểm là quan tâm nhiều đến nhóm người nghèo nhất
Để đo lường mức độ bất bình đẳng, các nhà nghiên cứu thường sử dụng hệ
số Gini Ký hiệu là: G;
Hệ số Gini là hệ số dùng để biểu thị mức độ bất bình đẳng trong phân phốithu nhập Nó có giá trị từ 0 đến 1 và bằng tỷ số giữa phần diện tích nằm giữa đườngcong Lorenz và đường bình đẳng tuyệt đối (Đường thẳng hợp với trục hoành mộtgóc có số đo là 450) với phần diện tích nằm dưới đường bình đẳng tuyệt đối trong
hệ trục toạ độ Đề Cac Hệ số này được phát triển bởi nhà thống kê học người
Ý, Corrado Gini và được chính thức công bố trong bài viết năm 1912 của ông mangtên "Variabilità e mutabilità"
Trang 21Hệ số Gini có giá trị sau:
- Hệ số Gini, G = 0: Tượng trưng cho sự bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mọi ngườiđều có cùng một mức thu nhập);
- Hệ số Gini, G = 1: Tượng trưng cho sự bất bình đẳng thu nhập tuyệt đối (mộtngười có toàn bộ thu nhập, trong khi tất cả mọi người khác không có thu nhập)
- 0 < G < 1 : Tượng trưng cho sự bất bình đẳng trong thu nhập
- Hệ số Gini (Hay còn gọi là hệ số Lorenz) : Là hệ số dựa trên đường
cong Loren (Lorenz) chỉ ra mức bất bình đẳng của phân phối thu nhập giữa cá nhân
và hệ kinh tế trong một nền kinh tế
Đường cong Lorenz: Là sự thể hiện bằng đồ thị cho thấy mức độ không đềunhau của phân phối thường xuyên Cho thấy mức độ khác nhau của phân phối phunhập giữa các nhóm dân cư khác nhau Đường cong Lorenz đối chiếu phần trăm (%)cộng dồn của tổng thu nhập nhận được với phần trăm (%) cộng dồn của dân số cóthu nhập và được bắt đầu từ người có thu nhập thấp nhất
Một điểm nằm trên đường cong chỉ ra phần trăm của dân số nắm giữ một
phần nhất định của tổng thu nhập Chẳng hạn, nếu 10% dân số chiếm 10% thu nhập,20% dân số chiếm 20% thu nhập, thì trong trường hợp đó đường cong Lorenz sẽtrùng với đường 450
- Nếu sự phân phối thường xuyên là ngang bằng nhau, bình đẳng tuyệt đốithì đường cong Lorenz sẽ trùng với đường thẳng 450, thì G = 0
Hạn chế của hệ số Gini là chỗ nó chỉ là một số đo về quy mô tương đối, chonên trong nhiều trường hợp có cùng một giá trị của Gini – G nhưng trên thực tế thì
xã hội lại được đánh giá mức độ công bằng không giống nhau Cùng một cách phânphối nhưng nó có thể là khá bình đẳng trong một phạm vi nào đó nhưng lại bất bìnhđẳng trong một phạm vi khác do vì còn phụ thuộc vào cộng đồng người, tập quán xãhội, văn hoá,…
Trang 22Phần trăm thu nhập cộng dồn (%)
Phần trăm dân số Cộng dồn (%)
20 10 80
Biểu đồ 1.1 Đường cong Lorenz
Hệ số Gini – G có thể được tính theo công thức sau:
1 2
.1
n i i
i y G
n n y
(1.2)
Trong đó: yi: Là thu nhập của người thứ i sắp theo thứ tự giảm dần
(Trong công thức có nghĩa là cộng dồn từ người có chi tiêuhoặc thu nhập thấp nhất)
y : Thu nhập hay chi tiêu bình quân mẫu ; n: Số hộ mẫu
Phần lớn các quốc gia thuộc thế giới thứ ba có hệ số Gini tính theo thu nhậphoặc chi tiêu dao động trong khoảng từ 0,30 đến 0,60
Chỉ số Gini (Gini Index) là hệ số Gini được thể hiện dưới dạng tỷ lệ phầntrăm, được tính bằng hệ số Gini nhân với 100
1.1.2.3 Các chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều
Nghèo đói không phải chỉ biểu hiện qua trạng thái thiếu lương thực và thiếutiền mà còn phản ảnh qua mức sống của người dân Từ năm 1997, Chương TrìnhPhát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã dùng chỉ số phát triển con người HDI(Human Development Index) để đo mức sống của người dân gồm 3 yếu tố là tuổithọ, giáo dục và lợi tức Từ năm 2010, Liên Hiệp Quốc áp dụng một phương thứcmới để đo mức nghèo một cách toàn diện hơn gồm các yếu tố tiền tệ và phi tiền tệ
Trang 23gọi là chỉ số nghèo đói đa chiều (Multidimensional Poverty Index - MPI) do SabrinaAlkira và Maria Emma Santos, hai chuyên gia của OPHI (Oxford Poverty andHuman Development Initiative) thuộc Đại học Oxford sáng chế.
Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, và ứng dụng bởi OPHI(Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường đại họcOxford và được UNDP ủng hộ Chỉ số này thay thể chỉ số nghèo khổ tổng hợp (HPI)
đã được nêu trong các báo cáo phát triển con người thường niên từ 1997
Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ảnh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói.Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo(Incidence of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (AverageIntensity Across the Poor) Một người được xác định là nghèo nếu anh hoặc chị tathiếu ít nhất 30% các chỉ báo đã được gia trọng
Chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định haynhững thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động vềsức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cungcấp đẩy đủ hơn bức tranh về sự nghèo khổ sâu sắc so với các thang đo về thu nhậpgiản đơn Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở cáccấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độquốc tế Cách tiếp cận đa chiều mới trong việc đánh giá mức độ nghèo khổ đượcđiều chỉnh để sử dụng ở cấp quốc gia ở Mexico và hiện nay đang được xem xét ápdụng ở Chile và Colombia
Người phát ngôn của OPHI, Bà Sabina Alkire, người sáng lập ra chỉ sốnghèo khổ đa chiều và giáo sư James Foster tại đại học George Washington nói
“Chỉ số nghèo khổ đa chiều này giống như một giải pháp hữu hiệu mới và khởi đầu
có thể giúp khám phá những quang phổ sinh động của những thách thức mà những
hộ gia đình nghèo nhất đang phải đối mặt” Ngài Jeni Klugman, tác giả chính củabáo cáo phát triển con người sắp tới nói “Chỉ số nghèo khổ đa chiều cung cấp thang
đo đầy đủ hơn về sự nghèo khổ so với cách thức tính truyền thống - đô la/ ngày.Đây là một sự bổ sung hữu ích vào hệ thống các công cụ được sử dụng để đánh giá
Trang 24các chiều cạnh rộng lớn hơn sự hạnh phúc, mạnh khỏe (Well-being) của con ngườibao gồm các chỉ số phát triển con người của UNDP và các thang đo khác về sự bấtbình đẳng theo dân số và giới”.
Chỉ số nghèo đa chiều bao quát được trực tiếp hơn sự túng thiếu, tổn thấttrong tác động đến sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu như nước sạch, vệsinh và năng lượng Ở một số nước các nguồn này được cung cấp miễn phí hoặc vớimột giá rất thấp trong khi một số nơi chúng vượt quá mức so với thu nhập củangười lao động
Chỉ số nghèo đói đa chiều MPI đo lường nghèo đói của OPHI với 3 chiều và
Tử vong ở trẻ em Gia đình có bất kỳ một đứa trẻ chết
Dinh dưỡng Gia đình có người thiếu dinh dưỡng
Giáo
dục
Số năm đi học Có người không học hết 5 năm tiểu học
Bỏ học Có người không đi học đến lớp 8
Mức
sống
Nhiên liệu để nấu ăn Nấu ăn bằng gỗ, phân động vật, than, củi
Nhà vệ sinh Không có nhà vệ sinh
Nước sạch Không có nước sạch để dùng hay cách xa 30km.Điện lực Không có diện thắp sáng
Nhà ở Sàn nhà trên bùn, cát, phân
Tài sản Không có ít nhất các loại tài sản Radio, điện
thoại, xe đạp hay mô tô
(Nguồn: Oxford Poverty and Human Development Initiative, OPHI )
Trang 25Một người được xem như nghèo nếu một người bị thiếu ít nhất 30% của cácchỉ tiêu trên Chính phủ VN đã áp dụng chỉ số căn bản trên để cải biến thành 9 chỉ
tiêu áp dụng trong cuộc Điều Tra mức sống con người 2010 (Dữ liệu năm 2008) và
Báo cáo Phát Triển con người năm 2011 do Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp
Quốc phối hợp thực hiện
Bảng 1.2. Chỉ tiêu nghèo đói đa chiều MPI của Việt Nam
Giáo dục
Số năm học Người từ 15 tuổi trở lên không học hết tiểu học
Bỏ học Người từ 6 đến 18 tuổi không đi học
Y tế Chi phí y tế Phải bán tài sản, vay nợ để thanh toán dịch vụ y tế hay
phải ngưng chữa trị vì không đủ tiền
Mức
sống
Điện Không có điện để sử dụng làm nguồn thắp sáng
Nước sạch Không tiếp cận được nguồn nước sạch
Vệ sinh Rác thải không được thu dọn, bị ô nhiễm
Nhà vệ sinh Không có nhà vệ sinh hay nhà vệ sinh đổ chất thải trực
tiếp xuống sông rạchNhà ở Không có nhà ở cố định, ở trong nhà tạm mà nền nhà
trên bùn cát
Sở hữu tài
sản lâu bền
Không có ít nhất một trong ba loại tài sản sau đây:
- Phương tiện di chuyển: Xe đạp, xe máy, thuyền tự lái
- Phương tiện liên lạc: Điện thoại
- Thông tin: Television, radio
(Nguồn: Điều Tra mức sống con người 2010)
Trang 26Bảng 1.3 Tỷ lệ nghèo đói đa chiều và tiền tệ năm 2008 của Việt Nam theo 6 vùng
Vùng Nghèo đói
đa chiều (%)
Sát mức nghèođói
đa chiều(%)
Nghèo đóitiền tệ (%)
Trung du và Miền núi phía Bắc 39,50 23,50 29,20Đồng bằng Sông Hồng 3,60 13,60 6,80Bắc Trung Bộ và Duyên Hải 16,80 24,50 20,40
Đồng bằng Sông Cửu Long 49,70 24,70 14,60
( Nguồn: UNDP Báo cáo Quốc qia về Phát triển con người 2011)
Chú thích:
- Nghèo đói đa chiều: Không có hay thiếu hụt 3 chỉ tiêu (trong 9 chỉ tiêu)
- Sát với mức nghèo đa chiều: Không có hay thiếu 2 chỉ tiêu
Nghèo đói tiền tệ: Theo tiêu chuẩn 290.000 đ/tháng ở nông thôn và 330.000 đồng/tháng ở thành thị
Thống kê trên cho thấy Vùng Trung Du và Miền Núi ở vùng phía Bắc có chỉ
số nghèo tiền tệ cao nhất nước (29,20%) nhưng không phải là vùng nghèo nhất
Chỉ số nghèo đói đa chiều như trên biểu hiện những điều kiện sống tối thiểucủa con người Theo thống kê của chính phủ Việt Nam, tỷ lệ nghèo đói tính theotiền tệ năm 2008 trung bình trên toàn quốc là 14,60%, nhưng nếu tính theo tiêuchuẩn đa chiều tăng lên đến 23,30%
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo đói
a Nghề nghiệp, tình trạng việc làm
Nghề nghiệp và tình trạng việc làm của các thành viên trong hộ ảnh hưởng rấtlớn đến thu nhập của hộ gia đình Nếu chủ hộ có nghề nghiệp là nông nghiệp, thìkhả năng mang lại thu nhập không cao hơn các ngành nghề khác, bởi trong sảnxuất nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng như thời tiết, khí hậu, sau bệnh,…Nạn mấtmùa, thất thu có khả năng xảy ra thường xuyên nên thu nhập của hộ không ổn định
Trang 27Việc làm là điều kiện mang lại thu nhập cho hộ gia đình Do đó, nếu tình trạng việclàm của các thành viên không ổn định thì tình hình thu nhập của chủ hộ sẽ không ổnđịnh, nên hộ dễ rơi vào tình trạng nghèo.
b Trình độ học vấn
Trình độ học vấn nó đánh giá khả năng tiếp cận các tri thức sản xuất, kinhdoanh, thông tin thị trường,…Người có trình độ học vấn cao sẽ nhạy cảm với nhữngthay đổi của thị trường, từ đó giúp họ có những hoạch định tốt trong việc sản xuấtkinh doanh của mình để tạo ra thu nhập cho gia đình Trình độ học vấn của chủ hộthấp có khả năng làm cho hộ rơi vào tình trạng nghèo
c Giới tính
Giới tính của chủ hộ là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến tình trạng cải tạo thunhập của hộ gia đình Hộ gia đình có chủ hộ là Nữ thì độ nhạy trong sản xuất kinhdoanh kém hơn so với hộ có chủ hộ là Nam Do đó, khả năng đem lại thu nhập chogia đình đối với những chủ hộ là Nữ thường thấp hơn chủ hộ là Nam Nên khả năngnghèo của chủ hộ Nữ cao hơn chủ hộ là Nam
d Quy mô hộ gia đình
Quy mô hộ gia đình là nhân tố tác động đến khả năng nghèo đói của chủ hộ.
Hộ gia đình có quy mô càng lớn thì hộ có mức chi tiêu và thu nhập bình quân đầungười sẽ thấp và khả năng thanh toán chi phí cho các dịch vụ cơ bản sẽ bị hạn chếnên hộ có quy mô lớn sẽ có nhiều khả năng nghèo hơn hộ có quy mô nhỏ
e Số người sống phụ thuộc
Số người sống phụ thuộc trong hộ là hiệu số giữa quy mô hộ và số lao độngtrong hộ Số người sống phụ thuộc càng cao nghĩa là số lao động trong hộ càng ít(Trong khi quy mô hộ không đổi), thì khả năng mang lại thu nhập bình quân đầungười thấp vả lại chi phí nhiều hơn Do đó, có nhiều khả năng dẫn hộ đến nghèo đói
f Diện tích đất sản xuất nông nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệpđóng vai trò to lớn trong thu nhập cho hộ gia đình Hộ gia đình không có đất sảnxuất hoặc quy mô đất sản xuất ít thì khả năng tạo ra thu nhập thấp, nên hộ gia đình
Trang 28sẽ bị nghèo hơn hộ có quy mô đất sản xuất nhiều.
g Vốn sản xuất và khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức
Vốn là điều kiệntiên quyếtđể hộ gia đình đầu tư vào quá trình sản xuất để tạo
ra thu nhập Không có vốn thì không thể phát triển sản xuất, hoặc muốn phát triểnsản xuất kinh doanh, bắt buộc hộ phải sử dụng đến nguồn vốn vayphichính thức,lãivay cao dẫn đến các khoản chi nợ càng tăng nên hộ dễ rơi vào tình trạng nghèo
h Khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng tác động không nhỏ đến đời sống người dân Hộ gia đình nếukhông có điều kiện tiếp cận về cơ sở hạ tầng thì các chi phí sinh hoạt sẽ cao, thôngtin thị trường kém, việc sản xuất kinh doanh bị khó khăn về đầu ra, nên hạn chế vềthu nhập thì sẽ có nhiều khả năng dẫn đến hộ nghèo
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỂN
1.2.1 Kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo ở một số quốc gia
Một thực tế cho thấy rằng hầu hết những người nghèo đều tập trung ở khuvực nông thôn, bởi vì đây là khu vực hết sức khó khăn về mọi mặt như: điện, nướcsinh hoạt, đường, trạm y tế ở các nước đang phát triển với nền kinh tế sản xuất làchủ yếu thì sự thành công của chương trình xoá đói giảm nghèo phụ thuộc vàochính sách của Nhà nước đối với chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôncủa các quốc gia Thực tế cho thấy rằng các nước con rồng Châu Á như: Hàn Quốc,Singapo, Đài Loan; các nước ASEAN và Trung quốc đều rất chú ý đến phát triểnnông nghiệp và nông thôn Xem nó không những là nhiệm vụ xây dựng nền móngcho quá trình CNH - HĐH, mà còn là sự đảm bảo cho phát triển bền vững của nềnkinh tế quốc dân Tuy nhiên không phải nước nào cũng bắt đầu ngay từ đầu và trongsuốt quá trình vật lộn để trở thành các con rồng đều thực hiện sự phát triển cân đối,hợp lý ở từng giai đoạn, từng thời kỳ giữa công nghiệp với nông nghiệp
Sự can thiệp trực tiếp của Chính Phủ thông qua một loạt các chính sách kinh
tế vĩ mô như các chương trình phát triển nông thôn tổng hợp, các chương trình pháttriển vùng, miền Đặc biệt đối với các vùng khó khăn, nghèo khổ, người dân gặpphải khó khăn trong sản xuất, đời sống, các chương trình tín dụng đặc biệt hỗ trợ
Trang 29cho từng nhóm đối tượng, chủ các trang trại nhỏ, phụ nữ ở nông thôn, nông dânnghèo không có ruộng,… thực hiện công cuộc cải cách ruộng đất, tăng cường phúclợi xã hội, các chương trình hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ, khuyến học, trợ cấp lươngthực, thực phẩm cùng các khoản trợ cấp không hoàn lại như tình trạng thiên tai,bệnh tật hiểm nghèo, hỏa hoạn,…
Dưới đây là kết quả và bài học kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo từ TrungQuốc:
Ngay từ khi Đại Hội Đảng lần thứ XII của Đảng cộng sản Trung Quốc năm
1984, chính phủ Trung Quốc đã thực hiện cải cách trên nhiều lĩnh vực, nhưng cáichính là cải cách cơ cấu nông nghiệp nông thôn Mục đích của nó là làm thay đổicác quan hệ chính trị, kinh tế ở nông thôn, giảm nhẹ gánh nặng về tài chính đã đèquá nặng lên những người nghèo khổ ở nông thôn trong nhiều năm qua, phục hồingành sản xuất nông nghiệp
Năm 1985 Đặng Tiểu Bình đã nói: “Sự nghiệp của chúng ta sẽ không có ýnghĩa gì nhiều nếu không có sự ổn định ở nông thôn ” Sau khi áp dụng một loạtcác chính sách cải cách kinh tế ở khu vực nông thôn, Trung Quốc đã thu đượcnhững thành tựu đáng kể, đã tạo ra những thay đổi quan trọng trong thể chế chínhtrị, thay đổi về căn bản về cơ cấu kinh tế nông thôn, chuyển đổi phương thức quản
lý, thay đổi căn bản phương thức phân phối, phân phối theo lao động đóng vai tròchính, và Trung Quốc đã thực hiện thành công việc chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường có sự điều tiết cuả Nhà nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Trong những năm Trung Quốc thực hiện chuyển hướng sang nền kinh tế thịtrường thì sự phân hoá giàu nghèo đã tăng lên rõ rệt trong xã hội Do chính sách mởcửa nền kinh tế, các thành phố lớn thì tập trung các nhà máy sản xuất công nghiệp,tuy có phát triển một số nhà máy công nghiệp ở một số vùng nông thôn, song vùnggiàu có thì ngày càng giàu có, vùng nghèo đói thì vẫn nghèo đói nhất là vùng sâu,vùng xa Để khắc phục tình trạng nghèo khổ cho khu vực nông thôn chính phủTrung Quốc đã đưa ra một loạt các giải pháp cơ bản nhằm xóa đói giảm nghèo chonhân dân, trong đó có các giải pháp về tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông
Trang 30thôn, xây dựng các vùng định canh, định cư, khu dân cư mới, chính sách này đãđem lại những thành công đáng kể cho nền kinh tế - xã hội Trung Quốc trong nhữngnăm qua.
1.2.2 Bài học về xóa đói giảm nghèo cho thị xã Dĩ An
Đất nước Việt Nam chúng ta có rất nhiều điểm tương đồng với đất nướcTrung Quốc, chúng ta cần học tập và rút ra bài học kinh nghiệm từ đất nước TrungQuốc để phát triển kinh tế - xã hội và ngay cả trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.Đối với Thị xã Dĩ An, cần phải lấy bài học từ Trung Quốc vận dụng vào điều kiện
cụ thể của Dĩ An để hướng tới xóa đói giảm nghèo bền vững, những nội dung cầnphải được quan tâm nhất là:
- Tập trung phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn để đẩy nhanh tốc độ tăngtrưởng kinh tế của địa phương
- Hình thành các vùng kinh tế, các khu định canh, định cư và các khu dân cư mớinhằm ổn định đời sống sinh hoạt của người dân, an tâm phát triển kinh tế
- Phát triển công nghiệp tại các vùng nông thôn để thu hút lao động nông nhàn ởnông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp nông thôn
Trang 31Chương 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN Ở ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ AN VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN Ở ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ AN
2.1.1 Tổng quan về địa bàn thị xã Dĩ An
- Thị xã Dĩ An có tên gọi trước đây là huyện Dĩ An, Dĩ An là một thị xã củatỉnh Bình Dương, tiếp giáp với 2 thành phố là Biên Hòa và Thành phố Hồ ChíMinh đồng thời là cửa ngõ quan trọng để đi các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên vàcác tỉnh phía Bắc Việt Nam
Ngày 23 tháng 7 năm 1999, Dĩ An được tái lập theo Nghị định
58/1999/NĐ-CP của Chính phủ và được nâng lên cấp Thị xã theo Nghị quyết 04/NQ-58/1999/NĐ-CPcủa Chính phủ ngày 13 tháng 1 năm 2011[3]
- Thị xã Dĩ An là một thị xã thuộc vùng đồng bằng thuộc miền Đông Nam
Bộ của nước Việt Nam Thuộc địa phận tỉnh Bình Dương, có vị trí ở phía ĐôngNam của tỉnh Bình Dương Phía Đông giáp quận 9, thành phố Hồ Chí Minh, phíaTây giáp thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, phía Nam giáp quận Thủ Đức, thànhphố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và huyện TânUyên, tỉnh Bình Dương
Bảng 2.1 Danh sách các phường thuộc Thị Xã Dĩ An
Tên phường Diện tích (ha) Dân số (Người)
Trang 32- Thị xã Dĩ An có tổng diện tích tự nhiên là : 6010 ha, gồm nhiều loại đấtkhác nhau thích hợp cho các loại cây nhiệt đới, nhưng có độ màu mỡ không cao.
- Thị xã Dĩ An hiện đang có tổng số 07 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm
07 phường, gồm các phường: Dĩ An, An Bình, Tân Đông Hiệp, Đông Hòa, TânBình, Bình An, Bình Thắng
- Thị xã Dĩ An hiện đang có: 43403 hộ vào năm 2013 Năm 2010 có số hộ là 27960
hộ, với 297435 nhân khẩu Mật độ dân số bình quân năm 2010 là 4949 người/km2(Theo sốliệu tổng diện tích tự nhiên 6010 ha)
- Thị Xã Dĩ An có thành phần dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh Ngoài ra, còn
có một số dân tộc khác như Chăm, Khơ me nhưng số lượng rất ít
2.1.2 Các đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1 Vị trí địa lý
Thị xã Dĩ An nằm ở phía Nam của tỉnh Bình Dương, phía Đông giáp với quận
9 và phía Nam giáp quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp vớithành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai và huyện Tân Uyên, phía Tây giáp thị xã Thuận
An, tỉnh Bình Dương Có toạ độ là 10°54′58″ độ vĩ Bắc và 106°47′11″ độ kinhĐông, gần sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất và cụm cảng Sài Gòn nên có đủ các điềukiện để phát triển kinh tế - xã hội
2.1.2.2 Địa hình
Dĩ An là một vùng đất có địa hình bằng phẳng, có độ cao trung bình so vớimực nước biển là 82 m Địa hình biến đổi thấp dần từ Tây sang Đông Khu vực phíaTây (Tại phường An Bình và phường Dĩ An) có độ cao khoảng 35 – 40 m, khu vựcphía Đông tại các phường Tân Bình, Tân Đông Hiệp, Bình An, Bình Thắng có địahình khá thấp Trong địa bàn thị xã Dĩ An có núi Châu Thới, với độ cao 82 m và códiện tích khoảng 23 ha
Trên 80% tổng diện tích tự nhiên của thị xã Dĩ An có địa chất công trình tốt,cường độ chịu nén trên 2 kg/cm2, phân bố ở phường Dĩ An và các vùng lân cận Ởmột số khu vực khác, bên dưới tầng đất mặt là tầng đá dày và hiện đang khai tháclàm nguyên liệu đá xây dựng, được phân bố tại các vùng như phường Tân Đông
Trang 33Hiệp, Đông Hoà, Bình An Khu vực phía Đông giáp với sông Đồng Nai có kết cấuđịa chất yếu, ít thích hợp cho việc xây dựng các công trình cao tầng kiên cố.
Một số khu vực khác như Bình Thắng, Bình An, Tân Bình thường bị ngập dotriều cường (khoảng 1,50 m) Khu vực xã Bình Thắng đang sử dụng đất phi nôngnghiệp, nhưng còn ở mật độ thấp Khu vực xã Bình An vẫn còn một số đất nôngnghiệp ven rạch Sông Ngọc, phía trong là khu vực khai thác đá Khu vực Tân Bình,phía Đông đường Tân Thắng và đường ngã tư Bình Trị - dốc Ông Thập hiện đang làđất nông nghiệp Trong quy hoạch sử dụng đất, địa phương đã chú ý đến việc duytrì không gian mở để kiểm soát ngập nước ở những khu vực này
2.1.2.3 Khí hậu
Dĩ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo - gió mùa, phân thànhhai mùa rõ rệt trong năm: Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô bắtđầu từ tháng 12 đến tháng 4 của năm sau
Nhiệt độ trung bình trong năm là từ 25 – 27 0C, nhiệt độ tháng cao nhất là29,20 0C, nhiệt độ tháng thấp nhất là 24,40 0C Lượng chênh lệch nhiệt độ giữatháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 4,800C Tổng lượng bức xạ cao và ổn định từ
Độ ẩm không khí trung bình từ 80 – 84% và có sự biến đổi theo mùa khá rõrệt Độ ẩm trung bình vào mùa mưa là 90% và độ ẩm trung bình vào mùa khô là78%
Lượng mưa trung bình trong năm dao động trong khoảng từ 1734,20 đến2286,80 mm Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 và tháng mưa ít nhất là tháng 1 Cónăm tháng 1 và tháng 2 hầu như không có mưa
Trang 342.1.2.4 Thủy văn
Dĩ An có mật độ sông suối thấp và phân bổ không đồng đều, chủ yếu tậptrung ở phía Đông và Đông Nam của địa bàn thị xã Đáng kể nhất là sông Đồng Nai,chạy qua địa bàn thị xã Dĩ An với chiều dài gần 1 km Ngoài ra, còn có một số consuối chính như Suối Siệp, suối Bà Lô bắt nguồn từ khu phố Đông An – Phường TânĐông Hiệp chảy qua phía Bắc núi Châu Thới đến phường Bình An, phường BìnhThắng và còn có suối Nhum nằm phía Tây Nam thị xã Dĩ An, là ranh giới giữaphường Đông Hoà và quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh Đây là suối thoátnước chính của khu vực Đông Hoà và một phần phường Dĩ An Nói chung, trêntoàn địa bàn thĩ xã thì nước mặt và mạch nước ngầm rất ít
2.1.2.5 Các nguồn tài nguyên
a Tài nguyên đất
Địa bàn thị xã Dĩ An gồm có 5 nhóm đất, chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng vớitổng diện tích là 5268 ha, chiếm tỷ lệ 87,66 % trong tổng diện tích tự nhiên của toànthị xã Kế đến là nhóm đất phù sa với tổng diện tích là 535 ha, chiếm tỷ lệ 8,90%,nhóm đất xám với tổng diện tích là 91 ha, chiếm tỷ lệ 1,50 %, đất khác với tổngdiện tích là 74 ha, chiếm tỷ lệ 1,23% gồm đất sông, suối, và đất mặt nước chuyêndùng, sau cùng là nhóm đất xói mòn, trơ, sỏi đá với tổng diện tích là 42 ha, chiếm tỷ
lệ 0,70%
- Nhóm đất phù sa: Có diện tích 535 ha, chiếm 8,90% diện tích tự nhiên củathị xã Dĩ An và chiếm 3,87% diện tích đất phù sa của toàn tỉnh Đất phù sa phân bốtập trung ở các phường Tân Bình, Bình An, Bình Thắng Hầu hết đã được khai thác
sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp (Trồng lúa, cây hoa màu và cây ăntrái,…) Đất phù sa được chia thành hai loại : Đất phù sa không được bồi (P) và đấtphù sa loang lổ (Pf)
- Nhóm đất xám: Chỉ có đất xám gley, có diện tích 91 ha, chiếm 1,50% diệntích tự nhiên toàn thị xã và chiếm 0,08% so với diện tích đất xám trên toàn tỉnh Đấtxám phân bố tập trung ở các phường Bình An, Đông Hoà và phường Dĩ An Loạiđất này được hình thành trên bậc thềm phù sa cổ, đất xám có thành phần cơ giới
Trang 35nhẹ, nghèo dưỡng chất, ít thích hợp cho sản xuất nông nghiệp.
Bảng 2.2 Diện tích các loại đất trên địa bàn Thị Xã Dĩ An
Tên nhóm đất
Ký hiệu
Toàn tỉnh Thị xã Dĩ An
So với tỉnh (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
(Nguồn: Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông Nghiệp,2010 – Phòng Tài
Nguyên Môi Trường Thị Xã Dĩ An)
- Nhóm đất đỏ vàng: Chỉ có đất đỏ vàng trên phù sa cổ, có diện tích 5268 ha,chiếm 87,70% diện tích tự nhiên toàn thị xã và chiếm 4,24% so với diện tích đấtxám trên toàn tỉnh Đất đỏ vàng được hình thành trên mẫu chất phù sa cổ Loại đấtnày được phân bố trên hầu hết các phường trên địa bàn thị xã Đất đỏ vàng trên phù
Trang 36sa cổ này thích hợp với việc phát triển các loại cây lâu năm như cao su, hồ tiêu, cây
ăn quả,…
- Nhóm đất xói mòn: Chỉ có đất xói mòn trơ sỏi đá, có diện tích 42ha, chiếm1,23% diện tích tự nhiên toàn thị xã và chiếm 0,66% so với diện tích đất xám trêntoàn tỉnh và được phân bố chủ yếu ở phường Bình An, trên núi Châu Thới Đất bịbào mòn và rửa trôi hết chất dinh dưỡng, nên không thích hợp cho sản xuất nôngnghiệp
Tóm lại: Chất lượng đất đai ở thị xã Dĩ An rất thích hợp cho việc trồng cácloại cây lâu năm Đất đai hầu hết được hình thành trên nền phù sa cổ nên khá thuậnlợi cho việc xây dựng nền móng các công trình cơ sở hạ tầng
b Tài nguyên nước
Do không có sông, suối nhiều, nên địa bàn ít có nước mặt mà chỉ có chủ yếu
là mạch nước ngầm Chất lượng nước ngầm trên địa bàn Dĩ An khá tốt, hầu hết đềuđạt tiêu chuẩn TCVN 5944 – 1995, chỉ có chỉ tiêu độ pH hơi thấp do ảnh hưởng củađịa tầng trên khu vực này
- Nước mặt
Nguồn cung cấp nước mặt chính là sông Đồng Nai (Đoạn chảy qua thị xã Dĩ
An, gần 1km) và một số sông rạch như suối Bà Lô,….Tổng lưu lượng dòng chảycủa hệ thống này đảm bảo cung cấp đủ nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt.Trong thời gian gần đây, hệ thống kênh rạch đã bị nhiễm bẩn chất hữu cơ và vi sinh
do nguyên nhân chủ yếu là nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt
- Nước ngầm
Chất lượng nước ngầm dưới đất trên địa bàn thị xã Dĩ An nhìn chung khá tốt
Độ sâu chứa nước từ 30 - 39 m, bề dày tầng chứa nước từ 20 – 30 m, chất lượngnước tốt, không nhiễm mặn, có thể khai thác phục vụ cho sinh hoạt và sản xuấtcông nghiệp Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay mạch nước ngầm ở một số khuvực bị nhiễm bẩn chất hữu cơ và vi sinh, mực nước ngầm ở tầng chứa nước bị hạthấp do hoạt động khai thác quá mức và do trước đây các khu công nghiệp trên địabàn thị xã Dĩ An chưa có nguồn cấp nước từ nhà máy nước, nên tất cả các khu công
Trang 37nghiệp đều phải khai thác nước ngầm để phục vụ cho sản xuất công nghiệp.
c Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản trên địa bàn Thị xã Dĩ An chủ yếu là đất xây dựngvới chất lượng rất tốt, đã được khai thác sử dụng cho các công trình xây dựng trong
và ngoài địa phương từ khoảng vài chục năm đến nay Đến nay, có một số mỏ đá đãngừng khai thác và đã được chuyển mục đích sử dụng: Mỏ đá Đông Hoà đượcchuyển thành hồ nước – khu bảo tồn của Đại học quốc gia TP HCM; Mỏ đá Bình
An được cải tạo thành hồ nước phục vụ cho khu du lịch hồ Bình An Hiện nay, trênđịa bàn Thị Xã Dĩ An, có 5 công ty đang khai thác đá xây dựng (Giấy phép khaithác đến năm 2013), với tổng diện tích được cấp là 124 ha, trữ lượng khoảng 21,50triệu m3, tổng công suất khai thác là 3,56 triệu m3/năm Đến nay đã khai thác đến
40 – 50% trữ lượng, nếu không mở rộng thì khai thác đến khoảng 3 – 5 năm nữa thì
sẽ hết trữ lượng đá ở các mỏ
Bảng 2.3 Hiện trạng các mỏ đá trên địa bàn do các công ty khai thác
thác 1000m 3 /năm
Trữ lượng (Triệu m 3 )
Trang 382.1.3 Các đặc điểm kinh tế - xã hội
xã Dĩ An giai đoạn 2010 đến 2012 như sau:
Nhìn chung, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong những năm qua
đã đóng góp to lớn vào công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Thị xã Dĩ
An Theo phương hướng của Thị xã thì đến năm 2020, trên địa bàn sẽ không cònđất nông nghiệp, đất nông nghiệp sẽ bị thu hẹp để phát triển cho các nhu cầu khác
Biểu đồ 2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2012
Trang 39Bảng 2.4 Bảng phân kỳ quy họach sử dụng đất từ năm 2010 - 2012
2. Đất phi nông nghiệp PNN 4687,80 4747,28 4808,98
(Nguồn: Phòng Tài nguyên – Môi trường Thị xã Dĩ An)
Trang 402.1.3.2 Tình hình dân số và lao động
a Về dân số
Sự biến động dân số trên địa bàn thị xã từ năm 2010 đến 2012 được trình bàytrong Bảng 2.5; Qua 3 năm, tỷ lệ tăng dân số tương đối ổn định, chứng tỏ công tácdân số trên địa bàn thị xã được triển khai thực hiện có hiệu quả
Năm 2010, tổng dân số trên toàn thị xã là 311.218 người, trong đó nhân khẩungành nông nghiệp là 581 người, chiếm 18,70% dân số toàn thị xã, nhân khẩungành công nghiệp - xây dựng là 160.683 người, chiếm 51,63% dân số toàn thị xã,nhân khẩu ngành thương mại dịch vụ là 149.954 người, chiếm 48,18% dân số toànthị xã
Năm 2011, dân số toàn thị xã là 334.592 người, tăng lên so với năm 2010
là 23.374 người, tăng 7,50% so với 2010, trong đó nhân khẩu ngành nông nghiệp là
581 người, chiếm 17,30% dân số toàn thị xã, nhân khẩu ngành công nghiệp - xâydựng là 174.839 người, chiếm 52,20% dân số toàn thị xã, nhân khẩu ngành thươngmại dịch vụ là 159.172 người, chiếm 47,50% dân số toàn thị xã
Năm 2012, dân số toàn thị xã là 355.370 người, tăng so với năm 2011 là20.778 người, tăng 6,20%, trong đó nhân khẩu ngành nông nghiệp là 587 người,chiếm 16,50% dân số toàn thị xã, nhân khẩu ngành công nghiệp - xây dựng là186.256 người, chiếm 52,40% dân số toàn thị xã, nhân khẩu ngành thương mại dịch
vụ là 168.527 người, chiếm 47,40% dân số toàn thị xã
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ dân số của thị xã Dĩ An năm 2012