Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng ngàn năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng, nhưng về căn
Trang 1và đạt được nhiều thành công trong công việc
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Đức Bình
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
5 Kết cấu của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập của Hộ nông dân 4
1.1.1.Một số khái niệm về Hộ và nguồn lực của Hộ nông dân 4
1.1.2 Lý thuyến về thu nhập của Hộ nông dân 14
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ 18
1.2 Cơ sở thực tiễn về việcnâng cao thu nhập của Hộ nông dân 23
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân của các nước trên thế giới 23
1.2.2 Một số chủ trương, chính sách của Việt Nam nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân 29
1.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân của các địa phương ở Việt Nam 30
1.3 Các công trình nghiên cứu liên quan 35
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN QUẢNG XƯƠNGVÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đặc điểm cơ bản của huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 39
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 39
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội huyện Quảng Xương 43
2.2 Phương pháp nghiên cứu 52
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 52
2.2.2 Phương pháp tính thu nhập của Hộ nông dân 54
2.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả nghiên cứu sử dụng trong luận văn 59 2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu 59
Trang 32.2.5 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 60
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 61
3.1 Thực trạng về thu nhập của Hộ ở Việt Nam và của Hộ ở Quảng Xương 61 3.1.1 Thực trạng thu nhập của Hộ ở Việt Nam 61
3.1.2 Thực trạng về thu nhập của Hộ nông dân huyện Quảng Xương 63
3.2 Thực trạng thu nhập của Hộ khảo sát 65
3.2.1 Về tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của chủ hộ và phân loại hộ 65
3.2.2 Về nhân khẩu và lao động của Hộ 69
3.2.3 Về đất đai của hộ 69
3.2.4 Về nguồn vốn của hộ 71
3.2.5 Tổng nguồn thu của các hộ khảo sát 72
3.2.6 Tổng chi phí sản xuất của các hộ khảo sát 73
3.2.7 Thu nhập của hộ khảo sát trên địa bàn huyện Quảng Xương 75
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập cho Hộ 77
3.3.1 Ảnh hưởng của lao động 77
3.3.2 Ảnh hưởng bởi trình độ chuyên môn của chủ hộ 78
3.3.3 Ảnh hưởng bởi yếu tố đất đai 78
3.3.4 Ảnh hưởng bởi yếu tố vốn 79
3.3.5 Ý kiến của Hộ khảo sát về yếu tố ảnh hưởng tích cực, tiêu cực đến thu nhập của Hộ 81
3.3.6 Đánh giá chung về một số yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập của Hộ trên địa bàn huyện Quảng Xương 87
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương 88
3.4.1 Định hướng chung 88
3.4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của hộ trên địa bàn huyện Quảng Xương 90
3.4.3 Giải pháp cụ thể đối với từng ngành, từng nhóm hộ của huyện Quảng Xương 102
3.5 Khuyến nghị 1048 KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC CHỮ KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
No&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất đai huyện Quảng Xương phân
khu vực thành thị, nông thôn của cả nước 61 Bảng 3.2 Thu nhập bình quân đầu người một tháng khu vực
nông thôn phân theo nguồn thu nhập của cả nước 62 Bảng 3.3 Thu nhập bình quân đầu người một tháng của cả nước, Khu
vực, tỉnh Thanh Hóa và huyện Quảng Xương 64 Bảng 3.4 Thu nhập bình quân đầu người/tháng huyện Quảng Xương 65 Bảng 3.5
Một số chỉ tiêu như tuổi bình quân, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của chủ hộ, nhân khẩu và lao động của Hộ khảo sát
68
Bảng 3.6 Thực trạng về đất đai của Hộ khảo sát 70
Bảng 3.8 Tổng nguồn thu của các hộ khảo sát 72
Bảng 3.11
Thu nhập của hộ phân theo số lượng lao động, trình
độ chuyên môn, diện tích đất sản xuất, vốn sản xuất kinh doanh của Hộ khảo sát
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa 40
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Cơ cấu tổng thu của hộ phân theo nguồn thu 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Thực tiễn quá trình sản xuất nông nghiệp của nước ta trải qua hàng ngàn năm sản xuất theo kinh nghiệm, tuy có những bước tiến quan trọng, nhưng về căn bản vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật canh tác lạc hậu mang tính độc canh, tự cung, tự cấp là chính.Những năm gần đây, nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có sự phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ.Việc đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam thời gian qua đã mang lại nhiều thành công khích lệ đối với Việt Nam trong gần 30 năm qua Trong đó nổi bật là thành công về chuyển đổi tình trạng thiếu nông sản, thực phẩm sang dư thừa và tạo điều kiện để Việt Nam xuất khẩu gạo, sản phẩm cây công nghiệp, thủy sản ra thị trường thế giới, vừa thu được ngoại tệ cho đất nước, vừa tạo thêm thu nhập cho hộ nông dân và những người sản xuất nông nghiệp
Cùng với gia tăng khối lượng sản xuất và xuất khẩu nông sản, Ngành nông nghiệp Việt Nam đã đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng xuất khẩu ra thị trường nhiều nước phát triển và đang phát triển, tạo cục diện mới đối với nông nghiệp Nhưng vấn đề đang đặt ra là, sản xuất - xuất khẩu tăng mạnh nhưng đời sống người sản xuất nông nghiệp vẫn nghèo, nhất là nông dân sản xuất quy mô nhỏ, đất đai phân tán… Thực tế cho thấy, càng gia tăng sản xuất nông nghiệp thì họ càng trở nên nghèo khó Làm thế nào để giúp họ nâng cao thu nhập cùng với gia tăng sản xuất đang là vấn đề lớn, cấp thiết hiện nay
Huyện Quảng Xương là một trong số 27 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Thanh Hóa, những năm qua, sản xuất nông nghiệp của huyện Quảng Xương luôn phải chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực của thời tiết, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh Cùng với cả tỉnh, nông nghiệp huyện Quảng Xương đạt được kết quả hết sức quan trọng, đời sống nhân dân dần được cải thiện, tạo ra sự
Trang 8phát triển và ổn định trong sản xuất nông nghiệp, cũng như đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế của huyện, của tỉnh Thanh Hóa Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kéo theo là sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm hộ, ngay cả các hộ nông thôn với nhau cũng có khoảng cách thu nhập chênh lệch đáng kể, tạo ra sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gay gắt
Để đạt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, thì việc nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với các cấp, các ngành và của chính các hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu chủ đề "Giải pháp nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa" để làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học là việc hết sức quan trọng và cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập của hộ nông dân và các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập của hộ nông dân
Trang 93.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về thời gian
Thời gian nghiên cứu:
Số liệu và thông tin thứ cấp được thu thập qua 5 năm (2010 - 2014)
Số liệu, thông tin sơ cấp thu thập bằng bảng hỏi được thực hiện 1 lần vào năm 2015, để thu thập thông tin về hộ
3.2.2 Phạm vi về không gian
Địa bàn nghiên cứu: Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn thu nhập của hộ nông dân
- Thực trạng về thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Đặc điểm của địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận về thu nhập của Hộ nông dân
1.1.1 Một số khái niệm về Hộ và nguồn lực của Hộ nông dân
1.1.1.1 Khái niệm về Hộ nông dân
Nông hộ (Hộ nông dân) là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của họ Bàn về khái niệm này, Frank (1988) cho rằng: nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trang hệ thống kinh tế mở rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần thị trường, hoạt động với trình độ không hoàn chỉnh cao Theo Đào Thế Tuấn (2007), nông hộ là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Tương tự, Nguyễn Sinh Cúc (2000) cho rằng, hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc hơn 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, vv) và thông thường nguồn sống chính của hộ là dựa vào nông nghiệp [3] [16]
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu nông hộ là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu là nghề nông Ngoài nông nghiệp, nông hộ còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ) ở các mức độ khác nhau
- Đặc điểm của Hộ nông dân
Nông hộ, hay hộ nông dân theo như phân tích ở trên có những đặc điểm
cơ bản như sau:
Trang 11Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa
là một đơn vị tiêu dùng quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình
độ phát triển của hộ tự cấp tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường
Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau
Có sự thống nhất chặt chẽ giữa quyền sở hữu với quá trình quản lý và
sử dụng các yếu tố sản xuất, các thành viên của hộ nông dân có sự thống nhất chặt chẽ Bởi sở hữu trong nông hộ là sở hữu chung, mọi thành viên đều có thể sử dụng và tự quản lý các yếu tố sản xuất như vốn, đất đại để tạo ra của cải đóng góp vào quỹ chung của nông hộ
Lao động quản lý và lao động trực tiếp có sự gắn bó chặt chẽ với nhau
và được chi phối bởi quan hệ huyết thống Thông thường chủ hộ thường là người quản lý, điều hành và trực tiếp tham gia sản xuất với đặc điểm này, việc tổ chức sản xuất trong nông hộ diễn ra tương đối linh hoạt và thống nhất,
cơ cấu tổ chức rất đơn giản
Quy mô sản xuất nhỏ, hơn nữa các nguồn lực có thể được huy động hay thu hồi dễ dàng nên các nông hộ hoàn toàn có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh tốt Gặp điều kiện thuận lợi, nông hộ có thể phát huy tối đa nguồn lực cho sản xuất cả khi giảm khẩu phần ăn tất yếu của mình Trong hoàn cảnh bất lợi, sản xuất được thu hẹp, thậm chí có thể quay về với sản xuất đơn giản
Quan hệ huyết thống, họ tộc, văn hóa và đặc biệt là lợi ích kinh tế chung của các thành viên Tất cả nằm đan xen trong một trật tự tổ chức hết sức đa dạng va phức tạp, song chúng cùng tác đọng tạo nên sự đồng tâm, hiệp lực giữa các thành viên, họ cùng tự giác lao động để phát triển kinh tế và không cần đến thưởng phạt Điều này không thể có ở các đơn vị kinh tế khác
Kinh tế hộ được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường,
Trang 12chính vì thế trên thị trường đầu vào, hộ chỉ bán từng phần nguồn lực của mình như đất đai, sức lao động với thị trường đầu ra, nông hộ chỉ mua những gì
mà họ không có khả năng tự túc như quần áo, thuốc men hay các đồ dùng gia dụng khác
Hộ nông dân sử dụng sức lao động, nguồn vốn của mình là chủ yếu Chỉ khi nào quy mô sản xuất vượt quá nguồn lực sẵn có, các hoạt động mua bán hay đi thuê mới diễn ra
- Phân loại Hộ nông dân
Dựa trên các đặc diểm về sản xuất và tư liệu sản xuất của các hộ nông dân trong giai đoạn hiện nay có thể chia hộ nông dân thành 3 nhóm sau:
- Nhóm thứ nhất: Là các hộ có vốn, có kỹ tuật, kỹ năng lao động, biết tiếp cận với môi trường kinh doanh, có khả năng thích ứng, hòa nhập với thị trường như vậy các hộ này tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả, biến tổ chức quá trình lao động sản xuất cho phù hợp với thời vụ để sản phẩm tạo ra
có thể tiêu thụ trên thị trường
Chính vì vậy mà các hộ này luôn có nhu cầu mở rộng và phát triển sản xuất tức là có nhu cầu đầu tư thêm vốn Việc vay vốn đối với những hộ sản xuất này hoàn toàn chính đáng và rất cần thiết trong quá trình mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh Đây chính là các khách hàng mà tín dụng ngân hàng cần phải quan tâm và coi là đối tượng chủ yếu quan trọng cần tập trung đồng vốn đầu tư vào đây sẽ sử dụng đúng mục đích, sẽ có khả năng sinh lời, hơn thế nữa lại có thể hạn chế tối đa tình trạng nợ quá hạn Đây cũng là một trong những mục đích mà ngân hàng cần thay đổi thông qua công cụ lãi suất tín dụng, thuế Nhà nước và Ngân hàng có khả năng kiểm soát và điều tiết hoạt động của các hộ sản xuất bằng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa ở tầm vĩ mô
- Nhóm thứ hai là: Các hộ có sức lao động làm việc cần mẫn nhưng
Trang 13trong tay họ không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất, tiền vốn hoặc chưa có môi trường kinh doanh Loại hộ này chiếm số đông trong xã hội do đó việc tăng cường đầu tư tín dụng để các hộ này mua sắm tư liệu sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng để phát huy mọi năng lực sản xuất nông thôn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng tự lao động sản xuất nông nghiệp Việc cho vay vốn không những giúp cho các hộ này có khả năng lực lao động sản xuất tạo sản phẩm tiêu dùng của chính mình mà còn góp phần giúp các hộ này có khả năng tự chủ sản xuất Mặt khác, bằng các hoạt động đầu tư tín dụng ngân hàng có thể giúp các hộ sản xuất này làm quen với nên sản xuất hàng hoá, với chế độ hạch toán kinh tế để các hộ thích nghi với cơ chế thị trường, từng bước đi tự sản xuất hàng hóa, tự tiêu dùng (tự cung tự cấp) đến sản xuất sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường
- Nhóm thứ 3 là: Các hộ không có sức lao động, không tích cực lao động, không biết tính toán làm ăn gặp rủi ro trong sản xuất kinh doanh, gặp tai nạn ốm đau và những hộ gia đình chính sách, đang còn tồn tại trong xã hội Thêm vào đó quá trình phát triển của nền sản xuất hàng hóa cùng với sự phá sản của các nhà sản xuất kinh doanh kém cỏi đã góp thêm vào đội ngũ dư thừa
Phương án giải quyết các hộ này là nhờ vào sự cứu trợ nhân đạo hoặc quỹ trợ cấp thất nghiệp, trách nhiệm và lương tâm cộng đồng, không chỉ giới hạn về vật chất sinh hoạt mà còn giúp họ về phương tiện kỹ thuật đào tạo tay nghề vươn lên làm chủ cuộc sống, khuyến khích người có sức lao động phải sống bằng kết quả lao động của chính bản thân mình
Về bản chất người nông dân, họ rất yêu quê hương đồng ruộng, Sinh hoạt của họ gắn liền với cây trồng, mảnh ruộng, họ không muốn rời quê hương nếu không vì sự nghiệp phát triển kinh tế nước nhà, hay vì hoàn cảnh khó khăn bắt buộc Chính sách ổn định về cư trú của người nông dân với
Trang 14đồng ruộng là một trong những điều kiện hết sức quan trọng tạo thuận lợi cả
về mặt quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ tín dụng với ngân hàng
- Vai trò của Hộ nông dân trong điều kiện hiện nay
Trong nền kinh tế quốc dân, sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế, các phương thức sản xuất là hoàn toàn khách quan Nông hộ là một
bộ phận cấu thành của nền kinh tế Từ trước đến nay kinh tế hộ dù phát triển dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều là nhân tố quan trọng giúp cho nền kinh
tế quốc dân phát triển Kinh tế nông hộ có sắc thái riêng về kinh tế nhân văn
và xã hội
Ở Việt Nam, giá trị sản phẩm nông nghiệp còn chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế Mặt khác, đối với nông nghiệp sản xuất hàng hóa chưa cao nên kinh tế nông hộ càng có vai tṛ hết sức to lớn, nó thúc đẩy nông nghiệp và nông thôn phát triển Theo ước tính thì kinh tế hộ nông dân đã cung cấp cho
xã hội khoảng 90% sản lượng thịt và cá, 90% sản lượng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả Đẩy mạnh xuất khẩu và góp phần sử dụng tốt hơn tài nguyên đất, lao động, vốn, rừng, biển, nâng cao thu nhập cho người nông dân Từng bước phát triển các ngành nghề dịch vụ ở nông thôn theo tinh thần mà Đảng và Nhà nước ta đang hướng tới CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn
Trong cơ chế phát triển của nền kinh tế chúng ta đang chủ trương xoá
bỏ thế độc canh để đa canh cây trồng vật nuôi và phát triển ngành nghề, dịch
vụ ở nông thôn theo điều kiện của từng vùng, từng bước xóa bỏ cơ chế sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo hình thức trang trại giai trại
để tăng khả năng đầu tư cũng như các tiềm lực khác, góp phần nâng cao năng suất chất lượng cây trồng, vật nuôi, phát triển các ngành nghề dịch vụ, nâng cao thu nhập cho người nông dân, từng bước “thành thị hóa” trong lòng nông thôn để phát triển một nền nông nghiệp mạnh và bền vững Một số vai trò của
hộ nông dân đối với sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước
Trang 15được thể hiện như sau:
- Hộ nông dân với vấn đề việc làm và sử dụng tài nguyên ở nông thôn Việc làm hiện nay là một vấn đề cấp bách với nông thôn nói riêng và với cả nước nói chung Đặc biệt nước ta có tới 66,89% dân sống ở nông thôn
và 46,27% lao động đang làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và thủy sản (Niên giám Thống kê 2014) Nếu chỉ trông chờ vào khu vực kinh tế quốc doanh, Nhà nước hoặc sự thu hút lao động ở các thành phố lớn thì khả năng giải quyết việc làm ở nước ta còn rất hạn chế
Lao động là một nguồn lực rất dồi dào nhất ở nước ta, là yếu tố năng động và là động lực của nền kinh tế quốc dân nhưng việc khai thác và sử dụng nguồn nhân lực vẫn đang ở mức thấp
Hiện nay ở nước ta còn khoảng 1,11 triệu lao động thất nghiệp và thiếu việc làm, chiếm khoảng 2,1% lao động và chỉ có 60% quỹ thời gian của người lao động ở nông thôn là được sử dụng (Niên giám Thống kê 2014) Còn các yếu tố sản xuất chỉ mang lại hiệu quả tháp do có sự mất cân đối giữa lao động, đất đai và việc làm ở nông thôn.[13]
Kinh tế hộ có ưu thế là mức đầu tư cho một lao động thấp, đặc biệt là trong nông nghiệp Chi phí cho một lao động ở nông thôn ít tốn kém nhất Đây là điều kiện thuận lợi khi nền kinh tế nước ta còn nghèo, ít vốn tích luỹ Mặt khác, là kinh tế độc lập trong sản xuất kinh doanh hộ sản xuất đồng thời vừa là lao động chính, vừa là lao động phụ thực hiện những công việc không nặng nhọc nhưng tất yếu phải làm
Xen canh gối vụ là rất quan trọng đối với hộ sản xuất trong sản xuất nông nghiệp để có khả năng cao, khai thác được mọi tiềm năng của đất đai Ở các nước tiên tiến, thâm canh là quá trình cải tiến lao động sống, chuyển dịch lao động vào các ngành nghề hiện đại hóa nông nghiệp Còn ở Việt Nam do trang bị kỹ thuật cho lao động cho nên thâm canh là quá trình thu hút thêm lao động sống, tạo thêm công ăn việc làm từ những khâu hầu như còn làm thủ công: cày bừa, phòng trừ sâu bệnh, làm cỏ
Do việc gắn trực tiếp lợi ích cá nhân với quyền sử dụng, quản lý, lâu
Trang 16dài đất đai, tài nguyên nên việc sử dụng của hộ sản xuất hết sức tiết kiệm và khoa học, không làm giảm độ mầu mỡ của đất đai, hay cạn kiệt nguồn tài nguyên vì họ hiểu đó chính là lợi ích lâu dài của họ trên mảnh đất mà họ sở hữu Mặt khác, đối với hộ sản xuất, việc khai hoang phục hóa cũng được khuyến khích tăng cường thông qua việc tính toán chi li từng loại cây trồng vật nuôi để từng bước thay đổi bộ mặt kinh tế ở nông thôn, nâng cao đời sống nông dân
Tóm lại, khi hộ sản xuất được tự chủ về sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình Đất đai, tài nguyên và các công cụ lao động cũng được giao khoán Chính họ sẽ dùng mọi cách thức, biện pháp sử dụng chúng sao cho có hiệu quả nhất, bảo quản để sử dụng lâu dài Họ cũng biết tự đặt ra định mức tiêu hao vật tư kỹ thuật, khai thác mọi tiềm năng kỹ thuật vừa tạo ra công ăn việc làm, vừa cung cấp được sản phẩm cho tiêu dùng của chính mình và cho toàn xã hội
- Hộ nông dân có khả năng thích ứng được thị trường thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển
Kinh tế thị trường là tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hóa Là đơn
vị kinh tế độc lập, các hộ sản xuất hoàn toàn được làm chủ các tư liệu sản xuất và quá trình sản xuất Căn cứ điều kiện của mình và nhu cầu của thị trường họ có thể tính toán sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? Hộ sản xuất
tự bản thân mình có thể giải quyết được các mục tiêu có hiệu quả kinh tế cao nhất mà không phải qua nhiều cấp trung gian chờ quyết định Với quy mô nhỏ
hộ sản xuất có thể dễ dàng loại bỏ những dự án sản xuất, những sản phẩm không còn khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường để sản xuất loại sản phẩm thị trường cần mà không sợ ảnh hưởng đến kế hoạch chi tiêu do cấp trên quy định Mặt khác, là chủ thể kinh tế tự do tham gia trên thị trường, hòa nhập với thị trường, thích ứng với quy luật trên thị trường, do đó hộ sản xuất đã
Trang 17từng bước tự cải tiến, thay đổi cho phù hợp với cơ chế thị trường Để theo đuổi mục đích lợi nhuận, các hộ sản xuất phải làm quen và dần dần thực hiện chế độ hạch toán kinh tế để hoạt động sản xuất có hiệu quả, đưa hộ sản xuất đến một hình thức phát triển cao hơn
Như vậy, hộ nông dân có khả năng ngày càng thích ứng với nhu cầu của thị trường, từ đó có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của toàn xã hội Sản xuất nông nghiệp là lực lượng thúc đẩy mạnh sản xuát hàng hóa ở nước ta phát triển cao hơn
- Đóng góp của nông hộ đối với xã hội
Như trên đã nói, nông hộ đã đứng ở cương vị là người tự chủ trong sản xuất kinh doanh ở các lĩnh vực khác nhau và góp phần quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế
Tốc độ tăng về tổng sản lượng các sản phẩm nông nghiệp trong những năm qua luôn được duy trì và ổn định, tạo ra thặng dư cho xã hội, đảm bảo an ninh lương thực và có thể xuất khẩu thu về một lượng dự trữ ngoại tệ rất lớn cho nền kinh tế nước nhà Từ chỗ nước ta chưa tự túc được lương thực thì đến nay đã là một trong những nước xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, một
số mặt hàng nông sản là thế mạnh của nền nông nghiệp nước ta trong xuất khẩu như: thủy sản, cafe, ca cao, hạt điều, công lao đó cũng thuộc về người nông dân sản xuất nông nghiệp
Bên cạnh sản xuất lương thực, sản xuất nông sản hàng hóa khác cũng
có bước phát triển, đã hình thành một số vùng chuyên canh có năng suất cao như: chè, cà phê, cao su, dâu tằm, khu chăn nuôi tập trung
Tóm lại, với gần 70% dân số nước ta sống ở nông thôn thì kinh tế hộ sản xuất có vai trò hết sức quan trọng, nhất là khi quyền quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên lâu dài được giao cho hộ sản xuất thì vai trò sử dụng nguồn lao động, tận dụng tiềm năng đất đai, tài nguyên, khả năng thích ứng với thị trường ngày càng thể hiện rõ nét Người lao động có toàn quyền tổ
Trang 18chức sản xuất kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm, trực tiếp hưởng kết quả lao động sản xuất của mình, có trách nhiệm hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Ở một khía cạnh khác, kinh tế hộ sản xuất còn đóng vai trò đảm bảo an ninh trật tự, ổn định chính trị xã hội, giảm bớt các tệ nạn trong xã hội do hành
vi “nhàn cư vi bất thiện” gây ra
1.1.1.2 Các nguồn lực của Hộ
Khái niệm về nguồn lực: theo nghĩa hẹp, nguồn lực thường được hiểu
là các nguồn lực vật chất cho phát triển (tài nguyên thiên nhiên, tài sản vốn bằng tiền ) Theo nghĩa rộng, nguồn lực bao gồm tất cả những lợi thế, tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho một mục tiêu phát triển nào đó Tùy thuộc vào phạm vi phân tích, khái niệm nguồn lực được sử dụng rộng rãi
ở cấp độ khác nhau như quốc gia, vùng lãnh thổ, ngành, doanh nghiệp, hộ gia đình hay từng chủ thể là cá thể tham gia vào quá trình phát triển
Đề cập tới nguồng lực quốc gia, Trần Văn Chứ (2007) cho rằng: nguồn lực tổng thể là tổng thể vị trí địa lí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính sách, vốn và thị trường ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định Nói một cách ngắn gọn, nguồn lực là toàn bộ những yếu tố trong và ngoài nước đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình thúc đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia.[2]
- Về nguồn nhân lực (lao động)
Con người là yếu tố đầu tiên cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Con người là trung tâm, là nguồn vốn vô tận để tạo ra của cải vạt chất, chính con người quyến định nên hình thức lao động Yếu tố lao động được phân chia thành nhiều yếu tố khác nhau như lao động trong độ tuổi, người độ tuổi; lao động nam, nữ; lao động có trình độ học vấn cao hay thấp, số năm kinh
Trang 19nghiệp nhiều hay ít
Độ tuổi của người lao động ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng lao động cũng như hình thức lao động Đặc biệt là lao động ở nông thôn thì cần nguồn lao động trẻ, có sức khỏe tốt bởi vì hầu hết những cong việc ở nông thôn thường là những công việc nặng nhọc chủ hộ là trụ cột trong gia đình, quyết định mọi công việc trong gia đình vì thế độ tuổi của chủ hộ sẽ có ảnh hưởngđến việc lựa chọn sinh kế của hộ
Trình độ học vấn là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực Một nguồn nhân lực được xem là có chất lượng cao khi trình
độ chuyên môn nghiệp vụ cao, kỹ năng lao động thành thạo Trong đó, trình
độ học vấn của của người lao động là yếu tốt rất đáng quan tâm, nó giúp cho người lao động năm bắt được những kiến thức mới, nó còn là một công cụ giúp người lao động tiếp cận được những tri thức mới nâng cao khả năng tư duy sáng tạo của người lao động
- Về nguồn lực tài chính (vốn, tài sản)
Vốn, hay nguồn lực tài chính là yếu tố tiền đề để khởi tạo mọi giá trị khác số lượng vốn quyết định tới quy mô, phương hướng sản xuất của nông
hộ Nguồn lực tài chính được thể hiện ở chỗ khả năngg huy động vốn của hộ, bao gồm tiền dành dụm, tiền vay từ các tổ chức tín dụng, hay vay bạn bè, người thân Thực tế cho thấy, việc thiếu vốn để snả xuất kinh doanh dẫn đến kinh tế hộ chậm được cải thiện vì khó có khả năng tiếp cận, đầu tư áp dụng máy móc thiết bị và những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm chậm tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Trang 20màu, đất trồng cây ăn trái, đất nuôi trồng thủy sản, đất sản xuất kinh doanh dịch vụ, tiểu thủ công
- Về nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tự nhiên chính là các đặc điểm về địa lý, địa hình, thời tiết và khí hậu nơi
hộ nông dân sinh sống và thực hiện các hoạt động sản xuất của mình
- Về nguồn lực xã hội
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Các ngành nghề truyền thống, phương thức canh tác, tổ chức hiệp hội, đoàn thể trên địa bàn, sự hỗ trợ về kỹ thuật và vốn của một số tổ chức chính trị, xã hội, trạm khuyến nông Ngoài
ra nguồn lực xã hội còn được hiểu là thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra cho nông hộ, sự tiếp cận của nông hộ đối với các thị trường này
1.1.2 Lý thuyến về thu nhập của Hộ nông dân
1.1.2.1 Khái niệm về thu nhập của Hộ nông dân
Khi nghiên cứu về hộ nông dân, nhiều nhà khoa học và nghiên cứu kinh
tế ở Việt Nam đã sử dụng chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp để đánh giá thu nhập của nông hộ Thu nhập hỗn hợp của nông hộ là phần thu được sau khi lấy tổng thu (tức là toàn bộ giá trị sản phẩm từ các hoạt động sản xuất trong nông hộ) trừ
đi chi phí vật chất, trừ đi tiền công thuê ngoài và trừ chi phí khác (bao gồm thuế, khấu hao tài sản cố định, ) (Khôi, 2007) Như vậy, trong phần thu nhập của hộ sẽ bao hàm tiền công lao động của chủ hộ và các thành viên cùng với tiền lãi.[8]
Theo Võ Thành Nhân (2011), thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định (thường là một năm), bao gồm: (1) thu tiền công, tiền lương; (2) thu từ sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản (đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (3) thu từ sản xuất ngành nghề phi nông lâm nghiệp,
Trang 21thuỷ sản (đã trừ đi chi phí sản xuất và thuế sản xuất); (4) thu khác được tính vào thu nhập.[10]
Theo khái niệm về điều tra mức sống hộ (TCTK): Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật sau khi trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong 12 tháng qua.[15]
Thu nhập của hộ bao gồm:
- Thu từ tiền công, tiền lương;
- Thu từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất);
- Thu từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất);
- Thu khác được tính vào thu nhập như thu từ cho, biếu, mừng, lãi tiết kiệm …
Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh …
Thu nhập:
Dựa trên các khái niệm trên, thu nhập của nông hộ được hiểu là toàn bộ
số tiền và giá trị hiện vật mà nông hộ nhận được trong thời gian một năm Nó
là phần thu còn lại của tổng thu sau khi trừ đi chi phí sản xuất kinh doanh để
có được khoản thu đó Thu nhập của nông hộ sẽ phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện, có thể bao gồm 3 loại: Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác
- Thu nhập từ tiền công, tiền lươnglà từ tiền công, tiền lương và các khoản khác mang tính chất như tiền công, tiền lương trong 12 tháng qua của thành viên hộ
Trang 22- Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp: Bao gồm thu nhập từ các hoạt động sản xuất trong nông nghiệp (gồm cả nghề rừng và nghề cá theo nghĩa rộng) như: trồng trọt (lúa, màu, rau, quả, v.v ); chăn nuôi (gia cầm, gia súc), nuôi trồng thủy sản (tôm, cua, cá, v.v )
- Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ các hoạt động ngành nghề công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, bao gồm các ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, Ngoài ra, thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp còn được tạo ra từ các hoạt động thương mại, dịch vụ như buôn bán, thu gom,
- Thu nhập khác: Đó là nguồn thu từ người ngoài cho biếu mừng giúp, học bổng, thưởng trong giáo dục, thu y tế và các khoản thu khác
1.1.2.2 Đặc điểm thu nhập của nông hộ
Thu nhập của nông hộ có những đặc điểm sau:
- Thu nhập của hộ nông dân thấp và tăng chậm so với thu nhập của dân
cư thành thị Hộ nông dân chủ yếu sống ở nông thôn nơi có điều kiện khó khăn về cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí thấp, dân số tăng nhanh và thiếu việc làm, Ngành sản xuất chính của hộ nông dân là trồng trọt và chăn nuôi, những ngành này thường gặp nhiều rủi ro, việc đầu tư của hộ bị hạn chế nên thu nhập của hộ nông dân thấp
- Nguồn thu nhập của hộ nông dân phong phú và đa dạng Hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ nông dân bao gồm các hoạt động sản xuất nông nghiệp và sản xuất phi nông nghiệp Trong đó, sản xuất nông nghiệp lại bao gồm nhiều ngành sản xuất khác nhau như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, dịch vụ nông nghiệp Hoạt động phi nông nghiệp bao gồm các ngành nghề như tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp, kinh doanh thương mại và dịch vụ Ngoài ra, hộ nông dân còn tham gia vào nhiều hoạt động khác để tăng thu nhập như: làm thuê, xuất khẩu lao động, một số hộ còn được hưởng
Trang 23lương hưu, trợ cấp, phụ cấp của Nhà nước Toàn bộ các nguồn thu trên đều được tính vào thu nhập của hộ nông dân
- Nguồn thu nhập của hộ nông dân chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp Hoạt động sản xuất nông nghiệp tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho người dân nông thôn và thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu thu nhập của hầu hết các hộ Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp trong thời gian qua có mức tăng trưởng nhanh hơn các nguồn thu nhập khác trong nông thôn và thực sự đóng góp vào việc nâng cao thu nhập cho người dân
- Thu nhập của hộ nông dân không đồng đều Đó là chênh lệch về thu nhập giữa các hộ nông dân với nhau Do nông thôn là vùng rộng lớn, điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế rất đa dạng và có sự khác biệt nhau Sự khác biệt về trình độ dân trí, trình độ nhận thức, phong tục tập quán và các yếu tố kinh tế - xã hội khác nhau, làm cho kết quả của sự khai thác các nguồn lực khác nhau, dẫn ðến thu nhập của các hộ nông dân cũng có sự khác nhau giữa các vùng, miền và giữa các hộ với nhau
- Thu nhập của hộ nông dân không ổn ðịnh Nguồn thu nhập chủ yếu của các hộ nông dân là kết quả của hoạt ðộng sản xuất nông nghiệp, nhýng sản xuất nông nghiệp phụ thuộc khá lớn vào ðiều kiện tự nhiên, mà ðiều kiện
tự nhiên thì thường xuyên thay đổi khó có thể kiểm soát được Sản xuất nông nghiệp nếu gặp thời tiết thuận lợi sẽ cho năng suất cao và ngược lại Hơn nữa, sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ gây nên sự mất ổn định về giá cả của sản phẩm, hàng hóa dẫn đến thu nhập của hộ cũng thay đổi
- Thu nhập của hộ nông dân chưa loại trừ hết chi phí Với các hình thức doanh nghiệp khác, thu nhập là khoản thu sau khi đã trừ hết tất cả những chi phí (gọi là lợi nhuận) Đối với hộ nông dân, thu nhập không chỉ là lợi nhuận kinh doanh mà còn bao gồm cả chi phí lao động gia đình, bởi hộ nông dân
Trang 24chủ yếu là sử dụng lao động gia đình nên việc sử dụng lao động của hộ hết sức linh hoạt Trong cùng một thời gian, một người có thể làm nhiều việc khác nhau, tạo ra các khoản thu nhập khác nhau nên khó có thể hạch toán được chi phí lao động vào tổng chi phí Chính vì vậy, thu nhập của hộ được tính bao gồm cả chi phí lao động gia đình
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đếnthu nhập của hộ
Như đã phân tích ở trên, hộ nông dân vừa là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ từ hoàn toàn tự cấp đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường Chính vì vậy khi xem xét đến vấn đề thu nhập cần phải xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng khác nhau cũng như những ứng xử của hộ nông dân trong việc lựa chọn các quyết định nhằm cải thiện mức thu nhập của mình
Trong sản xuất, do sự hạn chế về đất đai là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của hộ nông dân Trong điều kiện đất canh tác gia đình quá nhỏ hẹp như hiện nay làm cho kinh tế hộ gia đình chỉ thích ứng với các kiểu tổ chức lao động gia đình và với các điều kiện sản xuất thủ công Chính điều này đã làm cản trở rất nhiều trong việc cải thiện thu nhập của hộ nông dân Trong tiêu dùng, đặc trưng phổ biến nhất của người nông dân đã được các nhà kinh tế xác định là cuộc sống của họ cơ bản do tự cung tự cấp Điều này có nghĩa là sản phẩm nông nghiệp mà họ sản xduất ra được trực tiếp tiêu dùng cho gia đình chứ không phải để đem bán trên thị trường, và người nông dân thường được gọi là người nông dân tự cung tự cấp Chính sự tự cung tự cấp này là một nguyên nhân làm cho người nông dân ít gắn bó với thị trường
Do vậy, khi phân tích thu nhập của hộ nông dân cũng cần phải đề cập đến các khoản tiêu dùng của họ Ngoài ra, các khoản thuế và các đóng góp xã hội
Trang 25khác cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng khi đề cập đến kinh tế hộ nông dân
1.1.3.1 Các yếu tố nội lực ảnh hưởng đến thu nhập
Giả định các yếu tố nội lực có ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ bao gồm: tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số lao động trong hộ, diện tích sản xuất của hộ (diện tích đất ruộng của hộ, quy mô đàn vật nuôi, diện tích nuôi trồng thủy sản), số nguồn thu nhập (số nguồn thu nhập từ nông nghiệp, số nguồn thu nhập từ phi nông nghiệp, số nguồn thu nhập khác), vốn (vốn của chủ hộ, vốn vay) Các yếu tố nguồn lực ảnh hưởng tới thu nhập của nông hộ như sau:
- Ảnh hưởng của lao động và nhân khẩu đến thu nhập
Quy mô lao động thể hiện ở số lượng lao động vào một công việc cụ thể Nếu đầu tư vào sức lao động cao hơn sẽ cho sản lượng cao hơn và thu nhập cao hơn và ngược lại Khi đánh giá vấn đề nhân khẩu, chúng ta phải đánh giá tỷ số số lượng lao động và số lượng nhân khẩu Khi tỷ số giữa lao động trên nhân khẩu thấp nghĩa là tỷ lệ phụ thuộc cao, điều này gây bất lợi cho hộ, nó làm cho những hộ nghèo sẽ nghèo thêm
Chất lượng lao động thể hiện ở trình độ học vấn, kỹ năng lao động, khả năng tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất Trong đó, kiến thức chuyên môn có được thông qua quá trình đào tạo ở trường, ở các lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn Thông qua đó, người lao động hiểu biết được đặc điểm quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi từ
đó lựa chọn phương án sản xuất tối ưu, đồng thời tiếp thu nhanh tiến bộ kỹ thuật, hiểu biết thị trường, nắm được các chính sách kinh tế của Nhà nước Như vậy, để tiếp thu và đưa kỹ thuật hiện đại vào sản xuất thì kiến thức chuyên môn cho người lao động là rất cần thiết Đặc biệt, đối với chủ hộ vì họ
là người cuối cùng đưa ra quyết định lựa chọn phương án sản xuất, những quyết định của chủ hộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của hộ trong sản xuất kinh doanh
Kinh nghiệm sản xuất là những gì mà người lao động tích lũy được
Trang 26trong cuộc sống Vì sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, nó tuân theo quy luật của tự nhiên dù chúng ta có kiến thức chuyên môn cao vẫn
có thể bị thất bại nếu không có kinh nghiệm Vì vậy, kinh nghiệm sản xuất ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân
- Ảnh hưởng của trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khoa học kỹ thuật Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt Người lao động phải có trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cải tiến kỹ thuật làm tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa và giảm được chi phí, cảo tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy
mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và tăng thu nhập cho hộ nông dân
Về cơ bản, nguồn lực khoa học kỹ thuật có thể được đánh giá dựa trên
số lần tham dự các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật của người dân,
số kỹ thuật thâm canh, giống cây trồng mới mà người dân đã mạnh dạn áp dụng trong một năm
- Ảnh hưởng của quy mô, chất lượng đất đai đến thu nhập
Quy mô diện tích là nhân tố quan trọng để xác định mức thu nhập từ sản xuất mà hộ khai thác được Nếu hộ nào có điều kiện sản xuất trên quy mô rộng thì việc tăng quy mô diện tích sẽ phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, trang trại Ngược lại nếu hộ nào không có đủ điều kiện, không
có khả năng sản xuất kinh doanh thì quy mô diện tích rộng sẽ không những không làm tăng thu nhập mà còn làm tăng chi phí, lãng phí đất đai, lãng phí sức lao động
Chất lượng đất đai thể hiện ở độ phì, độ màu mỡ của đất Độ phì, độ mầu mỡ của đất là chất dinh dưỡng cho cây trồng tồn tại và phát triển Chất lượng của đất còn quy định lợi thế của từng vùng, tạo ra sự đa dạng của sản phẩm Chất lượng đất không những làm tăng khối lượng của sản phẩm mà
Trang 27còn làm giảm được chi phí sản xuất Thực tế cho thấy, ở cùng một diện tích giống nhau, muốn tạo ra cùng một lượng sản phẩm nơi nào đất đai mầu mỡ sẽ
bỏ ra chi phí ít hơn, vì vậy thu nhập cũng lớn hơn
- Ảnh hưởng của quy mô vốn, tài sản đến thu nhập
Vốn, tài sản là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được để tiến hành
tổ chức sản xuất, kinh doanh nó bao gồm tiền mặt, nguyên liệu và công cụ sản xuất Có vốn có thể mở rộng quy mô sản xuất chuyển dần sang sản xuất hàng hóa, có vốn thì có thể mua sắm trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất làm giảm chi phí, tăng năng suất góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
1.1.3.2 Các yếu tố bên ngoài Hộ ảnh hưởng đến thu nhập
Trên thực tế, thu nhập của nông hộ còn phụ thuộc vào các yếu tố như: điều kiện tự nhiên, thị trường, phong tục tập quán, hay chính sách Nhà nước
- Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến thu nhập
Những nhân tố về điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến mảnh đất mà người nông dân canh tác như thời tiết, khí hậu Do đối tượng sản xuất nông nghiệp là sinh vật sống nên quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh thuận lợi, phù hợp với các giai đoạn phát triển của cây trồng, vật nuôi sẽ cho năng suất cao và ngược lại thiên tai, dịch bệnh sẽ làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi dẫn đến làm giảm thu nhập của hộ nông dân
- Ảnh hưởng của khoa học kỹ thuật
Sản xuất của hộ nông dân không thể tách rời những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vì nó tạo ra sản phẩm có năng suất cao và chất lượng tốt Cải tiến kỹ thuật làm tăng khối lượng và chất lượng hàng hóa và giảm được chi phí, cảo tiến kỹ thuật cho phép mở rộng quy mô sản xuất, tăng khối lượng hàng hóa và tăng thu nhập cho hộ nông dân
- Ảnh hưởng của thị trường
Trang 28Trong cơ chế thị trường các hộ nông dân hoàn toàn tự do lựa chọn sản xuất các sản phẩm mà họ có khả năng và chi phí cơ hội thấp Đối với từng hộ nông dân, để đáp ứng nhu cầu thị trường nông sản, họ có xu hướng liên kết, hợp tác sản xuất với nhau Thị trường là nơi mà giá cả của các yếu tố đầu vào
và đầu ra trong sản xuất được hình thành nên thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân Trong giai đoạn hiện nay, xu thế phát triển của kinh tế hộ nông dân là sản xuất sản phẩm hàng hóa Hộ phải lựa chọn sản xuất các nông phẩm có giá trị kinh tế cao mà xã hội đang có nhu cầu dựa trên khả năng các yếu tố sản xuất của mình và giá cả các yếu tố đầu vào hợp lý Cho nên nắm bắt tốt các thông tin của thị trường cũng góp phần làm tăng thu nhập cho hộ nông dân
- Ảnh hưởng của phong tục tập quán
Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội khác nhau, đặc biệt yêu cầu tích nghi của các giống cây trồng vật nuôi cũng khác nhau ở mỗi vùng sinh thái, đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác và nuôi trồng phù hợp với điều kiện từng vùng Ngoài ra mỗi vùng, mỗi địa phương còn có những ngành nghề truyền thống khác nhau, quan niệm về kinh doanh thương mại dịch vụ cũng khác nhau Chính vì những đặc điểm đó mà tập quán sản xuất ăn sâu vào ý thức của nông dân Ngày nay, khi trình độ khoa học kỹ thuật và thị trường phát triển, những hộ nào biết thay đổi những tập quán sản xuất cũ lạc hậu, hiệu quả thấp và phát huy những ngành nghề truyền thống có khả năng cạnh tranh với thị trường thì cải tiện được thu nhập và ngược lại Vì vậy, phong tục tập quán là nhân tố quyết định đến sự thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
- Ảnh hưởng của chính sách Nhà nước
Chính sách của Nhà nước bao gồm các chính sách thuế, đất đai, tín dụng, khuyến nông, bảo hộ sản phẩm, trợ giá, giải quyết việc làm, trợ cấp
Trang 29Các chính sách trên có ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế hộ nông dân Nếu chính sách phù hợp sẽ tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư
mà đặc biệt mà chính sách về kinh tế nông nghiệp nông thôn, là môi trường thuận lợi để nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa với quy mô lớn
- Ảnh hưởng của các yếu tố khác
Các khoản thu khác của hộ nông dân chịu ảnh hưởng của các yếu tố như số người được hưởng trợ cấp, số người có lương hưu, số người đi làm việc ở các công ty, xí nghiệp, số người đi xuất khẩu lao động Trong đó, trình độ của số người đi làm việc ở ngoài thể hiện ở số tiền mà lao động nhận được trong một đơn vị thời gian, thu nhập của những hoạt động này thể hiện ở
số tiền đóng góp vào ngân quỹ của hộ khoản thu này tuy không lớn so với thành thị nhưng có ảnh hưởng lớn đến thu nhập của hộ nông dân ở nông thôn.1.2 Cơ sở thực tiễn về việc nâng cao thu nhập của Hộ nông dân
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân của các nước trên thế giới
* Đài Loan: Từ năm 1985, Đài Loan đã tiến hành thông qua kế hoạch nâng cấp nông nghiệp và phương án cải thiện cơ cấu nông nghiệp, nâng cao thu nhập của nông dân, với mục tiêu: phát triển một nền nông nghiệp tinh xảo, áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp Năm 1991, Đài Loan tiếp tục đề ra phương án “Điều chỉnh tổng hợp nông nghiệp”, nhấn mạnh tầm quan trọng của “nông nghiệp tam sinh” Phương án này đã thúc đẩy sự phát triển hoàn chỉnh các chính sách
về nhân lực, ruộng đất, thị trường, kỹ thuật, tổ chức, ngư nghiệp, phúc lợi và sinh sản con người Năm 1996, ban bố “sách trắng chính sách nông nghiệp”, tập trung nêu rõ các mục tiêu Đài Loan cần đạt tới là: nâng cao hiệu suất kinh doanh nông nghiệp, tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường của sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh xây dựng nông thôn, tăng phúc lợi của nông
Trang 30dân Năm 1998, tiếp tục đề ra và thực thi “phương án xây dựng nông nghiệp xuyên thế kỷ” đồng thời tiếp tục thực hiện “phương án điều chỉnh tổng hợp nông nghiệp” giai đoạn hai kéo dài trong 4 năm Năm 1995, tổng giá trị sản phẩm quốc dân bình quân đầu người Đài Loan đột phá ở mức 12.686 USD, năm 1997 đạt 13.592 USD, năm 2000 vượt lên 14.188 USD
* Trung Quốc: Sau năm 2006, có một số thay đổi mang tính chất đột phá trong chính sách đối với phát triển nông nghiệp và nông thôn, nhằm nâng cao thu nhập, đời sống người dân nông thôn ở Trung Quốc đã được thực hiện như sau:
Thứ nhất, nhanh chóng giảm thuế để thu hút đầu tư vào nông nghiệp Ở đây Trung Quốc đã thực thi chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp Hiện Trung Quốc có trên 10.000 doanh nghiệp hoạt động ở nông thôn chiếm 30% tổng số doanh nghiệp cả nước Cách này đã vực dậy tình trạng thua lỗ của quá nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn
Để thu hút tốt chính sách này Trung Quốc đã thành lập nhiều đoàn kêu gọi xúc tiến đầu tư ở Nga, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, EU, Hiện nay, Bộ Nông nghiệp đã trình cho Chính phủ đề án thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đến 2015, trong đó chú trọng phát triển công nghệ sinh học để tạo ra giống cây trồng, vật nuôi có năng suất chất lượng cao, áp dụng công nghệ chế biến bảo quan sau thu hoạch để nâng cao giá trị; an toàn vệ sinh của sản phẩm sau thu hoạch
Thứ hai, bắt đầu từ năm 2009 trở đi Trung Quốc sẽ phát triển khu công nghiệp công nghệ cao Đó là các công nghệ được ứng dụng tiên tiến và mới nhất; công nghệ được ghép nối trong một quy trình liên tục khép kín; công nghệ có khả năng ứng dụng trong điều kiện cụ thể và có thể nhân rộng; mô hình phải đạt hiệu quả về kinh tế và là nơi hợp tác giữa Nhà Khoa học - Nhà nước - Doanh nghiệp - Nhà nông, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo
Trang 31Với chính sách như vậy, Trung Quốc đã làm bùng nổ về phát triển nông nghiệp, nông thôn chuyên sâu theo cách “Nhất thôn, nhất phẩm” (Mỗi thôn có một sản phẩm) Đến nay, Trung Quốc đã có 154.842 doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp kéo theo sự phát triển của 90.980.000 hộ sản xuất trên 1.300.000.000 mẫu diện tích trồng cây các loại; 95.700.000 mẫu chăn nuôi thủy, hải sản Trước mắt lục địa Trung Quốc này đã xây dựng 4.139 khu công nghiệp tiêu chuẩn hóa cấp tỉnh và quốc gia
Thứ ba, bài học “Tam nông” trong xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc với tiêu chí “hai mở, một điều chỉnh” đó là: mở cửa giá thu mua, mở cửa thị trường mua bán lương thực và một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lưu thông thành trở thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực Để thực hiện được tiêu chí trên thì Chính phủ Trung Quốc đã mạnh tay hỗ trợ tài chính tam nông với ba mục tiêu: “Nông nghiệp gia tăng sản xuất, nông nghiệp phát triển và nông dân tăng thu nhập” Định hướng hỗ trợ tài chính cho Tam nông ở Trung Quốc hiện nay là: “Nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa, nông dân chuyên nghiệp hóa”
Trong chính sách tài chính tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc đã tăng đầu tư hỗ trợ về giá thu mua giống, hỗ trợ mua lương thực không thấp hơn giá thị trường, mua máy móc thiết bị là vấn đề đi cùng với chính sách xây dựng cơ chế hướng nghiệp Đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ
Hiện nay chính sách Tam nông ở Trung Quốc đã đạt hiệu quả khá tốt, năm 2009 thu nhập bình quân của dân cư nông thôn đạt 8.000 tệ/năm tăng 8,5% so với 2008 Năm 2009, Trung Quốc đã làm 300.000 km đường bộ nông thôn, hỗ trợ 46 triệu người nghèo đảm bảo đời sống tối thiểu triển khai
320 huyện thực hiện thí điểm bảo hiểm dưỡng lão xã hội ở nông thôn
Chính sách tam nông ở Trung Quốc cũng gắn với chủ trương hạn chế tối đa việc lấy đất nông nghiệp Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp ở nước này
Trang 32được quy định rất chặt chẽ Chuyển đổi quyền sử dụng đất đai phải đúng với chiến lược lâu dài của vùng và nằm trong chỉ giới nhất định bảo đảm Trung Quốc luôn có 1,87 tỷ mẫu đất trở lên Mặt khác, những khoản tiền thu được từ phát triển công nghiệp do lấy đất công nghiệp phải được chuyển về chính quyền nông thôn, xã để lo cho phát triển đời sống kinh tế - xã hội của nhân dân
Thứ tư, Trung Quốc thực hiện chính sách nông thôn mới là khuyến nông và tăng quyền cho nông dân Nội dung cốt lõi của chính sách này là nông dân được trao đổi, sang nhượng không hạn chế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà họ đang được hưởng cho nông dân khác hoặc cho doanh nghiệp miễn là không chuyển đổi mục đích sử dụng Nông dân cũng sẽ được thế chấp, cầm cố quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng hoặc góp vốn vào công ty nông nghiệp Việc nông dân được phép bán đất đã tạo điều kiện cho
sự ra đời của các nông trại quy mô lớn với công nghệ canh tác
* Thái Lan: Hiện nay Thái Lan đang thực heịen các chính sách xây dựng và phát triển nông nghiệp - nông thôn, nhằm nâng cao thu nhập cho người dân, một cách thiết thực như sau:
Thứ nhất là chính sách trợ giá nông sản: Thái Lan đang thực hiện trợ giá cho nông dân trên các lĩnh vực nông sản chủ yếu như sau: gạo, cao su, trái cây, Chính phủ Thái Lan đã mua giá gạo thơm 6.500 baht/tấn trong khi giá thị trường chỉ 5.000 - 5.200 baht/tấn Việc trợ giá nông sản không chỉ thực hiện ở việc mua giá ưu đãi của nông dân mà nông dân trồng lúa còn được hưởng những ưu đãi khác như: mua phân bón với giá thấp, miễn cước vận chuyển phân bón, được cung cấp giống mới có năng suất cao, được vay vốn lãi xuất thấp từ ngân hàng nông nghiệp, Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ này, Chính phủ Thái Lan đưa các chuyên viên cao cấp phụ trách chương trình với nhiệm vụ giám sát từ việc sản xuất, phân phối, chế biến, giá cả cho đến tìm thị trường xuất khẩu mới
Trang 33Thứ hai là chính sách công nghiệp nông thôn Để thực hiện nhiệm vụ này, Chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các công việc sau: cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, xem xét đầy đủ các nguồn tài nguyên, xem xét những kỹ năng truyền thống, nội lực tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị, Cụ thể là Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất nông thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng trong nước
Công nghiệp chế biến thực phẩm Thái Lan phát triển mạnh nhờ một số chính sách sau:
+ Chính sách ưu tiên phát triển nông nghiệp với mục đích nâng cao chất lượng các mặt hàng nông sản gạo, dứa, tôm sú, cà phê bằng một chương trình
“Mỗi làng một sản phẩm” (One tambon, One product - OTOP) tức là mỗi ngày làm ra một sản phẩm tiêu biểu, đặc trưng và có chất lượng cao Trên thực tế chương trình này trung bình 6 tháng đem lại cho nông dân khoảng 84,2 triệu USD lợi nhuận Bên cạnh chương trình trên, Chính phủ Thái Lan cũng thực hiện chương trình “Quỹ Làng” (Village Fund Progam) nghĩa là mỗi làng sẽ nhận được một triệu baht từ Chính phủ để cho dân làng vay mượn Trên thực tế
đã có trên 75.000 ngôi làng ở Thái Lan được nhận khoản vay này
+ Chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm Để thực hiện chính sách, Chính phủ Thái Lan đã phát động chương trình: “Thái Lan là bếp
ăn của thế giới” với mục đích khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có những hành động thiết thực có hiệu quả để kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm đảm bảo cho xuất khẩu và người tiêu dùng
Thứ ba là mở cửa thị trường thích hợp để thu hút đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm Ở đây Chính phủ Thái Lan đã có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các cơ sở hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu
Trang 34giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Mặt khác, nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản, một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000 - 2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê,
để nâng cao giá trị nông sản và đẩy mạnh xuất khẩu
Một số bài học kinh nghiệm
Trong phát triển kinh tế của các nước, phát triển kinh tế nông thôn luôn
là hàng đầu Các nước đều nhận thấy vai trò quan trọng các nông dân Các nước đều xác định kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế tự chủ Để tăng thu nhập cho hộ nông dân, các nước đều tập trung vào một số chính sách và giải pháp sau:
- Chính sách về ruộng đất: Giao quyền sử dụng đất lâu dài cho nông dân
- Chính sách đầu tư nông nghiệp: Hầu hết các hộ đều đầu tư phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn, tăng cường đầu tư tài chính, mở mang nhiều hình thức tín dụng để nông dân có điều kiện vay vốn, phát triển sản xuất
-Khoa học công nghệ: Coi trọng việc chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ đặc biệt là công nghệ sinh học
Thị trường: Một số nước, Chính phủ quan tâm đến việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu nông sản nhằm nâng cao và ổn định thu nhập cho hộ nông dân Có chính sách hỗ trợ cho hộ nông dân nghèo không đủ điều kiện chăm lo cuộc sống tối thiểu của mình Quan tâm đến việc bảo trợ một số hàng nông sản mũi nhọn Hầu hết, các nước đều tiến hành CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, xây dựng các công ty, xí nghiệp tại nông thôn để giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho hộ nông dân
Trang 351.2.2 Một số chủ trương, chính sách của Việt Nam nhằm nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân
Đảng và Nhà nước ta đã có rất nhiều những chủ trương đường lối, chính sách nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân, cụ thể như sau:
a) Các chủ trương lớn:
Sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tiến bộ sẽ góp phần giải quyết các vấn đề xã hội như tạo việc làm, giảm lao động dư thừa ở nông thôn, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội theo tư duy mới Tư tưởng đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn bắt đầu thể hiện từ Chỉ thị 100, Nghị quyết 10 và tiếp tục phát triển trong các chủ trương lớn như sau:
+ Đẩy nhanh CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hóa lớn phù hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái của từng vùng; chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động tạo việc làm thu hút nhiều lao động ở nông thôn Đưa nhanh tiến bộ khoa học
và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp đạt mức tiên tiến trong khu vực về trình độ công nghệ và về thu nhập trên một đơn vị diện tích
+ Khuyến khích phát triển ngành nghề, tạo thêm việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng hộ khá, giàu
+ Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
+ Phát triển trang trại, gia trại gia đình nhằm khai thác nguồn lực sẵn có trong nông hộ tạo thu nhập cao cho hộ nông dân
+ Xây dựng phong trào thi đua sản xuất cho hộ nông dân
+ Xây dựng các dự án phát triển nông thôn toàn diện theo các vùng
Trang 36Tiếp theo là luật thuế đất ra đời góp phần giảm đóng góp cho nông dân, khuyến khắch nông hộ đầu tư vào nông nghiệp có hiệu quả hơn Nhờ đó mà người nông dân đã có cơ hội đầu tư tắch tụ ruộng đất dần hình thành các trang trại sản xuất hàng hóa
+ Chắnh sách tắn dụng: nhiều chương trình dự án lớn của Chắnh phủ đầu tư vào nông thôn, nông nghiệp được thực hiện với nguồn vốn ngân sách, vốn vay, vốn viện trợ quốc tế như phủ xanh đất trống đồi núi trọc, xóa đói giảm nghèo (135), kiên cố hóa kênh mương, đã khuyến khắch xuất khẩu và
mở rộng thị trường
+ Chắnh sách giá cả: thông qua quỹ bình ổn giá và hệ thống chắnh sách giá trần, giá sàn của Nhà nước đảm bảo hỗ trợ vật tư, ổn định giá đầu ra nhằm khắc phục lớn nhất sự rủi ro do thị trường gây nên
+ Chắnh sách khoa học kỹ thuật: để tiến tới một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa với quy mô lớn, Nhà nước có chủ trương đưa tiến bộ khoa học công nghệ mới vào phục vụ sản xuất Thực hiện điều đó Nhà nước chú trọng đầu tư cho công tác nghiên cứu khoa học, đồng thời mở rộng hệ thống khuyến nông từ địa phương tới cơ sở tạo điều kiện thuận lợi nhất cho nông dân đầu tư sản xuất Nhờ có chủ trương, đường lối và chắnh sách đổi mới của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp và nông thôn, trong những năm qua đời sống của
hộ nông dân đã tăng lên đáng kể
1.2.3 Kinh nghiệm phát triển kinh tế để nâng cao thu nhập cho Hộ nông dân của các địa phương ở Việt Nam
Quá trình phát triển kinh tế nâng cao thu nhập hộ nông dân ở nýớc ta đã trải qua rất nhiều giai đoạn Chỉ thị 100, khoán 10, giao đất ổn định lâu dài cho nông dân theo Nghị định 64, thực hiện 5 quyền theo Luật đất đai là những chủ trương, chắnh sách lớn tháo gỡ những Ộnút thắtỢ của cơ chế cũ, đã tạo ra những động lực to lớn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn Mỗi thời điểm đổi mới cơ chế đều gắn liền với những thành tựu to lớưn trong phát triển
Trang 37nông nghiệp, nông thôn Nhờ những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước cùng sự đồng tâm hiệp lực của người nông dân và Chính quyền, nhiều địa phương đã đạt được những thành tựu to lớn trong công tác phát triển kinh tế nâng cao thu nhập hộ nông dân Tiêu biểu là một số địa phương sau:
* Nam Định:
Những năm qua, nhiều hộ nông dân tại Nam Định đã phát huy tính tự chủ, sáng tạo trong việc phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập từ đó thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn
Mô hình xây dựng kinh tế trang trại, gia trại được nhiều người lựa chọn bởi tính phù hợp, nâng cao được năng suất và tính cạnh tranh của sản phẩm nông sản, không những giúp người nông dân nâng cao thu nhập mà còn giải quyết được lao động tại địa phương, góp phần xây dựng nông thôn mới Tính đến năm 2014, Nam Định có 412 trang trại đạt tiêu chí do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định, trong đó có 1 trang trại trồng trọt, 150 trang trại chăn nuôi, 254 trang trại thủy sản và 7 trang trại khác Những năm gần đây, nhận thức của người nông dân tại Nam Định đã có nhiều thay đổi, nhiều
hộ gia đình đã bỏ cách chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ, cố gắng tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi và vận động nguồn lực từ gia đình để tập trung đầu tư lớn hơn làm kinh tế trang trại Tại các xã, huyện, thị trấn, đội ngũ cán bộ chuyên môn
về chăn nuôi, thú y cũng được bổ sung kịp thời và đào tạo vững về chuyên môn để giúp đỡ bà con về các quy trình kỹ thuật như: chăm sóc, phòng, chống dịch bệnh cho cây trồng và gia súc, gia cầm Đặc biệt, các trang trại đã có mối liên hệ với nhau trong việc cung ứng con giống thị trường tiêu thụ, giúp người nông dân yên tâm phần nào trong vấn đề bảo đảm đầu ra cho sản phẩm
Các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh hiện nay đạt doanh thu hàng năm từ 7 - 10 tỷ đồng, riêng các trang trại nuôi trồng thủy sản
Trang 38các loại thủy sản giá trị kinh tế cao như ngao cho doanh thu hàng năm lên tới
150 - 200 tỷ đồng, thu nhập của các hộ trang trại này ước đạt từ 0,7 - 1 tỷ đồng/năm
* Bắc Giang:
Để nâng thu nhập cho người nông dân, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện chương trình sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung giai đoạn 2011 - 2015 Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các vùng sản xuất cây rau chế biến tập trung diện tích gần 3 nghìn ha với các loại cây có giá trị kinh tế cao như: dưa chuột bao tử, cà chua, bí, thu nhập trên một đơn vị diện tích trồng rau tăng 3 - 4 lần
so với trồng lúa Về nuôi trồng thủy sản, năm 2014 diện tích mặt nước nuôi thủy sản đạt 9,8 nghìn ha, trong đó diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh đạt 3 nghìn ha, trong đó thâm canh cho năng suất đạt bình quân 10 tấn/ha, và bán thâm canh cho năng suất bình quân đạt 2,9 tấn/ha Sản lượng thủy sản đạt 28,9 nghìn tấn Chăn nuôi chuyển dịch mạnh từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang tập trung quy mô trang trại, gia trại an toàn sinh học gắn với bảo vệ môi trường
Tỉnh đã xây dựng thành công 2 “Cánh đồng mẫu lớn” tại huyện Yên Dũng với quy mô 100 ha vào năm 2012 Năm 2013, 2014 triển khai xây dựng
và thực hiện 4 “Cánh đồng mẫu lớn” với quy mô trên 50 ha/1 cánh đồng tại các huyện Yên Dũng, Việt Yên và Tân Yên Đồng thời, triển khai và thực hiện 14 cánh đồng cho thu nhập cao với quy mô từ 20 - 46 ha/1 cánh đồng tại các huyện Yên Dũng, Việt Yên, Lục Nam, Lạng Giang, Hiệp Hòa và thành phố Bắc Giang
Từ việc sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn, làm thay đổi cách nghĩ, tập quán canh tác truyền thống của người dân; đã thực hiện ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giúp hạn chế sâu bệnh và giảm chi phí, tăng thu nhập cho hộ Bên cạnh đó, tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa “4 nhà” trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, làm tăng hiệu quả, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân.[9]
Trang 39* Ninh Bình:
Trong những năm gần đây, để tận dụng lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, khoáng sản, nhằm nâng cao thu nhập cho người dân, tỉnh Ninh Bình luôn chú trọng phát triển các làng nghề, nhất là làng nghề truyền thống Tỉnh
đã quyết định công nhận danh hiệu làng nghề cho 6 làng nghề, nâng tổng số làng nghề được công nhận lên 75 làng; phong tặng danh hiệu nghệ nhân thủ công mỹ nghệ cho 16 nghệ nhân các nghề thêu ren, chế tác đá mỹ nghệ, gốm
sứ Đồng thời, khuyến khích phát huy lợi thế của địa phương như tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ dân trong làng nghề phát triển ngành nghề có quy
mô lớn để lao động có việc làm ổn định với nhiều đơn hàng xuất khẩu và các đơn hàng có giá trị cao Nhờ thực hiện tốt các giải pháp phát triển làng nghề trong xây dựng nông thôn mới, hoạt động làng nghề có nhiều khởi sắc và đã góp phần phát triển kinh tế địa phương, giải quyết việc làm cho khoảng 22.000 lao động nông thôn với thu nhập bình quân tại các làng nghề đạt 1,2 triệu đồng/người/tháng, giá trị sản xuất ở các làng nghề ước đạt trên 1.000 tỷ đồng Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện tiêu chí chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập thì phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề tiếp tục giữ vị trí, vai trò quan trọng Do đó, bên cạnh bảo tồn phát triển làng nghề truyền thống cần phải phát triển làng nghề theo hướng nâng cao quy mô, chất lượng, hiệu quả và du nhập nghề mới nên rất cần sự quan tâm, chỉ đạo của tỉnh để sớm có chính sách thu hút, hỗ trợ để phát huy vai trò của các doanh nghiệp trong việc phát triển, nhân rộng các làng nghề, ngành nghề ở nông thôn của địa phương.[11]
* Bài học kinh nghiệm:
Qua nhiều giai đoạn, Đảng và Nhà nước cũng như người nông dân đã rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm trong phát triển hộ nâng cao thu nhập cho hộ nông dân Một số kinh nghiệm được rút ra như sau:
Thứ nhất: Khi xây dựng những kế hoạch phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân ở từng địa phương phải tổ chức điều tra, số liệu phải
Trang 40bảo đảm độ tin cậy cao, khách quan, đánh giá thật sát đúng thực trạng các ngành nghề sản xuất; làm rõ được các ngành nghề, sản phẩm chủ lực, loại hình tổ chức, mô hình sản xuất đem lại thu nhập chính cho người dân trong những năm qua Từ kết quả đó, với việc tiếp cận những định hướng mới trong phát triển sản xuất, kinh nghiệm học tập từ bên ngoài, làm rõ hướng quy hoạch các loại ngành nghề, sản phẩm chủ lực trên địa bàn
Thứ hai: Việc xác định ngành nghề, sản phẩm chủ lực phải cùng đi với
tư duy và cách tổ chức sản xuất hàng hóa; phải thực sự là ngành nghề, sản phẩm có khả năng cạnh tranh, có lợi thế trên thị trường Tùy vào tình hình từng địa phương có thể xác định một số sản phẩm chủ lực như: chăn nuôi theo hướng công nghiệp, phát triển cây công nghiệp; trồng rừng nguyên liệu; các sản phẩm hàng hóa truyền thống như: lạc, lúa hàng hóa chất lượng cao; các sản phẩm hàng hóa đặc sản,
Thứ ba: Qua kinh nghiệm của cả nước, trong điều kiện người nông dân còn nghèo, sản xuất nông nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn và rủi ro cao, thì
mô hình “nông dân liên kết sản xuất với các doanh nghiệp” là hướng sản xuất hàng hóa, hiệu quả, bền vững và an toàn nhất cho người nông dân hiện nay Thứ tư: Một thực tế là xu thế sản xuất của các “hộ nông dân nhỏ, tự chủ” ngày càng gặp rất nhiều khó khăn trong môi trường cạnh tranh, vì vậy việc chuyển đổi ruộng đất, khuyến khích tăng quy mô sản xuất, phát triển tổ đội liên kết, HTX, trang trại, gia trại, ưu đãi, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, hình thành các hiệp hội nghề nghiệp là một yêu cầu khách quan của sự phát triển; Chính quyền cần phải tạo môi trường hành chính, kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp phát triển, đây thực sự là yêu cầu cấp thiết cho cả trước mắt và lâu dài Vấn đề này cần được nhận thức đầy đủ và đưa vào đề án sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân
Các địa phương cần phải chủ động tiếp cận, vận dụng vào tình hình thực tế của mình, xây dựng các đề án và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu