Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số giải pháp đối với chính quyền địa phương trong công tác quản lý đất đai, nhất là trong việc việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGUYỄN VĂN KHÁNH
ẢNH HƯỞNG CỦA THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP VÀ VIỆC LÀM NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT Ở KHU CÔNG
NGHIỆP LỘC SƠN, THÀNH PHỐ BẢO LỘC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đồng Nai, 2014
Trang 2NGUYỄN VĂN KHÁNH
ẢNH HƯỞNG CỦA THU HỒI ĐẤT ĐẾN THU NHẬP VÀ VIỆC LÀM NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT Ở KHU CÔNG
NGHIỆP LỘC SƠN, THÀNH PHỐ BẢO LỘC
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện với sự hướng dẫn của cô giáo hướng dẫn khoa học – Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuân Hương
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đồng Nai, tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Khánh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập, thực hiện quá trình nghiên cứu và bảo vệ luận văn Thạc sĩ chuyên ngành kinh tế nông nghiệp tại Trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Nhà trường; quý thầy, cô giáo; các cơ quan có liên quan và gia đình
Lời đầu tiên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Xuân Hương, người đã giành thời gian quý báu để tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời thực hiện luận văn này
Xin cảm ơn Quý Thầy, Cô trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội đã tận tình giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức quý báu cho bản thân tôi để hòan tất khóa học Xin cảm ơn Lãnh đạo UBND thành phố Bảo Lộc, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Phát triển quỹ đất, Phòng kinh tế; Công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp Lộc Sơn; Chi cục Thống kê thành phố Bảo Lộc; UBND phường Lộc Sơn và các hộ bị thu hồi đất tại phường Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian điều tra, thu thập số liệu để phục vụ quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các Cô, Chú bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong quá trình khảo sát dữ liệu để nghiên cứu luận văn này
Và cuối cùng tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên về mặt tinh thần của tất cả những người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Một lần nữa tôi xin được gửi lời tri ân đến toàn thể thầy cô, đồng nghiệp, bạn
bè và gia đình
Xin chân thành cảm ơn
Nguyễn Văn Khánh
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
TÓM TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT 5
1.1- Cơ sở lý luận thu hồi đất và ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm và thu nhập người dân bị thu hồi đất 5
1.1.1- Một số khái niệm 5
1.1.2- Sự cần thiết thu hồi đất 6
1.1.3- Ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất 7
1.1.4- Cơ sở lý thuyết về sinh kế bền vững người dân 9
1.1.5- Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất 10
1.1.6- Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất 11
1.2- Các chính sách liên quan đến thu hồi đất ở Việt Nam 13
1.2.1- Chính sách của Nhà nước 13
1.2.2- Chính sách của tỉnh Lâm Đồng 15
1.3- Kinh nghiệm giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho người dân bị thu hồi đất 16
1.3.1- Kinh nghiệm trong nước 16
1.2.2- Kinh nghiệm nước ngoài 19
1.4- Các công trình nghiên cứu có liên quan 22
1.5- Bài học kinh nghiệm cho giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân bị thu hồi đất ở Lâm Đồng 25
Trang 7Chương 2- ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bảo Lộc 27
2.1.1- Điều kiện tự nhiên 27
2.1.2- Dân số - Lao động 29
2.1.3- Tình hình tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 31
2.2- Tình hình sử dụng đất và thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bảo Lộc 32
2.2.1- Tình hình sử dụng đất trên địa bàn thành phố Bảo Lộc 32
2.2.2- Tình hình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn 35
2.3- Đặc điểm cơ bản khu công nghiệp Lộc Sơn, TP.Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng 37
2.4- Phương pháp nghiên cứu 38
2.4.1- Phương pháp thu thập số liệu 38
2.4.2- Phương pháp phân tích 39
2.4.3- Phương pháp xử lý số liệu 46
Chương 3- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 47
3.1- Công tác quy hoạch, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư KCN Lộc Sơn 47
3.1.1- Công tác quy hoạch KCN Lộc Sơn 47
3.1.2- Quy trình thu hồi, bồi thường và hỗ trợ tái định cư 47
3.2- Thực trạng thu hồi đất và đền bù cho người dân khu công nghiệp Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng 49
3.2.1- Kết quả thu hồi đất 49
3.2.2- Kết quả đền bù, tạo việc làm cho các hộ gia đình bị thu hồi đất 51
3.3- Nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân bị thu hồi đất trong KCN Lộc Sơn 52
3.3.1- Đặc điểm chung của mẫu điều tra 52
3.3.2- Tình hình thu hồi đất của hộ điều tra 56
3.3.3- Tình hình đền bù, hỗ trợ và giải quyết việc làm ở các hộ điều tra 57
3.3.4- Ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống các hộ điều tra 58
3.3.5- Những khó khăn và kiến nghị của người dân sau khi bị thu hồi đất 65
Trang 83.4- Phân tích kết quả hồi quy Binary Logistic nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của
người dân ở KCN Lộc Sơn 67
3.4.1- Kết quả kiểm định sự phù hợp của mô hình 67
3.4.2- Kết quả ước lượng hệ số hồi quy 68
3.4.3- Thảo luận kết quả hồi quy Binary Logistic 70
3.5- Những thành công và hạn chế trong công tác thu hồi đất, tái định cư, tạo việc làm và thu nhập cho hộ bị thu hồi đất ở KCN Lộc Sơn 72
3.5.1- Những thành công 72
3.5.2- Những hạn chế 74
3.6- Giải pháp đảm bảo việc làm và thu nhập cho hộ gia đình bị thu hồi đất ở KCN Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng 75
3.6.1- Về công tác thu hồi đất và thực hiện bồi thường cho người dân 75
3.6.2- Về công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động bị thu hồi đất 76
3.6.3- Tăng cường định hướng cho người dân quản lý, sử dụng tiền đền bù hiệu quả 78
3.6.4- Tăng cường tư vấn sản xuất, kinh doanh cho hộ bị thu hồi đất 79
3.6.5- Tạo việc làm trực tiếp tại khu công nghiệp cho lao động 81
3.6.6- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cho người dân bị thu hồi đất 82
3.6.7- Giải pháp về phương pháp định giá trong đền bù 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1- Dân số - Lao động Tp Bảo Lộc, giai đoạn 2011-2013 Error! Bookmark not defined
Bảng 2.2- GDP thành phố Bảo Lộc, giai đoạn 2011-2013 31
Bảng 2.3- Hiện trạng các chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 333
Bảng 2.4- Hiện trạng đất ở thành phố Bảo Lộc năm 2013 355
Bảng 2.5- Định nghĩa biến và kỳ vọng về dấu của các biến trong mô hình 455
Bảng 3.1- Tình hình thu hồi đất KCN Lộc Sơn 5045
Bảng 3.2- Kết quả đền bù và giải quyết việc làm cho gia đình bị thu hồi đất 5145
Bảng 3.3- Trình độ học vấn của chủ hộ điều tra 544
Bảng 3.4- Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ điều tra 545
Bảng 3.5- Tình hình thu hồi đất của hộ điều tra 546
Bảng 3.6- Tình hình đền bù và giải quyết việc làm các hộ điều tra 547
Bảng 3.7- Đánh giá tình hình cung cấp điện sinh hoạt sau thu hồi đất 599
Bảng 3.8- Đánh giá tình hình cung cấp nước sinh hoạt sau thu hồi đất 599
Bảng 3.9- Tình hình lao động – việc làm của hộ điều tra trước và sau thu hồi đất 6159 Bảng 3.10- Tình hình thu nhập và chi phí sau khi thu hồi đất 622
Bảng 3.11- Cơ cấu thu nhập của hộ điều tra trước và sau khi thu hồi đất 633
Bảng 3.12- Tình hình sử dụng tiền đền bù của các hộ điều tra 644
Bảng 3.13- Kiến nghị của các hộ bị thu hồi đất về chính sách liên quan 666
Bảng 3.14- Kiểm định Omnibus về sự phù hợp của mô hình 677
Bảng 3.15- Kết quả dự báo của mô hình 678
Bảng 3.16- Kết quả ước lượng hệ số hồi quy mô hình Binary logitic 699
Bảng 3.17 Ước lượng xác suất tăng thu nhập theo tác động biên từng yếu tố 711
Trang 11TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của thu hồi đất đến thu nhập và việc làm của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng” được thực hiện từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tiến hành điều tra, tìm hiểu thực trạng về tình hình lao động, việc làm, thu nhập của người dân sau khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp Lộc Sơn trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Trên cơ sở kết quả điều tra, tiến hành phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập và việc làm của người dân bị thu hồi đất để thực hiện dự án Từ đó, đề xuất các giải pháp đảm bảo thu nhập nhằm ổn định đời sống cho người dân sau khi bị thu hồi đất tại địa bàn nghiên cứu
Đề tài đã tiến hành điều tra đối với 110 hộ gia đình bị thu hồi đất và phỏng vấn các các cơ quan, đơn vị có liên quan Đề tài đã sử dụng các phương pháp thu thập số liệu, tổng hợp, xử lý số liệu và sử dụng các phương pháp phân tích trong quá trình nghiên cứu để đạt mục tiêu nghiên cứu của đề tài đề ra Đề tài đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của 110 hộ gia đình bị thu hồi đất được điều tra Từ kết quả nghiên cứu, đề tài đã đề xuất một số giải pháp đối với chính quyền địa phương trong công tác quản lý đất đai, nhất là trong việc việc thực hiện chính sách thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; việc thực hiện đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động trong các hộ gia đình bị thu hồi đất và các đề xuất khác có liên quan để tạo việc làm và đảm bảo thu nhập nhằm ổn định đời sống cho các hộ gia đình sau khi bị Nhà nước thu hồi đất để triển khai thực hiện xây dựng khu công nghiệp Lộc Sơn tại thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, trên địa bàn cả nước, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mới, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư xây dựng mới, nâng cấp ngày càng đồng bộ và hiện đại Nhờ đó, bộ mặt của đất nước đã thay đổi nhanh chóng theo hướng CNH - HĐH Trước tình hình đó, chúng ta có những thời cơ mới song cũng phải đối mặt với những thách thức hết sức to lớn, đặc biệt là nhu cầu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng nhằm phục vụ phát triển kinh tế của đất nước như để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các công trình công cộng, công trình phục vụ lợi ích quốc gia dẫn đến phải thu hồi đất ở, đất sản xuất của người dân, dẫn đến người dân tại khu vực các dự án không còn hoặc bị giảm đất sản xuất, nhiều trường hợp phải thay đổi chỗ ở và điều kiện sống Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng trong thời gian qua nhìn chung đã đạt được nhiều kết quả tích cực, qua đó đã góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình đô thị hóa, tăng cường cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải thiện và nâng cao điều kiện, chất lượng sống của nhân dân, đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Tuy nhiên, công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất của người dân là vấn đề hết sức nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết công bằng, thỏa đáng, đúng pháp luật Giải quyết không tốt, không thỏa đáng quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất là một trong những nguyên nhân chính làm phát sinh các khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là những vụ khiếu kiện tập thể, đông người sẽ trở thành vấn đề xã hội hết sức phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh trật tự, gây mất ổn định xã hội và ảnh hưởng đến lòng tin của người dân đối với các chính sách của nhà nước
Lâm Đồng là tỉnh nằm ở phía nam Tây nguyên, tiếp giáp với vùng kinh tế trọng điểm phía nam, khu vực phát triển kinh tế năng động cả nước như Thành phố
Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa Vũng Tàu là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội Cũng như các tỉnh thành khác trong cả nước, các khu công
Trang 13nghiệp đang dần hình thành và mở rộng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng Năm 2006, Lâm Đồng xây dựng khu công nghiệp (KCN) đầu tiên - KCN Lộc Sơn với diện tích 200,2
ha, tiếp đến là KCN Phú Hội (174ha) Trên địa bàn Tỉnh cũng có 14 cụm công nghiệp (CCN) đã được phê duyệt quy hoạch chi tiết, với tổng diện tích quy hoạch 662,5 ha, tổng mức đầu tư được phê duyệt là 908 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước đã đầu
tư cho các CCN là 75,3 tỷ đồng (chiếm 8,3%) Thành phố Bảo Lộc có cụm công nghiệp Lộc Phát với tổng vốn đầu tư 139 tỷ đồng, quy mô 37,4 ha Cụm công nghiệp Lộc Tiến với diện tích 47,17 ha Với xu hướng phát triển công nghiệp hiện nay, Lâm Đồng nói chung và thành phố Bảo Lộc nói riêng sẽ còn có nhiều khu công nghiệp nữa hình thành và phát triển Nhưng vấn đề nóng bỏng lớn nhất hiện nay là nhiều vụ việc khiếu kiện có nội dung liên quan đến công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để triển khai thực hiện xây dựng khu, cụm công nghiệp; mặt
dù từ Trung ương đến địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể để thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ tái định cư… để ổn định cuộc sống cho người dân có đất bị thu hồi
Xuất phát từ thực tế đó tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của thu hồi đất đến thu nhập và việc làm của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng” nhằm đề xuất các giải pháp về vấn
đề tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người dân bị thu hồi đất trong khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
2- Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Phân tích, đánh giá thực trạng thu nhập và việc làm của người dân sau thu hồi đất nhằm đề xuất những giải pháp chủ yếu nâng cao thu nhập và đời sống của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
- Mục tiêu cụ thể
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận về tạo việc làm và ổn định thu nhập người dân sau thu hồi đất
Trang 14+ Đánh giá thực trạng việc làm và thu nhập người dân bị thu hồi ở khu công nghiệp Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của người dân bị thu hồi đất ở khu công nghiệp Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản để tạo việc làm và nâng cao thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất tại khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Tình hình thu nhập và việc làm của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất ở khu công nghiệp Lộc Sơn, TP Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài
+ Phạm vi nghiên cứu về nội dung:
Do hạn chế về thời gian, nguồn lực và mẫu điều tra, đề tài tập trung chủ yếu
vào nhân tố thu nhập người dân trước và sau khi bị thu hồi đất, các nguyên nhân làm ảnh hưởng đến thu nhập người dân sau thu hồi đất
Còn nhân tố việc làm có tính chất gián tiếp tác động đến thu nhập, do đó chỉ
đi vào phân tích định tính để so sánh tình hình việc làm của người dân trước và sau khi thu hồi đất
+ Phạm vi nghiên cứu về không gian:
Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi các hộ dân có đất bị thu hồi để xây dựng Khu công nghiệp Lộc Sơn, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
+ Phạm vi nghiên cứu về thời gian: nghiên cứu dựa vào số liệu thứ cấp thu
thập về công tác thu hồi đất tại khu công nghiệp Lộc Sơn trong khoảng thời gian từ năm 2010 - 2012 và số liệu sơ cấp được khảo sát trực tiếp từ đối tượng khảo sát (các
hộ gia đình bị thu hồi đất), tập trung chủ yếu vào các nhân tố liên quan đến lao động, việc làm, điều kiện sống, sinh hoạt và thu nhập của người dân sau khi thu hồi đất trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng
4- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Trang 15Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của người dân
bị Nhà nước thu hồi đất để triển khai thực hiện xây dựng khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Bảo Lộc Qua đó, nhằm đánh giá được các bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn nghiên cứu Từ đó đề xuất các giải pháp để đảm bảo thu nhập, việc làm nhằm ổn định đời sống cho người dân bị nhà nước thu hồi đất, từng bước góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
5- Cấu trúc của đề tài
Chương 2- Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Trình bày tổng quan về địa bàn nghiên cứu, đặc điểm cơ bản KCN Lộc Sơn, phương pháp nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi, phiếu điều tra, thực hiện điều tra tại địa bàn nghiên cứu; xử lý số liệu theo phương pháp nghiên cứu
Chương 3- Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Từ những số liệu, thông tin thu thập được, phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của các hộ nông dân có đất bị thu hồi
- Từ kết quả nghiên cứu của chương 3, đưa ra các kết luận về vấn đề nghiên cứu; một số giải pháp đảm bảo thu nhập nhằm ổn định đời sống cho người dân bị thu hồi đất để triển khai thực hiện xây dựng khu công nghiệp
Kết luận và kiến nghị
Đề xuất một số kiến nghị có liên quan từ kết quả nghiên cứu
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THU NHẬP
CHO NGƯỜI DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT
1.1- Cơ sở lý luận thu hồi đất và ảnh hưởng của thu hồi đất đến việc làm và thu nhập người dân bị thu hồi đất
1.1.1- Một số khái niệm
Theo Luật đất đai năm 2003 và một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
[25]:
- Thu hồi đất: Là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền
sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này
- Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Là việc nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất
- Hỗ trợ khi bị nhà nước thu hồi đất: Là việc nhà nước giúp đỡ người bị
thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới
- Người bị thu hồi đất: Theo Nghị định 197/2004/NĐ – CP của Chính phủ
ban hành ngày 03/12/2004: Người bị thu hồi đất là tổ chức, cơ sở tôn giáo, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức cá nhân
nước ngoài đang sử dụng đất bị nhà nước thu hồi [17]
Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư tại Nghị định này
- Việc làm: là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những
điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ …) để sử dụng sức lao động đó,
là hoạt động thường xuyên để đổi lấy việc thanh toán, thường được gọi là một nghề
[44]
- Người thất nghiệp: là người thuộc lực lượng lao động có khả năng lao động,
có nhu cầu lao động nhưng hiện tại không có việc làm và đang tích cực tìm việc [44]
Trang 17- Tổng thu nhập của hộ thường được thu từ một nguồn hay nhiều nguồn
Qua các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê qua các năm 2008, 2010, 2012 về dân
số, nhà ở thì thu nhập được chia thành 5 nguồn [45]
Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp: bao gồm thu do trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các họa động liên quan đến nông nghiệp
Thu nhập từ tiền công, tiền lương: bao gồm thu nhập chính 7 ngày, các công việc phụ 7 ngày, việc làm chính 12 tháng Thành phần thu nhập của mỗi công việc bao gồm cả tiền mặt và giá trị hiện vật nhận được các khoản: tiền công, trị giá ăn trưa, các loại phụ cấp, bảo hộ lao động có liên quan đến công việc
Thu nhập ngành nghề tự sản xuất, ngành nghề cá thể đó là ngành nghề tự do,
có thể mua bán, sản xuất chế biến các sản phẩm trong nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp, các chủ hộ tự bỏ vốn và gia đình có khi thuê ngoài
Thu nhập từ hưu trí, trợ cấp học bổng: thu nhập bình quân từ quỹ bảo hiểm xã hội như trợ cấp hưu trí, mất sức, các khoản trợ cấp xã hội khác và học bổng, trợ cấp giáo dục
Thu nhập khác: tiền cho thuê nhà ở, thu từ biếu khách hàng tiêu dùng, thu nhập bình quân từ lãi cho vay mượn trong 12 tháng kể cả nhận và sẽ nhận, bao gồm các khoản tiền và giá trị hiện vật có tính chất trợ giúp đã nhận được trong 12 tháng
mà không phải hoàn trả lại từ các tổ chức, cá nhân không phải thành viên của hộ, kể
cả trong & ngoài nước
1.1.2- Sự cần thiết thu hồi đất
Các quan hệ về sở hữu và sử dụng đất đai luôn gắn chặt với lịch sử và chế độ chính trị của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ Ở nước ta, sau khi Nhà nước ban hành luật đất đai năm 1993, quy định rõ đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước và Nhà nước giao quyền sử dụng hợp pháp cho các cá nhân và tổ chức trong nước Trong trường hợp cần thiết phải thu hồi đất vì mục tiêu an ninh quốc phòng, vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Nhà nước cần thiết phải thu hồi một khu vực đất đai nào
đó và phải thực hiện tổ chức đền bù cho người đang sử dụng hợp pháp khu vực đất đai đó
Trang 18Luật đất đai năm 1993 và những điều khoản sửa đổi luật đất đai năm 2013 cũng quy định rõ, trong trường hợp Nhà nước cần thu hồi đất của các đối tượng đang sử dụng hợp pháp để phục vụ các mục tiêu khác cần có những chính sách đền
bù thoả đáng, đảm bảo không làm ảnh hưởng đến đời sống người dân khu vực Đây
là vấn đề cốt lõi đảm bảo việc thực hiện hiệu quả việc thu hồi đất phục vụ mục tiêu phát triển của đất nước
1.1.3- Ảnh hưởng của thu hồi đất đến đời sống, việc làm của người dân bị thu hồi đất
Đất đai vừa là môi trường sống, vừa là tư liệu sản xuất cơ bản, đặc biệt với người dân nông thôn Việc thu hồi đất đồng nghĩa với việc người dân phải di chuyển khỏi nơi ở cũ, đồng thời phải từ bỏ các công việc gắn liền với đất đai canh tác của gia đình Do vậy, mà làm ảnh hưởng đến đời sống và việc làm của người dân Phân tích sâu các ảnh hưởng của thu hồi đất đến người dân bị mất đất trên các phương diện sau:
- Mất nơi ở và môi trường sống quen thuộc: Chỗ ở của người dân không chỉ đơn
thuần là nơi ăn, nơi nghỉ mà hơn thế nữa là môi trường sống của họ Nơi ở gắn liền với các mối quan hệ xã hội, gắn với tài sản và các điều kiện văn hoá xã hội khác của mỗi con người Khi bị thu hồi đất, người dân không chỉ mất đi quyền sử dụng đất đai đó mà hơn thế nữa họ không thể tiếp nối môi trường sống quen thuộc của họ, những quan hệ, cơ hội công việc và cuộc sống mà họ đang có Việc di chuyển đến chỗ ở mới có thể gây ra nguy cơ mất việc làm, điều kiện sống không thuận lợi, khí thích nghi và do đó mà làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của nhiều người dân Hơn nữa, việc di chuyển nơi ở sẽ làm phát sinh những chi phí để tạo dựng nơi ở mới như nhà cửa, vườn tược, cơ sở hạ tầng khác mà trong nhiều trường hợp, nếu không có sự hỗ trợ thoả đáng, người dân không thể tự giải quyết được, và có thể họ lâm vào hoàn cảnh khó khăn
- Ảnh hưởng đến việc làm, đời sống:
Đất đai và điều kiện tự nhiên là yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm cho người dân, là tư liệu sản xuất không thể thiếu của người nông dân Chất lượng lao động
Trang 19tạo ra giá trị thặng dư cho người lao động Cùng với sự phát triển của thị trường sức lao động, Cơ chế, chính sách kinh tế, xã hội tạo điều kiện cho người dân sau khi bị thu hồi đất có công ăn việc làm ổn định và tốt hơn trước nhằm nâng cao cuộc sống
Tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa sẽ là cơ hội tốt để người dân có việc làm mới được ổn định, từng bước cải thiện thu nhập giúp cho người dân sau khi thu hồi đất có cuộc sống tốt hơn Sự phát triển của khu vực kinh tế không chính thức đã đóng góp một phần trong giải quyết việc làm cho người dân khi họ không còn đất để sản xuất
Khi triển khai thực hiện đầu tư các dự án tại địa phương, tất yếu phải thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại khu vực dự án Khi tiến hành bồi thường và thu hồi đất, đời sống của các hộ gia đình có nhiều thay đổi, trước hết các hộ nông dân mất đi hoặc bị giảm nguồn thu nhập lâu nay từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình phải chuyển sang nghề mới hoặc chuyển đến nơi khác sinh sống Sự thay đổi cuộc sống của các hộ nông dân, kéo theo hàng loạt các vấn đề có liên quan do ảnh hưởng của việc thu hồi đất, dẫn đến ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sống và điều kiện sinh hoạt thay đổi
+ Ảnh hưởng tích cực
Việc thu hồi đất để triển khai thực hiện đầu tư các dự án góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm thay đổi bộ mặt của địa phương, thúc đẩy KTXH phát triển; điều kiện sống và sinh hoạt của nhân dân được cải thiện, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần ngày càng cao của nhân dân Việc thu hồi đất sẽ làm cho cơ cấu ngành cũng thay đổi theo hướng tích cực (tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng ngành công nghiệp – dịch vụ tăng lên) phù hợp với định hướng phát triển đất nước trong công cuộc đổi mới
Khi thu hồi đất, người dân được nhận khoản tiền bồi thường lớn, họ có điều kiện thuận lợi trong việc đầu tư kinh doanh, phát triển dịch vụ thương mại, xây dựng nhà cửa, mua sắm tài sản… cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của gia đình
+ Ảnh hưởng tiêu cực
Trang 20Những người dân sống chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp, nhất là trên diện tích đất đã bị thu hồi hết, tức là họ đã mất đi nguồn thu nhập chính Khi họ không còn đất sản xuất, họ phải chuyển sang nghề mới, nguồn thu nhập của họ bị thay đổi Những hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp phần lớn họ có trình độ học vấn không cao nên họ sử dụng số tiền được bồi thường, hỗ trợ chưa hợp lý, họ quen theo lối sống dựa vào sản xuất nông nghiệp, vì vậy họ khó tìm được việc làm mới phù hợp cho bản thân Từ những yếu tố nói trên có một số hộ sử dụng số tiền được bồi thường, hỗ trợ lãng phí, không đúng mục đích dẫn đến hao hụt nhanh số tiền được bồi thường, hỗ trợ, sau một thời gian không còn tiền để đảm bảo cuộc sống
Do tác động của môi trường sống hiện nay, một số trường hợp nảy sinh thói hư, tật xấu, vướng vào con đường tệ nạn xã hội khi đã sử dụng lãng phí hết số tiền bồi thường, hỗ trợ
1.1.4- Cơ sở lý thuyết về sinh kế bền vững người dân
Đề tài nghiên cứu dựa trên ứng dụng khung sinh kế bền vững của Bộ phát triển toàn cầu Vương quốc Anh (DFID) để phân tích tiếp cận đất đai, thu hồi quyền
sử dụng đất và tác động của nó đối với các hộ gia đình bị thu hồi đất Khung sinh kế bền vững là một phương pháp tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển thông qua việc nhấn mạnh đến thảo luận sinh kế của con người
Khái niệm sinh kế có thể được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Theo một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi thì “Sinh kế bao gồm các khả năng, các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết để
kiếm sống” (DFID’s 1999)[42 ] Một sinh kế bền vững khi nó có khả năng ứng phó và
phục hồi khi bị tác động hay có thể thúc đẩy các khả năng và tài sản ở cả thời điểm hiện tại và trong tương lai trong khi không làm xói mòn nền tảng nguồn lực tự nhiên
(Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown 2004)[43] và (Diana Carney
1998)[41 ]
Khung sinh kế bền vững là một lý thuyết cho rằng con người dựa vào năm loại tài sản vốn, hay hình thức vốn, để giảm nghèo và đảm bảo an ninh sinh kế của mình, bao gồm: vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn con người và vốn tự nhiên
Trang 21Khung sinh kế bền vững coi đất đai là một tài sản tự nhiên rất quan trọng đối với sinh kế nông thôn Quyền đất đai đóng một vị trí quan trọng về nhiều mặt và tạo
cơ sở để người nông dân tiếp cận các loại tài sản khác và những sự lựa chọn sinh kế
thay thế (Tim Hanstad, Robin Nielsn and Jennifer Brown, 2004)[43] Ở Việt Nam,
quyền sử dụng đất có vai trò quan trọng đối với người dân, bao gồm ý nghĩa và giá trị của một phương tiện sản xuất, một nguồn thu nhập và một loại tài sản có giá trị Đặc biệt là đối với người nông dân thì đất đai là một nguồn tài sản có giá trị nhất và đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra thu nhập cho họ Vì vậy, khi thu hồi đất
sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh kế của người dân.Việc thu hồi đất của nhà nước sẽ tạo ra những ảnh hưởng đến nguồn lực đất đai, hoạt động sản xuất nông nghiệp, công ăn việc làm và thu nhập của người nông dân Do vậy vấn đề trọng tâm trong các chính sách thu hồi đất là các vấn đề tạo việc làm và ổn định đời sống cho người dân bị thu hồi đất
1.1.5- Bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất
Các chính sách của Chính phủ như Nghị định 197/2004/NĐ – CP về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất hoặc Nghị định 69/2009/NĐ – CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chỉ ra một số dạng khôi phục dưới hình thức trợ cấp, tạo việc làm,… mặc
dù, các chính sách này vẫn chưa là một chương trình phục hồi toàn diện Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các chính sách này trong thực tế thậm chí không được thực hiện ở quy mô đầy đủ Luật đất đai sửa đổi năm 2003 đặt ra quy định mới và chú ý nhiều đến sinh kế của những người bị ảnh hưởng sau khi bị thu hồi đất Điều 42, Khoản 4 của Luật đất đai quy định trong trường hợp không có đất sản xuất để đền
bù, những người bị ảnh hưởng ngoài việc đền bù tiền, sẽ được trợ cấp cho ổn định cuộc sống, đào tạo để tìm việc làm và chuẩn bị cho công việc mới Ở những nơi có mức sống thấp, sẽ kết hợp với chương trình xóa đói, giảm nghèo của Chính phủ
Các chương trình thu hồi đất, tái định cư nhằm mục đích ngăn ngừa sự khánh kiệt, phục hồi thu nhập và xây dựng cộng đồng bền vững Thông thường có hai
dạng chính: Thứ nhất, các chương trình thu hồi đất, tái định cư dựa vào đất, cấp
Trang 22cho những người tái định cư đủ số đất thu hồi và xây dựng các cơ sở kinh doanh
nhỏ ở nông thôn; Thứ hai, các chiến lược về thu hồi đất và tái định cư không dựa
vào đất, bao gồm hoạt động như đào tạo nghề, tuyển dụng, tín dụng trực tiếp kinh doanh nhỏ để tạo việc làm
Một số vấn đề nảy sinh từ việc thiếu các chính sách phù hợp, những vấn đề khó khăn về thể chế và tài chính Ở nhiều nơi, rất khó trong việc tìm đất để tái định
cư và vì vậy kế hoạch “đất đổi đất” rất khó thực hiện
Những phương án tạo thu nhập ổn định không phải dựa vào đất có thể phù hợp với những người bị ảnh hưởng sinh sống ở khu vực vùng ven thành phố, là những người trước đây làm nông nghiệp Các phương án tạo thu nhập như:
- Tín dụng trực tiếp đối với kinh doanh nhỏ và tự làm;
- Xây dựng các kỹ năng thông qua đào tạo;
- Hỗ trợ trong việc tìm kiếm các cơ hội trong các doanh nghiệp nhà nước và
1.1.6- Những yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu hồi đất
Trang 23quyền sử dụng đất là một trong những yếu tố quyết định khi xác định nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, đối tượng và mức bồi thường, hỗ trợ
- Giá đất
Nếu như trước đây Nhà nước chỉ quy định một loại giá đất áp dụng cho mọi quan hệ đất đai khác nhau thì luật đất đai 2003 đề cập nhiều loại giá đất để xử lý từng nhóm quan hệ đất đai khác nhau
Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003, nguyên tắc định giá đất là phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thị trường trong điều kiện bình thường Tuy nhiên, tình hình phổ biến hiện nay là giá đất do các địa phương quy định và công bố đều không theo đúng nguyên tắc đó, dẫn tới nhiều trường hợp ách tắc trong việc thu hồi đất, bồi thường về đất đai và phát sinh khiếu kiện của người bị thu hồi đất vì họ cho rằng lợi ích của họ bị thiệt hại
- Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định của pháp luật về đất đai, về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển KTXH của đất nước Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế, xã hội của đất nước trong nhiều thập kỷ qua có nhiều biến động lớn nên các chính sách về đất đai cũng theo đó không ngừng được sửa đổi, bổ sung Từ năm 1993 đến nay, Nhà nước
đã ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc quản lý
và sử dụng đất đai Nhất là sau khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực và các văn bản hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng đi vào cuộc sống Với một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật tương đối đầy đủ, cụ thể, rõ ràng, đề cập mọi quan hệ đất đai phù hợp với thực tế đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về đất đai, giải quyết tốt mối quan hệ đất đai ở khu vực nông thôn, bước đầu đã đáp ứng được quan hệ đất đai mới hình thành trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất không ngừng hoàn thiện, sửa đổi nhằm giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện Thời gian qua, công tác bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đã đạt những kết quả nhất định, đã cơ
Trang 24bản đáp ứng về nhu cầu mặt bằng cho phát triển các dự án đầu tư Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số địa phương chưa thực hiện đúng quy định, nhiều quy định do các địa phương ban hành không phù hợp với quy định của cấp trên làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân có đất bị thu hồi, từ đó phát sinh đơn khiếu kiện nhưng không được giải quyết thỏa đáng, gây mất lòng tin trong nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ giải phóng mặt bằng và triển khai thực hiện các dự án
1.2- Các chính sách liên quan đến thu hồi đất ở Việt Nam
1.2.1- Chính sách của Nhà nước
Công tác thu hồi đất, việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đáp ứng nhu cầu đất của Nhà nước để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế là vấn đề luôn được xã hội quan tâm Chính sách về đất đai của Việt Nam từng bước được hoàn thiện và có xu hướng ngày càng có lợi hơn cho người có đất bị thu hồi Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01 tháng 7 năm 2004 đã quy định cụ thể, rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân
về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất Để triển khai thực hiện và hướng dẫn việc thu hồi đất, bồi thường, GPMB theo quy định của Luật đất đai năm 2003, Chính Phủ và các bộ ngành Trung ương đã ban hành nhiều văn bản có liên quan để triển khai thực hiện:
Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ
về thi hành Luật đất đai đã quy định chi tiết về căn cứ, nội dung, thẩm quyền, trình
tự, thủ tục trong công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thu hồi, bồi thường, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất
Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Trang 25Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Thông tư số 145/2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 của Chính phủ về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất và Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 188/2004/NĐ-CP
Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm
2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ
Thông tư liên tịch số 14/2008/TTLT/BTC-BTNMT ngày 31 tháng 01 năm
2008 của Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực
Trang 26hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ về quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ
Trên cơ sở các quy định của Trung ương, UBND tỉnh Lâm Đồng hàng năm
đã ban hành các quyết định quy định về giá đất cho các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh để làm cơ sở cho các địa phương xác định giá đất trong việc thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất…; đồng thời, từ năm 2005 đến năm 2012, UBND tỉnh Lâm Đồng đã 05 lần ban hành văn bản quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, gồm:
Quyết định số 95/2005/QĐ-UBND ngày 05 tháng 09 năm 2005 về việc ban hành quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (hoặc thuê đất) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng;
Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 5 năm 2008 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, thay thế Quyết định số 95/2005/QĐ-UBND ngày 05 tháng 09 năm 2005 của UBND tỉnh Lâm Đồng;
Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2009 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, thay thế Quyết định số 15/2008/QĐ-UBND ngày 05 tháng 5 năm 2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng;
Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND ngày 30 tháng 9 năm 2010 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa
Trang 27bàn tỉnh Lâm Đồng, thay thế Quyết định số 85/2009/QĐ-UBND ngày 20 tháng 11 năm 2009 của UBND tỉnh Lâm Đồng;
Quyết định số 36/2012/QĐ-UBND ngày 20 tháng 8 năm 2012 về việc ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, thay thế Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND ngày 30 tháng 9 năm 2010 của UBND tỉnh Lâm Đồng;
Qua nghiên cứu chính sách về đất đai, bồi thường GPMB khi thu hồi đất do Trung ương và tỉnh Lâm Đồng ban hành cho thấy các chính sách đều xuất phát từ nhu cầu thực tiễn và được điều chỉnh theo hướng tích cực để phù hợp hơn với xu hướng phát triển của đất nước Trên thực tế các chính sách đó đã có tác dụng tích cực trong việc đảm bảo sự cân đối và ổn định trong phát triển, khuyến khích được đầu tư
Cùng với sự đổi mới về tiến trình xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan lập pháp và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong những năm gần đây đã
có nhiều điểm đổi mới thể hiện chính sách ưu việt của một Nhà nước của dân, do dân và vì dân Hiện nay, Luật đất đai đang được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, nhất
là trong việc thu hồi đất, tính toán bồi thường, hỗ trợ và tái định cư để đảm bảo quyền lợi của các bên trong quá trình thực hiện
1.3- Kinh nghiệm giải quyết việc làm, ổn định thu nhập cho người dân bị thu hồi đất
1.3.1- Kinh nghiệm trong nước
Ở nước ta, các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế và chú ý tới lợi ích của những người bị thu hồi đất Quá trình phát triển của pháp luật về thu hồi đất có thể chia làm 2 giai đoạn:
* Giai đoạn trước năm 1993
Trước năm 1993, người dân chưa quen thuộc lắm với khái niệm thu hồi đất
và tái định cư Nhiều người nghĩ quá trình thu hồi đất, tái định cư đơn giản chỉ là việc đền bù những người bị ảnh hưởng và di chuyển họ tới nơi ở mới Vào thời
Trang 28điểm đó, thay vì gán cho thuật ngữ “ tái định cư ” thì người ta phổ biến sử dụng cụm từ “sắp xếp các địa điểm dự án” để đưa ra giải pháp xây dựng dự án
Thời gian này, vẫn chưa có chính sách tái định cư của Chính phủ Luật pháp vào thời điểm này mới chỉ quy định đền bù cho những người bị ảnh hưởng, nhưng chỉ là mức độ thiệt hại Do vậy, không thành công trong việc khôi phục tài sản của những người bị ảnh hưởng
* Giai đoạn sau năm 1993
Đây là giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh, số dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án cần nhiều đất đai đã tăng và cũng từ năm 1993, nhiều chính sách liên quan đến người bị thu hồi đất, tái định cư như đền bù đất sản xuất, nhà cửa, tài sản,
cơ sở hạ tầng, đào tạo việc làm, và các vấn đề xã hội khác được ban hành như Luật đất đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, Nghị định 69/2009/NĐ-CP,… về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Trên cơ sở những văn bản này, cùng với những nỗ lực của địa phương, quá trình thu hồi đất được tiến hành đạt nhiều kết quả tốt đẹp ở các địa phương
* Kinh nghiệm tỉnh Vĩnh Phúc
Trong thu hồi đất, tỉnh Vĩnh Phúc chú trọng công tác giải quyết việc làm thông qua việc thực hiện dạy nghề gắng với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, nhất là lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp Trong
đó giai đoạn 2006 – 2010, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành đề án dạy nghề cho lao động nông thôn với tổng kinh phí đề án là 87 tỷ đồng, quy mô đào tạo khoảng 23.600 người, từ đó có 20.000 lao động ở độ tuổi 18 – 30 thuộc những hộ bị thu hồi đất đã được tuyển vào làm việc trong các nhà máy Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã thực hiện tốt chủ trương yêu cầu các doanh nghiệp có dự án đầu tư phải bố trí lao động địa phương làm việc trong các doanh nghiệp, tính đến hết năm 2006 có gần 60.000 lao động địa phương được các doanh nghiệp trên địa bàn tuyển dụng, trong đó có những doanh nghiệp đã sử dụng đến gần 90% lao động địa phương Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã thực hiện khá thành công việc dành một phần đất dự án hoặc gần sát dự án
để phát triển dịch vụ phục vụ cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu đô thị
Trang 29mới, qua đó tạo việc làm cho lao động lớn tuổi, khó có khả năng học nghề Đây cũng là bước để chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo đời sống cho nhân dân các vùng này Chính sách này được thực hiện đối với các hộ có diện tích đất bị thu hồi từ 40% trở lên, diện tích đất dịch vụ giao cho mỗi hộ được cấp tính toán theo số nhân khẩu hiện tại của gia đình và số diện tích đất đã bị thu hồi, nhưng không quá 100 m2/hộ Nếu thu hồi 360 m2 thì người dân chỉ được cấp đất không quá 20 m2 [4]
* Kinh nghiệm tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Ninh cũng đã thực hiện việc đào tạo nghề gắng với giải quyết việc làm cho lao động ở những nơi chuyển mục đích sử dụng đất Trước khi dạy nghề, người lao động được tư vấn các nghề mà các khu công nghiệp, làng nghề có nhu cầu, đồng thời lao động cũng được tiến hành phân loại theo ba tiêu chí để đi đào tạo cho phù hợp Trung bình mỗi năm có 5000 lao động được tuyển dụng vào các khu công nghiệp, các làng nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi sang nghề phi nông nghiệp Tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện cấp đất giãn dân và đất khu dân
cư dịch vụ cho nông dân chuyển sang làm dịch vụ quanh khu công nghiệp, khu đô thị Định mức cấp đất giãn dân, đất khu dân cư dịch vụ với tỷ lệ 10% đất bị thu hồi Đối với các hộ dân tiếp tục sản xuất trên diện tích đất còn lại, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, triển khai cho người nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra 173 cánh đồng với 1.643 ha đạt từ 50 đến 100 triệu đồng/ha/năm trở lên Hội Nông dân tỉnh cũng đã xây dựng hàng nghìn mô hình trình diễn tại 8 huyện tạo ra vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa lớn công nghệ cao Ngoài ra, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện việc hỗ trợ xuất khẩu lao động cho lao động trong các khu dự án thu hồi đất thực hiện quá trình đô thị hóa của tỉnh, với số
tiền hỗ trợ từ 1,4 triệu đồng đến 1,7 triệu đồng/lao động [4]
* Kinh nghiệm Thành phố Hà Nội
Thành phố Hà Nội đã thực hiện chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia giải quyết việc làm, tăng tỷ lệ đầu tư từ ngân sách vào khu vực nông thôn Thành phố khuyến khích các hộ gia đình vay vốn phát triển tiểu thủ công
Trang 30nghiệp, dịch vụ, kinh tế theo mô hình trang trại, thiết lập hệ thống chuyển giao kỹ thuật và công nghệ nhất là công nghệ sinh học vào các hộ gia đình để sản xuất ra các mặt hàng nông sản có giá trị kinh tế cao Thành phố Hà Nội đã phân loại lao động và thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cho người lao động có vốn kiến thức tìm kiếm việc làm mới sau khi bị thu hồi đất Thành phố phối hợp với các doanh nghiệp
có dự án sử dụng đất quan tâm đến việc đào tạo lao động tại chỗ và tuyển dụng ít nhất 10 lao động địa phương Trong 5 năm, một số khu công nghiệp và các dự án sử dụng đất tại các huyện ngoại thành đã thu hút và tạo việc làm cho gần 10.000 lao động của các địa phương vào làm việc Thành phố Hà Nội đã có nhiều giải pháp để giải quyết việc làm cho lao động như: Đẩy mạnh xuất khẩu lao động để giải quyết việc làm, thực hiện việc hỗ trợ cho doanh nghiệp tuyển chọn lao động đi xuất khẩu với mức 700.000 đồng – 1.500.000 đồng/lao động, có chính sách khuyến khích đối với xã, phường giới thiệu được nhiều lao động đi xuất khẩu lao động, với kết quả đã đưa 18.500 lao động đi xuất khẩu lao động trong giai đoạn từ năm 2003 – 2005; thực hiện việc trích một phần kinh phí thu được thông qua việc đền bù cho người dân để tiến hành đào tạo dạy nghề cho đội ngũ lao động bị ảnh hưởng trực tiếp do bị
án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: Tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ
Trang 31cấp bồi thường hoa màu trên đất Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số Tiền bồi thường cho hoa màu, các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại
Mức bồi thường cho giải tỏa mặt bằng được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người dân có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ Việc quản lý giải phóng mặt bằng được giao cho các cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm Tổ chức, cá nhân được quyền sử dụng thửa đất nào sẽ trả tiền thuê một đơn
vị xây dựng giải tỏa mặt bằng
Để giải quyết nhà ở cho người dân khi giải phóng mặt bằng, phương thức chủ yếu của Trung Quốc là trả tiền và hỗ trợ bằng cách tính ba khoản sau: Một là, giá cả xây dựng lại, chênh lệch giữa giá xây dựng lại nhà mới và nhà cũ; Hai là, giá đất tiêu chuẩn; Ba là, trợ cấp về giá cả Ba khoản này cộng lại là tiền bồi thường về nhà ở
Việc bồi thường nhà ở cho dân ở thành phố khác với việc bồi thường cho dân
ở nông thôn, bởi có sự khác nhau về hình thức sở hữu đất đai ở thành thị và nông thôn Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian
để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo đó mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: Tiền bồi thường về sử dụng đất đai, tiền bồi thường về hoa màu, tiền bồi thường tài sản tập thể
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc có những thành công nhất định trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là do: Thứ nhất,
đã xây dựng các chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định cư, đảm bảo mục tiêu tạo cơ hội phát triển cho người dân tái định cư, tạo các nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Thứ hai, năng lực thể chế của các chính quyền địa phương khá mạnh; chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực hiện chương trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Thứ ba,
Trang 32quyền sở hữu đất tập thể làm cho việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn Tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để phát triển kết cấu hạ tầng Chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ bị ảnh hưởng
Bên cạnh những thành công như vậy, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện giải phóng mặt bằng trước
khi xây dựng xong nhà tái định cư… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012) [10]
Thu hồi đất bắt buộc được tiến hành khi nhà nước có nhu cầu sử dụng đất cho các mục đích công cộng và các mục đích khác Thông thường, nhà nước có được đất đai thông qua đàm phán
Trình tự thu hồi đất bắt buộc được thực hiện như sau: Nhà nước gửi cho các chủ đất một văn bản trong đó nêu rõ mục tiêu thu hồi đất vì các mục đích công cộng Văn bản này gồm các nội dung chính như cơ quan muốn thu hồi đất, miêu tả chi tiết mảnh đất, mục đích sử dụng đất sau khi thu hồi và các giải thích vì sao
Trang 33mảnh đất đó phù hợp với mục tiêu công cộng đó Chủ sở hữu mảnh đất có thể yêu cầu Bộ trưởng Bộ Tài chính và Quản lý xem xét lại vấn đề thu hồi đất Nếu chủ sở hữu vẫn chưa hài lòng thì có thể tiếp tục yêu cầu trọng tài phúc thẩm hành chính phán xử Trọng tài phúc thẩm hành chính không thể xem xét tính đúng đắn về quyết định của Chính phủ nhưng có thể xem xét các vấn đề liên quan khác Nhà nước thông báo rộng rãi quyết định thu hồi đất và chủ sở hữu đất phải thông báo cho bất
kỳ ai muốn mua mảnh đất đó về quyết định thu hồi đất của Chính phủ Sau đó, Nhà nước sẽ ban hành quyết định thu hồi đất và thông báo trên báo chí Chủ sở hữu đất nhận được thông báo khuyên tiến hành các thủ tục yêu cầu bồi thường Chủ sở hữu đất thông thường có quyền tiếp tục ở trên đất ít nhất là 6 tháng sau khi có quyết định thu hồi đất Ngay sau khi có quyết định thu hồi đất, chủ đất có thể yêu cầu nhà nước bồi thường Nguyên tắc của bồi thường là công bằng và theo giá thị trường Thông thường, các yếu tố sẽ được tính toán trong quá trình bồi thường đó là giá thị trường, giá đặc biệt đối với chủ sở hữu, các chi phí liên quan như chi phí di chuyển, chi phí
tái định cư [10]
1.4- Các công trình nghiên cứu có liên quan
Những năm qua, diện tích đất nông nghiệp ở nước ta bị thu hẹp nhanh để thực hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển khu công nghiệp, khu đô thị… Điều này làm cho nhiều người lao động nông thôn không còn tư liệu sản xuất, vấn đề dịch chuyển cơ cấu lao động, giải quyết công ăn việc làm cho người bị thu hồi đất trở nên hết sức nhạy cảm, phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống KTXH của cộng đồng dân cư nông thôn…
Theo báo cáo không đầy đủ của 49 tỉnh, thành phố cho thấy từ tháng 7/2004 đến tháng 5/2009, đã thu hồi gần 750.000 ha đất để thực hiện hơn 29.000 dự án đầu
tư Trong tổng số đất thu hồi có trên 80% diện tích là đất nông nghiệp, hiện có khoảng hơn 50% diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nằm trong các vùng kinh tế trọng điểm, đất đai màu mỡ Nông dân bị mất việc làm, đất sản xuất bị thu hẹp, bản thân nghề nông mang tính thời vụ lại rất cao, lại rất rủi ro bởi chịu nhiều tác động
Trang 34của thời tiết, khí hậu, nên đây là nguyên nhân khiến sự nghèo đói tập trung phần lớn
ở các vùng nông thôn Việt Nam Hoàng Thị Vân Anh, (2009) [1]
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm (2003-2008) đã tác động đến đời sống của trên 627.000 hộ gia đình với khoảng 950.000 lao động và 2,5 triệu người Mặc dù các địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể về bồi thường, hỗ trợ, giải quyết việc làm, đào tạo chuyển đổi nghề, hỗ trợ tái định cư đối với nông dân bị thu hồi đất… nhưng trên thực tế 67% lao động nông nghiệp vẫn giữ nguyên nghề cũ sau khi bị thu hồi đất, 13% lao động chuyển sang nghề mới và có tới 25 – 30% lao động không có việc làm hoặc có việc làm nhưng không ổn định Kết quả là 53% số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập giảm so với trước đây Chỉ có khoảng 13% số hộ có thu nhập tăng hơn trước Trung bình mỗi hộ bị thu hồi đất có 1,5 lao động rơi vào tình trạng không có việc làm
và mỗi ha đất nông nghiệp bị thu hồi có tới 13 lao động mất việc làm, phải chuyển đổi nghề nghiệp Có đến trên 83% lao động nông thôn chưa từng qua trường lớp đào tạo chuyên môn kỹ thuật nào và khoảng 18,9% lao động nông thôn chưa tốt nghiệp tiểu học trở xuống Vì vậy khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm
tốt hơn đối với nhóm lao động này là không đơn giản, Huyền Ngân (2008) [46]
Về vấn đề công nghiệp hóa, đô thị hóa thì nghiên cứu của Nguyễn Chí Mỳ và Hoàng Xuân Nghĩa (2009) cho thấy: Công nghiệp hóa, đô thị hóa càng diễn ra mạnh mẽ thì đất đai nông nghiệp càng bị thu hẹp, vấn đề người dân mất đất, không
có công ăn việc làm ngày càng gia tăng Chỉ trong 5 năm (2001-2005), cả nước đã thu hồi tổng diện tích đất nông nghiệp 366.440 ha (chiếm 3,89% diện tích đang sử dụng) Trong đó, diện tích đất đã thu hồi cho xây dựng khu công nghiệp là 39.560
ha, xây dựng đô thị là 70.320 ha, xây dựng hạ tầng là 136,17 ha… Cuộc điều tra 8
xã Đồng Bằng Sông Hồng, Đông Nam Bộ, Đồng Bằng Sông Cửu Long năm 2006 cho thấy hầu hết các địa phương không còn lao động dưới 40 tuổi riêng tỉnh Thái Bình có 45% lao động đã rời khỏi nông nghiệp, 200.000 người đi làm ăn xa, chỉ còn lại phụ nữ và người già ở nhà Tỉnh Bắc Ninh sau khi thu hồi đất chỉ có 5% - 6% người tìm được việc làm, còn 94% người thất nghiệp Nghiên cứu cũng đã đưa ra
Trang 35được một số giải pháp nhằm khắc phục bài toán hậu giải phóng mặt bằng tại các địa phương phía Bắc nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng Tuy nhiên, các giải pháp này còn mang tính định hướng chung chung, khó áp dụng cho địa bàn nghiên
cứu với đặc thù riêng [24]
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tuấn (2011) cho thấy: Từ năm 2001 đến năm
2010, bình quân hàng năm gần 10 vạn ha đất nông nghiệp được thu hồi để phục vụ việc xây dựng các khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị, đường giao thông… Khoảng 50% diện tích đất nông nghiệp thu hồi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm, trong đó 80% thuộc loại đất màu mỡ cho 2 vụ lúa/năm Hệ quả của “làn sóng” công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa cộng với quá trình tăng dân số đã làm cho đất nông nghiệp bình quân đầu người giảm, hiện chỉ còn dưới 0,1 ha/người (bình quân trên thế giới là 0,25 ha/người) Hầu hết các khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị… đều bám dọc các quốc lộ huyết mạch, các vùng nông thôn trù phú, còn những diện tích rất khó thâm canh thì được để lại cho nông dân Hệ quả là hàng chục vạn ha đất nông nghiệp màu mỡ, là tư liệu sản xuất quan trọng và quý giá nhất của người nông dân đã bị sử dụng lãng phí, tác động tiêu cực đến hàng chục triệu lao động nông thôn Cùng với diện tích đất bị thu hồi, tình trạng nông dân không có việc làm trở nên bức xúc Bình quân mỗi năm ở nông thôn có khoảng 13-15 nghìn lao động không có việc làm Trình độ của lao động nông thôn lại chưa đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Theo thống kê có trên 83% lao động nông thôn chưa qua khóa đào tạo khoa học kỹ thuật nào; khoảng 18,9% lao động nông thôn đang làm việc chưa tốt nghiệp tiểu học trở xuống Vì thế khả năng chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm tốt hơn đối với nhóm lao động này là rất khó Thu nhập của lao động nông nghiệp vì thế thấp và thất thường bởi tính thời vụ và rủi ro cao Đây chính là lý do khiến tỷ lệ nghèo tập trung chủ yếu
ở nông thôn Nguồn lao động thất nghiệp này đã và sẽ làm nãy sinh rất nhiều vấn đề
xã hội khác Tác giả đã đề ra một số giải pháp bảo đảm quyền có việc làm của các
hộ nông dân bị thu hồi đất phục vụ việc phát triển kinh tế, xã hội như: Xây dựng và triển khai chương trình về đào tạo nghề cho những người thuộc diện thu hồi đất để
Trang 36phát triển kinh tế; tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thị trường lao động cho những người “làm công ăn lương” ở nông thôn; hạn chế số hộ nông dân bị thu hồi đất để
tiết chế về tình trạng biến động về lao động ở nông thôn [29]
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng trên địa bàn cả nước dẫn đến nhiều diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi Cùng với đó, nhiều công trình nghiên cứu có liên quan được tiến hành Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, hiện chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này được thực hiện Việc thu hồi và giải quyết việc làm cho người dân bị thu hồi đất của các địa phương mặc dù cũng có những đặc điểm chung, song cũng có rất nhiều khác biệt về đối tượng, nội dung nghiên cứu và đánh giá Do vậy đề tài này vẫn thực sự cần thiết ở địa phương
1.5- Bài học kinh nghiệm cho giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân
bị thu hồi đất ở Lâm Đồng
Từ việc nghiên cứu các công trình có liên quan, kinh nghiệm của các địa phương trong cả nước và kinh nghiệm một số nước trên thế giới về vấn đề tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân bị mất việc làm do thu hồi đất, nghiên cứu rút ra được những bài học kinh nghiệm cho tỉnh Lâm Đồng nói chung và thành phố Bảo Lộc nói riêng như sau:
- Để hạn chế việc thu hồi đất nông nghiệp gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống của người dân, cần rất thận trọng khi quy hoạch các dự án xây dựng khu công nghiệp nếu phải lấy đất nông nghiệp Nên thực hiện các dự án đó trên những khu vực ít dân cư hoặc ít ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp bởi người dân những khu vực này là những người ít có khả năng thay đổi nghề nghiệp, khó tiếp cận với điều kiện sống mới, do vậy họ là những người dễ bị ảnh hưởng nhất
- Tạo việc làm tại chỗ cho những lao động bị thu hồi đất tuổi đã cao, lao động nữ khó chuyển đổi nghề bằng các hình thức phát triển các nghề truyền thống, cấp lại đất sản xuất nông nghiệp không thu tiền cho các hộ theo tỷ lệ diện tích đất thu hồi sao cho kịp thời và phù hợp với quỹ đất của địa phương
Trang 37- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng tăng các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cho thu nhập cao trên một đơn vị diện tích đất sản xuất, tăng khả năng quay vòng vốn;
- Quy định và khuyến khích các doanh nghiệp khi đầu tư xây dựng nhà máy trong khu công nghiệp, nên ưu tiên sử dụng lao động là các hộ gia đình có đất bị thu hồi bằng các cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp
- Đầu tư phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề cho con em người dân có đất bị thu hồi, cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết về cung – cầu trên thị trường lao động cho người dân và các chủ sử dụng lao động Mở rộng và phát triển các cơ sở đào tạo nghề, các trung tâm hỗ trợ và giới thiệu việc làm Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến công, tăng cường chuyển giao tiến bộ khoa học – công nghệ, hỗ trợ vay vốn ưu đãi và hướng dẫn kỹ thuật sản xuất cho nông dân
Trang 38Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1- Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Bảo Lộc
2.1.1- Điều kiện tự nhiên
Thành phố Bảo Lộc nằm 11017’ - 11039’ vĩ độ Bắc và 107042’-107054’ kinh
độ Đông, thuộc cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh, cách thành phố Đà Lạt 110 km về phía Tây nam (tính theo Quốc lộ 20), đây là một trong hai trung tâm kinh tế – văn hóa - xã hội lớn của tỉnh Lâm Đồng Địa giới hành chính của Bảo Lộc được xác định như sau: Phía Bắc, Đông, Nam giáp huyện Bảo Lâm, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Đa Huoai
Thành phố Bảo Lộc có 11 đơn vị hành chính: 6 phường (I, II, B’Lao, Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến ) và 5 xã (Lộc Châu, Lộc Nga, Lộc Thanh, ĐamB’ri, Đại Lào) Tổng diện tích tự nhiên Bảo Lộc 23.256ha, chỉ chiếm 2,38% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Tổng dân số năm 2010 là 151.168 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh Mật độ dân số bình quân 650 người/km2 (tỉnh Lâm Đồng: 123 người/km2)
Bảo Lộc nằm trên quốc lộ 20 và quốc lộ 55 (nối với Bình Thuận), là cầu nối quan trọng trong mở rộng mối giao lưu giữa Lâm Đồng với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và duyên hải Trung bộ, với lợi thế như vậy, Bảo Lộc có điều kiện để phát triển kinh tế theo hướng Dịch vụ và Công nghiệp
Địa hình, địa chất: Địa hình thành phố Bảo Lộc có ba dạng địa hình chính:
núi cao, đồi dốc và thung lũng
+ Núi cao: Phân bố tập trung ở khu vực phía Tây Nam thành phố Bảo Lộc, bao gồm các ngọn núi cao (từ 900m đến 1.100 m so với mặt nước biển) độ dốc lớn (cấp IV đến cấp VI) Diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 11% tổng diện tích toàn Thành phố
+ Đồi dốc: Bao gồm các khối Bazan bị chia cắt mạnh tạo nên các ngọn đồi
và các dải đồi dốc có đỉnh tương đối bằng với độ cao phổ biến từ 800 đến 850 m
Độ dốc sườn đồi lớn (từ cấp II đến cấp IV), rất dễ bị xói mòn, dạng địa hình này
Trang 39chiếm 79,8% tổng diện tích toàn thành phố, là địa bàn sản xuất cây lâu năm như chè, cà phê, dâu
+ Thung lũng: Phân bố tập trung ở xã Lộc Châu và xã Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích toàn thành phố Đất tương đối bằng phẳng, nhiều khu vực bị ngập nước sau các trận mưa lớn, nhưng sau đó nước rút nhanh Vì vậy thích hợp với phát triển cà phê và chè, nhưng có thể trồng dâu và cây ngắn ngày
Khí hậu: Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở độ cao trên 800m
và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:
+ Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22°C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4°C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6°C
+ Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513
mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9
+ Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%
+ Nắng ít, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc
Thuỷ văn: Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:
+ Hệ thống sông DaR’Nga: Phân bố ở phía Đông thành phố Bảo Lộc, là ranh giới giữa thành phố và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR’Nga trong thành phố Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaM’Drong, suối DaBrian Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
+ Hệ thống suối Đại Bình: Phân bố chủ yếu ở phía nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía nam và tây Bảo Lộc Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định cho thung lũng Đại Bình
Trang 40+ Hệ thống suối ĐamB’ri: Là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa Suối ĐamB’ri có nhiều ghềnh thác, cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch
+ Nước ngầm: Nhìn chung trữ lượng nước ngầm ở khu vực Bảo Lộc tương đối khá, chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp [33]